<?xml version="1.0" encoding="UTF-8" ?>
<rss version="2.0" xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/" xmlns:webfeeds="http://webfeeds.org/rss/1.0" xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/">
  <channel>
    <title>van hoc</title>
    <link>http://melodious.edu.vn/rss/van-hoc.rss</link>
    <description><![CDATA[]]></description>
    <atom:link href="https://melodious.edu.vn/van-hoc" rel="self" type="application/rss+xml" />
                                <language>vi</language>
    <lastBuildDate>Sat, 18 Jul 2026 12:58:28 +0700</lastBuildDate>
        <item>
      <title><![CDATA[Hũ Thực Phẩm]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/lo-nhua-a111226.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/lo-nhua-a111226.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/lo-nhua-a111226.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/lo-nhua-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p> <strong>Hũ nhựa</strong> PET đựng thực phẩm của <strong>Nhựa Duy Tân</strong> là giải pháp bảo quản thực phẩm an toàn, tiện lợi và được sử dụng phổ biến trong gia đình lẫn kinh doanh. Sản phẩm được phát triển đa dạng nhiều dòng như hũ PET tròn, hũ cao, hũ vuông, hũ bát giác - đa giác, cùng các loại hũ gia vị, hũ tiêu và hũ dung tích nhỏ, đáp ứng linh hoạt nhu cầu lưu trữ thực phẩm khô, đồ ăn vặt và nguyên liệu chế biến. </p> <h2> <strong>1. Hũ nhựa Duy Tân phù hợp để đựng những loại thực phẩm nào? </strong></h2> <p> Hũ nhựa của Nhựa Duy Tân được sử dụng chủ yếu cho nhóm thực phẩm khô và các sản phẩm cần bảo quản kín, dễ quan sát trong quá trình lưu trữ và sử dụng hằng ngày. Thực tế, dòng hũ này phù hợp với nhiều nhu cầu phổ biến trong gia đình và hoạt động kinh doanh thực phẩm. </p> <p> <strong>Cụ thể, hũ nhựa Duy Tân thường được dùng để đựng: </strong></p> <ul> <li> Gia vị như tiêu, muối, đường, bột nêm </li> <li> Các loại hạt khô, ngũ cốc, đậu, hạt điều, hạnh nhân </li> <li> Bánh kẹo, mứt, đồ ăn vặt, trái cây sấy </li> <li> Thực phẩm khô cần bảo quản gọn gàng và dễ quan sát </li> <li> Sản phẩm đóng gói trưng bày tại cửa hàng, siêu thị hoặc cơ sở kinh doanh thực phẩm </li> </ul> <p> Nhờ khả năng bảo quản ổn định và thiết kế trong suốt, nhóm hũ này phù hợp cho cả nhu cầu sử dụng trong gia đình lẫn hệ thống phân phối như đại lý, cửa hàng bán lẻ và siêu thị, nơi yêu cầu tính thẩm mỹ và khả năng trưng bày sản phẩm rõ ràng. </p> <h2> <strong>2. Các dòng hũ nhựa PET, PP Duy Tân nổi bật </strong></h2> <p> Danh mục hũ nhựa của Nhựa Duy Tân gồm các nhóm chính: hũ PET tròn và hũ cao, hũ vuông - bát giác - đa giác, và hũ gia vị dung tích nhỏ (hũ tiêu, hũ thực phẩm nhỏ), đáp ứng nhiều nhóm nhu cầu khác nhau từ bảo quản thực phẩm trong gia đình đến trưng bày và đóng gói sản phẩm trong kinh doanh. </p> <h3> <strong>2.1. Hũ PET tròn và hũ cao </strong></h3> <p> Hũ/hộp nhựa PET của Nhựa Duy Tân phù hợp để đựng gia vị, bánh kẹo, hạt khô hoặc các loại thực phẩm khô cần trưng bày rõ sản phẩm bên trong. Thiết kế dạng tròn và dáng cao giúp tối ưu không gian lưu trữ, đồng thời dễ cầm nắm, thuận tiện khi sử dụng trong bếp gia đình hoặc sắp xếp trên kệ hàng tại cửa hàng, siêu thị. </p> <p> <img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/lo-nhua-1.jpg" alt="" /> </p> <p> Hũ cao Nhựa Duy Tân hợp để đựng gia vị, bánh kẹo, hạt khô </p> <h3> <strong>2.2. Hũ nhựa PP, PET vuông, bát giác và đa giác </strong></h3> <p> Hũ nhựa PP và PET của Nhựa Duy Tân với thiết kế vuông, bát giác và đa giác phù hợp cho nhu cầu đóng gói thực phẩm cần tính thẩm mỹ cao và hình thức nổi bật hơn. Thiết kế dạng hình học giúp sản phẩm dễ sắp xếp, tiết kiệm không gian lưu trữ, đồng thời tạo cảm giác gọn gàng và chuyên nghiệp khi trưng bày tại cửa hàng hoặc siêu thị. </p> <p> <img src="https://duytan.com/Data/Sites/1/media/anh-landing/hu-nhua-bat-giac.jpg" alt="" /> </p> <p> Hũ bát giác phù hợp cho nhu cầu đóng gói thực phẩm cần tính thẩm mỹ cao </p> <h3> <strong>2.3. Hũ gia vị, hũ tiêu và hũ thực phẩm dung tích nhỏ </strong></h3> <p> Hũ gia vị, hũ tiêu và các dòng hũ dung tích nhỏ của Nhựa Duy Tân phù hợp cho nhu cầu sử dụng trong gia đình, bếp ăn, quán ăn hoặc các thương hiệu cần đóng gói gia vị với số lượng nhỏ. Nhóm sản phẩm này thường được ưu tiên nhờ sự tiện lợi trong thao tác sử dụng hằng ngày và khả năng phân loại thực phẩm rõ ràng trong khu vực bếp.</p> <p> Người dùng có thể lựa chọn linh hoạt theo dung tích, đường kính miệng hũ cũng như kiểu nắp (nắp vặn, nắp bật…) để phù hợp với từng loại gia vị và mục đích bảo quản khác nhau, đảm bảo vừa thuận tiện vừa tối ưu khả năng lưu trữ. </p> <p> <img src="https://duytan.com/Data/Sites/1/media/anh-landing/bo-hu-gia-vi.jpg" alt="" /> </p> <p> Hũ gia vị phù hợp cho nhu cầu sử dụng trong gia đình, bếp ăn </p> <h2> <strong>3. Ưu điểm nổi bật của hũ nhựa PET Duy Tân </strong></h2> <p> Các dòng hũ nhựa PET của Nhựa Duy Tân được đánh giá cao nhờ sự kết hợp giữa tính an toàn vật liệu và tính ứng dụng thực tế. </p> <h3> <strong>3.1. Chất liệu PET trong suốt, dễ quan sát thực phẩm </strong></h3> <p> Chất liệu PET trong các dòng hũ của Nhựa Duy Tân phù hợp với các sản phẩm như hạt khô, mứt, bánh kẹo, gia vị và đồ ăn vặt vì độ trong suốt cao giúp dễ dàng nhìn thấy thực phẩm bên trong mà không cần mở nắp. Nhờ đó, người dùng có thể nhanh chóng kiểm tra lượng còn lại và tình trạng bảo quản, hạn chế thao tác mở hũ không cần thiết, giúp thực phẩm giữ được chất lượng ổn định hơn. </p> <h3> <strong>3.2. Thiết kế nắp tiện lợi, hỗ trợ bảo quản thực phẩm </strong></h3> <p> Hũ nhựa của Nhựa Duy Tân sử dụng các dạng nắp vặn và nắp kín, giúp thao tác đóng mở dễ dàng nhưng vẫn đảm bảo độ khít khi bảo quản. Thiết kế này hỗ trợ hạn chế bụi bẩn, côn trùng và không khí xâm nhập, giữ thực phẩm luôn gọn gàng và ổn định chất lượng trong quá trình sử dụng hằng ngày. </p> <p> <img src="https://duytan.com/Data/Sites/1/media/anh-landing/hu-gia-vi.jpg" alt="" /> </p> <p> Hũ gia vị Nhựa Duy Tân </p> <h3> <strong>3.3. Đa dạng dung tích, kiểu dáng và màu sắc </strong></h3> <p> Danh mục hũ nhựa của Nhựa Duy Tân cung cấp nhiều lựa chọn về dung tích và kiểu dáng như hũ tròn, hũ cao, hũ vuông, hũ đa giác đến các loại hũ gia vị dung tích nhỏ. Sự đa dạng này giúp người dùng dễ dàng lựa chọn theo từng loại thực phẩm, không gian lưu trữ hoặc mục đích đóng gói kinh doanh, đảm bảo tính linh hoạt trong cả sử dụng gia đình lẫn hoạt động thương mại. </p> <h2> <strong>4. Vì sao nên chọn hũ nhựa tại Nhựa Duy Tân? </strong></h2> <p> Với 39 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực nhựa gia dụng, Nhựa Duy Tân là thương hiệu được nhiều gia đình Việt tin dùng. Bên cạnh hệ thống phân phối rộng khắp trong nước, sản phẩm của Duy Tân còn được xuất khẩu sang nhiều thị trường như Mỹ, Nhật Bản và châu Âu, đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng và an toàn của nhiều thị trường quốc tế. </p> <p> <strong>Những lý do chính nên lựa chọn hũ nhựa tại Duy Tân gồm: </strong></p> <ul> <li>Thương hiệu uy tín: Duy Tân là thương hiệu nhựa gia dụng quen thuộc, được nhiều người tiêu dùng Việt Nam tin tưởng trong nhiều năm. </li> <li>Danh mục hũ nhựa PET đa dạng kiểu dáng và dung tích, đáp ứng nhiều nhu cầu bảo quản khác nhau </li> <li>Sản phẩm phù hợp cho cả nhu cầu gia đình và cơ sở kinh doanh thực phẩm, từ lưu trữ đến trưng bày </li> <li> Dễ dàng tìm mua qua hệ thống phân phối và kênh chính hãng của Duy Tân, đảm bảo nguồn gốc rõ ràng </li> <li>Hỗ trợ người dùng lựa chọn mẫu theo đúng nhu cầu bảo quản thực phẩm thực tế, tránh chọn sai dung tích hoặc thiết kế </li> </ul> <p><strong>Hũ nhựa</strong> PET của Nhựa Duy Tân là giải pháp bảo quản thực phẩm tiện dụng, phù hợp nhiều nhu cầu từ gia đình đến kinh doanh. Với sự đa dạng về kiểu dáng, dung tích và độ tin cậy thương hiệu, sản phẩm đáp ứng tốt cả yêu cầu lưu trữ lẫn trưng bày thực phẩm trong thực tế sử dụng. </p> <p>Liên hệ<strong> Nhựa Duy Tân </strong>ngay hôm nay để được tư vấn mẫu bao bì, quy cách dung tích và phương án sản xuất hũ nhựa PET phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. </p> <p> <strong>Thông tin liên hệ Nhựa Duy Tân:</strong> </p> <ul> <li> <strong>Email: </strong>info@duytan.com </li> <li> <strong>Hotline:</strong> +84 28 3876 2222 </li> <li> <strong>Website: </strong>https://duytan.com/ </li> <li> <strong>Địa chỉ:</strong> 298 Hồ Học Lãm, Phường An Lạc, TP.HCM </li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 18 Jul 2026 12:58:28 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/lo-nhua-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/lo-nhua-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Hũ Thực Phẩm</media:title>
                        <media:keywords>Hũ Thực Phẩm</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[VÀI NÉT VỀ VĂN XUÔI NÔM TRÊN TƯ LIỆU VĂN BIA]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-ve-van-xuoi-a111225.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-ve-van-xuoi-a111225.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-ve-van-xuoi-a111225.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Văn xuôi Nôm trên bia đá nằm trong chỉnh thể văn xuôi Nôm Việt Nam nói chung. Tiêu chí lựa chọn tư liệu của chúng tôi là: tất cả những văn bản có chép đoạn văn xuôi bằng chữ Nôm, nhiều hơn đơn vị câu, đủ sức chuyển tải một nội dung trọn vẹn. Chúng tôi sưu tầm từ những đơn vị nhỏ nhất có thể coi là đoạn văn xuôi, mong muốn đi từ những chứng tích đầu tiên, để hình dung được quá trình phát triển của văn xuôi Nôm. </p><p>Hiện nay, chúng tôi thu thập được 47 văn bia khắc văn xuôi Nôm. Do tính chất cần thiết và tiêu biểu của các văn bản, trong bài viết này, chúng tôi xin khảo sát 22 văn bia khắc văn xuôi Nôm. Trong số những văn bia khắc văn xuôi Nôm hiện có, xét về mặt niên đại, chúng tôi mới tìm thấy thế kỷ XVII có 3 văn bia: văn bia có niên đại sớm nhất là <i>Đỗ Xá xã bi ký</i> 杜 舍 社 碑 記 [1], niên đại 1652; tiếp đó là văn bia <i>Tân tạo bi ký các bức đẳng từ </i>新 造 碑 記 各 幅 等 詞 [2], niên đại 1657;<i> Bản xã tạo lập lệ tịch khoán ước các điều bi văn </i>本 社 造 立 例 席 券 約 各 條 碑 文 [3], niên đại 1693. Thế kỷ XVIII có 2 văn bia: <i>Ngự chế </i>御 製 [4], niên đại 1730; <i>Hậu thần bi ký </i>后 神 碑 記 [5], niên đại 1780. Còn lại đều là văn bia thời Nguyễn, nhiều bài không ghi niên đại, nhưng khi khảo cứu văn bản, dựa vào văn phong, chữ viết và đặc điểm trang trí, chúng tôi xếp vào văn bia thời Nguyễn. Những văn bia thời Nguyễn có niên đại đều là đầu thế kỷ XX. Bia có niên đại muộn nhất là 1950.</p><p>Dưới đây, chúng tôi xin có một số nhận xét sơ lược về văn xuôi Nôm trên bia đá qua các thời kỳ.</p><p>1.1. Văn xuôi Nôm trên bia đá thế kỷ XVII</p><p>Qua khảo sát 3 bài văn xuôi Nôm trên bia đá hiện sưu tầm được (như đã nêu ở trên), chúng tôi nhận thấy một số hiện tượng về từ vựng và ngữ pháp như sau:</p><p>- Xen kẽ trong các câu văn xuôi Nôm, tác giả vẫn phải dùng những câu văn Hán, diễn đạt theo kiểu Nôm; hoặc những cụm từ Hán. </p><p>- Vị trí của tính ngữ và danh từ (nói cách khác là định ngữ và danh từ trung tâm) trong các ngữ danh từ phần lớn là ảnh hưởng cách cấu trúc của Hán văn. Vd: "Đỗ Xá xã /" 杜 舍 社 xã Đỗ Xá, "để xứ 底 處" &lt;=&gt; xứ đấy, "Cự Bát xã 巨 钵 社" &lt;=&gt; xã Cự Bát /1 /... So với số lượng các ngữ danh từ hiện có trong các đoạn văn Nôm chiếm tới khoảng 70%.</p><p>- Điểm đặc biệt là việc mượn dùng một số từ Hán như là một yếu tố của tiếng Việt trong các câu văn Nôm như: "Kỳ" được dùng làm đại từ với nghĩa "ấy", "đó" trong các câu như kiểu "Kỳ Thổ Ngõa thôn 其 土 瓦 村" [2] (cái thôn Thổ Ngõa ấy), "Kỳ Tạ Văn Trọng 其 謝 文 重" [1] (cái ông Tạ Văn Trọng ấy). Hay là cách dùng “kỳ nhưng”trong câu "Dân đã lời ý thì chớ [ ] ta về, kỳ nhưng nhật phủ quan nha môn tham tài quá vậy 民 意 時 渚 [ ] 些 , 其 仍 日 府 官 衙 門 貪 財 過 丕"[2]. “Khiến" với nghĩa là sai; "ưng khiến": đồng ý cho. "Sự" với nghĩa là “việc” như trong câu "sự đê thời mặc đôi làng chẳng biết về đâu 事 堤 時 默 堆 廊 庄 別 兜" [2]. "Hiệu là" với nghĩa là “gọi là”. Những cách dùng từ này không thấy có trong cấu trúc Hán văn. Dưới góc độ nào đó, có thể coi những từ kiểu này là từ cổ.</p><p>- Chúng tôi thấy có một số từ Việt cổ như: "đôi" trong câu "đôi làng chúng tôi 堆 廊 眾 碎"[2] với nghĩa là "hai"(1). Từ "rày" trong "đến rày toa rập im liền 典 唆 習 厭 連" [2], với nghĩa là "nay, lúc này, bây giờ". </p><p>- Về vấn đề hư từ, nhìn chung các câu văn dùng ít hư từ, chủ yếu là các hư từ ở cuối câu, biểu thị ngữ khí (vậy, thôi, đấy).</p><p>Như vậy, ở vào thế kỷ XVII, văn xuôi Nôm chưa thực sự trở thành một hình thức diễn đạt hoàn chỉnh. Những lời văn Nôm được chép lẫn trong bia thực chất chỉ là lời thoại được đưa vào văn viết. Có hai bài là lời thề bằng chữ Nôm, một bài mô tả sự diễn giải của các nhân chứng trong một vụ kiện. Tuy nhiên, chúng tôi có thể tạm coi đây là những chứng tích đầu tiên của việc xuất hiện văn xuôi Nôm trên văn bia. Dưới đây là một đoạn trong ba đoạn văn được khảo sát:</p><p>碎 於 某 府 縣 社, 先 碎 羅 某 年 生 于 歲. 碎 於 共 行 社, 茹 碎 旆 於 冷 共 飭 共 行 社. 或 碎 庄 如 丕 碎 於 奸 磊 券 約 悶 朱 益 己 害 人, 碎 戰 泖 尼 願 朱 諸 尊 位 打 碎 朱 碎 折.</p><p>誓 文. 維. </p><p>(Tôi ở mỗ phủ huyện xã, tên tôi là mỗ, niên sinh vu tuế(2). Tôi ở cùng hàng xã, nhà tôi phải ở ngay lành cùng [mới] sức cùng hàng xã. Hoặc tôi chẳng như vậy, tôi ở lòng gian dối khoán ước, muốn cho ích kỷ hại nhân, tôi uống chén máu này vào, nguyện cho chư tôn vị đánh tôi cho tôi chết.</p><p>Thệ văn(3). Duy(4). [3]) 1.2. Văn xuôi Nôm trên bia đá thế kỷ XVIII</p><p>Thế kỷ XVIII, văn xuôi Nôm trên bia đá có lẽ đã có những bước phát triển nhất định. Tuy nhiên, những cứ liệu mà chúng tôi thu thập được còn quá ít để đi đến một sự khẳng định. Căn cứ vào những tư liệu hiện có, chúng tôi chỉ có thể khảo sát được trên hai tấm bia (đã nêu ở trên). Qua khảo sát văn xuôi Nôm trên hai tấm bia này, chúng tôi đi đến những nhận xét sau:</p><p>- Hai tác giả khi diễn đạt theo văn Nôm vẫn sử dụng một số cụm từ, câu văn chữ Hán có tính chất khuôn thức như: "đán tịch truân cần 旦 夕 訰 勤"[4], "thụy thế phúc nhân 瑞 世 福 人"[4], "tử đạo đa khuy 子 道 多 虧", "mậu ngôi thất hỗ 戊 嵬 失 怙"[5], "hữu phụ mẫu nhiên hậu hữu thử thân 有 父 母 然 後 有 此 身"[5], "vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ 物 本 乎 天 人 本 乎 祖"[5]... Bên cạnh đó là những mẫu câu thường thấy trong văn bia Hậu thần, Hậu phật: "tịnh vi Hậu thần 並 為 后 神", "tịnh vi Hội chủ 並 為 會 主", "hựu xuất gia tài cổ tiền nhị thập quan 又 出 家 財 古 钱 二 十 貫", "tự tăng nhậm thủ vạn đại hậu thế 寺 僧 任 取 萬 代 後 世", "đệ tại bản giáp kỳ các nhật oản quả cúng tất 遞 在 本 甲 其 各 日 供 畢"[5]... Tác giả còn Việt hóa một số từ thường dùng trong Hán văn như: "Cụ" &lt; “các điều tế tự cụ tại bi ký 各 條 祭 祀 具 在 碑 記”[5]&gt;, "niệm cập"(5) &lt; “niệm cập song thân phụ mẫu 念 及 雙 親 父 母”[5]&gt;, "ấu xung"(6) &lt; “khi còn ấu xung chưa được phụng dưỡng cha mẹ 欺 群 幼 冲 渚 特 奉 養 吒 ”[5]&gt;, "tảo lạc" &lt; “chẳng may tảo lạc 拯 梅 早 落”[5]&gt;, "kính hứa"&lt; “kính hứa bản giáp 敬 許 本 甲”[5]&gt;, "đệ niên"(7) &lt; “đệ niên chỉnh biện các lễ 遞 年 整 辨 各 禮”[5]&gt;. </p>- Về cấu trúc tính ngữ và danh từ, ở hai văn bia này, chúng tôi thấy ít xuất hiện những cấu trúc ảnh hưởng theo kiểu cấu trúc trong Hán văn. Trong các ngữ danh từ, đa phần trung tâm ngữ đã được đặt trước theo Việt văn. Chỉ còn lại một số trường hợp mà chúng tôi kể đến ở đây. Đó là những câu quen thuộc trong văn bia: "Thanh Oai huyện, Hữu Thanh Oai xã, Chu Xá thôn Hữu Đề điểm Đoàn Đình Kim tự ghi rằng 青 威 縣 右 青 威 社 朱 舍 村 右 提 點 段 廷 金 自 記 浪", "Giáp thượng hạ đại tiểu 甲 上 下 大 小" [5].<p>- Về hư từ, trong cả hai bài văn xuôi Nôm này, các tác giả dùng rất ít hư từ. Những hư từ được dùng có thể kể là: "vả lại" &lt; “vả lại niệm cập song thân phụ mẫu 吏 念 及 雙 親 父 母/”[5] &gt; với ý nghĩa là một từ chuyển chiết; "mà", "tịnh" (tịnh vi.., tịnh ký...) với ý nghĩa là một liên từ; "thửa" &lt; “cũng trong đồng bào thửa sinh 拱 瑇 同 胞 所 生”[5] /&gt; với ý nghĩa sở hữu; "chớ nữa" &lt; “chớ nữa điều chi mà chẳng như ước 渚 女 調 之 拯 如 約”; “van ai chớ nữa ai 栕 埃 渚 女 埃”[5]&gt; với ý nghĩa khuyên can. </p><p>Để có cái nhìn toàn diện về văn xuôi Nôm thời kỳ này chúng tôi xin trích dẫn dưới đây một đoạn văn trong bài văn bia của Hữu Đề điểm Đoàn Đình Kim:</p><p>有 父 母 然 後 有 此 身. 慇 本 村 叶 保 父 母 雙 親 並 為 后 神. 各 條 祭 祀 具 在 碑 記. 節 尼 本 村 些 廚 頹 弊, 善 男 信 女 共 脩 葺. 吏 念 及 雙 親 父 母, 欺 群 幼 冲 渚 特 奉 養 吒 裴 . 丕 固 出 家 財 古 錢 一 百 貫 會 主 朱 顯 考, 封 贈 總 兵 使 司 段 貴 公 青 嶺 侯 字 福 正, 顯 妣 封 贈 貞 人 阮 氏 行 號 慈 好, 並 為 會 主.</p><p>(Hữu phụ mẫu nhiên hậu hữu thử thân. Năm trước ơn lòng trong bản thôn đã hiệp bầu phụ mẫu song thân tịnh vi Hậu thần. Các điều tế tự cụ tại bi ký. Tiết này, bản thôn ta, chùa trong đồi tệ, thiện nam tín nữ cùng lòng tu tập. Vả lại niệm cập song thân phụ mẫu, khi còn ấu xung chưa được phụng dưỡng cha mẹ miếng bùi, miếng ngọt. Vậy có xuất gia tài cổ tiền nhất bách quan làm hội chủ cho Hiển khảo, phong tặng Tổng binh sứ ti Đoàn quý công Thanh Lĩnh hầu tự Phúc Chính, Hiển tỷ phong tặng Trinh nhân Nguyễn thị hàng, hiệu Từ Hiếu, tịnh vi hội chủ. [5])</p> Như vậy, qua sự xuất hiện của hai bài văn xuôi toàn Nôm, chúng ta có thể nhận định rằng vào thế kỷ XVIII, văn xuôi Nôm trên bia đá đã phát triển. <p>1.3. Văn xuôi Nôm trên bia đá cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX</p><p>Đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, số lượng văn xuôi Nôm trên bia đá nở rộ. Hiện nay, chúng tôi đã sưu tập được 42 bài văn xuôi Nôm trên bia đá thế kỷ XX, và có lẽ con số đó sẽ không dừng lại. Chúng ta đã thấy những bài ký tả cảnh, những bài ký ghi công, gửi giỗ diễn đạt bằng văn xuôi Nôm mạch lạc dễ hiểu.</p><p>Do mức độ tiêu biểu khác nhau, ở phần này, chúng tôi lựa chọn 16 văn bia để khảo sát. Đó là các văn bia: <i>Đồng Quang tự bi ký </i>同 光 寺 碑 記[7], <i>An Duyên xã đại bi</i> 安 沿 社 大 碑[8], <i>Khải Định thất niên nhuận ngũ nguyệt thập nhất nhật bi ký</i> 啟 定 七 年 閏 五 月 十 一 日 碑 記[10], <i>Khải Định bát niên nhị nguyệt thập nhật lập bi ký</i> 啟 定 八 年 二 月 十 日 立 碑 記[11], <i>Trùng tu Hương Tích tự bi</i> 重 修 香 跡 寺 碑[13], <i>Danh phương thiên tải </i>名 方 千 載 [15],<i> Di chúc bi văn</i> 遺 囑 碑 文[16], <i>Lê Thị Quyên thư bi ký </i>黎 氏 娟 姐 碑 記 [17], <i>Bia ghi công</i> 碑 記 功[22], <i>Công tộc 1939 </i>公 族 1939 [23], <i>Bia ghi công </i>碑 記 功 [24],<i> Đại Bi tự điều lệ chí </i>大 悲 寺 条 例 誌 [25], <i>Nam mô A di đà Phật </i>南 無 阿 彌 陀 佛 [26], <i>Hậu kị bi ký </i>后 忌 碑 記 [27], <i>Bia truyền đăng chùa Linh Ứng</i> 碑 傳 燈 廚 靈 應 [34], <i>Công đức bi ký</i> 功 德 碑 記 [40].</p><p>- Thông qua khảo sát số văn bia nói trên, chúng tôi tạm đưa ra một số nhận xét về các hiện tượng ngữ pháp trong các bài văn bia này như sau: /Về cấu trúc tính ngữ và danh từ, đến thời kỳ này, số lượng cấu trúc tính ngữ và danh từ ảnh hưởng của Hán văn đã ít hơn thời kỳ trước rất nhiều. Tuy nhiên, các cấu trúc này vẫn còn xuất hiện ở một số bia. Sau đây là một số ví dụ: "hậu thôn Đống Chanh 后 村 棟 " (&lt;=&gt; thôn Đống Chanh hậu) [26], "Nguyễn Bàng công tộc điền 阮 榜 公 族 田" (&lt;=&gt; công tộc điền Nguyễn Bàng), "sương thuế 霜 稅/" (&lt;=&gt; thuế sương) [23], v.v... </p><p>- Trong văn xuôi Nôm ở những thế kỷ trước, chúng ta thấy ít dùng những biện pháp tu từ đối xứng(8). Đến thời kỳ này, trong các áng văn xuôi, chúng tôi thấy xuất hiện rất nhiều hiện tượng ngữ pháp đối xứng có giá trị tu từ như: "ngày qua tháng lại 戈 吏", "vật đổi sao dời 物 移" [40]; "sửa đình dựng miếu 亭 廟", "đắp đường làm cống 搭 塘 " [15]; "trước là theo dấu tổ tiên, sau lại gần nương cảnh phật 祖 先 吏 景 佛" [17]; "có bột mới gột nên hồ, nước nào cũng thế, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, dân nào cũng vậy 固 買 滑 糊 拱 几 民 拱 丕"[8]; "chim rừng khua mõ, mai núi dâng hoa, nước biếc non xanh, bầu trời cảnh bụt 棱 摳 梅 花 碧 飄 景 ??"[13]... Bên cạnh những kết cấu có sẵn trong tục ngữ ca dao, còn có những kết cấu mới, mang tính sáng tạo. Sự xuất hiện của ngữ pháp đối xứng với ý nghĩa là một biện pháp tu từ trong những bài văn xuôi này đã khẳng định những giá trị văn học của văn xuôi Nôm.</p><p>- Đặc biệt, trong các bài văn xuôi Nôm trên văn bia cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chúng tôi thấy số lượng hư từ xuất hiện đã nhiều hơn. Điều đó thể hiện sự phát triển trong ngôn ngữ diễn đạt. Các hư từ thường dùng có thể kể đến như(9):</p><p>+ Ở đầu câu có: <i>còn như, vậy nên, huống hồ, phương chi, thế thì, hễ, nhưng, nhược</i> (“nhược ngày sau ai không tuân 若 埃 空 遵” [25]), <i>thế mà</i>...</p><p> + Ở giữa câu có: <i>mà, thì, cùng là</i> ("Nền tả vu làm nhà tổ mới, đàn lệ tế cũng sửa sang lại, cùng là lát sân xây bể vén cảnh trồng hoa 左 蕪 茄 祖 壇 厲 祭 拱 ?吏 共 羅 ? 磋 ? ?景 花" [7]; "nào tam quan, miếu vũ, tượng pháp nguy nga, cùng là các đồ bài trí 三 廟 宇 像 法 巍 峨 共 各 圖 排 置"[24])...</p><p>+ Ở cuối câu có: <i>vậy thay</i> ("Vậy nên làm biên bản chữ Nôm tiện để sau này biết rõ vậy thay! 丕 編 板 喃 便 抵 尼 別 丕 " [15]), <i>vậy, đó </i>(đặt ở cuối câu, với nghĩa khẳng định: "là mong cho hương khói lâu dài về sau đó 羅 懞 朱 香 ? ? ?"; "người còn không dám di dịch đó 群 空 監 移 易 ?" [17])...</p><p>-Trong các văn bản vẫn tồn tại một số từ cổ: </p><p>+ <i>Chất</i>: hỏi, nói ("chất sự công bình 事 公 平", "chất sự trang trọng 事 莊 重"[15]);</p><p>+ <i>Từ</i>: lời ("hội kỳ hào có từ thỉnh bà sư Am đến trụ chùa Đồng Quang 會 耆 豪 固 詞 請 婆 師 庵 住 廚 同 光" [7]; "y theo những từ thỉnh cầu của Thị Vòng 依 訨 仍 詞 請 求 氏 " [23]);</p><p> + <i>Hòa</i>: xuất hiện trong câu "có phận thôi thì, còn hòa hóa thương bi 古 分 催 辰 群 和 化 傷悲"[17]. Từ này thường được dùng với các nhóm nghĩa sau: cả, tất cả; vừa; và, cùng, mà. Trong câu trên nó được dùng với nghĩa là "mà";</p><p>+ <i>Cải</i>: thay đổi ("cải sáp về tỉnh Hà Đông 改 插 省 河 東" [7]);</p><p>+<i> Mỗi</i>: lần nào cũng ("mỗi than tiếc rằng 每 嘆 惜 浪" [7]); </p><p>+ <i>Duyên</i>: nguyên do ("duyên cha mẹ tôi sinh được một mình tôi 緣 吒 碎 生 特 沒 碎" [44]).</p><p> Thời kỳ này, tuy câu văn đã phát triển theo hướng thuần Việt, nhưng vẫn còn tồn tại một số hiện tượng trật tự từ ảnh hưởng của Hán văn như: "chuối hai mươi quả " &lt;=&gt; hai mươi quả chuối, "rượu một hào 沒 毫" &lt;=&gt; một hào rượu [17]... Các bài văn đa phần vẫn dùng những câu văn Hán có tính chất khuôn mẫu để ghi lại số ruộng, địa bạ, ngày giỗ ("hiện đồng dân thỏa thuận kế kị phối minh bạch, phụng tôn như sau này 現 仝 民 妥 順 計 忌 配 明 白 奉 尊 如 尼" [26]). Đôi khi, do không có ý thức viết văn Nôm một cách triệt để, tác giả các bài văn xuôi vẫn dùng một số cụm từ Hán quen thuộc như: "hữu hằng tâm 有 恒 心" (có hằng tâm), "ký sự 記 事" (ghi lại sự việc), "thiết niệm 竊 念" (trộm nghĩ), "tỉnh giảm 省 減" (giảm bớt), "bồi thực 培 植" (vun trồng), "chu truân 周 訰" (chuyên tâm, chăm lo), "đệ niên 第 年" (hằng năm) v.v...</p><p>Nói chung, văn xuôi Nôm trên bia đá đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đã có những bước phát triển đáng kể so với những thế kỷ trước. Chúng ta đã đọc được những áng văn xuôi mạch lạc, trong sáng và khá thuần Việt như <i>Đồng Quang tự bi ký </i>同 光 寺 碑 記 [7]; <i>Lê Thị Quyên thư bi ký </i>黎氏 娟 姐 碑 記[17]; <i>Trùng tu Hương Tích tự bi </i>重 修 香 跡 寺 碑[13]. Một số bài văn không hề có cấu trúc tính ngữ kiểu Hán văn, không có từ cổ, không có sự xuất hiện các cụm từ Hán như bài <i>Công đức bi ký </i>功 德 碑 記 ở chùa Trầm [40]. Dưới đây chúng tôi xin dẫn ra một đoạn để minh họa:</p><p>山 分 廊 龍 珠 固 丐 峒 , 容 特 . 外 峒 固 廚, 沒 勝 景 瑇 省 山 西. 圅 茄 黎, 主 鄭 常 制 帝. 戈 吏, 物 移, 姚 廚, 峒, 客 覽 勝 動 . </p><p>(Sơn phận làng Long Châu có cái động đá sâu rộng, dung được nghìn người. Ngoài động có chùa, là một thắng cảnh trong tỉnh Sơn Tây. Đời nhà Lê, chúa Trịnh thường ra chơi đấy. Ngày qua tháng lại, vật đổi sao dời, rêu lấp sân chùa, cỏ che cửa động, khách lãm thắng trông thấy mà động lòng.[40])</p><p>Văn xuôi Nôm đã đi từ diễn đạt xuôi, đến việc dùng các thủ pháp nghệ thuật. Nội dung diễn đạt của văn xuôi Nôm trên bia đá cũng phong phú hơn trước: có văn bia ghi công, có văn bia gửi giỗ, có văn bia Hậu thần, Hậu phật, có văn bia ghi lại việc xây dựng chùa, có văn bia vịnh cảnh...</p><p><b>2. Vài nhận xét về sự phát triển của văn xuôi Nôm trên bia đá</b></p><p><b></b></p><b></b><p>Văn xuôi Nôm trên bia đá đã phát triển từ việc ghi lại những lời thề, những lời thoại ngắn của dân chúng trong các văn bản hành chính gần gũi với đời sống của nhân dân đến việc trở thành một hình thức thể hiện văn xuôi khá hoàn chỉnh, từ những đoạn văn Nôm pha Hán đến những đoạn văn thuần Nôm. </p><p>Căn cứ vào những vài văn bia khắc văn xuôi Nôm vừa khảo sát ở trên, chúng tôi lập 3 bảng thống kê về 4 loại câu thường gặp trong các đoạn văn Nôm từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX để có thể đi đến một sự hình dung cụ thể về sự phát triển của văn xuôi Nôm trên bia đá (xét về tính thuần Nôm). Bốn loại câu đó là:</p><p>- Những câu văn thuần Hán diễn đạt theo cú pháp văn Nôm. Gọi tắt là câu văn thuần Hán.</p><p>- Những câu văn thuần Nôm.</p><p>- Những câu văn Nôm phải dùng kèm một số cụm từ Hán. Gọi tắt là câu văn Nôm xen Hán.</p><p>- Những câu văn Hán dùng kèm một vài cụm từ Nôm, không phải cụm từ chỉ địa danh, tên người mà là những cụm từ có chức năng ngữ pháp riêng biệt. Gọi tắt là câu văn Hán xen Nôm.</p><p><b>Bảng 1. Thế kỷ XVII (3 bia)</b></p><p><b></b></p><b></b><p><b>Bảng 2. Thế kỷ XVIII (2 bia)</b></p><p><b></b></p><b></b><p><b>Bảng 3. Thế kỷ XIX-XX (16 bia)</b></p><p><b></b></p><b></b><p><i>(Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (74) 2006; Tr.52-62)</i></p><p><i></i></p><i></i>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 18 Jul 2026 12:56:36 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">VÀI NÉT VỀ VĂN XUÔI NÔM TRÊN TƯ LIỆU VĂN BIA</media:title>
                        <media:keywords>VÀI NÉT VỀ VĂN XUÔI NÔM TRÊN TƯ LIỆU VĂN BIA</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Khởi động trang 44 Chuyên đề Toán 11 Cánh diều]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/chuyen-de-van-11-canh-dieu-a111222.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/chuyen-de-van-11-canh-dieu-a111222.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/chuyen-de-van-11-canh-dieu-a111222.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<h2>Giải Chuyên đề Toán 11 Bài 2: Một vài ứng dụng của lí thuyết đồ thị - Cánh diều</h2> <p><b>Khởi động trang 44 Chuyên đề Toán 11: </b>Như chúng ta đã biết, Lí thuyết đồ thị ra đời trong quá trình khái quát, mô phỏng những vấn đề của khoa học và thực tiễn thành những mô hình toán học. Vì thế, các kết quả của Lí thuyết đồ thị có nhiều ứng dụng trong khoa học và thực tiễn.</p> <p>Lí thuyết đồ thị có thể giải quyết những vấn đề thực tiễn nào?</p> <p><b>Lời giải:</b> </p> <p>Qua bài học này, ta thấy Lí thuyết đồ thị có thể giải quyết những vấn đề thực tiễn: </p> <p>- Vấn đề về tìm đường đi ngắn nhất trong những trường hợp đơn giản.</p> <p>- Vấn đề liên quan đến khoa học tự nhiên và công nghệ.</p> <p>Lời giải Chuyên đề Toán 11 Bài 2: Một vài ứng dụng của lí thuyết đồ thị hay, chi tiết khác:</p> <ul> <li><p><b>Hoạt động 1 trang 44 Chuyên đề Toán 11: </b>Giả sử ba địa điểm A, B, C được nối với nhau theo những con đường AB, BC, CA ....</p> </li> <li><p><b>Luyện tập 1 trang 44 Chuyên đề Toán 11: </b>Hãy cho ví dụ về đồ thị có trọng số. ....</p> </li> <li><p><b>Hoạt động 2 trang 44 Chuyên đề Toán 11: </b>Giả sử có sáu địa điểm A, B, C, D, E, F được nối với nhau theo những con đường với độ dài ....</p> </li> <li><p><b>Luyện tập 2 trang 46 Chuyên đề Toán 11: </b>Sử dụng thuật toán láng giềng gần nhất để giải bài toán trong Hoạt động 2. ....</p> </li> <li><p><b>Luyện tập 3 trang 47 Chuyên đề Toán 11: </b>Hexane C6H14 có năm đồng phân. Vẽ đồ thị tương ứng với năm đồng phân đó. ....</p> </li> </ul> <ul> <li><p><b>Bài 1 trang 49 Chuyên đề Toán 11: </b>Hình 31 biểu diễn mạng lưới máy chủ và tốc độ truyền dữ liệu ....</p> </li> <li><p><b>Bài 2 trang 49 Chuyên đề Toán 11: </b>Có bốn địa điểm với độ dài quãng đường giữa các địa điểm (đơn vị: kilômét) mô tả trong Hình 32 ....</p> </li> <li><p><b>Bài 3 trang 49 Chuyên đề Toán 11: </b>Giả sử chi phí di chuyển giữa các địa điểm được mô tả ở Hình 33 (đơn vị: nghìn đồng) ....</p> </li> <li><p><b>Bài 4 trang 49 Chuyên đề Toán 11: </b>Sử dụng thuật toán láng giềng gần nhất, hãy giải bài toán người giao hàng đối với đồ thị ở Hình 34 ....</p> </li> <li><p><b>Bài 5 trang 49 Chuyên đề Toán 11: </b>Một nhân viên của bảo tàng nghệ thuật đang có kế hoạch giới thiệu nội dung cuộc triển lãm ....</p> </li> </ul> <p>Xem thêm lời giải bài tập Chuyên đề học tập Toán 11 Cánh diều hay, chi tiết khác:</p> <ul> <li><p><b>Chuyên đề Toán 11 Bài 1: Phép dời hình</b></p></li> <li><p><b>Chuyên đề Toán 11 Bài 2: Phép đồng dạng </b></p></li> <li><p><b>Chuyên đề Toán 11 Bài 1: Một vài yếu tố của lí thuyết đồ thị. Đường đi Euler và đường đi Hamilton</b></p></li> <li><p><b>Chuyên đề Toán 11 Bài 1: Một số nội dung cơ bản về vẽ kĩ thuật </b></p></li> <li><p><b>Chuyên đề Toán 11 Bài 2: Đọc và vẽ bản vẽ kĩ thuật đơn giản</b></p></li> </ul> <p>Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 11 hay khác:</p> <ul> <li><b>Giải Chuyên đề học tập Toán 11 Kết nối tri thức</b></li> <li><b>Giải Chuyên đề học tập Toán 11 Chân trời sáng tạo</b></li> <li><b>Giải Chuyên đề học tập Toán 11 Cánh diều</b></li> <li><b>Giải lớp 11 Kết nối tri thức (các môn học)</b></li> <li><b>Giải lớp 11 Chân trời sáng tạo (các môn học)</b></li> <li><b>Giải lớp 11 Cánh diều (các môn học)</b></li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 18 Jul 2026 11:24:20 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Khởi động trang 44 Chuyên đề Toán 11 Cánh diều</media:title>
                        <media:keywords>Khởi động trang 44 Chuyên đề Toán 11 Cánh diều</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Văn 12]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/cam-nhan-doan-3-tay-tien-a111195.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/cam-nhan-doan-3-tay-tien-a111195.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/cam-nhan-doan-3-tay-tien-a111195.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<h2><strong>Cảm nhận đoạn 3 bài thơ Tây Tiến</strong></h2><p>Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc</p><p>Quân xanh màu lá dữ oai hùm</p><p>Mắt trừng gửi mộng qua biên giới</p><p>Ðêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm</p><p>Rải rác biên cương mồ viễn xứ</p><p>Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh</p><p>Áo bào thay chiếu anh về đất</p><p>Sông Mã gầm lên khúc độc hành</p><p><strong> </strong></p><p><strong>Gợi ý phân tích đoạn 3 Tây Tiến</strong></p><p><strong>1. Giữa nền thiên nhiên khắc nghiệt, hình ảnh người lính hiện lên thật bi tráng. Quang Dũng đã dùng những hình ảnh rất hiện thực để tô đậm cái phi thường của người lính:</strong></p><p>Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc</p><p>Quân xanh màu lá dữ oai hùm</p><p>- Hai câu thơ mở đầu gợi lên vẻ đẹp bi tráng. Đầu tiên đó là cái bi thương gợi lên từ ngoại hình của người lính ốm yếu, tiều tụy, đầu trọc, da dẻ xanh như màu lá. Đoàn quân trông thật kì dị: “không mọc tóc”, “quân xanh màu lá”. Đó là nguyên do của những tháng ngày hành quân vất vả vì đói và khát, là dấu ấn của những trận sốt rét ác tính làm tóc rụng không mọc lại được, da dẻ héo úa xanh xao. Hiện thực gian khổ ấy không chỉ có trong thơ Quang Dũng mà còn hằn in trong rất nhiều vần thơ thời chống Pháp: “Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật/Đâu còn tươi nữa những ngày hoa” (Thôi Hữu); “Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh/ Sốt run người vầng trán đẫm mồ hôi” (Chính Hữu)</p><p>- Bên cạnh cái bi ta còn thấy cái hào hùng: thủ pháp nghệ thuật đối lập giữa ngoại hình ốm yếu và tâm hồn bên trong đã làm nên khí chất mạnh mẽ trong tư thế của người lính. Cách nói “không mọc tóc” là để tả cái ngang tàng của người lính, lại như có nét đùa vui, hóm hỉnh: không cần tóc mọc. Tác giả không viết “rụng tóc” mà viết “không mọc tóc” vì viết như thế sẽ nói lên cái ý chí không bị động của người lính Tây Tiến, hình như các anh chủ động để trọc đầu để dễ dánh giáp lá cà với địch. Từ màu da xanh xao như lá vẫn toát lên cái “oai hùm”. Kế thừa hình tượng truyền thống về những bậc trượng phu, tráng sĩ, những oai tướng hùm thiêng như Từ Hải, như “ông hùm Đề Thám”, câu thơ mang âm hưởng hào hùng, tráng ca. Điều đó cũng cho thấy người lính Tây Tiến rất lạc quan, yêu đời, coi thường gian khổ.</p><p>- Mặt khác cái hào hùng còn hiện lên qua cách dùng từ Hán Việt “Đoàn binh”. Chữ “đoàn binh” chứ không phải là “đoàn quân” đã gợi lên được sức mạnh lạ thường. Kết hợp với ba từ “dữ oai hùm” câu thơ đã gợi lên dáng vẻ oai phong lẫm liệt, oai của chúa sơn lâm. Qua đó ta thấy người lính Tây Tiến vẫn mạnh mẽ làm chủ tình hình, làm chủ núi rừng, chế ngự mọi khắc nghiệt xung quanh, đạp bằng mọi gian khổ khó khăn.</p><p><strong>2. Bên cạnh chất bi hùng, đoạn thơ còn để lại dấu ấn lãng mạn của những chàng trai Hà Nội mang tâm hồn hào hoa</strong>:</p><p>Mắt trừng gửi mộng qua biên giới </p><p>Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm</p><p>- Hai chữ “Mắt trừng” gợi nhiều liên tưởng: “mắt trừng” là mắt mở to nhìn thẳng về phía kẻ thù với chí khí mạnh mẽ thề sống chết với kẻ thù. Đôi mắt ấy “gửi mộng qua biên giới” - mộng giết giặc, mộng lập công, mộng hòa bình.</p><p>- “Mắt trừng” còn là đôi mắt có tình, đôi mắt “mộng mơ” thao thức nhớ về quê hương Hà Nội: “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/ Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” (Huỳnh Văn Nghệ). Và trong bóng Hà Nội nào có thể quên một dáng “kiều thơm”. Đó là bóng hình của những người bạn gái Hà Nội, thanh lịch, yêu kiều, diễm lệ. Với ý nghĩa ấy ta thấy, người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa, lãng mạn. Chính tình yêu thương là động cơ đẹp đẽ để họ ra đi chiến đấu, còn lý tưởng cách mạng lại khiến tình yêu thương thêm cao cả, lớn lao.</p><p><strong>3. Hai câu tiếp theo ngời lên vẻ đẹp lí tưởng của thời đại: “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh”</strong></p><p>Rải rác biên cương mồ viễn xứ</p><p>Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh</p><p>- Câu thơ “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” ngắt nhịp 4/3 khiến trọng tâm câu thơ rơi vào chữ “mồ” - một âm tiết mang thanh bằng ở âm vực thấp, và gợi ý niệm về cái chết. Kết hợp với các từ Hán Việt - “biên cương”, “viễn xứ” gợi không khí cổ kính, gợi không gian nơi biên giới xa xôi, heo hút hoang lạnh. Nhà thơ nhìn thẳng vào sự khốc liệt của chiến tranh, miêu tả về cái chết, không né tránh hiện thực. Trần Lê Văn có nhận xét “Tây Tiến phảng phất nét buồn nét đau, nhưng buồn đau mà không hề bi luỵ”. Quả đúng như vậy, câu thơ tiếp theo dữ dội như một lời thề sông núi:</p><p>“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.</p><p>- Bốn từ “chẳng tiếc đời xanh ” vang lên khảng khái, vừa gợi vẻ phong trần đồng thời mang vẻ đẹp thời đại “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. “Chiến trường” là bom đạn khốc liệt là cái chết cận kề là dữ dội nguy nan . “Đời xanh” là tuổi trẻ, là cuộc sống non xanh mơn mởn. Thế nhưng người lính ở đây lại “chẳng tiếc” cho mình. Câu thơ gợi liên tưởng đến hình ảnh những con người thuở ấy ra đi “đầu không ngoảnh lại”, ra đi “không vương thê nhi”, coi cái chết ngoài chiến trường, lấy da ngựa bọc thây là một niềm kiêu hãnh của trai thời loạn. Hình ảnh ấy không chỉ mang vẻ đẹp của người lính cụ Hồ mà còn phảng phất tinh thần hiệp sĩ. Thật xúc động biết bao khi đọc lại vần thơ của một thời khói lửa đạn bom ấy.</p><p><strong>4. Hai câu thơ cuối, Quang Dũng nói về sự hi sinh bi tráng của những người lính:</strong></p><p>Áo bào thay chiếu anh về đất</p><p>Sông Mã gầm lên khúc độc hành</p><p>- Cách nói “áo bào thay chiếu” là cách nói bi tráng hóa, tráng lệ hóa sự hi sinh của người lính. Quang Dũng tâm sự rằng: “Sự thật khi người lính ngã xuống không có được manh vải liệm. Nói áo bào là nói theo cách nói của thơ xưa để an ủi những người đã nằm xuống”. Thật bi tráng thay, chiếc chiếu cói nhàu rách kia đã từng theo họ suốt chiến trường, là vật bất li thân cũng là tấm áo bào của lòng thành kính đưa những người con ưu tú của dân tộc về với đất mẹ. “Anh về đất” là cách nói giảm, nói tránh đi cái chết làm câu thơ bi mà không lụy. Ý thơ từ đó mang các anh về với thế giới của vĩnh hằng, thế giới của “những người chưa bao giờ khuất - đêm đêm rì rầm trong tiếng đất - những buổi ngày xưa vọng nói về” (Nguyễn Đình Thi)</p><p>- Con sông Mã, chứng nhân của lịch sử, bạn đồng hành của Tây Tiến, cũng nhỏ dòng lệ cảm thương lay động cả đất trời, đã gầm lên “khúc độc hành” khúc tráng ca bi hùng rực rỡ nét sử thi “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Tiếng gầm ấy là khúc nhạc bi tráng, khúc nhạc thiêng tiễn đưa người lính về với nơi an nghỉ cuối cùng.</p><p><strong>5. Tổng kết nghệ thuật: </strong>Thành công của đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung chính là việc nhà thơ sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật: phép tương phản, đối lập gây ấn tượng mạnh. Đối lập, tương phản giữa cái ngoại hình ốm yếu, tiều tụy với tinh thần chiến đấu mạnh mẽ ở bên trong; sử dụng nhiều từ Hán Việt gợi sắc thái cổ kính; biện pháp tu từ nhân hoá, ẩn dụ… ngôn ngữ sử thi, lãng mạn, hào hùng. Chất thơ mang đậm dấu ấn của trí thức tiểu tư sản.</p><p><strong>Đoạn 4. Khúc vĩ thanh của nỗi nhớ</strong></p><p><strong>1. Hai câu đầu: “Tây Tiến người đi….. chia phôi”</strong></p><p>- Người chiến sĩ ra đi với quyết tâm sắt đá, có chí lớn, quyết lập được chiến công như người chiến sĩ trong bài thơ “Tống biệt hành” của Thâm Tâm:</p><p>“Li khách! Li Khách con đường nhỏ</p><p>Chí nhớn chưa về bàn tay không</p><p>Thì không bao giớ nói trở lại</p><p>Ba năm mẹ già cũng đừng mong”</p><p>- “Không hẹn ước”, rồi lại “thăm thẳm một chia phôi”, Quang Dũng khẳng định cái ý niệm “Nhất khứ bất phục hoàn” trong hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến cũng là cái ý niệm của chung cả một thời kì, một thế hệ con người. Đã nói nhiều đến Tây Tiến, đã nhắc lại nhiều kỉ niệm Tây Tiến, nhưng cuối cùng cái đọng lại sâu sắc nhất bền vững nhất về Tây Tiến vẫn là cái tinh thần ấy. Giọng thơ trầm, chậm, hơi buồn nhưng ý thơ thì vẫn hào hùng.</p><p>- Ý thơ còn gợi cách hiểu thứ hai: qua cách nói “một chia phôi”, “không hẹn ước” tác giả thể hiện sự mến thương cảm phục và nỗi xót xa về những người vệ quốc quân - mùa xuân ấy, ra đi từ đó không về.</p><p><strong>2. Câu 3 “ Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy”.</strong></p><p><strong>+ </strong>Mùa xuân ấy, khi “Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông” (Hồ Chí Minh), đoàn binh Tây Tiến xuất quân. Họ ra đi đầu không ngoảnh lại. Họ đã tiến ra sa trường với lời hẹn ước: “Nhất khứ bất phục hoàn”, “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Đó là lời thề, là quyết tâm của cả một thế hệ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Họ bỏ lại sau lưng mình “gian nhà không mặc kệ gió lung lay”, bỏ lại sau lưng “Luống cày đất đỏ - Tiếng mõ đêm trường - Ít nhiều người vợ trẻ - Mòn chân bên cối gạo canh khuya” (Nhớ - Hồng Nguyên).</p><p>+ “Mùa xuân” có thể đ­ược dùng nhiều nghĩa: thời điểm thành lập đoàn quân Tây Tiến (mùa xuân 1947), mùa xuân của đất n­ước, mùa xuân (tuổi thanh xuân) của đời các chiến sĩ.</p><p>+ Dù hiểu theo cách nào thì “mùa xuân ấy” cũng đã trở thành cái thời điểm một đi không trở lại của lịch sử nước nhà. Sẽ không bao giờ còn có lại cái thuở thiếu thốn đến dường ấy nhưng cũng lãng mạn và hào hùng đến dường ấy.</p><p><strong>3. Câu 4 : “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”:</strong></p><p>- “Chẳng về xuôi” nghĩa là bỏ mình trên đường hành quân, là ngã xuống trở thành “biên cương mồ viễn xứ”. Thân xác mãi nằm lại miền Tây hoang sơ, tráng lệ với những tên đất tên làng điệp trùng nỗi nhớ.</p><p>- “Hồn về Sầm Nứa” chí nguyện của các chiến sĩ là sang nước bạn hợp đồng tác chiến với quân dân Lào chống Pháp, họ quyết tâm thực hiện lí tưởng ấy đến cùng. Cho nên, dù ngã xuống trên đường hành quân, nhưng hương hồn (anh linh) vẫn đi cùng đồng đội, sống trong lòng đồng đội. Tứ thơ này nâng chất sử thi của bài thơ. Câu thơ như cũng vang vọng âm h­ưởng văn tế của Nguyễn Đình Chiểu: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc”.</p><p><strong>Kết </strong>: Đó là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ, dũng cảm, không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh…. Đến lúc chết vẫn giữ lời thề. Tây Tiến đau thương mà không bi lụy, mất mát mà vẫn tràn đầy niềm tin. Bốn câu thơ kết thúc đ­ược viết như­ những dòng chữ ghi vào mộ chí. Những dòng chữ ấy cũng chính là lời thề của các chiến sĩ vệ quốc quân một thuở hào hùng. Xin được mượn mấy vần thơ của Giang Nam thay cho lời kết:</p><p>“Tây Tiến biên cương mờ lửa khói Quân đi lớp lớp động cây rừng Và bài thơ ấy, con người ấy Vẫn sống muôn đời với núi sông” (“Bài thơ ấy” - Giang Nam)</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 18 Jul 2026 00:38:25 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Văn 12</media:title>
                        <media:keywords>Văn 12</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[[A-Z] Phân tích + Sơ đồ tư duy Việt Bắc của Tố Hữu]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phan-tich-bai-viet-bac-8-cau-dau-a111187.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phan-tich-bai-viet-bac-8-cau-dau-a111187.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phan-tich-bai-viet-bac-8-cau-dau-a111187.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-bai-viet-bac-8-cau-dau.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<h2>Giới thiệu chung về bài thơ Việt Bắc</h2> <p>Bài thơ Việt Bắc là một bản tình ca bất hủ về mảnh đất và con người Việt Bắc. Bài thơ đã thể hiện thành công tình cảm sâu nặng của cán bộ, chiến sĩ đối với Việt Bắc, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên và con người nơi đây. Trước khi tìm hiểu sâu về sơ đồ tư duy Việt Bắc, mời bạn xem qua các thông tin chung về tác giả Tố Hữu về bài thơ bất hủ này.</p> <h3>Tác giả Tố Hữu</h3> <p><strong>Tố Hữu</strong> là một nhà thơ lớn, một nhà cách mạng lão thành, một tấm gương sáng về đạo đức cách mạng. Thơ ông là một phần không thể thiếu trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Một số thông tin chung về tác giả Tố Hữu mà bạn cần biết đến như sau:</p> <p><strong>Thông tin chung:</strong></p> <ul> <li> <p><strong>Tên khai sinh: </strong>Nguyễn Kim Thành</p> </li> <li> <p><strong>Năm sinh: </strong>1920</p> </li> <li> <p><strong>Năm mất:</strong> 2000</p> </li> <li> <p><strong>Nơi sinh: </strong>Làng Phù Lai, Quảng Điền, Thừa Thiên Huế</p> </li> <li> <p><strong>Giải thưởng:</strong></p> <ul> <li> <p>Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996)</p> </li> <li> <p>Huân chương Sao Vàng (1990)</p> </li> </ul></li> <li> <p><strong>Tác phẩm tiêu biểu: </strong>Từ Ấy, Khi Con Tu hú, Việt Bắc, Gió lộng Trường Sơn, Từ Cuba, Máu và Hoa, Kính gửi cụ Nguyễn Du.</p> </li> </ul> <p><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-bai-viet-bac-8-cau-dau.jpg" alt="Tác giả Tố Hữu. (Ảnh: Sưu tầm Internet)" /></p> <p><strong>Phong cách sáng tác:</strong></p> <ul> <li> <p><strong>Tính chính trị:</strong> Thơ Tố Hữu luôn gắn bó mật thiết với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Ông là nhà thơ của những chặng đường lịch sử, của những sự kiện trọng đại.</p> </li> <li> <p><strong>Tính trữ tình: </strong>Thơ Tố Hữu thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, giàu tình cảm. Ông thường viết về những chủ đề như: tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu đồng chí, đồng bào, niềm tin vào tương lai...</p> </li> <li> <p><strong>Tính dân tộc: </strong>Thơ Tố Hữu sử dụng nhiều hình ảnh, biểu tượng, ngôn ngữ gần gũi với đời sống của người dân. Giọng điệu thơ phong phú, đa dạng, lúc sôi nổi, hào hùng, lúc tha thiết, trữ tình.</p> </li> </ul> <p>Nhìn chung, Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu đã góp phần cổ vũ, động viên tinh thần cho quân và dân ta trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Bên cạnh đó, thơ Tố Hữu còn để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc bởi tính chính trị, trữ tình và tính dân tộc sâu sắc.</p> <h3>Bài thơ Việt Bắc</h3> <p>Bài thơ Việt Bắc mang giá trị lịch sử, ghi lại một giai đoạn quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta. Đồng thời, bài thơ đã góp phần khẳng định vị trí của Tố Hữu trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Cụ thể như sau:</p> <h4>Hoàn cảnh ra đời</h4> <p>Bài thơ được sáng tác vào tháng 10 năm 1954, khi Trung ương Đảng và Chính phủ rời Việt Bắc về Thủ đô Hà Nội sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Tác giả viết bài thơ này để thể hiện tình cảm sâu nặng của cán bộ, chiến sĩ đối với Việt Bắc - mảnh đất đã gắn bó với họ trong những năm tháng kháng chiến.</p> <h4>Bố cục</h4> <p>Bố cục của bài thơ Việt Bắc được chia thành 3 phần, như sau:</p> <ul> <li> <p><strong>8 câu đầu:</strong> Nhắc lại tình cảm gắn bó giữa cán bộ, chiến sĩ với Việt Bắc trong những năm tháng kháng chiến.</p> </li> <li> <p><strong>12 câu tiếp theo: </strong>Tả cảnh đẹp và con người Việt Bắc.</p> </li> <li> <p><strong>Còn lại: </strong>Nỗi nhớ và lời hẹn với Việt Bắc.</p> </li> </ul> <p><img src="https://vnmedia2.monkeyuni.net/upload/web/img/2-so-do-tu-duy-viet-bac.png" alt="Bài thơ Việt Bắc. (Ảnh: Sưu tầm Internet)" /></p> <h4>Giá trị nội dung</h4> <p>Giá trị nội dung của bài thơ Việt Bắc bao gồm 2 ý chính:</p> <ul> <li> <p><strong>Tình cảm gắn bó sâu nặng giữa cán bộ, chiến sĩ với Việt Bắc</strong>, như: Nỗi nhớ nhung da diết khi phải chia tay, lòng biết ơn đối với sự che chở, đùm bọc của người dân Việt Bắc. Và hình ảnh Việt Bắc đẹp đẽ, thơ mộng, đầy tình người.</p> </li> <li> <p><strong>Cảm xúc bâng khuâng, lưu luyến khi chia tay</strong> được thể hiện qua nỗi buồn khi phải tạm biệt mảnh đất đã gắn bó bao kỷ niệm, và mong ước được trở lại Việt Bắc trong tương lai.</p> </li> </ul> <h4>Giá trị nghệ thuật</h4> <p>Bài thơ Việt Bắc đã sử dụng thành công thể thơ lục bát uyển chuyển, du dương. Bên cạnh đó, ngôn ngữ giản dị, gần gũi, giàu sức gợi hình, gợi cảm. Đồng thời, sử dụng nhiều biện pháp tu từ như: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa… với giọng điệu tha thiết, lúc sôi nổi, lúc trầm lắng.</p> <h2>Sơ đồ tư duy bài Việt Bắc (tác giả: Tố Hữu)</h2> <p>Dưới đây là những mẫu sơ đồ tư duy Việt Bắc được Monkey tổng hợp và chọn lọc, từ đầy đủ - chi tiết đến ngắn gọn, hay bao hàm các ý riêng biệt. Mời bạn tham khảo!</p> <h3>Sơ đồ tư duy Việt Bắc đầy đủ, chi tiết</h3> <p>Dưới đây là 3 mẫu sơ đồ tư duy Việt Bắc đầy đủ, chi tiết mà bạn nên tham khảo.</p> <p><img src="https://vnmedia2.monkeyuni.net/upload/web/img/3-so-do-tu-duy-viet-bac.png" alt="Mẫu 1: Sơ đồ tư duy Việt Bắc đầy đủ, chi tiết. (Ảnh: Sưu tầm Internet)" /></p> <p><img src="https://vnmedia2.monkeyuni.net/upload/web/img/4-so-do-tu-duy-viet-bac.png" alt="Mẫu 2: Sơ đồ tư duy Việt Bắc đầy đủ, chi tiết. (Ảnh: Sưu tầm Internet)" /></p> <p><img src="https://vnmedia2.monkeyuni.net/upload/web/img/5-so-do-tu-duy-viet-bac.png" alt="Mẫu 3: Sơ đồ tư duy Việt Bắc đầy đủ, chi tiết. (Ảnh: Sưu tầm Internet)" /></p> <p><strong>ĐỪNG BỎ LỠ!!</strong></p> <p><strong>Chương trình xây dựng nền tảng tiếng Việt theo phương pháp hiện đại nhất.</strong></p> <p><strong>Nhận ưu đãi lên đến 40% NGAY TẠI ĐÂY!</strong><img src="https://vnmedia2.monkeyuni.net/upload/web/img/taimienphiVM.png" alt="Mẫu 1: Sơ đồ tư duy Việt Bắc ngắn gọn. (Ảnh: Sưu tầm Internet)" /></p> <h3>Sơ đồ tư duy Việt Bắc ngắn gọn</h3> <p>Ngoài bản đầy đủ kể trên, dưới đây là các mẫu sơ đồ tư duy Việt Bắc ngắn gọn giúp bạn nhanh chóng tóm tắt nội dung chính của bài thơ.</p> <p><img src="https://vnmedia2.monkeyuni.net/upload/web/img/6-so-do-tu-duy-viet-bac.png" alt="Mẫu 2: Sơ đồ tư duy Việt Bắc ngắn gọn. (Ảnh: Sưu tầm Internet)" /></p> <p><img src="https://vnmedia2.monkeyuni.net/upload/web/img/7-so-do-tu-duy-viet-bac.png" alt="Sơ đồ tư duy Việt Bắc 8 câu đầu. (Ảnh: Sưu tầm Internet)" /></p> <h3>Sơ đồ tư duy Việt Bắc 8 câu đầu</h3> <p>8 câu đầu của bài thơ Việt Bắc khơi gợi kỉ niệm và nỗi nhớ da diết của tác giả, thế nên đây là một điểm trọng yếu mà bạn nên vẽ sơ đồ tư duy.</p> <p><img src="https://vnmedia2.monkeyuni.net/upload/web/img/8-so-do-tu-duy-viet-bac.png" alt="Mẫu 1: Sơ đồ tư duy bức tranh tứ bình Việt Bắc. (Ảnh: Sưu tầm Internet)" /></p> <h3>Sơ đồ tư duy bức tranh tứ bình Việt Bắc </h3> <p>Bức tranh tứ bình Việt Bắc là một trong những đoạn thơ hay nhất trong bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu. Bức tranh vẽ nên vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.</p> <p><img src="https://vnmedia2.monkeyuni.net/upload/web/img/9-so-do-tu-duy-viet-bac.png" alt="Mẫu 2: Sơ đồ tư duy bức tranh tứ bình Việt Bắc. (Ảnh: Sưu tầm Internet)" /></p> <p><img src="https://vnmedia2.monkeyuni.net/upload/web/img/10-so-do-tu-duy-viet-bac.png" alt="Sơ đồ tư duy cảm nhận bài thơ Việt Bắc. (Ảnh: Sưu tầm Internet)" /></p> <h3>Sơ đồ tư duy cảm nhận bài thơ Việt Bắc</h3> <p>Bài thơ Việt Bắc thể hiện tình cảm sâu nặng của cán bộ, chiến sĩ đối với Việt Bắc - mảnh đất đã gắn bó với họ trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp. Tác giả đã sử dụng nhiều hình ảnh thơ đẹp, giàu sức gợi cảm để miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên và con người Việt Bắc.</p> <p><img src="https://vnmedia2.monkeyuni.net/upload/web/img/11-so-do-tu-duy-viet-bac.png" alt="Văn mẫu phân tích bài thơ Việt Bắc hay nhất. (Ảnh: Sưu tầm Internet)" /></p> <p><strong>Xem thêm:</strong></p> <ol> <li>VMonkey - Ứng dụng giúp xây dựng nền tảng tiếng Việt vững chắc cho trẻ</li> <li>Sơ đồ tư duy Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm: Giúp bạn chinh phục kỳ thi!</li> </ol> <h2>Văn mẫu phân tích bài thơ Việt Bắc hay nhất</h2> <p>Bài thơ "Việt Bắc" của nhà thơ Tố Hữu là một tác phẩm nổi tiếng trong văn chương Việt Nam, được sáng tác trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Với chất liệu lịch sử và tình cảm quê hương sâu sắc, bài thơ đã góp phần làm phong phú thêm di sản văn hóa của dân tộc, mang lại những cảm nhận đầy mạnh mẽ và sâu sắc về tâm hồn con người Việt Nam trong những thời kỳ gian khó khăn và đầy thách thức.</p> <p>Tác giả Tố Hữu đã khéo léo chọn lựa ngôn ngữ và hình ảnh để diễn đạt tâm trạng và tình cảm của nhân dân Việt Bắc trong những ngày khốc liệt của chiến tranh. Mỗi câu thơ đều như một viên gạch xây dựng nên bức tranh sống động về cuộc sống, tâm hồn, và lòng yêu nước của những người lính và nhân dân Việt Nam.</p> <p>Đặc biệt, từ ngữ của tác giả thường chứa đựng nhiều hình ảnh mô tả, minh họa tốt cho bức tranh chiến sự. Trong bài thơ, hình ảnh "Mưa bom xối xả như mưa rào" đã thể hiện sự khốc liệt, nguy hiểm và đau thương của cuộc chiến tranh. Những tảng đá trơ trụi, những cánh cỏ dại nở trên đỉnh núi cao đã làm nổi bật tâm hồn kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam trước những thử thách khắc nghiệt.</p> <p>Bài thơ "Việt Bắc" không chỉ đơn thuần là một tác phẩm nghệ thuật mà còn là biểu tượng của tinh thần chiến đấu, hy sinh và lòng yêu nước. Tác giả đã biến những hình ảnh đau thương của chiến tranh thành nguồn động viên, làm đầy đẳng tình yêu quê hương. Mỗi câu thơ đều là lời kêu gọi, là cầu nguyện của những người con của một đất nước đang chịu đựng những đau đớn và thử thách lớn lao.</p> <p>Bên cạnh đó, bài thơ còn là sự tảo trình của tác giả về vẻ đẹp tâm hồn, lòng nhân ái và lòng đoàn kết của nhân dân Việt Bắc. Những đoạn thơ như "Bàn tay nhỏ, bàn tay dịu dàng / Ôm nắng, ôm gió, ôm lòng mẹ yêu" đã chạm đến trái tim người đọc, làm cho họ cảm nhận được sự ấm áp và mạnh mẽ của tình cảm gia đình, cộng đồng.</p> <p>Tóm lại, bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu không chỉ là một tác phẩm văn học nổi bật mà còn là biểu tượng của tinh thần chiến đấu và lòng yêu nước. Tác giả đã thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh để thể hiện rõ nét những khía cạnh đa dạng của cuộc sống và tâm hồn con người Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến lịch sử. Bài thơ "Việt Bắc" không chỉ là niềm tự hào của văn chương Việt Nam mà còn là nguồn cảm hứng, động viên cho thế hệ người đọc về lòng yêu nước, lòng hiếu thảo, và tinh thần đoàn kết.</p> <p><img src="https://vnmedia2.monkeyuni.net/upload/web/img/12-so-do-tu-duy-viet-bac.png" alt="[A-Z] Phân tích + Sơ đồ tư duy Việt Bắc của Tố Hữu" /></p> <p>Như vậy, bài viết này ngoài việc cung cấp cho bạn hàng loạt các mẫu <strong>sơ đồ tư duy Việt Bắc</strong>, mà còn chia sẻ đến bạn đọc các thông tin thú vị về tác giả Tố Hữu, cũng như hoàn cảnh ra đời của bài thơ này. Hy vọng đoạn văn mẫu phân tích bài thơ Việt Bắc mà Monkey chia sẻ trên đây sẽ giúp ích cho bạn trong hành trình chinh phục kỳ thi sắp tới!</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Fri, 17 Jul 2026 22:34:57 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-bai-viet-bac-8-cau-dau.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-bai-viet-bac-8-cau-dau.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">[A-Z] Phân tích + Sơ đồ tư duy Việt Bắc của Tố Hữu</media:title>
                        <media:keywords>[A-Z] Phân tích + Sơ đồ tư duy Việt Bắc của Tố Hữu</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá - Tác giả tác phẩm (mới 2024)]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/viet-van-doan-thuyen-danh-ca-a111182.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/viet-van-doan-thuyen-danh-ca-a111182.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/viet-van-doan-thuyen-danh-ca-a111182.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Với tác giả, tác phẩm Đoàn thuyền đánh cá Ngữ văn lớp 9 hay nhất, chi tiết trình bày đầy đủ nội dung chính quan trọng nhất về bài Đoàn thuyền đánh cá gồm bố cục, tóm tắt, nội dung chính, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật, dàn ý, phân tích, ....</p> <h2>Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá (Huy Cận) - Ngữ văn lớp 9</h2> <p>Bài giảng: <b>Đoàn thuyền đánh cá - Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)</b></p> <h3>Nội dung bài thơ Đoàn thuyền đánh cá</h3> <h3>I. Đôi nét về tác giả </h3> <p>- Huy Cận (1919-2005) tên đầy đủ là Cù Huy Cận</p> <p>- Quê quán: Làng Ân Phú- huyện Dụ Quang- tỉnh Hà Tĩnh</p> <p>- Sự nghiệp sáng tác:</p> <p> + Huy Cận đã nổi tiếng trong phong trào thơ mới với thơ “Lửa thiêng”.</p> <p> + Ông tham gia cách mạng từ trước năm 1945 và sau cách mạng tháng Tám từng giữ nhiều trọng trách trong chính quyền cách mạng, đồng thời là một trong một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam</p> <p> + Huy Cận đã được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996)</p> <p>- Phong cách sáng tác: </p> <p> + Trước cách mạng, hồn thơ ông là một hồn thơ ảo não</p> <p> + Sau cách mạng, hồn thơ ông có sự biến chuyển tươi vui hơn</p> <h3>II. Đôi nét về tác phẩm Đoàn thuyền đánh cá</h3> <p><b>1. Hoàn cảnh sáng tác</b></p> <p> Giữa năm 1958, Huy Cận có một chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế ấy, hồn thơ Huy Cận thực sự nảy nở dồi dào cảm hứng về thiên nhiên đất nước. Bài thơ được sáng tác trong thời gian ấy và in trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng”</p> <p><b>2. Bố cục: 3 phần</b></p> <p>- Phần 1 (2 khổ đầu):Cảnh đoàn đánh cá ra khơi</p> <p>- Phần 2 (4 khổ tiếp theo): Cảnh đoàn thuyền đánh trên biển</p> <p>- Phần 3 (khổ cuối): Hình ảnh đoàn thuyền trở về</p> <p><b>3. Giá trị nội dung</b></p> <p> Bài thơ là khúc tráng ca ca ngợi cuộc sống lao động tập thể của người dân chài trong công cuộc xây dựng và tái thiết đất nước, đồng thời bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thớ trước khung cảnh thiên nhiên đất nước giàu đẹp. </p> <p><b>4. Giá trị nghệ thuật</b></p> <p> Bài thơ có sự sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh thơ bằng liên tưởng, trí tưởng tượng phong phú. Âm hưởng thơ khỏe khoắn hào hùng và sáng tạo.</p> <h3>III. Dàn ý phân tích Đoàn thuyền đánh cá</h3> <p><b>I. Mở bài</b></p> <p>- Giới thiệu đôi nét về tác giả Huy Cận và bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”:</p> <p> + Huy Cận nổi tiếng trong phong trào thơ mới với thơ “Lửa thiêng”, ông hay viết về thiên nhiên và vũ trụ, trước cách mạng thơ ông phảng phất buồn nhưng sau cách mạng hồn thơ Huy Cận trở nên ấm nóng, tươi vui</p> <p> + “Đoàn thuyền đánh cá” là bài thơ tiêu biểu của ông - là khúc tráng ca ca ngợi cuộc sống lao động làm chủ biển khơi làm chủ cuộc đời</p> <p><b>II. Thân bài</b></p> <p> <b>1. Khúc hát ra khơi (khổ 1+2)</b></p> <p> • Khổ 1:</p> <p>- Hai câu đầu: Đoàn thuyền ra khơi trong cảnh hoàng hôn (2 câu thơ đầu)</p> <p> + Phép so sánh “mặt trời xuống biển” ví như “hòn lửa” cho thấy màu sắc đỏ rực và hình dạng tròn đầy của mặt trời</p> <p> + Nhà thơ liên tưởng vũ trụ như ngôi nhà lớn với màn đêm là cánh cửa còn sóng biển là then cài</p> <p> ⇒ Vũ trụ đang bước vào trạng thái nghỉ ngơi gợi sự bình yên, con người ra khơi vào thời điểm về đêm</p> <p>- Hai câu sau: Dân chài cất cao tiếng hát tạo sự khỏe khoắn (2 câu thơ cuối)</p> <p> + Người dân chài ra khơi theo một tập thể- “Đoàn thuyền”</p> <p> + Từ “lại” cho thấy đó là một công việc thường xuyên, quen thuộc của họ, cứ màn đêm buống xuống thì họ lại ra khơi</p> <p> + Ẩn dụ “câu hát căng buồm” cho thấy câu hát cũng như có sức mạnh góp gió căng buồm đẩy con thuyền ra khơi</p> <p> ⇒ Vũ trụ bước vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu ra khơi đánh cá với khí thế phơi phới và niềm vui đang chinh phục biển khơi</p> <p> • Khổ 2: Câu hát thể hiện mong ước đánh nhiều cá và sự tự hào về sự giàu có của biển</p> <p>- “ Cá bạc, cá thu” gợi sự giàu có phong phú của biển</p> <p>- So sánh “cá thu biển đông như đoàn thoi” - từng đàn cá lao trên mặt biển như đoàn thoi mang ánh sáng lấp lánh dệt muôn luồng sáng trên tấm thảm biển</p> <p>- Ẩn dụ, nhân hóa “đêm ngày dệt biển” tạo ra nhiều sắc màu chuyển động</p> <p>- Nhà thơ cất tiếng gọi cá thật dịu dàng “đến dệt lưới ta đoàn cá ơi”: vừa là lời gọi vừa là niềm mong ước đánh được nhiều cá vừa xen cả sự lạc quan tươi vui và tự hào về biển</p> <p> <b>2. Khúc hát đánh cá trên biển(khổ 3+4+5+6)</b></p> <p> • Khổ 3: Người dân ra khơi với tư thế tầm vóc lớn lao</p> <p>- Nghệ thuật phóng đại “Lướt giữa mây cao với biển bằng”- con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé giờ đây qua cái nhìn của tác giả đã sánh ngang tầm vũ trụ</p> <p>- Nghệ thuật ẩn dụ: “lái gió buồm trăng”: thiên nhiên hòa hợp, cùng con người lao động</p> <p> ⇒ Các biện pháp nghệ thuật trên làm nổi bật tầm vóc của con người và đoàn thuyền</p> <p>- Không khí lao động đang trở nên hứng khởi “ Ra đậu dặm xa dò bụng biển”- mặc đêm tối, mặc gió khơi người dân chài vẫn ra khơi dò lồng cá trong lòng biển</p> <p>- Ẩn dụ: “Dàn đan thế trận”- cuộc sống đánh cá của người dân chài như một trận chiến đấu ác liệt</p> <p> ⇒ sự kết hợp giữa hiện thực (đoàn thuyền) với chất lãng mạn (thuyền lái gió, trăng treo trên cánh buồm) tạo nên những vần thơ đẹp và sâu sắc</p> <p> • Khổ 4:Cảnh biển đẹp trong đêm</p> <p>- Nhà thơ đã liệt kê những loài cá quý của biển: cá nhụ, cá chim, cá đé cho thấy sự phong phú và quý giá của biển</p> <p>- Nhân hóa “Cái đuôi e quẫy” kết hợp với các tính từ chỉ màu sắc: làm cho lời thơ thêm sinh động</p> <p>- Phép so sánh “đuôi cá” với “ngọn đuốc”: hình ảnh so sánh thú vị giàu liên tưởng</p> <p>- Nhà thơ gọi cá bằng một cách gọi rất dịu dàng-“em” ẩn chứa sự yêu mến với cá và biển cả quê hương</p> <p>- “Đêm thở sao lùa nước Hạ Long”: Màn đêm trước biển như một sinh mệnh</p> <p> ⇒ Thiên nhiên trên biển đêm thực sự rực rỡ sắc màu như một bức tranh sơn mài</p> <p> • Khổ 5:Tinh thần lao động hăng say và lòng biết ơn biển </p> <p>- “Ta hát bài ca gọi cá vào”: Người dân chài đã biến công việc nặng nhọc thành bài ca vui tươi ⇒ Tiếng hát của người dân chài có khả năng kì diệu là gọi cá vào lưới</p> <p> ⇒ bút pháp lãng mạn khi miêu tả giúp cho công việc đánh cá đêm trở nên thơ mộng</p> <p> + Những người dân chài vô cùng biết ơn biển cả “biển cho ta cá như lòng mẹ”</p> <p> + So sánh biển với lòng mẹ cho thấy biển nuôi sống nhân dân từ bao đời nay</p> <p> ⇒ Nói lên lòng tự hào và biết ơn biển</p> <p> • Khổ 6:Cảnh thu hoạch cá</p> <p>- “sao mờ kéo lưới kịp trời sáng”: người dân thu hoạch cá vào lúc trơi đã gần sáng hăng say</p> <p>- “Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng”: công việc trở nên khẩn trương với hi vọng đón chờ chùm cá nặng, cho hình dung thấy những cánh tay sắn chắc, cuồn cuộn, tư thế hiên ngang, làn da nhuộm năng gió, nhuộm cả vị mặn mòi của biển cả</p> <p>- Kéo lưới lên là khi trời đã sáng, bình minh lên là kết thúc công việc đánh cá</p> <p> ⇒ Bút pháp lãng mạn được sử dung làm nổi bật vẻ thơ mộng khi đã kết thúc công việc đánh cá đêm.</p> <p>- “Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông”: mọi vật đều tràn ngập sức sống ⇒ Cảnh biển vào lúc mình minh bao la kì vĩ ⇒ Đoàn thuyền đang khẩn trương để trở về</p> <p> <b>3. Khúc ca khải hoàn (Khổ 7)</b></p> <p>- “Câu hát căng buồm với gió khơi”: gió thổi đưa câu hát của người dân chài bay cao, bay xa trên biển</p> <p>- “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”: Đoàn thuyền lướt sóng trở về như đua cùng thời gian để nhanh chóng trở về bến cảng</p> <p> ⇒ Câu hát lúc trở về say sưa hơn bao giờ hết, vì một đêm lao động vất vả đã được đề đáp một cách xứng đáng</p> <p>- “Mặt trời đội biển nhô màu mới”: niềm hi vọng, sự ngợi ca cuộc sống mới của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc, được làm chủ cuộc sống của mình</p> <p>- Từ láy “huy hoàng” : là ánh sáng huy hoàng của niềm vui niềm tin vào một cuộc đời tốt đẹp</p> <p> ⇒ Vẻ đẹp của con người, thiên nhiên hòa hợp nhuần nhuyễn thành vẻ đẹp thực sự tráng lệ </p> <p><b>III. Kết bài</b></p> <p>- Khẳng định những giá trị nghệ thuật làm nên thành công của bài thơ: hình ảnh thơ đẹp, xây dựng bằng sự liên tưởng phong phú, âm hưởng mạnh mẽ, bút pháp lãng mạn xen hiện thực</p> <p>- Bài thơ là khúc hát ngợi ca con người lao động trên biển đồng thời là niềm say mê tự hào của con người làm chủ quê hương</p> <p>Bài giảng: <b>Đoàn thuyền đánh cá - Cô Nguyễn Dung (Giáo viên VietJack)</b></p> <p>Xem thêm các bài viết về Tác giả, tác phẩm Ngữ văn lớp 9 hay khác:</p> <ul> <li><b>Bếp lửa</b></li> <li><b>Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ</b></li> <li><b>Ánh trăng</b></li> <li><b>Làng</b></li> <li><b>Lặng lẽ Sa Pa</b></li> </ul> <p>Xem thêm các loạt bài Để học tốt Ngữ văn 9 hay khác:</p> <ul> <li><b>Soạn Văn 9 (hay nhất)</b></li> <li><b>Soạn Văn 9 (bản ngắn nhất)</b></li> <li><b>Soạn Văn 9 (cực ngắn)</b></li> <li><b>Văn mẫu lớp 9</b></li> <li><b>Tác giả - Tác phẩm Văn 9</b></li> <li><b>Tài liệu Ngữ văn 9 phần Tiếng việt - Tập làm văn</b></li> <li><b>1000 câu trắc nghiệm Ngữ văn 9</b></li> <li><b>Giải vở bài tập Ngữ văn 9</b></li> <li><b>Đề thi Ngữ Văn 9 có đáp án</b></li> <li><b>Ôn thi vào lớp 10 môn Văn</b></li> </ul> <ul> <li><b>Hơn 20.000 câu trắc nghiệm Toán,Văn, Anh lớp 9 có đáp án</b></li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Fri, 17 Jul 2026 19:43:22 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá - Tác giả tác phẩm (mới 2024)</media:title>
                        <media:keywords>Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá - Tác giả tác phẩm (mới 2024)</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[TỌA ĐÀM “PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIẢNG VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG SINH VIÊN TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN”]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/vai-tro-cua-tu-hoc-a111176.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/vai-tro-cua-tu-hoc-a111176.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/vai-tro-cua-tu-hoc-a111176.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/vai-tro-cua-tu-hoc-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Khoa Tiếng Anh Chuyên ngành, buổi tọa đàm với chủ đề “Phát Huy Vai Trò Của Giảng Viên Trong Hoạt Động Sinh Viên Tự Học Có Hướng Dẫn” đã diễn ra thành công, thu hút sự tham gia của các giảng viên trong khoa. Sự kiện này không chỉ là dịp để các giảng viên lắng nghe những chia sẻ quý báu từ các diễn giả, cũng chính là hai giảng viên giàu kinh nghiệm và nhiệt huyết của Khoa Tiếng Anh Chuyên ngành, mà còn là cơ hội để trao đổi, thảo luận và học hỏi lẫn nhau.</p> <p>Diễn giả - TS. Bế Thị Tuyết đã mở đầu buổi tọa đàm bằng việc giới thiệu về khái niệm tự học có hướng dẫn. Cô nhấn mạnh rằng phương pháp này không chỉ giúp sinh viên phát triển kỹ năng tự chủ, tư duy phản biện, sáng tạo, mà còn cải thiện khả năng giải quyết vấn đề. Theo cô, giảng viên không chỉ đóng vai trò giảng dạy mà còn phải cung cấp định hướng, tài nguyên học tập và phản hồi để giúp sinh viên tiến bộ.</p> <figure><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/vai-tro-cua-tu-hoc-1.jpg" alt="" /><figcaption>TS. Bế Thị Tuyết chỉ ra rằng sinh viên cần trang bị những kỹ năng tự học để thích ứng với thị trường lao động thay đổi nhanh chóng.</figcaption></figure> <p>TS. Bế Thị Tuyết tiếp tục trình bày về vai trò của giảng viên trong việc thiết kế các bài học và hoạt động học tập nhằm phát triển tư duy phân tích và sáng tạo của sinh viên. Giảng viên cần hướng dẫn sinh viên học tập hiệu quả thông qua nhóm học, nghiên cứu độc lập và sử dụng các công cụ trực tuyến. Việc tích hợp công nghệ và khuyến khích sinh viên tham gia vào các hoạt động sáng tạo, lãnh đạo và làm việc nhóm cũng được nhấn mạnh.</p> <p>Diễn giả - ThS. Ngô Thị Thanh đã tiếp nối buổi tọa đàm với phần trình bày về cách sử dụng nền tảng công nghệ để quản lý hoạt động tự học có hướng dẫn. Cô Thanh giải thích rằng, công nghệ giúp cá nhân hóa quá trình học tập, tăng sự hứng thú và hỗ trợ theo dõi tiến trình học tập của sinh viên. Các công cụ như Google Classroom, Moodle và Canvas được giới thiệu là những nền tảng hỗ trợ toàn diện cho việc tổ chức tài liệu, quản lý bài tập và đánh giá.</p> <figure><img src="https://esp.ftu.edu.vn/wp-content/uploads/2024/12/IMG_1813-2-1-1-scaled.jpg" alt="" /><figcaption>Ths. Ngô Thị Thanh nhấn mạnh vai trò quan trọng của giảng viên trong việc hỗ trợ và hướng dẫn sinh viên học tập tự chủ.</figcaption></figure> <p>Một điểm nhấn đặc biệt trong buổi tọa đàm là phần thực hành trực tiếp trên nền tảng Canvas do ThS. Ngô Thị Thanh thực hiện. Cô đã hướng dẫn chi tiết cách sử dụng các tính năng của Canvas để tổ chức và quản lý lớp học, từ việc đăng tải tài liệu học tập, giao bài tập, cho đến việc đánh giá và cung cấp phản hồi cho sinh viên. Phần thực hành này đã giúp các giảng viên có cái nhìn trực quan và nắm bắt cách áp dụng công nghệ vào quá trình giảng dạy một cách hiệu quả.</p> <p>Buổi tọa đàm nhận được phản hồi tích cực từ đông đảo giảng viên. Nhiều ý kiến bày tỏ sự hài lòng, đánh giá cao nội dung thiết thực và hiệu quả mà chương trình mang lại, đặc biệt trong việc làm rõ tầm quan trọng của tự học có hướng dẫn cũng như các phương pháp giảng dạy sáng tạo. Một số giảng viên cho biết sẽ áp dụng ngay những kỹ thuật được giới thiệu vào bài giảng của mình. Họ xem đây là cơ hội quý báu để học hỏi kinh nghiệm, trao đổi chuyên môn và nâng cao chất lượng giảng dạy.</p> <figure><img src="https://esp.ftu.edu.vn/wp-content/uploads/2024/12/IMG_1678-1-scaled.jpg" alt="" /><figcaption>Buổi toạ đàm đã thu hút đông đảo sự tham gia của các giảng viên trong Khoa.</figcaption></figure> <p>Buổi tọa đàm “Phát Huy Vai Trò Của Giảng Viên Trong Hoạt Động Sinh Viên Tự Học Có Hướng Dẫn” đã diễn ra thành công và mang lại nhiều giá trị thiết thực cho đội ngũ giảng viên trong Khoa. Các chia sẻ về tầm quan trọng của tự học có hướng dẫn cùng những phương pháp học tập hiệu quả đã được đón nhận nhiệt tình, tạo ra những cơ hội học hỏi và nâng cao chất lượng giảng dạy. Khoa Tiếng Anh Chuyên ngành xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS. Bế Thị Tuyết và ThS. Ngô Thị Thanh vì những đóng góp quý báu. Những buổi tọa đàm như vậy là nguồn động lực ý nghĩa, góp phần hỗ trợ các giảng viên trong quá trình phát triển nghề nghiệp.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Fri, 17 Jul 2026 17:27:49 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/vai-tro-cua-tu-hoc-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/vai-tro-cua-tu-hoc-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">TỌA ĐÀM “PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIẢNG VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG SINH VIÊN TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN”</media:title>
                        <media:keywords>TỌA ĐÀM “PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIẢNG VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG SINH VIÊN TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN”</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Những đoạn văn tiếng Anh ngắn hay]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/doan-van-tieng-anh-a111158.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/doan-van-tieng-anh-a111158.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/doan-van-tieng-anh-a111158.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/doan-van-tieng-anh.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><i>Chắc hẳn bạn luôn mong muốn có thể viết được những câu tiếng Anh thật “mượt” và tự nhiên để tự tin hơn trong học tập cũng như công việc. </i></p> <p><i>Nhưng thực sự là cảm giác cầm bút lên mà đầu óc trống rỗng, không biết phải bắt đầu từ đâu hay dùng từ nào cho đúng ý thật chẳng dễ chịu chút nào. Đôi khi chúng ta chỉ quanh quẩn với vài câu đơn giản vì sợ viết dài sẽ sai ngữ pháp, khiến bài viết trông cứ “ngô nghê” và thiếu sức sống.</i></p> <p><i>Để giúp bạn gỡ rối những khó khăn nhỏ nhặt nhưng gây nản lòng đó, Smartcom English đã chuẩn bị sẵn một danh sách 10 mẫu <strong>đoạn văn tiếng Anh</strong> cực kỳ thực tế. Mỗi đoạn văn đều được trau chuốt kỹ lưỡng với độ dài khoảng 10 câu, đi kèm với những từ vựng chọn lọc nhất theo từng chủ đề quen thuộc. </i></p> <p><i>Hy vọng rằng những gợi ý chi tiết này sẽ là nguồn cảm hứng giúp bạn đặt bút viết một cách nhẹ nhàng và hiệu quả hơn mỗi ngày!</i></p> <p><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/doan-van-tieng-anh.jpg" alt="những đoạn văn tiếng anh hay" /></p> <h2>Mẫu đoạn văn tiếng Anh: Chủ đề về bản thân</h2> <p><b>Vocabulary:</b> </p> <ul> <li><i>Dedicated (tận tâm)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Professionalism (sự chuyên nghiệp)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Interpersonal skills (kỹ năng giao tiếp)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Constant improvement (sự cải thiện liên tục).</i></li> </ul> <p><b>Đoạn văn mẫu:</b></p> <p> My name is Quynh, and I am currently a marketing executive at Smartcom English. I consider myself a <b>dedicated</b> person who always strives for <b>professionalism</b> in every project I undertake. Over the past few years, I have developed strong <b>interpersonal skills</b> through working with diverse teams. My daily routine involves analyzing market trends and creating engaging content for social media. I am also passionate about learning languages, as I believe it opens new doors for my career. Currently, I am focusing on a path of <b>constant improvement</b> to become an expert in my field. I enjoy challenges because they help me grow both personally and professionally. In the next five years, I hope to lead a creative team in an international environment. Learning with <b>Smartcom AI</b> has been a game-changer for my writing skills lately. I am confident that with hard work, I will achieve my long-term goals.</p> <p><img src="https://smartcom.vn/blog/wp-content/uploads/2026/04/mau-doan-van-tieng-anh-chu-de-ban-than.png" alt="mẫu đoạn văn tiếng anh chủ đề bản thân" /></p> <h2>Mẫu đoạn văn tiếng Anh: Chủ đề gia đình và bạn bè</h2> <p><b>Vocabulary:</b> </p> <ul> <li><i>Unconditional love (tình yêu vô điều kiện)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Anchor (điểm tựa)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Core values (giá trị cốt lõi)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Soulmate (tri kỷ).</i></li> </ul> <p><b>Đoạn văn mẫu</b></p> <p>Family and friends play a vital role in my life, serving as a solid <b>anchor</b> during difficult times. My family consists of four people, and we share a bond built on <b>unconditional love</b> and respect. My father, who is my greatest role model, taught me the importance of integrity and hard work. These <b>core values</b> have shaped the person I am today. Whenever I face a problem, I know I can always turn to my parents for wise advice. Beside my family, my best friend is like a <b>soulmate</b> who understands me without words. We have been friends for over a decade and have shared countless memories together. We often motivate each other to study English and pursue our individual passions. Having such a supportive network makes me feel extremely lucky and empowered. I believe that healthy relationships are the key to a happy and balanced life.</p> <p><img src="https://smartcom.vn/blog/wp-content/uploads/2026/04/mau-doan-van-tieng-anh-chu-de-gia-dinh-ban-be.png" alt="mẫu đoạn văn tiếng anh chủ đề gia đình bạn bè" /></p> <h2>Mẫu đoạn văn tiếng Anh: Chủ đề sở thích</h2> <p><b>Vocabulary:</b> </p> <ul> <li><i>Indulge in (đắm chìm)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Cognitive function (chức năng nhận thức)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Horizon (tầm nhìn)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Mental health (sức khỏe tinh thần).</i></li> </ul> <p><b>Đoạn văn mẫu:</b> </p> <p>Having a hobby is essential for maintaining good <b>mental health</b> in today’s fast-paced world. Personally, I love to <b>indulge in</b> reading books, especially those related to psychology and marketing. Reading is not just a pastime; it is a way for me to expand my <b>horizon</b> and gain new perspectives. It also helps improve my <b>cognitive function</b> and focus after a long day of work. Besides reading, I am quite keen on photography, which allows me to capture beautiful moments in life. I often spend my weekends exploring the city and taking photos of ancient architecture. These activities provide me with a sense of creative freedom and joy. I also enjoy practicing English through movies, which is both entertaining and educational. My hobbies help me stay balanced and prevent burnout from my busy job. Ultimately, pursuing what I love makes my life more meaningful and colorful.</p> <p><img src="https://smartcom.vn/blog/wp-content/uploads/2026/04/mau-doan-van-tieng-anh-chu-de-ve-so-thich.png" alt="mẫu đoạn văn tiếng anh chủ đề về sở thích" /></p> <h2>Mẫu đoạn văn tiếng Anh: Chủ đề mô tả địa điểm</h2> <p><b>Vocabulary:</b> </p> <ul> <li><i>Breathtaking (đẹp nín thở)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Vibrant (nhộn nhịp)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Tranquility (sự yên bình)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Hidden gems (những viên ngọc ẩn giấu).</i></li> </ul> <p><b>Đoạn văn mẫu:</b> </p> <p>Hanoi, the heart of Vietnam, is a city where history and modernity coexist in a <b>vibrant</b> atmosphere. The first thing that strikes visitors is the busy traffic, but beneath the surface lies a deep sense of tradition. You can find many <b>hidden gems</b> in the narrow alleys of the Old Quarter, from ancient pagodas to cozy cafes. Hoan Kiem Lake offers a piece of <b>tranquility</b> amidst the hustle and bustle of urban life. Early in the morning, local people gather there to exercise and enjoy the fresh air. The city is also famous for its diverse street food, which is a <b>breathtaking</b> experience for any food lover. Every corner of Hanoi tells a story of its thousand-year history. I love walking around the West Lake at sunset to see the city lights reflecting on the water. It is a place that never fails to inspire me with its unique charm. For me, Hanoi is not just a place to live, but a source of endless discovery.</p> <p><img src="https://smartcom.vn/blog/wp-content/uploads/2026/04/doan-van-tieng-anh-chu-de-mo-ta-dia-diem.png" alt="đoạn văn tiếng anh chu để mô tả địa điểm" /></p> <h2>Mẫu đoạn văn tiếng Anh: Chủ đề lễ hội và ngày đặc biệt</h2> <p><b>Vocabulary:</b> </p> <ul> <li><i>Sacred (thiêng liêng)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Festive atmosphere (không khí lễ hội)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Prosperity (sự thịnh vượng), Ancestors (tổ tiên).</i></li> </ul> <p><b>Đoạn văn mẫu:</b> </p> <p>Tet holiday, or the Lunar New Year, is the most <b>sacred</b> and celebrated festival in Vietnam. The preparation starts weeks in advance as people clean and decorate their homes with peach blossoms. There is a <b>festive atmosphere</b> everywhere, from the crowded markets to the brightly lit streets. It is a time for family members to gather, regardless of how far away they live. We prepare traditional dishes like Banh Chung to offer to our <b>ancestors</b> as a sign of respect. On the first day of Tet, we visit relatives and exchange best wishes for health and <b>prosperity</b>. Children are especially excited to receive red envelopes containing lucky money. The festival is not only about celebration but also about leaving the past behind and welcoming a fresh start. We avoid arguing or saying negative things to ensure a peaceful year ahead. Tet truly embodies the cultural identity and family values of the Vietnamese people.</p> <p><img src="https://smartcom.vn/blog/wp-content/uploads/2026/04/doan-van-tieng-anh-chu-de-le-hoi-va-ngay-dac-biet.png" alt="đoạn văn tiếng anh chủ đề lễ hội và ngày đặc biệt" /></p> <h2>Mẫu đoạn văn tiếng Anh: Chủ đề môi trường và thiên nhiên</h2> <p><b>Vocabulary:</b> </p> <ul> <li><i>Ecological balance (cân bằng sinh thái)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Environmental degradation (suy thoái môi trường)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Eco-friendly (thân thiện với môi trường)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Sustainable development (phát triển bền vững)</i></li> </ul> <p><b>Đoạn văn mẫu:</b> </p> <p>In the face of rapid <b>environmental degradation</b>, protecting our planet has become more urgent than ever. Maintaining the <b>ecological balance</b> is essential for the survival of all species on Earth. Every individual can contribute by adopting an <b>eco-friendly</b> lifestyle, such as reducing single-use plastics and saving electricity. Large-scale actions, like reforestation and using renewable energy, are also crucial for <b>sustainable development</b>. I believe that education plays a vital role in raising public awareness about climate change. If we do not take immediate action, future generations will face severe consequences like natural disasters and resource scarcity. Small changes in our daily habits can lead to a significant positive impact on the environment. For instance, choosing public transport over private cars helps lower carbon emissions effectively. We must learn to live in harmony with nature rather than exploiting it for short-term gains. Ultimately, a green planet is the most precious legacy we can leave for our children.</p> <p><img src="https://smartcom.vn/blog/wp-content/uploads/2026/04/mau-doan-van-tieng-anh-chu-de-moi-truong-va-thien-nhien.png" alt="mẫu đoạn văn tiếng anh chủ đề môi trường và thiên nhiên" /></p> <h2>Mẫu đoạn văn tiếng Anh: Chủ đề công nghệ và giáo dục</h2> <p><b>Vocabulary:</b> </p> <ul> <li><i>Digital transformation (chuyển đổi số)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Personalized learning (học tập cá nhân hóa)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Knowledge acquisition (tiếp thu kiến thức)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Cutting-edge (tiên tiến/hiện đại).</i></li> </ul> <p><b>Đoạn văn mẫu:</b> </p> <p>The <b>digital transformation</b> in education has opened up endless opportunities for learners worldwide. Nowadays, students are no longer restricted to traditional classrooms thanks to <b>cutting-edge</b> technology. Platforms like <b>Smartcom AI</b> provide <b>personalized learning</b> experiences that cater to each student’s specific needs and pace. This approach makes the process of <b>knowledge acquisition</b> more efficient and engaging than ever before. Interactive tools and AI-driven feedback help learners identify their weaknesses and improve them instantly. Furthermore, the internet allows us to access a vast library of information at the touch of a button. Technology also fosters collaboration between teachers and students through virtual platforms. As we move further into the digital age, mastering technology is as important as learning core subjects. However, it is essential to balance screen time with offline activities to ensure holistic development. Embracing these innovations will undoubtedly pave the way for a brighter future in global education.</p> <p><img src="https://smartcom.vn/blog/wp-content/uploads/2026/04/mau-doan-van-chu-de-cong-nghe-va-giao-duc.png" alt="mẫu đoạn văn chủ đề công nghệ và giáo dục" /></p> <h2>Mẫu đoạn văn tiếng Anh: Chủ đề kế hoạch và ước mơ</h2> <p><b>Vocabulary:</b> </p> <ul> <li><i>Ambitious goals (mục tiêu đầy tham vọng)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Pursue my passion (theo đuổi đam mê)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Overcome obstacles (vượt qua trở ngại)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Self-actualization (hiện thực hóa bản thân)</i></li> </ul> <p><b>Đoạn văn mẫu:</b> </p> <p>Everyone has a dream that drives them to wake up and work hard every single day. My dream is to become a top-tier marketing expert who can create meaningful campaigns for the community. To achieve these <b>ambitious goals</b>, I have built a clear roadmap focusing on both academic and practical skills. I am determined to <b>pursue my passion</b> despite the many challenges that may arise along the way. I believe that having the courage to <b>overcome obstacles</b> is what separates success from failure. Currently, I am investing my time in mastering English to connect with international partners and experts. Each small step I take today brings me closer to my ultimate vision of <b>self-actualization</b>. I also plan to study abroad to experience diverse cultures and innovative marketing strategies. Success is not just about reaching the destination, but also about the person I become during the journey. With consistency and a positive mindset, I am confident that my dream is within reach.</p> <p><img src="https://smartcom.vn/blog/wp-content/uploads/2026/04/mau-doan-van-tieng-anh-chu-de-ke-hoach-va-uoc-mo.png" alt="mẫu đoạn văn tiếng anh chủ đề kế hoạch và ước mơ" /></p> <h2>Mẫu đoạn văn tiếng Anh: Chủ đề sức khỏe và thể thao</h2> <p><b>Vocabulary:</b> </p> <ul> <li><i>Physical endurance (sức bền thể chất) </i></li> </ul> <ul> <li><i>Sedentary lifestyle (lối sống ít vận động)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Mental clarity (sự minh mẫn)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Holistic health (sức khỏe toàn diện)</i></li> </ul> <p><b>Đoạn văn mẫu:</b> </p> <p>Maintaining good health is the foundation of a productive and fulfilling life. In this modern era, many people suffer from a <b>sedentary lifestyle</b> due to long hours working at a desk. To combat this, I make it a priority to engage in regular physical activity like jogging or swimming. Exercise not only builds <b>physical endurance</b> but also significantly improves <b>mental clarity</b> and focus. A balanced diet rich in nutrients is equally important for maintaining <b>holistic health</b>. I try to avoid fast food and stay hydrated by drinking plenty of water throughout the day. Getting enough sleep is another crucial factor that many people often overlook in their busy schedules. When I am healthy, I feel more energized and motivated to tackle my professional tasks. Taking care of my body is a form of self-respect and a long-term investment in my future. Remember, health is a state of complete physical, mental, and social wellbeing, not just the absence of disease.</p> <p><img src="https://smartcom.vn/blog/wp-content/uploads/2026/04/bai-viet-tieng-anh-chu-de-suc-khoe-va-the-thao.png" alt="bài viết tiếng anh chủ đề sức khoẻ và thể thao" /></p> <h2>Mẫu đoạn văn tiếng Anh: Chủ đề văn hóa và xã hội</h2> <p><b>Bộ Vocab:</b> </p> <ul> <li><i>Cultural heritage (di sản văn hóa)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Mutual understanding (thấu hiểu lẫn nhau)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Global integration (hội nhập toàn cầu)</i></li> </ul> <ul> <li><i>Social responsibility (trách nhiệm xã hội)</i></li> </ul> <p><b>Đoạn văn mẫu:</b> </p> <p>Living in a globalized world, understanding different cultures is essential for fostering <b>mutual understanding</b>. Every nation has its own unique <b>cultural heritage</b> that should be respected and preserved. By learning about other traditions, we can break down barriers and build a more harmonious society. <b>Global integration</b> encourages us to become more open-minded and tolerant of diversity. Besides, each individual should be aware of their <b>social responsibility</b> to contribute to the community’s wellbeing. Participating in local volunteer activities is a great way to understand the social issues around us. Education plays a key role in teaching the younger generation about empathy and global citizenship. When we embrace cultural differences, we create a rich tapestry of human experience. We should strive to protect our own identity while being curious about the world beyond our borders. Ultimately, a strong society is one where everyone feels valued and connected regardless of their background.</p> <p><img src="https://smartcom.vn/blog/wp-content/uploads/2026/04/bai-tieng-anh-chu-de-van-hoa-va-xa-hoi.png" alt="bài tiếng anh chủ đề văn hoá và xã hội" /></p> <h2>Tổng kết</h2> <p>Sự khác biệt giữa một bài thi bình thường và một bài thi đạt điểm cao nằm ở khả năng xây dựng các đoạn văn tiếng Anh mạch lạc, chuẩn xác. <strong>Smartcom AI</strong> tự hào mang đến hệ sinh thái học tập toàn diện, nơi mọi điểm yếu của bạn đều được AI phân tích và khắc phục qua kho đề thi độc quyền cùng sự hỗ trợ online 24/7. Đăng ký ngay để trải nghiệm phương pháp học thông minh và nâng tầm kỹ năng viết đoạn văn tiếng Anh của bạn lên một đẳng cấp mới!</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Fri, 17 Jul 2026 09:53:43 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/doan-van-tieng-anh.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/doan-van-tieng-anh.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Những đoạn văn tiếng Anh ngắn hay</media:title>
                        <media:keywords>Những đoạn văn tiếng Anh ngắn hay</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Liên hệ mở rộng Viếng Lăng Bác]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/lien-he-mo-rong-bai-vieng-lang-bac-a111154.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/lien-he-mo-rong-bai-vieng-lang-bac-a111154.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/lien-he-mo-rong-bai-vieng-lang-bac-a111154.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<h2><strong>Liên hệ mở rộng bài thơ Viếng Lăng Bác</strong></h2> <p>Bài thơ Viếng Lăng Bác là tác phẩm thường xuất hiện trong các đề thi Văn 9 và Thi vào lớp 10 môn Văn. Có rất nhiều đề văn hay liên quan tới tác phẩm này. Để có thể làm một bài văn hay thì việc liên hệ mở rộng sẽ giúp bài văn có tính thuyết phục và đạt điểm cao. Trong bài viết dưới đây, VnDoc sẽ gửi tới các bạn một số dẫn chứng liên hệ mở rộng cho bài Viếng Lăng Bác để giúp các em có thể dễ dàng triển khai các đề văn về tác phẩm này.</p> <p><strong>Cách xưng hô “con”-“Bác”:</strong></p> <p>“Người là cha, là bác, là anh</p> <p>Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”</p> <p>(“Sáng tháng năm”-Tố Hữu)</p> <p><strong>Hình ảnh “hàng tre”:</strong></p> <p>+ “Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu!” ( Thép Mới)</p> <p>+Tre của Viễn Phương còn ẩn dụ cho những người lính canh tận tụy canh giữ chốn thiêng liêng, bảo vệ giấc ngủ cho Người</p> <p>Thân gầy guộc, lá mong manh</p> <p>Mà sao nên lũy nên thành tre ơi!”</p> <p>(“Tre Việt Nam”-Nguyễn Duy)</p> <p><strong>Hình ảnh “mặt trời”:</strong></p> <p>“Người rực rỡ một mặt trời cách mạng</p> <p>Mà đế quốc là loài dơi hốt hoảng</p> <p>Đêm tàn bay chập choạng dưới chân Người”</p> <p>(“Sáng tháng năm”-Tố Hữu)</p> <p>“Bác ơi! Tim Bác mênh mông thế</p> <p>Ôm cả non sông cả kiếp người !”</p> <p>(“Bác ơi”-Tố Hữu)</p> <p>“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên”:</p> <p>“Suốt cuộc đời Bác có ngủ yên đâu</p> <p>Nay Bác ngủ chúng con canh giấc ngủ”</p> <p>(“Chúng con canh giấc ngủ Bác, Bác Hồ ơi!”- Hải Như)</p> <p><strong>Hình ảnh “trời xanh”:</strong></p> <p>“Bác còn đó lớn mênh mông</p> <p>Trời xanh biển rộng ruộng đồng nước non”</p> <p>(“Sáng tháng năm”-Tố Hữu)</p> <p><strong>"Mà sao nghe nhói ở trong tim”</strong></p> <p>"Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa</p> <p>Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa”</p> <p>(“Bác ơi!”-Tố Hữu)</p> <p>"Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà</p> <p>Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”</p> <p>(“Bác ơi!” - Tố Hữu)</p> <p>"Bác đã lên đường, theo tổ tiên</p> <p>Mác-Lê-nin, thế giới người hiền”</p> <p>(“Bác ơi!”-Tố Hữu)</p> <p>"Trái bưởi kia vàng ngọt với ai</p> <p>Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài!</p> <p>Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm”</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Fri, 17 Jul 2026 08:28:29 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Liên hệ mở rộng Viếng Lăng Bác</media:title>
                        <media:keywords>Liên hệ mở rộng Viếng Lăng Bác</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Sống có trách nhiệm đâu có khó!]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/nguoi-song-co-trach-nhiem-a111149.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/nguoi-song-co-trach-nhiem-a111149.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/nguoi-song-co-trach-nhiem-a111149.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Không mong mỏi sao được khi nhìn ra thế giới đã có hàng ngàn người phải thiệt mạng về dịch bệnh này, kéo theo đó là kinh tế toàn cầu đang lao dốc không phanh. Vì vậy, vượt qua dịch Covid-19 sớm ngày nào sẽ ít thiệt hại ngày ấy. Ở Việt Nam, kinh tế có thiệt hại nhưng chúng ta chưa có ca tử vong dù đã có hơn 100 ca mắc và hàng chục ngàn trường hợp đang cách ly theo dõi.</p><p>Nói vậy để thấy hệ thống y tế, hệ thống chính trị và bản thân chúng ta đã rất quyết liệt để phòng chống Covid-19 ngay từ khi dịch mới xuất hiện. Thế nên, đến thời khắc quyết định này, chúng ta cần phải làm tốt và quyết liệt hơn nữa mới mong giữ vững kết quả bước đầu đã đạt được.</p><p>Qua theo dõi tình hình phòng chống dịch Covid-19 trên thế giới cũng như ở Việt Nam, ai cũng dễ dàng nhận thấy việc tuyệt đối tuân thủ biện pháp cách ly mang yếu tố quyết định cho sự thành bại. Vậy mà, thời gian gần đây, đây đó xuất hiện những trường hợp cá biệt: khai báo gian dối, trốn khỏi khu cách ly, tự ý di chuyển ra cộng đồng khi đang phải cách ly tại gia... Đây là hành động rất đáng bị lên án.</p><p>Để người đang cách ly bỏ trốn, dĩ nhiên người có trách nhiệm theo dõi, giám sát người cách ly phải chịu trách nhiệm theo quy định. Điều tôi và nhiều người mong mỏi chính là không còn những trường hợp cá biệt như vừa qua. Để làm được điều này, người đang được cách ly, các cơ quan chức năng dĩ nhiên đã biết phải làm gì, nghĩ cũng không cần nhắc lại.</p><p>Chỉ xin đóng góp một giải pháp "mềm", đó là đã đến lúc mọi người cùng chung tay giám sát và lên tiếng báo ngay cho chính quyền khi phát hiện những trường hợp bất chấp, không tuân thủ biện pháp cách ly. Trong cuộc chiến này, thành công hay thất bại không chỉ dựa vào chiến lược, chiến thuật của Chính phủ và hệ thống y tế mà còn tùy thuộc rất nhiều vào ý thức và trách nhiệm của từng người dân.</p><p>Sống có trách nhiệm trong mùa dịch Covid-19 có khó không? Không khó, khi chúng ta ai cũng biết, cũng nghe về cách phòng chống dịch bệnh được tuyên truyền thường xuyên, liên tục. Với thiển nghĩ của tôi, chỉ cần tuân thủ những gì ngành y tế, chính quyền đã khuyến cáo là chúng ta đã là những người sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Fri, 17 Jul 2026 07:07:48 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Sống có trách nhiệm đâu có khó!</media:title>
                        <media:keywords>Sống có trách nhiệm đâu có khó!</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Khi nhà thơ Huy Cận làm thơ vui]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/loi-binh-ve-huy-can-a111139.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/loi-binh-ve-huy-can-a111139.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/loi-binh-ve-huy-can-a111139.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>“Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm...” thi sĩ Xuân Diệu đã viết như vậy về người bạn thơ của mình. Nhưng, cái sầu của Huy Cận là cái sầu “Thiên cổ”:</p> <p>Một chiếc linh hồn nhỏ Mang mang thiên cổ sầu</p> <p>Hoài Thanh đã trích hai câu thơ này của Huy Cận trong tập “Lửa thiêng” và ông đã bình về Huy Cận: “ ...Cái buồn "Lửa thiêng" là cái buồn tỏa ra từ đáy hồn một người cơ hồ không biết đến ngoại cảnh. Có người muốn làm thơ phải tìm cảnh nên thơ. Huy Cận không thế. Nguồn thơ đã có sẵn trong lòng...”.</p> <p>Trong “Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh đặt Xuân Diệu trước Huy Cận, nhưng tôi vẫn thích thơ Huy Cận hơn.</p> <p>Tôi nhớ tại Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 5, mấy anh em nhà văn, nhà thơ cùng quê Hà Tĩnh vây quanh ông trò chuyện. Hình như có cả nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát thì phải. Hồng Ngát đọc “Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây” và nói: “Anh Huy Cận lãng mạn quá, yêu quá đi thôi...”. Mọi người hỏi ông có phải một dạo người ta phê bình ông làm thơ buồn không hợp với cuộc sống mới...! Ông cười không nói gì! Tôi bảo: “Người có tài thơ như anh Huy Cận không những làm thơ buồn quá hay mà khi anh làm thơ vui cũng rất hay!”. Rồi tôi đọc câu thơ của ông trong bài thơ đã đưa vào sách giáo khoa dạo đó: “Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm ...”. Ông cầm tay tôi và nói: Cảm ơn Dương Kỳ Anh nhé, cảm ơn!</p> <figure> <figcaption>Nhà thơ Huy Cận tại đại hội VI Hội nhà văn Việt Nam.</figcaption> </figure> <p>Mấy hôm nay trời trở lạnh, mưa, ở một mình tại nhà vườn Sóc Sơn, tự nhiên trong tôi ngân lên những câu thơ của nhà thơ Huy Cận trong bài thơ “Buồn đêm mưa”:</p> <p>Đêm mưa làm nhớ không gian Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la Tai nương nước giọt mái nhà Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn</p> <p>Nghe đi rời rạc trông hồn Những chân xa vắng, dặm mòn lẻ loi Mưa rơi... dìu dịu rơi rơi Trăm muôn giọt nhẹ, nối lời vu vơ...</p> <p>Tôi lại nhớ những kỷ niệm về ông. Sinh thời, có khá nhiều giai thoại về ông, tôi cũng nghe nói nhưng không tiện hỏi. Có lần con trai ông Cù Huy Hà Vũ đến gặp tôi ở tòa soạn Báo Tiền Phong đưa tận tay cho tôi một bài viết. Chả là dạo ấy Cù Huy Hà Vũ thường qua phòng biên tập tờ Tiền phong Chủ nhật chơi và có viết một số bài cho báo. Tôi đọc bài Cù Huy Hà Vũ gửi và sững sốt... Giờ đã khá lâu, tôi không nhớ cụ thể lắm, đại khái là bài báo nói căn nhà của Xuân Diệu sau khi nhà thơ qua đời và Cù Huy Hà Vũ là con nuôi của Xuân Diệu muốn dùng căn phòng đó làm nơi lưu giữ các hiện vật của Xuân Diêu, nhưng...</p> <p>Nếu đăng bài báo đó hóa ra là con trai “kiện” bố mình, mà người bố đó chính là Huy Cận không những là nhà thơ nổi tiếng mà còn là một nhận vật lịch sử, ông đã thay mặt Chính phủ Cụ Hồ vào Huế tước ấn kiếm của vua Bảo Đại... Năm 26 tuổi, nhà thơ Cù Huy Cận đã là Bộ trưởng Bộ Canh nông trong Chính phủ Cụ Hồ; Rồi ông làm Bộ trưởng đặc trách công tác Văn hóa Thông tin của Chính phủ, Sau đó ông là Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam; Năm 2001, ông được phong là viện sĩ viên Hàn lâm thơ thế giới.</p> <p>Nếu không đăng bài báo kiểu “kiện cha” này thì sẽ xử lý thế nào đây? Cù Huy Hà Vũ có thể kiện chúng tôi... Nên tôi bàn với Trưởng ban biên tập đến gặp đại diện quản lý nhà đất của thành phố Hà Nội để họ trả lời và đăng lên báo!</p> <p>Khi báo chưa lên khuôn, đã thấy thường trực gọi lên bảo nhà thơ Huy Cận đến gặp... Tôi mời ông vào phòng làm việc. Ông nắm lấy tay tôi nói: Dương Kỳ Anh ơi, đừng đăng nhé, thôi nhé, chuyện trong nhà, chuyện buồn lắm, khó nói lắm... Dương Kỳ Anh thông cảm nhé, đừng đăng, đừng đăng...!</p> <p>Sau đó ít lâu ông đến tận tòa soạn gửi cho tôi một bài thơ ông mới viết. Tôi định đăng trên Báo Tiền phong Chủ nhật. Hôm sau đã thấy ông dừng xe ở ngoài cổng tòa soạn và hỏi tôi lúc nào đăng. Báo đăng, ông lại đến bảo: Dương Kỳ Anh ơi, cho mình xin tờ báo! Tôi gửi ông mấy tờ Báo Tiền Phong Chủ nhật, ông cầm tay tôi lắc lắc nói: Cảm ơn Dương Kỳ Anh, cảm ơn nhé... Tôi thường bảo với mấy nhà thơ trong báo: Các bạn thấy chưa, một nhà thơ nổi tiếng như vậy mà vẫn rất quan tâm dù chỉ là một bài thơ đăng trên báo... Nhà thơ chân chính là phải như vậy, yêu thơ, quý trọng từng câu từng dòng chữ mình viết ra ...</p> <p>Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh theo tôi là nhà phê bình tinh tế số một Việt Nam đã viết: “Huy Cận đi lượm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não. Người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi tầm thường thi nhân lại có thể đúc thành bao nhiêu châu ngọc...”. Đúng vậy, những cảnh vật mà chúng ta thường bỏ qua lại chính là “châu ngọc” trong thơ Huy Cận:</p> <p>Đường trong làng, hoa dại với mùi rơm Người cùng tôi đi dạo giữa đường thơm Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng Đất thêu nắng, bóng tre rồi bóng phượng...</p> <p> (Đi giữa đường thơm)</p> <p>Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu muôn ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng</p> <p>Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hưu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu...</p> <p> (Tràng giang)</p> <p>...Chiều mưa trên bãi nước sông đầy Trông vời bốn phía không nguôi nhớ Dơi động hoàng hôn thấp thoáng bay...</p> <p> (Vạn lý tình)</p> <p>Nắng chia nửa bãi, chiều rồi Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu Sợi buồn con nhện giăng mau Em ơi! Hãy ngủ... Anh hầu quạt đây...</p> <p> (Ngậm ngùi)</p> <p>Sau cách mạng 1945, nhà thơ Huy Cận làm thơ... vui. Ngay tên các tập thơ đã xuất bản của ông đã nói lên điều đó: “Trời mỗi ngày lại sáng” (1958); “Đất nở hoa” (1960); “Bài thơ cuộc đời” (1963)... Có hai bài thơ nổi tiếng của ông được ngâm thường xuyên trên Đài Tiếng nói Việt Nam dạo đó là bài ông viết về những pho tượng chùa Tây Phương và bài về Ngã ba Đồng Lộc. Huy Cận làm thơ vui cũng rất hay, nhưng khi ông làm thơ vui, trong cuộc sống hàng ngày của ông lại có những chuyện buồn như chuyện tôi vừa kể!</p> <p>Nhớ lần Hội Văn học Nghệ thuật Hà Tĩnh tổ chức buổi giao lưu thơ, nhạc với những người Hà Tĩnh đang sinh sống ở Thủ đô Hà Nội. Tôi cũng được mời đến đọc thơ. Khi tôi bước vào hội trường đã thấy mọi người đang vây quanh nhà thơ Huy Cận ngồi ở hàng ghế đầu. Ông rất yếu, không lên đọc thơ mà được một nghệ sĩ lên ngâm thơ của ông. Đến lượt tôi sau khi đọc xong thơ, có mấy người lên tặng hoa, chúc mừng. Tôi ôm bó hoa đẹp nhất xuống hàng ghế đầu chỗ nhà thơ Huy Cận ngồi cúi đầu chào và tặng ông. Ông ngước nhìn tôi, cái nhìn mệt mỏi.Một lúc, ông mới nhận ra tôi, ông ra hiệu cho tôi ngồi xuống cạnh ông và nói: “Kỳ Anh... Dương Kỳ Anh”.</p> <p>Tôi đâu ngờ đó là lần gặp ông cuối cùng. Sau đó không lâu ông đã ra đi, đi về cõi vĩnh hằng ...</p> <p><strong>Sóc Sơn 12/2020</strong></p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Fri, 17 Jul 2026 02:12:05 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Khi nhà thơ Huy Cận làm thơ vui</media:title>
                        <media:keywords>Khi nhà thơ Huy Cận làm thơ vui</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[GDCD 6 KNTT Bài 5: Tự lập có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống?]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/tu-tin-co-y-nghia-nhu-the-nao-a111138.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/tu-tin-co-y-nghia-nhu-the-nao-a111138.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/tu-tin-co-y-nghia-nhu-the-nao-a111138.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tu-tin-co-y-nghia-nhu-the-nao-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<h2><strong>Tự lập có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống?</strong></h2><p>Tự lập là khả năng tự mình suy nghĩ, tự mình quyết định và tự mình thực hiện các công việc trong cuộc sống mà không quá phụ thuộc vào người khác.</p><p>Người tự lập là người chủ động thực hiện và giải quyết những công việc thuộc trách nhiệm của mình trong học tập và cuộc sống.</p><p>Khi có tính tự lập, mỗi người biết tự suy nghĩ, tự quyết định và tự thực hiện những công việc thuộc trách nhiệm của mình. Nhờ đó, người có tính tự lập không quá phụ thuộc vào người khác mà có thể tự giải quyết nhiều vấn đề trong học tập và sinh hoạt hằng ngày.</p><p>Tự lập còn giúp rèn luyện ý thức trách nhiệm đối với bản thân. Khi tự mình thực hiện các công việc, mỗi người sẽ hiểu rằng mình phải chịu trách nhiệm với những quyết định và hành động của mình, từ đó giúp hình thành thói quen sống có trách nhiệm hơn trong cuộc sống.</p><p>Tự lập còn giúp phát triển năng lực và sự tự tin của mỗi người. Trong quá trình tự mình giải quyết các vấn đề, mỗi người sẽ học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và dần tin tưởng vào khả năng của bản thân. Nhờ đó, họ có thể mạnh dạn đối mặt với những khó khăn và thử thách trong cuộc sống.</p><p>Tự lập còn góp phần giúp mỗi người trưởng thành và phát triển toàn diện hơn. Khi có khả năng tự lập, mỗi người sẽ biết cách quản lý thời gian, công việc và cuộc sống của mình một cách hợp lý.</p><p><strong>Tóm lại,</strong> tự lập giúp con người chủ động trong cuộc sống, rèn luyện trách nhiệm, phát triển năng lực và từng bước trưởng thành. Vì vậy, việc rèn luyện tính tự lập là rất cần thiết đối với mỗi người, đặc biệt là đối với học sinh.</p><p><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tu-tin-co-y-nghia-nhu-the-nao-1.jpg" alt="Tự lập có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống?" /></p><p>Tự lập có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống? (Hình từ Internet)</p><h2><strong>Người có tính tự lập sẽ có những thuận lợi gì trong học tập và cuộc sống?</strong></h2><p>Người có tính tự lập thường nhận được nhiều giá trị tích cực trong học tập, công việc và cuộc sống.</p><p>Người có tính tự lập sẽ trở nên tự tin hơn vào khả năng của bản thân. Khi tự mình suy nghĩ và giải quyết các vấn đề, họ dần nhận ra năng lực của mình và tin tưởng rằng mình có thể vượt qua khó khăn. Sự tự tin này giúp họ mạnh dạn hơn trong việc đưa ra quyết định và thực hiện các mục tiêu trong cuộc sống.</p><p>Người có tính tự lập còn rèn luyện được nhiều kỹ năng cần thiết. Trong quá trình tự mình làm việc và giải quyết vấn đề, họ học được cách quản lý thời gian, sắp xếp công việc, xử lý tình huống và thích nghi với những thay đổi. Những kỹ năng này rất quan trọng để mỗi người phát triển và trưởng thành.</p><p>Người có tính tự lập thường được mọi người tin tưởng và tôn trọng hơn. Khi một người biết tự chịu trách nhiệm với công việc của mình, không phụ thuộc quá nhiều vào người khác, họ sẽ tạo được sự tin cậy đối với gia đình, thầy cô và bạn bè.</p><p>Tính tự lập còn giúp mỗi người dễ dàng đạt được mục tiêu trong cuộc sống. Nhờ sự chủ động và nỗ lực của bản thân, họ có thể từng bước thực hiện kế hoạch và vượt qua những khó khăn để đạt được kết quả mong muốn.</p><p><strong>Như vậy, </strong>người có tính tự lập thường nhận được nhiều lợi ích như sự tự tin, khả năng giải quyết vấn đề, sự tin tưởng của mọi người và cơ hội đạt được mục tiêu trong cuộc sống. Vì vậy, rèn luyện tính tự lập là điều rất cần thiết đối với mỗi người, đặc biệt là học sinh.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Fri, 17 Jul 2026 01:34:34 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tu-tin-co-y-nghia-nhu-the-nao-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tu-tin-co-y-nghia-nhu-the-nao-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">GDCD 6 KNTT Bài 5: Tự lập có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống?</media:title>
                        <media:keywords>GDCD 6 KNTT Bài 5: Tự lập có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống?</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[10+ Biểu hiện của người có ước mơ (điểm cao)]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/bieu-hien-cua-uoc-mo-a111123.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/bieu-hien-cua-uoc-mo-a111123.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/bieu-hien-cua-uoc-mo-a111123.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Tổng hợp các bài văn mẫu Biểu hiện của người có ước mơ điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.</p> <h2>10+ Biểu hiện của người có ước mơ (điểm cao)</h2> <h3><strong>Dàn ý Biểu hiện của người có ước mơ</strong></h3> <p>I. Mở bài:</p> <p>- Giới thiệu về ước mơ và tầm quan trọng của ước mơ trong cuộc sống con người.</p> <p>- Nêu vấn đề: Biểu hiện của người có ước mơ.</p> <p>II. Thân bài:</p> <p>- Khái niệm ước mơ:</p> <p>+ Là khát vọng, mục tiêu trong tương lai mà con người muốn đạt được.</p> <p>- Biểu hiện của người có ước mơ:</p> <p>+ Có mục tiêu rõ ràng và kiên định: Người có ước mơ luôn có mục tiêu cụ thể và không ngừng theo đuổi mục tiêu đó.</p> <p>+ Chăm chỉ, nỗ lực học hỏi, rèn luyện: Không ngừng trau dồi kiến thức, kỹ năng để đạt được mục tiêu.</p> <p>+ Sự kiên trì, không dễ dàng bỏ cuộc: Mặc dù gặp khó khăn, thử thách, nhưng người có ước mơ luôn kiên trì vượt qua.</p> <p>+ Tự tin và chủ động trong hành động: Tin vào khả năng của bản thân và chủ động làm những việc cần thiết để tiến gần đến ước mơ.</p> <p>+ Tạo dựng mối quan hệ và học hỏi từ người khác: Kết nối với những người thành công, học hỏi từ kinh nghiệm của họ.</p> <p>III. Kết bài:</p> <p>- Người có ước mơ thể hiện qua hành động cụ thể, sự kiên trì, nỗ lực không ngừng nghỉ.</p> <p>- Khẳng định ước mơ là động lực lớn lao giúp con người vươn tới thành công trong cuộc sống.</p> <h3><strong>Biểu hiện của người có ước mơ - mẫu 1</strong></h3> <p>Trong cuộc sống, ước mơ là động lực giúp con người vượt qua khó khăn và không ngừng phấn đấu để đạt được thành công. Một người có ước mơ luôn có mục tiêu rõ ràng và kiên trì đi đến cuối con đường. Những biểu hiện của người có ước mơ thể hiện rõ qua hành động cụ thể, tính cách và thái độ sống hàng ngày.</p> <p>Đầu tiên, người có ước mơ luôn có mục tiêu rõ ràng. ước mơ không phải là những điều mơ hồ mà là những khát vọng cụ thể mà người ta muốn đạt được trong tương lai. Họ có một kế hoạch cụ thể, biết mình muốn gì và phải làm gì để đạt được mục tiêu đó. Ví dụ, một sinh viên có ước mơ trở thành bác sĩ sẽ không chỉ đơn giản là nghĩ về việc mình sẽ học y khoa, mà họ đã có một kế hoạch chi tiết về việc học từng môn, tham gia các khóa học bổ trợ, và không ngừng cải thiện bản thân để có thể thi đỗ vào trường y. Mỗi bước đi đều được tính toán kỹ lưỡng, không phải là những mong muốn suông mà là những mục tiêu thực tế.</p> <p>Thứ hai, người có ước mơ thể hiện sự chăm chỉ, nỗ lực học hỏi và rèn luyện. Họ biết rằng để đạt được ước mơ, không thể dựa vào may mắn hay sự dễ dàng. Người có ước mơ luôn sẵn sàng học hỏi, trau dồi kiến thức, nâng cao kỹ năng, và rèn luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ không sợ khó khăn mà xem đó là cơ hội để phát triển. Một người có ước mơ trở thành doanh nhân, chẳng hạn, sẽ không ngừng tìm tòi, học hỏi từ những người đi trước, tham gia các khóa học về quản lý, marketing, tài chính để cải thiện kỹ năng lãnh đạo. Họ sẽ không ngừng thử nghiệm, làm việc chăm chỉ và học từ những sai lầm của mình.</p> <p>Bên cạnh đó, sự kiên trì là biểu hiện quan trọng của người có ước mơ. Không phải lúc nào mọi thứ cũng suôn sẻ, con đường chạm đến ước mơ thường đầy rẫy thử thách. Tuy nhiên, người có ước mơ sẽ không dễ dàng bỏ cuộc. Khi gặp khó khăn, họ sẽ tiếp tục cố gắng, không bị nản lòng. Những thử thách, thất bại chỉ là bài học quý giá giúp họ trưởng thành hơn. Ví dụ, một vận động viên muốn giành huy chương vàng sẽ không bao giờ bỏ cuộc chỉ vì một lần thất bại, mà thay vào đó họ sẽ tiếp tục tập luyện, cải thiện kỹ thuật và tìm cách vượt qua chính mình.</p> <p>Ngoài ra, sự tự tin và chủ động trong hành động cũng là biểu hiện rõ ràng của người có ước mơ. Họ không chờ đợi cơ hội đến mà chủ động tạo ra cơ hội cho chính mình. Một người có ước mơ trở thành nhà văn sẽ không chỉ ngồi đợi cảm hứng, mà họ sẽ kiên trì viết mỗi ngày, dù là những câu chuyện ngắn, những đoạn văn ngẫu hứng, để cải thiện kỹ năng viết của mình. Họ tin tưởng vào khả năng của bản thân và luôn chủ động thực hiện những hành động cụ thể để tiến gần hơn đến ước mơ.</p> <p>Cuối cùng, người có ước mơ cũng biết tạo dựng mối quan hệ và học hỏi từ người khác. Họ hiểu rằng con đường thành công không phải lúc nào cũng có thể đi một mình. Một người có ước mơ thành công sẽ tìm kiếm những người có cùng chí hướng, kết nối và học hỏi từ những người đi trước. Những mối quan hệ này không chỉ giúp họ có thêm kiến thức mà còn mở ra nhiều cơ hội mới, giúp họ phát triển bản thân và đạt được mục tiêu của mình.</p> <p>Người có ước mơ thể hiện qua hành động cụ thể, sự kiên trì, nỗ lực không ngừng nghỉ, và thái độ sống tích cực. Những người này không chỉ mơ mà còn hành động, không chỉ có mong muốn mà còn có kế hoạch và mục tiêu rõ ràng. ước mơ là động lực lớn lao giúp con người không ngừng vươn lên trong cuộc sống.</p> <h3><strong>Biểu hiện của người có ước mơ - mẫu 2</strong></h3> <p>Mỗi con người đều có những ước mơ riêng, những khát vọng mà họ muốn thực hiện trong cuộc sống. ước mơ là nguồn động lực mạnh mẽ, giúp con người vượt qua thử thách và tìm đến thành công. Để đạt được ước mơ, người ta cần phải có hành động cụ thể, sự kiên trì và nỗ lực không ngừng. Vậy, biểu hiện của người có ước mơ là gì?</p> <p>Đầu tiên, người có ước mơ luôn có mục tiêu rõ ràng và cụ thể. Họ không sống vô định mà luôn biết mình muốn gì trong tương lai. Mỗi người đều có những ước mơ khác nhau, nhưng điểm chung là họ đều xác định được mục tiêu của mình và lên kế hoạch cụ thể để thực hiện ước mơ đó. Ví dụ, nếu ai đó muốn trở thành một họa sĩ nổi tiếng, họ sẽ dành thời gian học hỏi về nghệ thuật, nghiên cứu các kỹ thuật vẽ và tham gia các triển lãm để tạo dựng tên tuổi. Mục tiêu rõ ràng giúp họ không lạc lối trên con đường dài đầy thử thách.</p> <p>Thứ hai, người có ước mơ luôn nỗ lực học hỏi và trau dồi bản thân. Họ biết rằng không thể đạt được mục tiêu mà không có sự chuẩn bị và cải thiện liên tục. Người có ước mơ luôn sẵn sàng học hỏi, tìm kiếm kiến thức mới và nâng cao kỹ năng của mình. Một người có ước mơ trở thành lập trình viên giỏi sẽ dành thời gian nghiên cứu các ngôn ngữ lập trình mới, tham gia các khóa học và dự án thực tế để hoàn thiện khả năng của mình. Họ không ngừng rèn luyện và cải thiện bản thân để tiến gần hơn đến mục tiêu của mình.</p> <p>Sự kiên trì cũng là một biểu hiện nổi bật của người có ước mơ. Con đường chinh phục ước mơ không phải lúc nào cũng bằng phẳng, họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thất bại. Tuy nhiên, những người có ước mơ sẽ không dễ dàng bỏ cuộc. Mỗi lần thất bại, họ sẽ đứng dậy, rút kinh nghiệm và tiếp tục đi về phía trước. Sự kiên trì giúp họ không chỉ vượt qua thử thách mà còn trở nên mạnh mẽ hơn. Một vận động viên muốn giành huy chương vàng sẽ không bao giờ dừng lại sau một lần thua cuộc, mà thay vào đó sẽ tiếp tục luyện tập, cải thiện kỹ năng và vươn tới thành công.</p> <p>Bên cạnh đó, người có ước mơ luôn chủ động hành động. Họ không chỉ chờ đợi cơ hội đến mà luôn chủ động tạo ra cơ hội cho chính mình. Những người có ước mơ hiểu rằng thành công không đến một cách dễ dàng, mà phải thông qua sự chủ động và nỗ lực. Họ không ngừng tìm kiếm cơ hội học hỏi, phát triển và thử thách bản thân. Một nhà khởi nghiệp sẽ không chỉ ngồi chờ khách hàng đến với mình mà sẽ chủ động tìm kiếm đối tác, tạo dựng mối quan hệ và luôn cải tiến sản phẩm để phục vụ tốt hơn nhu cầu của thị trường.</p> <p>Cuối cùng, người có ước mơ cũng biết học hỏi từ những người đi trước. Họ không chỉ tin tưởng vào khả năng của mình mà còn nhận thức rằng học hỏi từ người khác là một phần quan trọng để đạt được mục tiêu. Những người đi trước có kinh nghiệm và bài học quý giá có thể giúp người có ước mơ tránh được những sai lầm và rút ngắn con đường đến thành công.</p> <p>Người có ước mơ thể hiện qua sự kiên trì, nỗ lực không ngừng nghỉ và hành động quyết liệt. Họ luôn có mục tiêu rõ ràng, chăm chỉ học hỏi và không bao giờ bỏ cuộc dù gặp phải khó khăn. ước mơ là nguồn động lực giúp con người phấn đấu và vượt qua mọi thử thách trong cuộc sống.</p> <h3><strong>Biểu hiện của người có ước mơ - mẫu 3</strong></h3> <p>Mỗi người trong chúng ta đều có những ước mơ riêng, và ước mơ chính là động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Người có ước mơ sẽ không ngừng cố gắng, nỗ lực và kiên trì để hiện thực hóa mục tiêu mà mình đã đặt ra. Biểu hiện của người có ước mơ không chỉ được thể hiện qua lời nói mà còn qua hành động cụ thể trong cuộc sống hàng ngày.</p> <p>Đầu tiên, người có ước mơ thường có mục tiêu rõ ràng và cụ thể. Một người có ước mơ không chỉ đơn thuần mơ mộng mà họ đã xác định được điều mình muốn và biết cách tiến hành để đạt được điều đó. Ví dụ, một học sinh muốn thi đỗ vào trường đại học yêu thích sẽ không chỉ mơ ước về kết quả mà sẽ lên kế hoạch cụ thể về việc học tập, rèn luyện kỹ năng, tham gia các lớp học thêm để đạt kết quả cao trong kỳ thi. Người có ước mơ không sống vô định mà luôn có một con đường rõ ràng để đi, họ biết mình cần làm gì và làm như thế nào để đến gần mục tiêu.</p> <p>Ngoài ra, sự kiên trì là một trong những biểu hiện quan trọng của người có ước mơ. Con đường thực hiện ước mơ không bao giờ bằng phẳng, sẽ luôn có những khó khăn, thử thách mà họ phải đối mặt. Tuy nhiên, người có ước mơ không bao giờ dễ dàng bỏ cuộc, họ sẽ kiên trì bám sát mục tiêu của mình. Dù gặp thất bại, họ cũng không gục ngã mà sẽ tìm cách đứng dậy và tiếp tục tiến về phía trước. Một vận động viên thể thao muốn giành chiến thắng trong một giải đấu lớn sẽ không từ bỏ sau mỗi lần thất bại. Họ sẽ tiếp tục luyện tập, rút kinh nghiệm từ những sai lầm và không ngừng cố gắng để đạt được mục tiêu.</p> <p>Thêm vào đó, người có ước mơ luôn có sự tự tin vào khả năng của bản thân. Họ tin rằng mình có thể làm được những điều mình muốn, và sự tự tin này chính là sức mạnh giúp họ vượt qua mọi khó khăn. Người có ước mơ không sợ thất bại mà luôn xem mỗi thử thách là một cơ hội để học hỏi và trưởng thành. Họ không ngừng hành động, thay vì chờ đợi cơ hội đến. Một nhà khoa học muốn khám phá ra những điều mới mẻ sẽ không ngừng nghiên cứu, thử nghiệm và sáng tạo, dù con đường đó có thể dài và gian nan.</p> <p>Một biểu hiện nữa của người có ước mơ là họ luôn sẵn sàng học hỏi từ những người đi trước. Họ hiểu rằng mình không thể tự mình làm mọi thứ mà cần phải có sự giúp đỡ, chia sẻ từ những người đã thành công. Những người có ước mơ sẽ luôn tìm kiếm cơ hội để học hỏi, kết nối với những người đi trước, và học hỏi từ kinh nghiệm của họ. Việc này không chỉ giúp họ tránh được những sai lầm mà còn giúp họ phát triển nhanh chóng và đạt được mục tiêu của mình.</p> <p>Người có ước mơ thể hiện qua hành động kiên trì, sự tự tin và nỗ lực không ngừng nghỉ. Họ luôn có một mục tiêu rõ ràng và cụ thể, và sẽ không ngừng học hỏi, rèn luyện bản thân để đạt được ước mơ đó. ước mơ không chỉ là những khát vọng mơ hồ mà là những mục tiêu cụ thể mà con người luôn nỗ lực thực hiện.</p> <h3><strong>Biểu hiện của người có ước mơ - mẫu 4</strong></h3> <p>Ước mơ là sức mạnh tiềm tàng giúp con người vượt qua những thử thách trong cuộc sống. Một người có ước mơ không chỉ đơn thuần nghĩ về những điều mình muốn mà họ sẽ thực hiện những hành động cụ thể để biến ước mơ thành hiện thực. Biểu hiện của người có ước mơ không chỉ được thể hiện qua hành động mà còn qua những phẩm chất như kiên trì, nỗ lực và sự kiên định trong cuộc sống.</p> <p>Trước hết, người có ước mơ luôn có một mục tiêu rõ ràng. Họ không mơ hồ về điều mình muốn mà đã xác định được cụ thể mục tiêu cần đạt được. Những người này luôn đặt ra mục tiêu rõ ràng và lên kế hoạch chi tiết để thực hiện nó. Ví dụ, một học sinh có ước mơ trở thành bác sĩ sẽ không chỉ đơn giản là nghĩ về việc làm bác sĩ mà họ sẽ lên kế hoạch học tập, chuẩn bị cho các kỳ thi tuyển sinh vào các trường y, tham gia các hoạt động thực tế để cải thiện kỹ năng. Mục tiêu rõ ràng giúp họ không lạc lối trên con đường đạt được ước mơ của mình.</p> <p>Bên cạnh đó, sự kiên trì là một đặc điểm nổi bật của người có ước mơ. Con đường đi đến ước mơ không phải lúc nào cũng dễ dàng, và người có ước mơ phải đối mặt với rất nhiều thử thách. Tuy nhiên, họ không bao giờ bỏ cuộc. Khi gặp phải thất bại, người có ước mơ sẽ tìm cách đứng dậy, học hỏi từ sai lầm và tiếp tục cố gắng. Họ biết rằng mỗi thất bại là một bài học quý giá giúp họ trưởng thành hơn. Một người có ước mơ trở thành nghệ sĩ không thể thành công ngay từ lần đầu tiên vẽ tranh, nhưng họ sẽ kiên trì luyện tập, học hỏi từ các họa sĩ đi trước để cải thiện bản thân.</p> <p>Ngoài ra, sự tự tin cũng là một trong những biểu hiện quan trọng của người có ước mơ. Những người này luôn tin tưởng vào khả năng của bản thân và không ngừng nỗ lực để thực hiện mục tiêu của mình. Họ không bao giờ ngần ngại khi đối diện với thử thách mà luôn sẵn sàng vượt qua để đạt được thành công. Một người có ước mơ trở thành nhà văn nổi tiếng sẽ không chùn bước trước những lời chỉ trích hay thất bại mà luôn kiên định với mục tiêu và không ngừng sáng tạo.</p> <p>Cuối cùng, người có ước mơ biết rằng sự học hỏi không ngừng từ những người đi trước là một yếu tố quan trọng giúp họ đạt được thành công. Họ luôn tìm kiếm cơ hội để học hỏi, giao lưu với những người có kinh nghiệm, và học hỏi từ những sai lầm cũng như thành công của người khác. Việc này giúp họ không chỉ tiết kiệm thời gian mà còn rút ngắn con đường chinh phục ước mơ của mình.</p> <p>Biểu hiện của người có ước mơ được thể hiện qua sự kiên trì, tự tin và nỗ lực không ngừng nghỉ. Họ không chỉ mơ ước mà còn hành động để biến ước mơ thành hiện thực. Người có ước mơ không bao giờ bỏ cuộc, luôn tự tin và không ngừng học hỏi, rèn luyện để tiến gần đến mục tiêu của mình.</p> <h3><strong>Biểu hiện của người có ước mơ - mẫu 5</strong></h3> <p>Trong cuộc sống, ước mơ luôn là nguồn động lực to lớn giúp con người vượt qua mọi khó khăn và thử thách. Một người có ước mơ không chỉ biết mơ mộng mà còn có những hành động cụ thể để thực hiện ước mơ của mình. Biểu hiện của người có ước mơ được thể hiện qua nhiều yếu tố, từ việc xác định mục tiêu rõ ràng cho đến việc kiên trì, nỗ lực không ngừng nghỉ.</p> <p>Trước tiên, người có ước mơ luôn biết mình muốn gì và có mục tiêu rõ ràng. Họ không sống mơ hồ hay để bản thân trôi nổi theo dòng đời mà luôn hướng về một mục tiêu cụ thể. Ví dụ, một người có ước mơ trở thành một nhà khoa học sẽ xác định rõ ràng con đường học vấn và nghiên cứu mà họ cần đi. Họ sẽ chăm chỉ học tập, tìm kiếm cơ hội nghiên cứu, làm việc với các chuyên gia trong lĩnh vực để phát triển bản thân. Mục tiêu rõ ràng giúp họ giữ vững được tinh thần và động lực trong quá trình thực hiện ước mơ.</p> <p>Bên cạnh đó, sự kiên trì là một đặc điểm quan trọng của người có ước mơ. Con đường đi đến ước mơ không bao giờ dễ dàng, và đôi khi, những khó khăn hay thất bại có thể khiến họ chùn bước. Tuy nhiên, người có ước mơ không bao giờ bỏ cuộc. Họ hiểu rằng mỗi thất bại chỉ là một phần của quá trình trưởng thành. Những người này sẽ luôn tìm cách đứng dậy, rút ra bài học từ những sai lầm để tiếp tục bước đi trên con đường đã chọn. Một người muốn trở thành một vận động viên xuất sắc sẽ không từ bỏ khi thất bại trong một trận đấu mà sẽ kiên trì tập luyện, cải thiện từng kỹ năng để giành chiến thắng trong lần thi đấu tiếp theo.</p> <p>Sự tự tin vào khả năng của bản thân cũng là một biểu hiện của người có ước mơ. Họ tin rằng mình có thể đạt được những điều mình mong muốn nếu nỗ lực không ngừng nghỉ. Người có ước mơ không sợ thất bại mà luôn xem đó là cơ hội để học hỏi và cải thiện bản thân. Một nhà văn, dù chưa nổi tiếng, cũng sẽ luôn tin tưởng vào khả năng sáng tạo của mình, tiếp tục viết và cải thiện từng tác phẩm để đến một ngày có thể chinh phục độc giả. Sự tự tin không chỉ giúp họ vượt qua nỗi sợ hãi mà còn là nguồn động lực giúp họ không ngừng sáng tạo, vươn lên.</p> <p>Cuối cùng, người có ước mơ luôn biết rằng họ không thể tự mình làm tất cả, và học hỏi từ những người đi trước là điều vô cùng quan trọng. Họ luôn tìm kiếm những cơ hội để học hỏi, trao đổi và kết nối với những người có kinh nghiệm. Những người này hiểu rằng, con đường thành công không thể đi một mình mà cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ từ những người đi trước. Chính sự cầu thị, biết học hỏi từ những người đi trước giúp họ tiến bộ nhanh chóng và có cơ hội đạt được ước mơ.</p> <p>Người có ước mơ thể hiện qua sự kiên trì, sự tự tin và nỗ lực không ngừng nghỉ để thực hiện ước mơ của mình. Họ không chỉ mơ mà còn hành động để biến ước mơ thành hiện thực. Những người này luôn có mục tiêu rõ ràng và không sợ thất bại, luôn học hỏi và không ngừng cải thiện bản thân. Chính những yếu tố này giúp họ tiến gần hơn đến thành công.</p> <h3><strong>Biểu hiện của người có ước mơ - mẫu 6</strong></h3> <p>Ước mơ chính là động lực giúp con người vượt qua những thử thách trong cuộc sống. Một người có ước mơ không chỉ dừng lại ở việc mơ ước mà còn hành động cụ thể để đạt được điều mình mong muốn. Những biểu hiện của người có ước mơ có thể thấy rõ trong cách họ đặt mục tiêu, kiên trì trong hành động và luôn sẵn sàng vượt qua những khó khăn.</p> <p>Đầu tiên, người có ước mơ luôn có mục tiêu rõ ràng và cụ thể. Mỗi người đều có những ước mơ riêng, nhưng để thực hiện được, họ cần xác định mục tiêu cụ thể. Một học sinh có ước mơ trở thành bác sĩ sẽ không chỉ mơ mộng về nghề nghiệp mà sẽ biết rõ mình cần phải học gì, làm gì và chuẩn bị thế nào để có thể thi vào trường y. Người có ước mơ không sống vô định mà luôn có một kế hoạch rõ ràng, một lộ trình để tiến bước.</p> <p>Sự kiên trì là một yếu tố không thể thiếu trong những biểu hiện của người có ước mơ. Họ hiểu rằng con đường chinh phục ước mơ sẽ không dễ dàng, và thất bại là một phần không thể thiếu trong quá trình đó. Tuy nhiên, người có ước mơ không bao giờ dễ dàng bỏ cuộc khi gặp thất bại. Họ sẽ đứng dậy, học hỏi từ những sai lầm và tiếp tục cố gắng. Những người này biết rằng mỗi lần thất bại là một cơ hội để học hỏi và trưởng thành. Họ luôn kiên trì, kiên nhẫn và không ngừng nỗ lực, dù khó khăn đến đâu.</p> <p>Ngoài ra, sự tự tin vào bản thân là một biểu hiện quan trọng của người có ước mơ. Những người này tin vào khả năng của mình và luôn sẵn sàng đối mặt với thử thách. Sự tự tin giúp họ vượt qua nỗi sợ hãi và tự tạo cơ hội cho mình. Người có ước mơ không sợ thất bại mà luôn thấy thất bại là một bài học quý giá. Họ không ngừng tin tưởng vào bản thân và vào khả năng thực hiện ước mơ của mình, dù con đường phía trước có thể dài và gian nan.</p> <p>Thêm vào đó, người có ước mơ luôn biết học hỏi và tiếp thu kinh nghiệm từ những người đi trước. Họ hiểu rằng, không phải lúc nào họ cũng có thể tự mình làm mọi việc. Họ sẵn sàng tìm kiếm sự giúp đỡ, học hỏi từ những người đi trước để rút ngắn con đường đạt được ước mơ. Họ không ngại thừa nhận mình chưa biết và sẵn sàng học hỏi, rút kinh nghiệm từ những thất bại để tiến bộ.</p> <p>Người có ước mơ là người luôn có mục tiêu rõ ràng, kiên trì trong hành động và không ngừng học hỏi. Họ tự tin vào khả năng của mình và luôn vượt qua mọi thử thách để đạt được ước mơ. Những biểu hiện này cho thấy rằng, ước mơ không chỉ là sự mơ mộng mà là một quá trình thực hiện với nhiều nỗ lực và kiên trì.</p> <h3><strong>Biểu hiện của người có ước mơ - mẫu 7</strong></h3> <p>Mỗi người đều có những ước mơ riêng, từ những ước mơ giản dị đến những ước mơ lớn lao. Ước mơ là nguồn động lực mạnh mẽ, giúp con người vượt qua khó khăn và thử thách trong cuộc sống. Tuy nhiên, để biến ước mơ thành hiện thực, một người không chỉ mơ mà còn cần phải hành động và thể hiện qua những biểu hiện rõ ràng trong suy nghĩ và hành động của mình. Những biểu hiện của người có ước mơ được thể hiện qua cách họ kiên trì, nỗ lực và có một kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu của mình.</p> <p>Trước tiên, một người có ước mơ luôn có một mục tiêu rõ ràng và cụ thể. Họ không chỉ biết mình muốn gì mà còn xác định rõ con đường sẽ đi để thực hiện ước mơ đó. Ví dụ, một người mơ ước trở thành một họa sĩ nổi tiếng sẽ phải có những bước đi cụ thể như học vẽ, tham gia các khóa học, trau dồi kỹ năng và tìm cơ hội tham gia triển lãm. Họ hiểu rằng, không có ước mơ nào trở thành hiện thực mà không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Người có ước mơ luôn lên kế hoạch rõ ràng và cam kết với con đường mà mình đã chọn.</p> <p>Bên cạnh đó, sự kiên trì là một yếu tố quan trọng để người có ước mơ có thể đạt được mục tiêu của mình. Con đường chinh phục ước mơ không bao giờ dễ dàng. Những khó khăn, thử thách và thất bại là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, người có ước mơ không bao giờ từ bỏ. Họ biết rằng mỗi thất bại là một bài học quý giá để trưởng thành hơn. Một học sinh muốn vào trường đại học y khoa, dù bị điểm thấp trong kỳ thi đầu tiên, vẫn không bỏ cuộc mà tiếp tục nỗ lực ôn tập và cải thiện điểm số trong những kỳ thi sau. Họ hiểu rằng kiên trì và sự cố gắng không ngừng nghỉ là yếu tố quyết định giúp họ đạt được ước mơ.</p> <p>Hơn nữa, người có ước mơ luôn thể hiện sự tự tin vào khả năng của bản thân. Họ tin rằng, nếu mình nỗ lực đủ, không có gì là không thể. Sự tự tin không phải là sự kiêu ngạo mà là niềm tin vững chắc vào chính mình. Một người có ước mơ muốn trở thành nhà văn nổi tiếng sẽ không ngừng viết, dù có thể chưa có ai biết đến tác phẩm của họ. Họ luôn tin rằng những gì mình viết là có giá trị và sẽ đến với người đọc một ngày nào đó. Chính sự tự tin này giúp họ không chùn bước trước những khó khăn và thử thách.</p> <p>Ngoài ra, người có ước mơ luôn tìm kiếm sự hỗ trợ từ những người xung quanh và học hỏi từ những người đi trước. Họ hiểu rằng, không ai có thể làm tất cả một mình. Một người có ước mơ trở thành doanh nhân thành đạt sẽ không ngần ngại học hỏi từ các bậc tiền bối, tìm kiếm sự cố vấn từ những người có kinh nghiệm. Họ luôn mở rộng lòng để học hỏi, đồng thời sẵn sàng đón nhận những lời khuyên, sự giúp đỡ từ những người xung quanh. Điều này giúp họ không chỉ rút ngắn thời gian thực hiện ước mơ mà còn giúp họ tránh được những sai lầm đáng tiếc.</p> <p>Cuối cùng, người có ước mơ luôn có một thái độ sống tích cực và không dễ dàng từ bỏ. Họ nhìn nhận mọi khó khăn, thất bại như một phần của quá trình học hỏi và phát triển bản thân. Họ không sống một cách thụ động mà luôn chủ động trong việc tìm kiếm cơ hội và giải pháp. Mỗi lần gặp phải trở ngại, họ sẽ tìm cách để vượt qua thay vì nản chí. Chính vì vậy, người có ước mơ luôn duy trì được sự lạc quan và tin tưởng vào khả năng của mình.</p> <p>Như vậy, người có ước mơ thể hiện qua sự kiên trì, sự tự tin, kế hoạch rõ ràng và thái độ sống tích cực. Họ không chỉ mơ mà còn hành động, học hỏi và nỗ lực không ngừng nghỉ để biến ước mơ thành hiện thực. Những biểu hiện này chính là yếu tố giúp họ vươn tới thành công và chinh phục ước mơ của mình.</p> <p>Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:</p> <ul> <li><b>Biểu hiện của niềm tin</b></li> <li><b>Biểu hiện của sống ảo</b></li> <li><b>Biểu hiện của sự lười biếng</b></li> <li><b>Biểu hiện của sự sẻ chia</b></li> <li><b>Biểu hiện của tình cảm gia đình</b></li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Thu, 16 Jul 2026 18:47:24 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">10+ Biểu hiện của người có ước mơ (điểm cao)</media:title>
                        <media:keywords>10+ Biểu hiện của người có ước mơ (điểm cao)</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[[Ảnh] Sử thi nghệ thuật Đồng Nai - Hào khí phương Nam, vươn mình cùng đất nước]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/su-thi-a111114.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/su-thi-a111114.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/su-thi-a111114.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/su-thi-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Chương trình được dàn dựng công phu, quy mô, tái hiện hành trình 328 năm hình thành và phát triển của vùng đất Đồng Nai (1698-2026). Mở đầu là không gian nghệ thuật tái hiện buổi đầu mở cõi phương Nam, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược, lấy đất Đồng Nai lập huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, đặt nền móng cho quá trình xác lập chủ quyền và phát triển vùng đất Đồng Nai và Nam Bộ. Những trích đoạn từ văn bia Trấn Biên - Đồng Nai rạng rỡ ngàn năm văn hiến trong chương trình góp phần khắc họa chiều sâu văn hóa, truyền thống hiếu học và khát vọng vươn lên của Đồng Nai trong thời kỳ mới.</p><p>Dòng chảy lịch sử tiếp tục được tái hiện qua các giai đoạn đấu tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ với nhiều dấu mốc hào hùng. Từ hình tượng những nghĩa sĩ Đồng Nai chống Pháp, phong trào Phú Riềng Đỏ, Chiến khu Đ, đến chiến thắng Đồng Xoài, trận đánh Tổng kho Long Bình, chiến công của lực lượng Đặc công Rừng Sác trên sông Lòng Tàu hay chiến thắng Đường 14 - Phước Long… được thể hiện giàu cảm xúc qua ngôn ngữ sân khấu, âm nhạc và những trích đoạn thơ nổi tiếng của các nhà thơ Tố Hữu, Huỳnh Văn Nghệ, Nguyễn Khoa Điềm.</p><p>Cùng với nhìn lại chặng đường lịch sử, sử thi nghệ thuật còn khắc họa diện mạo Đồng Nai trong thời kỳ hội nhập, phát triển. Từ vùng đất gian khó sau chiến tranh, Đồng Nai đã vươn lên trở thành cực tăng trưởng quan trọng của cả nước, trung tâm công nghiệp, logistics, dịch vụ và hàng không hiện đại và là thành phố thứ 7 của cả nước. Đây cũng là cột mốc quan trọng để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Đồng Nai chinh phục những kỳ tích mới, góp phần cùng cả nước hoàn thành thắng lợi các mục tiêu đề ra.</p><figure><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/su-thi-1.jpg" alt="[Ảnh] Sử thi nghệ thuật Đồng Nai - Hào khí phương Nam, vươn mình cùng đất nước" /></figure><figure><img src="https://dongnai.gov.vn/uploads/binhphuoc/news/2026_05/z7840083761971_b3836d5801ef9c129e69acc5a0820e27_20260518222322.jpg" alt="[Ảnh] Sử thi nghệ thuật Đồng Nai - Hào khí phương Nam, vươn mình cùng đất nước" /></figure><figure><img src="https://dongnai.gov.vn/uploads/binhphuoc/news/2026_05/z7840085719303_3ec16461c7fdda5a4deaca4e07dcc607_20260518222426.jpg" alt="[Ảnh] Sử thi nghệ thuật Đồng Nai - Hào khí phương Nam, vươn mình cùng đất nước" /></figure><figure><img src="https://dongnai.gov.vn/uploads/binhphuoc/news/2026_05/z7840086067194_d7cdebe0d98186af4a6b592bd91cabf8_20260518222436.jpg" alt="[Ảnh] Sử thi nghệ thuật Đồng Nai - Hào khí phương Nam, vươn mình cùng đất nước" /></figure><figure><img src="https://dongnai.gov.vn/uploads/binhphuoc/news/2026_05/z7840084115263_07e2e57573ad0e76f49f1ab800de674d_20260518222449.jpg" alt="[Ảnh] Sử thi nghệ thuật Đồng Nai - Hào khí phương Nam, vươn mình cùng đất nước" /><figcaption>Những hình ảnh chiến trường ác liệt, tinh thần chiến đấu quả cảm của quân và dân miền Đông nói chung, Đồng Nai nói riêng đã tạo cao trào xúc động trong đêm diễn. Ảnh: Công Nghĩa</figcaption></figure><figure><img src="https://dongnai.gov.vn/uploads/binhphuoc/news/2026_05/z7840084589529_e076404aa0d1dd0f72d4de0a2aa8f487_20260518222524.jpg" alt="[Ảnh] Sử thi nghệ thuật Đồng Nai - Hào khí phương Nam, vươn mình cùng đất nước" /></figure><figure><img src="https://dongnai.gov.vn/uploads/binhphuoc/news/2026_05/z7840086890908_93ecd15f00f7467bf3f5f0a7574de08f_20260518222542.jpg" alt="[Ảnh] Sử thi nghệ thuật Đồng Nai - Hào khí phương Nam, vươn mình cùng đất nước" /><figcaption>Từ vùng đất gian khó sau chiến tranh, Đồng Nai đã vươn lên trở thành cực tăng trưởng quan trọng của cả nước, trung tâm công nghiệp, logistics, dịch vụ và hàng không hiện đại và là thành phố thứ 7 của cả nước. Ảnh: Công Nghĩa</figcaption></figure><p>Khép lại chương trình, hình ảnh dòng sông Đồng Nai vẫn đang mải miết chảy, mang theo hào khí tiền nhân hòa quyện cùng khát vọng của triệu triệu con người hiện tại, chinh phục những kỳ tích mới trên chặng đường dựng xây đất nước phồn vinh, thịnh vượng; bằng sức mạnh tự lực, tự cường dưới cờ Đảng quang vinh. </p><p>Chương trình có sự tham gia của đông đảo nghệ sĩ, diễn viên, ca sĩ với sự dẫn dắt của hai MC Hoài Anh và Hữu Bằng, mang đến nhiều cung bậc cảm xúc cho người xem. Ca sĩ Phạm Thu Hà đã biểu diễn nhạc phẩm “Đêm thành phố đầy sao” của nhạc sĩ Trần Long Ẩn. Ca khúc như một bản tình ca tràn đầy niềm tin về tương lai của thành phố Đồng Nai, được nhạc sĩ sáng tác cách đây 40 năm.</p><p>Không chỉ là chương trình chào mừng sự kiện chính trị trọng đại, sử thi nghệ thuật Đồng Nai - Hào khí phương Nam, vươn mình cùng đất nước còn là dịp để tri ân các thế hệ cha ông đã hy sinh vì độc lập dân tộc; đồng thời thể hiện niềm tin, khát vọng phát triển của thành phố Đồng Nai trong kỷ nguyên mới.</p><p>Chương trình được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam và nền tảng truyền hình số quốc gia; được tiếp sóng bởi Báo và Phát thanh, Truyền hình Đồng Nai. Sau sử thi nghệ thuật là màn bắn pháo hoa tầm cao tại Quảng trường Long Hưng, khép lại chương trình đầy cảm xúc và tự hào.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Thu, 16 Jul 2026 14:01:43 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/su-thi-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/su-thi-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">[Ảnh] Sử thi nghệ thuật Đồng Nai - Hào khí phương Nam, vươn mình cùng đất nước</media:title>
                        <media:keywords>[Ảnh] Sử thi nghệ thuật Đồng Nai - Hào khí phương Nam, vươn mình cùng đất nước</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Đằng sau tên sách là tư thế của cả một dân tộc]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-ve-tac-gia-nguyen-tuan-a111105.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-ve-tac-gia-nguyen-tuan-a111105.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-ve-tac-gia-nguyen-tuan-a111105.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Nếu như tập tùy bút "Sông Đà" được xem là tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Nguyễn Tuân về đề tài xây dựng CNXH thì tập tùy bút "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi" lại được xem là tác phẩm tiêu biểu của ông về đề tài đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Cả hai tác phẩm đều giống nhau là có cái tên nghe rất mộc mạc, đọc lên là thấy ngay được chủ đề, khác xa với cách đặt tít điệu đàng của nhà văn - kiểu như "Vang bóng một thời" trước đây. Tuy nhiên, tên sách mộc mạc thì mộc mạc vậy, song dồn nén trong đó là biết bao tâm huyết, trí tuệ, tình cảm. Có trường hợp, như với cuốn "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi", để thu thập, tìm kiếm tư liệu, tác giả đã không ngại ngần đối mặt với hiểm nguy...</p> <p>Những ai từng có mặt tại 51 Trần Hưng Đạo, trụ sở Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam trong 12 ngày đêm năm ấy (1972), hẳn không quên được hình ảnh một lão nhà văn: Mỗi lần nghe tin B52 Mỹ đánh bom, với chiếc mũ sắt đội đầu (do báo Văn nghệ cấp cho cộng tác viên), ông lại tìm đến tận nơi xảy ra chiến sự để hỏi han, ghi chép. Lão nhà văn mặc dù đã ở tuổi ngoại lục tuần song vẫn có cách tác nghiệp như thể một phóng viên mặt trận ấy chính là nhà văn Nguyễn Tuân - tác giả của tập tùy bút "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi" nức tiếng một thời. </p> <p>Lý do gì mà một tên tuổi như Nguyễn Tuân - người luôn được xem là một vốn quý của văn học đất kinh kỳ - lại quyết bám trụ với Thủ đô tới cùng, quyết không chịu đi sơ tán theo chủ trương của cơ quan? Nhà văn Ngọc Trai, trong cuốn "Trò chuyện với nhà văn Nguyễn Tuân" (NXB Hội Nhà văn, 2010) đã ghi lại lời tâm sự của cụ Nguyễn như sau: "Mình sống được như thế này là lãi rồi, cần trốn tránh làm gì nữa! Bây giờ mình Sống mãi với Thủ đô thôi". Nhà phê bình Mai Quốc Liên, trong một bài viết về nhà văn Nguyễn Tuân in trên tạp chí Hồn Việt cách đây ít lâu cũng ghi lại lời cụ Nguyễn: "Mình là người viết văn, nhà văn Việt Nam. Trong khi Thủ đô - trái tim của cả nước - lâm nguy mà mình bỏ Hà Nội mình đi, thì còn viết cái gì, mình còn ra gì nữa ông?". </p> <p>Không chỉ vì sự gắn bó, thủy chung với Hà Nội, việc lão nhà văn quyết ở lại "Sống mãi với Thủ đô" (như tên một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng) còn bởi bấy giờ, ông đang ấp ủ việc hoàn tất tập bút ký "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi". Cuốn sách đã được Hội Văn nghệ Hà Nội cho xuất bản ngay sau trận bom Mỹ cuối cùng chấm dứt (ngày 30-12-1972). Bài cuối cùng của tập sách là bài "Nó bê - năm - hai phố Khâm Thiên" được lão nhà viết ngay sau khi B52 Mỹ trút bom rải thảm hủy diệt một trong những khu dân cư đông đúc nhất Hà Nội lúc bấy giờ (vào đêm 26, rạng ngày 27-12-1972). Điều này chứng tỏ ngòi bút Nguyễn Tuân đã ứng trực rất kịp thời, và việc ra sách cũng nhanh đến… kỷ lục.</p> <p>Thật ra, "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi" không chỉ nói về việc quân dân Hà Nội đánh trả và đánh thắng không lực Mỹ trong trận "Điện Biên Phủ trên không". Nhiều bài trong tập được Nguyễn Tuân viết ra từ mấy năm trước. Tập sách cũng không chỉ nói riêng việc Hà Nội đánh Mỹ (trong tập còn có bài "Sài Gòn tống Mỹ" và bài "Nhớ Huế" nói về cuộc tổng tấn công Xuân Mậu Thân 1968 ở Huế). Bản thân bài "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi" cũng được Nguyễn Tuân viết trước đó 5 năm. Tuy nhiên, nếu không có những bài viết đề cập tới cuộc chiến long trời lở đất diễn ra ngay tại "trái tim của cả nước" suốt 12 ngày đêm năm ấy, hẳn cuốn sách sẽ không có được sức nặng như nó cần phải có. Và nếu không được ra mắt bạn đọc đúng thời điểm ấy, thì hẳn cái tên của cuốn sách cũng phần nào giảm ý nghĩa. Đó như thể một thứ Huân chương Chiến công kịp thời đính lên ngực Thủ đô vậy.</p> <p>Liên quan đến tên gọi của cuốn sách, có một giai thoại vui. Hẳn nhiều người trong chúng ta còn nhớ mấy câu thơ của Tố Hữu (trong trường ca "Theo chân Bác"): "Ôi! Nụ cười vui của Bác Hồ/ Miền Nam đánh giỏi, Mỹ thua to". Hình như trong tâm lý mọi người, chữ "giỏi" là cách nói của người bề trên khi nhận xét về người bề dưới, chí ít thì cũng là người lớn nói với trẻ con, thầy cô nói với học trò. Việc nhà văn Nguyễn Tuân dùng chữ "giỏi" để ngợi khen Thủ đô Hà Nội nghe ra có vẻ gì đó không… thuận?</p> <p>Quả y như rằng, thoạt nghe cái tên này, nhà văn Tô Hoài đã yêu cầu tác giả phải… đổi. </p> <p>Bấy giờ nhà văn Tô Hoài là Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, là nơi cấp giấy phép cho in cuốn sách. Theo ý Tô Hoài thì đặt tên "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi" cứ y như mình "đang đứng ở bề trên mà ban khen cho Hà Nội vậy". Nguyễn Tuân nghe vậy nổi đóa: "Ba cái anh duyệt bài là hay chúa suy diễn. Tôi không có đứng trên đứng dưới cái gì sất, chỉ có điều là tôi không chịu được cái gì chung chung. Tôi nói Hà Nội ta là Hà Nội của chúng ta đây! Hà Nội của ta đây! Tôi tự hào với cái Hà Nội của ta, thế có được không? Thế còn đánh Mỹ giỏi thì phải nói rõ ra là đánh Mỹ giỏi chứ chỉ đánh Mỹ thì ai biết ta đánh Mỹ như thế nào? Một cái tên sách, nó cũng là cái tên sách của tôi, sao ông cứ bắt tôi phải giống mọi người? Nếu ông làm biên tập mà cứ muốn gọt tôi cho tròn vo như vậy, không có cá tính không còn gì của riêng tôi nữa thì thôi, để sách đó, tôi không in nữa". Tô Hoài nghe vậy đành chịu (xem "Trò chuyện với nhà văn Nguyễn Tuân" của Ngọc Trai).</p> <p>Tập tùy bút "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi" trong lần in đầu gồm cả thảy 11 bài, dài ngót hai trăm trang, nội dung cơ bản đề cập tới cuộc đối đầu của quân dân Hà Nội với không lực Mỹ (có tới hơn 30% tên bài chỉ đích danh giặc lái Mỹ như: "Hà Nội giải tù Mỹ qua phố Hà Nội", "Cho giặc bay Mỹ nó ăn một cái tết ta", "Có ba phi công Mỹ đi bộ trong chợ hoa sơ tán", "Nó bê - năm - hai phố Khâm Thiên"). Có bài, như bài "Đèn điện phố phường Hà Nội vui sáng hơn bất cứ lúc nào", tên thì vậy song nội dung cũng chủ yếu xoay quanh cuộc thẩm vấn của lão nhà văn với một phi công Mỹ - tức Thượng nghị sĩ John McCain hiện nay, người vào năm 2008 từng là ứng viên Tổng thống Mỹ. Đây là bài viết dài nhất trong tập và theo suy nghĩ của cá nhân tôi - cũng là bài viết đặc sắc nhất trong "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi".</p> <p>Nhiều người đã biết, máy bay của phi công John McCain đã bị bắn rơi ngày 26 - 10 - 1967 khi thực hiện phi vụ đánh bom Hà Nội. Khi nhảy dù, John McCain rơi xuống hồ Trúc Bạch và được dân quân tự vệ của ta vớt lên, đưa tới bệnh viện. Sau này, ông John McCain từng có những phát biểu "tiền hậu bất nhất" về cách hành xử của các cán bộ quản giáo Việt Nam đối với ông thời kỳ ông là tù binh chiến tranh ở Việt Nam. Và đã có lần ông phải lên tiếng xin lỗi Chính phủ và nhân dân Việt Nam về những phát biểu đó.</p> <p>Bài tùy bút "Đèn điện phố phường Hà Nội vui sáng hơn bất cứ lúc nào" của nhà văn Nguyễn Tuân đã phơi mở cho chúng ta thấy chính sách nhân đạo của Nhà nước Việt Nam trong việc đối xử với tù binh nói chung và với cá nhân Thiếu tá phi công John McCain nói riêng. Trong bài tùy bút, Nguyễn Tuân gọi McCain theo cách ông phiên âm ra tiếng Việt là Mích Kên. Ông kể, khi ông đến để "hỏi chuyện" Mích Kên, bác sĩ đã dặn ông là Mích Kên còn mệt, cần cho an dưỡng nên bớt cho ông ta những câu hỏi hóc búa, chưa nên để Mích Kên "phải động não suy nghĩ nhiều". Và nhà văn già "tôn trọng lời dặn của bác sĩ, tôi đành tạm cất đi mấy câu đó" (tức mấy câu phỏng vấn "chát chúa").</p> <p>Khi Mích Kên ngỏ ý "Xin ông một điếu thuốc lá", thì nhà văn lớn của Việt Nam trực tiếp cắm thuốc và bật diêm cho Mích Kên hút. Theo mô tả của Nguyễn Tuân thì hành động của ông đã khiến viên phi công Mỹ phải nhiều lần nghển đầu cảm ơn. Cũng tại cuộc "chất vấn" này, Nguyễn Tuân đã nói cho Mích Kên hay, việc ông ta còn sống sau lần máy bay bị bắn hạ không phải vì "Chúa Trời nào đã cứu sống anh đâu mà chính là vì những người dân Hà Nội chân chính đó đã hết sức tôn trọng phép nước đối với tù binh Mỹ bị bắt sống". </p> <p>Theo phân tích của Nguyễn Tuân, những người bơi ra vớt Mích Kên ở hồ Trúc Bạch hôm ấy hoàn toàn có thể giết chết ông ta vì họ từng là nạn nhân của bom đạn Mỹ. Cuối buổi trò chuyện, Mích Kên thổ lộ "Có lẽ sau này tôi sẽ xin đi làm quản lý ở một công ty nào" và "Tôi là một người đang thấy cần phải có hòa bình và mong chiến tranh kết thúc". Ra về, Nguyễn Tuân đã để cả chỗ thuốc lá còn lại cho Mích Kên. </p> <p>Đọc tập tùy bút "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi", điều ta nhận thấy trước nhất là tác giả rất chịu khó thu thập thông tin khiến cho câu chuyện luôn đầy ắp các dữ liệu và rất sinh động. Nghệ sĩ nhân dân Đình Quang, trong bài "Nâng chén rượu xuân, nhớ nhà văn Nguyễn Tuân" (sách "Tạp văn", NXB Sân khấu, 2012) cho hay: Một lần cụ Nguyễn chống ba toong đến nhà ông chơi. Cụ đưa ra cho Đình Quang một tờ báo tiếng Đức, bảo Đình Quang dịch xem người ta nói về khách sạn Hilton thế nào. Cụ Nguyễn hỏi đi hỏi lại từng chi tiết rồi lặng suy nghĩ. Chỉ tới khi "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi" ra đời, Đình Quang mới hiểu: Cụ Nguyễn muốn tìm hiểu ngọn ngành một địa chỉ trước khi nhắc tới nó trong trang sách của mình.</p> <p>Nói về đóng góp của Nguyễn Tuân qua tập tùy bút "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi", nhà văn Nguyễn Đình Thi nhận định: "Tập tùy bút ấy là đóng góp của Nguyễn Tuân trực tiếp đánh Mỹ". Cũng tương tự, nhưng cụ thể hơn, nhà phê bình văn học Phan Cự Đệ cho rằng, với "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi", Nguyễn Tuân đã "đánh địch với tư thế của một dân tộc đi tiên phong trên tuyến đầu chống Mỹ, với lòng tự hào của một dân tộc đang chiến thắng"</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Thu, 16 Jul 2026 10:37:29 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Đằng sau tên sách là tư thế của cả một dân tộc</media:title>
                        <media:keywords>Đằng sau tên sách là tư thế của cả một dân tộc</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Những bài thơ nổi tiếng về ngày đại thắng]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/nhung-bai-tho-noi-tieng-a111091.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/nhung-bai-tho-noi-tieng-a111091.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/nhung-bai-tho-noi-tieng-a111091.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/nhung-bai-tho-noi-tieng-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>Chi</strong><strong>ế</strong><strong>n th</strong><strong>ắ</strong><strong>ng 30-4-1975 là m</strong><strong>ộ</strong><strong>t trong nh</strong><strong>ữ</strong><strong>ng m</strong><strong>ố</strong><strong>c son chói l</strong><strong>ọ</strong><strong>i nh</strong><strong>ấ</strong><strong>t trong l</strong><strong>ị</strong><strong>ch s</strong><strong>ử</strong><strong> dân t</strong><strong>ộ</strong><strong>c Vi</strong><strong>ệ</strong><strong>t Nam. Sau 21 năm kháng chi</strong><strong>ế</strong><strong>n ch</strong><strong>ố</strong><strong>ng M</strong><strong>ỹ</strong><strong> c</strong><strong>ứ</strong><strong>u nư</strong><strong>ớ</strong><strong>c đ</strong><strong>ầ</strong><strong>y gian kh</strong><strong>ổ</strong><strong>, máu và l</strong><strong>ử</strong><strong>a, quân và dân ta đã gi</strong><strong>ả</strong><strong>i phóng hoàn toàn mi</strong><strong>ề</strong><strong>n Nam, th</strong><strong>ố</strong><strong>ng nh</strong><strong>ấ</strong><strong>t đ</strong><strong>ấ</strong><strong>t nư</strong><strong>ớ</strong><strong>c. Kho</strong><strong>ả</strong><strong>nh kh</strong><strong>ắ</strong><strong>c l</strong><strong>ị</strong><strong>ch s</strong><strong>ử</strong> <strong>ấ</strong><strong>y không ch</strong><strong>ỉ</strong><strong> là ni</strong><strong>ề</strong><strong>m vui l</strong><strong>ớ</strong><strong>n lao c</strong><strong>ủ</strong><strong>a toàn dân t</strong><strong>ộ</strong><strong>c mà còn là ngu</strong><strong>ồ</strong><strong>n c</strong><strong>ả</strong><strong>m h</strong><strong>ứ</strong><strong>ng b</strong><strong>ấ</strong><strong>t t</strong><strong>ậ</strong><strong>n cho văn h</strong><strong>ọ</strong><strong>c ngh</strong><strong>ệ</strong><strong> thu</strong><strong>ậ</strong><strong>t, đ</strong><strong>ặ</strong><strong>c bi</strong><strong>ệ</strong><strong>t là thơ ca.</strong></p> <figure><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/nhung-bai-tho-noi-tieng-1.jpg" alt="" /><figcaption>Học sinh hóa thân thành nhân vật trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của nhà văn Lê Minh Khuê (ảnh minh họa). Ảnh: T.L</figcaption></figure> <p>Những bài thơ nổi tiếng về ngày 30-4 đã khắc họa sống động không khí tưng bừng, khí thế hào hùng, niềm hạnh phúc ngập tràn và cả những hy sinh thầm lặng của cha anh. Đọc những vần thơ ấy, ta không khỏi bồi hồi, tự hào và xúc động sâu sắc trước sức mạnh của ý chí dân tộc và giá trị nhân văn mà thơ ca mang lại.</p> <p>Một trong những bài thơ để đời phải kể đến là “Toàn thắng về ta” của Tố Hữu. Bài thơ này được viết ngay ngày 1-5-1975, chỉ một ngày sau khi quân và dân ta giải phóng hoàn toàn Sài Gòn. Đây là một trong những bài thơ nổi bật nhất thể hiện niềm vui bùng nổ, hạnh phúc ngập tràn và lòng biết ơn sâu sắc của toàn dân tộc trước Đại thắng mùa Xuân 1975. “Ôi, buổi trưa nay, tuyệt trần nắng đẹp/ Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta/ Chúng con đến, xanh ngời ánh thép/ Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa…”. Hình ảnh “buổi trưa nay tuyệt trần nắng đẹp” kết hợp với “xanh ngời ánh thép” và “lộng lẫy cờ hoa” đã vẽ nên một bức tranh huy hoàng, rực rỡ của chiến thắng. Tố Hữu không chỉ miêu tả cảnh quân ta tiến vào Sài Gòn mà còn khéo léo thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với Bác Hồ - vị lãnh tụ vĩ đại đã dẫn dắt dân tộc đến ngày toàn thắng. Câu thơ “Cho chúng con giữa vui này được khóc/ Hôn mỗi đứa em, ôm mỗi mẹ già” khiến người đọc không khỏi nghẹn ngào. Niềm vui lớn lao xen lẫn nước mắt - đó là nước mắt của hạnh phúc, của sự giải tỏa sau bao năm chờ đợi, của lòng biết ơn những hy sinh thầm lặng của hậu phương và của những người đã ngã xuống. Bài thơ thể hiện rõ phong cách thơ Tố Hữu: chính trị - trữ tình, kết hợp hài hòa giữa lý trí cách mạng và tình cảm sâu sắc.</p> <p>Xuân Diệu với “Bão giải phóng ở miền Nam” và “Đi giữa Sài Gòn” miêu tả không khí sôi sục, cuồn cuộn như cơn bão cách mạng quét sạch bóng tối thực dân, đế quốc. Trong đó, bài “Bão giải phóng ở miền Nam” được sáng tác ngay sau chiến thắng 30-4-1975, là một trong những bài thơ tiêu biểu thể hiện niềm vui tưng bừng, khí thế sôi sục và cảm xúc dạt dào trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất. Bài thơ lấy hình ảnh “bão” làm trung tâm để khắc họa sức mạnh vĩ đại, không thể cưỡng lại của cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta. Xuân Diệu miêu tả cuộc giải phóng miền Nam như một cơn bão giải phóng cuồn cuộn, dữ dội, quét sạch bóng tối của chế độ tay sai và quân xâm lược Mỹ. “Bão” ở đây là bão cách mạng, bão của ý chí nhân dân, của sức mạnh tổng hợp giữa Bắc - Nam, giữa chính nghĩa và lòng dân. Cơn bão mang theo không khí tưng bừng, rực rỡ cờ hoa, tiếng reo hò vang dội. Nó xóa tan nỗi đau chia cắt, giải phóng con người khỏi ách thống trị, mang lại ánh sáng tự do và hạnh phúc cho miền Nam thân yêu.</p> <p>Chế Lan Viên trong “Ngày vĩ đại” hay “Thơ bổ sung” khẳng định đây là “ngày vĩ đại” của dân tộc, mở ra một kỷ nguyên mới. Trong đó, bài “Ngày vĩ đại” được nhà thơ sáng tác ngày 3-5-1975, là một trong những áng thơ dài nổi bật nhất ca ngợi đại thắng. Bài thơ dài 188 câu, mang giọng điệu ào ạt, hùng tráng, kết hợp giữa cảm xúc dâng trào, suy tưởng triết lý và niềm vui lịch sử lớn lao. Chế Lan Viên khắc họa khí thế hào hùng của chiến thắng bằng những hình ảnh mạnh mẽ: Quân dân ta như “rồng bay”, tiến công dồn dập, giải phóng miền Nam; niềm vui bùng nổ, xen lẫn nước mắt hạnh phúc và những giây phút “tỉnh thức vĩ đại mà cứ ngỡ cơn mơ vĩ đại”; hình ảnh Bác Hồ hiện lên sống động giữa niềm vui chung: “Cả đất nước ùa theo nửa mừng nửa khóc/ Mỗi chúng ta rưng rưng như chợt thấy Bác Hồ/ Kìa tiếng chuông reo trên nhà sàn của Bác/ Tin báo tiệp về ở giữa trang thơ …”.</p> <p>Tế Hanh viết “Trở lại con sông quê hương” và “Mùa xuân 75” với cảm nhận sâu lắng. Ở “Mùa xuân 75”, bài thơ xoay quanh cảm nhận sâu sắc về một mùa xuân đặc biệt, khác hẳn với mọi mùa xuân trước đó trong lịch sử dân tộc. Câu thơ nổi tiếng và là “linh hồn” của bài thơ: “Mùa xuân nào như mùa xuân 75/ Hai mươi ngày thay đổi hai mươi năm”. Tế Hanh đã khái quát một cách tài tình: chỉ trong 20 ngày cuối tháng tư, quân và dân ta đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện đất nước - chấm dứt hơn 20 năm chia cắt Nam - Bắc, kết thúc cuộc chiến tranh kéo dài, mang lại thống nhất non sông và hòa bình cho dân tộc. Bài thơ khắc họa không khí hào hùng, tưng bừng của mùa xuân chiến thắng: Cả miền Nam như bừng tỉnh sau bao năm đau thương, ngập tràn cờ hoa, tiếng reo hò, niềm vui giải phóng. Chiến thắng không chỉ là quân sự mà còn là sự tất thắng của ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.</p> <p>Cùng với đó, nhiều nhà thơ lớn khác cũng để lại những áng thơ bất hủ về ngày lịch sử này. Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Giang Nam…, mỗi người một giọng điệu nhưng đều chung một niềm vui thống nhất non sông, niềm tự hào dân tộc.</p> <p>Những bài thơ sau này như “Phan Thiết có anh tôi” của Hữu Thỉnh (với những câu như: “Em đã qua những cơn sốt anh qua/ Em đã gặp những trận mưa rừng anh gặp/ Vẫn không ngờ có một trưa Phan Thiết/ Em một mình đứng khóc ở sau xe”) hay “Mừng chiến thắng 30-4” của Phạm Thành (với những câu như: “Ngày chiến thắng tưng bừng lịch sử/ Bốn mươi năm vẫn cứ ngân vang/ Cờ bay trên khắp bản làng/ Ngày 30 ấy sang trang nước nhà!”), hay “Tiếng ve trưa” của Vương Trọng (với những câu: “Cắm cờ lên đỉnh cuối cùng/ Tăng về nép dưới bóng rừng nghỉ ngơi/ Cửa tròn vừa mới hé thôi/Nhô đầu ra, ngập một trời tiếng ve”)… hay các bài thơ của thế hệ sau cũng tiếp nối tinh thần ấy, nhắc nhớ xương máu của hàng triệu liệt sĩ, nhắc nhở thế hệ trẻ về giá trị của hòa bình hôm nay. Chúng không chỉ ca ngợi chiến thắng mà còn khắc họa hình ảnh người lính giải phóng với “mũ lá sen xanh”, “dép lốp”, “quân phục cũ nửa chừng” - giản dị nhưng oai hùng, gần gũi nhưng vĩ đại.</p> <p>Đọc những bài thơ về chiến thắng 30-4, chúng ta có thể cảm nhận sâu sắc sức mạnh của thơ ca trong việc lưu giữ và lan tỏa lịch sử. Thơ không chỉ ghi lại khoảnh khắc mà còn khơi dậy lòng yêu nước, ý chí quật cường và tinh thần đại đoàn kết. Trong bối cảnh đất nước ta hôm nay đang hội nhập quốc tế sâu rộng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những vần thơ ấy vẫn giữ nguyên giá trị giáo dục. Chúng nhắc nhở thế hệ trẻ - những người sinh ra và lớn lên trong hòa bình - phải biết trân trọng độc lập, tự do mà cha ông đã đổ biết bao máu xương để có được. Đồng thời, chúng khơi dậy trách nhiệm tiếp nối truyền thống, góp sức xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong ước.</p> <p>Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại với nhịp sống hối hả và sự bùng nổ của thông tin số, một số bạn trẻ có nguy cơ xa rời lịch sử, coi nhẹ giá trị của ngày 30-4. Vì vậy, việc học tập và lan tỏa những bài thơ nổi tiếng về chiến thắng này qua nhà trường, gia đình và các nền tảng truyền thông là vô cùng cần thiết. Không nên để ngày lễ trở thành hình thức mà phải biến nó thành dịp để mỗi người tự vấn lương tâm, rèn luyện bản thân và hành động cụ thể: học tập tốt, lao động sáng tạo, sống có trách nhiệm với cộng đồng.</p> <p><strong>Tr</strong><strong>ị</strong><strong>nh Minh Giang</strong></p> <p> </p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Thu, 16 Jul 2026 04:45:36 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/nhung-bai-tho-noi-tieng-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/nhung-bai-tho-noi-tieng-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Những bài thơ nổi tiếng về ngày đại thắng</media:title>
                        <media:keywords>Những bài thơ nổi tiếng về ngày đại thắng</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[TÂM SỰ CỦA NGUYỄN KHUYẾN QUA BÀI THƠ &quot;THU ĐIẾU&quot; - trang tin tức]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/thu-dieu-nguyen-khuyen-a111055.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/thu-dieu-nguyen-khuyen-a111055.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/thu-dieu-nguyen-khuyen-a111055.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>VNTN - Hầu hết những bài viết quan trọng và những công trình nghiên cứu về văn thơ Nguyễn Khuyến đều không quên nhắc đến chùm thơ Nôm viết về mùa thu (Thu vịnh, Thu ẩm, Thu điếu). Song trong những bài viết đó thường thiên về ca ngợi sự tinh tế trong cảm thụ cảnh thu làng quê Việt Nam. Tuy đây đó cũng có đề cập tới nỗi buồn của nhà thơ, nhưng dường như chỉ là nỗi “buồn thu” thoảng qua mà thôi. Mọi người gần như coi “chủ đề làng cảnh Việt Nam” là chính, quên mất nỗi u ẩn, tâm sự đớn đau trước thời cuộc của tác giả, mà theo tôi, đó mới là nội dung chính nhà thơ muốn nhân cảnh thu để gửi gắm một cách kín đáo.Tìm hiểu và nghiên cứu văn thơ của tác giả vốn xuất thân từ khoa bảng Hán học xưa, ai cũng thừa nhận rằng: họ chịu ảnh hưởng sâu sắc của Thi, Thư, Dịch, Lễ… và nền thơ ca cổ điển Trung Hoa như Sở từ, Hán phú, Đường thi… Dù những bài thơ tưởng như mang nặng tính “thù tạc” ngâm vịnh đi nữa, cũng không thoát ra ngoài tinh thần “thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo” (thơ để nói chí, văn để tải đạo). Bởi thế những danh từ chỉ vật như Tùng, Cúc, Trúc, Mai hay tên 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông được nhắc đến trong thơ vịnh cảnh đâu phải chỉ là những danh từ chỉ vật, chỉ mùa đơn thuần, mà còn mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc.Vì vậy những nhận định cho rằng “Thu điếu” chỉ là bài thơ tả cảnh “mùa thu câu cá” e rằng đã hiểu chưa đúng ý nghĩa thâm thúy của bài thơ. Tất cả những hình ảnh về nước, trời, ngõ trúc, lá vàng, bèo, cá, chỉ là những cái vỏ ngoài tuy chân thực đấy những đều mang tính ẩn dụ để gửi một nỗi niềm tâm sự sâu kín mà tác giả chưa biết ngỏ cùng ai. Bởi vì, giữa thời kỳ dân tộc ta đang đắm chìm trong vòng nộ lệ, người dân mất tự do đến nghẹt thở, ngay cả nỗi cay đắng thống khổ cũng chẳng dám kêu. Trong bài “Xuân nguyên hữu cảm” nhà thơ từng đau xót hé lộ điều đó:Vô lịch ná tri thư Giáp TýHữu cừu vị cảm độc Xuân Thu (1)(Không lịch, biết đâu mà ghi được Giáp TýKẻ thù còn đó, đâu dám đọc kinh Xuân Thu)Trong hoàn cảnh như vậy, việc tác giả không dám nói thẳng nỗi lòng của mình cũng là đương nhiên. Không chỉ vậy, cách thể hiện “ý tại ngôn ngoại” trong thơ xưa nay vốn là đỉnh cao nghệ thuật mà thi ca mong đạt tới.Xuất phát từ những lý do trên, nhìn nhận và đánh giá lại nội dung bài “Thu điếu” sẽ cho ta thấy rõ tâm sự của tác giả và chủ đề đích thực của bài thơ.Xin được bắt đầu từ cái “ao thu lạnh lẽo nước trong veo” mà nhiều nhà nghiên cứu từng hết lời tán dương, theo cách nhà thơ Xuân Diệu cho là “Điển hình nhất cho mùa thu Việt Nam, ở miền Bắc nước ta, chứ không phải nơi nào khác” (Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Nhà xuất bản Văn học, 1982).</p><p>Ngôi nhà của thi hào Nguyễn Khuyến ở làng Vị Hạ, xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (Ảnh: B,H)</p><p>Mua thu, nước “trong veo” thì đúng. Nhưng nước ao “trong veo” lại chưa hẳn vào mùa thu ta mới thấy, nhất là nước ao có thả cá thì ngay cả mùa thu cũng khó mà “trong veo” được. Ao ở làng quê thì nhất thiết có thả cá, chứ không phải để làm cảnh! Vì vậy từ “trong veo” trong bài thơ hiển nhiên không phải mục đích tôn cảnh mùa thu mà lại là mùa thu “lạnh lẽo”. Các tác giả từng phân tích rất kỹ, hình dung từ “lạnh lẽo” theo ý nghĩa thời tiết đơn thuần và gán cho mùa thu một “thuộc tính” mới như sau: “… Sau một mùa hạ nóng nực kéo dài, cái lạnh lẽo của mùa thu thật đáng dễ cảm xúc hơn là từ một cái lạnh này sang cái lạnh khác dù có lạnh hơn…”(!) (Những bài văn chọn lọc - tập 1 trang 38 - Trường Cao đẳng Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh - 1994).Ai cũng rõ, mùa thu ở xứ ta được coi là một mùa mát mẻ, dễ chịu, đâu có “lạnh lẽo”. Mà dù có sang tiết đông, cũng không nói tiết trời mùa đông lạnh lẽo. Người am hiểu tiếng Việt chỉ dùng từ “lạnh lẽo” để nói cảnh vật quạnh hiu, hoang phế, thiếu sự sống. Vì vậy, câu thơ “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo” chủ yếu miêu tả khái quát không khí thiếu sự sống của “ao thu”. Đấy cũng chính là muốn ngầm chỉ cái “không khí” của xã hội nước ta thời tác giả sống. Một xã hội “tàn thu” và tù hãm như cái ao tù đọng! Họa chăng trên cái ao tù đọng đó chỉ có đám bèo (mà tác giả nói đến ở câu kết) sống nhờ ăn bám là nhiều!Hãy lưu ý chút nữa về những cảnh vật ông tả quanh cái “ao thu lạnh lẽo”: nào là sóng gợn, lá vàng, ngõ trúc vắng, cá đớp động… Có người nhận xét: “Trong mấy câu này ông dùng cái động để nói cái tĩnh”. Nhận xét đó đúng, vì đó là phép tả cảnh thường gặp trong thơ cổ điển. Nhưng chỉ dừng ở đó thôi thì chẳng có phát hiện gì mới mẻ. Điều cần nói ở đây không phải là cái cảm nhận tinh tế của tác giả, mà mục đích chính là tác giả muốn làm nổi bật không khí tàn tạ và “lạnh lẽo” của “ao thu”, hình ảnh ẩn dụ mà phần trên đã đề cập. Càng không phải là cảnh vật điển hình thu của “làng cảnh Việt Nam” vùng chiêm trũng như nhà thơ Xuân Diệu nhận định và cũng từng được nhiều nhà phê bình, nhà giáo tán dương!Ai từng sống ở làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ đều thấy không khí làng quê xưa đâu có quạnh hưu “lạnh lẽo” thiếu sức sống như thế vào mùa thu! Nhất là mùa thu lại đúng vào đầu vụ sắp thu hoạch lúa mùa. Trong không khí mát mẻ, dù vào ban mai, giữa trưa hoặc chiều tối thì trong “ngõ trúc quanh co” kia cũng chẳng hề “vắng teo”! Nếu vắng bóng người ra đồng, ra chợ vì đang bận công việc giữa buổi, thì cũng không thể vắng bóng trẻ con nô đùa, vắng tiếng gà gáy, tiếng chim hót… dù không ồn ào, nhộn nhịp như lúc về đồng thì cũng không đến nỗi buồn thiu đến “lạnh lẽo”, im ắng đến mức nghe rõ cả tiếng lá vàng rụng như Nguyễn Khuyến đặc tả.Lại nữa, đường làng ngõ xóm, người Việt thường trồng tre chứ mấy khi trồng trúc, vì tre vừa làm bờ lũy bảo vệ làng, xóm vừa dùng vào nhiều việc, còn trúc thì bất quá chỉ trồng vài bụi để làm cảnh và làm cần câu là cùng! Lại vẫn biết trong chữ Nho, “Trúc” là để chỉ chung các loài thuộc họ tre. Nhưng sao ở đây nhà thơ lại không nói “ngõ tre” cho hợp với bài thơ Nôm, mà lại nói “ngõ trúc”? Ấy là bởi, “Trúc” trong thơ cổ điển luôn là biểu tượng cho người quân tử (quân tử trúc, trượng phu tùng). Vì vậy “ngõ trúc” đây có ý nói ngõ nhà người quân tử (người có nhân cách cao thượng, cương trực…) và “khách” ở đây cũng là “khách quân tử”. Khách quân tử mới vắng teo, chứ “khách tục” phỏng thiếu gì?!Ta hãy tham khảo thêm các bài “thơ thu” bằng Hán văn và các bài “Thu ẩm”, “Thu vịnh” của chính tác giả, sẽ thấy tính ước lệ trong bút pháp thơ ca cổ điển được tác giả vận dụng rất nhuần nhuyễn ở chính những hình ảnh rất chân thực.Cũng cần phải nói thêm rằng: Những nhà khoa bảng xuất thân từ Hán học xưa còn quan niệm mùa thu theo Chu Dịch. Mùa thu thuộc quẻ Bĩ là lúc “Âm trưởng”, “Dương tiêu”. Sang xuân, tháng Giêng, Dương mới hồi sinh và dần chuyển sang quẻ Thái. Quy luật của lịch sử cũng như quy luật của tự nhiên đều “hết cơn bĩ cực đến ngày thái lai” như vậy. Theo nhận thức về Dịch như vậy, nên trí thức xưa đều trông thời cuộc (“kiến cơ nhi tác”) mà “hành tàng”, “xuất xử”.Vì lẽ đó mà bao nhiêu bậc tiền nhân thời trước như Chu Văn An, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm… đều theo con đường “tỵ thế” (tránh đời) khi thấy triều đại đương thời suy đồi, tàn tạ không thể vực dậy được nữa.Nguyễn Khuyến cũng không ngoài cách hành xử đó. Ông vốn là trí thức quân tử, từng ôm ấp hoài bão “kinh bang tế thế” nên mới gắng theo đuổi con đường cử nghiệp mong cứu đời, đâu phải chỉ vì mục đích “vinh thân phì gia” như bọn tiểu nhân? Chỉ cần lấy một việc ông từ bỏ cuộc sống quan trường giầu sang để trở về “vườn Bùi chốn cũ”, vui với cảnh dưa muối tương cà, quần manh áo vải nhưng thanh bạch, đủ để chứng minh cho nhân cách cao khiết của bậc chính nhân quân tử. Cách nhìn ngày nay, chê ông là “bi quan tiêu cực”, “yếm thế vô vi” sẽ không thể hiểu nổi đó là một nhân sinh quan theo đạo Dịch mà người xưa coi là tích cực.Nguyễn Khuyến chẳng đã từng nhận thấy rằng ông sinh ra không gặp thời của người quân tử đó sao? Ông gọi đó là “buổi Dương cửu”. Trong bài “Khóc Dương Khuê” ông từng than: “Buổi Dương cửu cùng nhau hoạn nạn..!”(2) Trong bài di chúc có tên là “Tri mệnh” ông cũng nuối tiếc cho số phận mình: “Ngã số phùng cửu cửu”(3) (Số tôi gặp buổi Dương cửu).Vì vậy Nguyễn Khuyến mới buồn phiền, thất vọng đau đớn, mới cảm thấy cô đơn, bơ vơ giữa cái “ao thu” xã hội tù hãm, “lạnh lẽo”, khách quân tử vắng teo, chỉ thấy trước mắt nhan nhản đám “bèo” tiểu nhân, xu thời ăn bám trên “mặt ao” thời đại! Trong bài thơ chữ Hán “Phụng họa Hiếu Đình nguyên vận”, ông gọi chúng là lũ “xú di” (rợ thối tha): “Mãn mục y thường thị xú di” (Đầy trước mắt tá bọn xiêm áo xênh xang toàn là lũ rợ thối tha).Tuy nhiên, trong cái ao tù đọng đó, không phải hoàn toàn tắt hết sự sống, tắt hết hy vọng. Giữa cái ao tù đọng lạnh lẽo kia không phải chỉ có bèo nổi, lá vàng tàn úa mà còn có tầng mây với nền trời trong trẻo cao xanh, làn “sóng biếc” soi bóng trúc bên đường và quan trọng hơn là ở đâu đó, nơi mãi tận “dưới chân bèo” kia vẫn còn sự sống đang lay động: “Cá đâu đớp động dưới chân bèo!” Những hình ảnh và âm thanh đó như báo hiệu với mọi người, với cuộc đời rằng sự sống không bao giờ tắt! “Cá” trong bài thơ phải chăng là biểu tượng cho mầm sống (Dương) tích cực ấy. Đây cũng chính là “đốm lửa” lạc quan còn le lói theo quy luật của đạo Dịch, trong tâm thức của tác giả.Đến đây ta có thể thấy chân dung của tác giả hiện lên trên “chiếc thuyền câu bé tẻo teo” kia, tuy nhỏ bé bơ vơ… nhưng rất rõ ràng là hình bóng một Khương Tử Nha (4) bên bờ Vị Thủy, một Nghiêm Tử Lăng (5) trên sông Đồng Giang và gần chúng ta nữa là một Chu Văn An bên suối Phượng Hoàng, một Nguyễn Trãi bên khe Côn Sơn, một Nguyễn Bỉnh Khiêm trên bến Trung Tân… Đâu có phải là một ngư ông kiếm kế sinh nhai bằng nghề câu cá, hoặc giả một ông Nguyễn tầm thường nào đó, đang chăm chú tìm món nhắm cho bữa rượu chiều?!Ai đó đã quá tán tụng và thi vị hóa “mùa thu câu cá”, dù cho vô tình cũng đã dung tục hóa ý nghĩa của “Thu điếu”, vô tình đã biến cụ Tam Nguyên ẩn sĩ thanh cao, chờ thời, đồng hành với phường “giá áo túi cơm” vậy.Rất tiếc là đến cả nhan đề bài thơ, không biết vô tình hay hữu ý, ai đó cũng diễn dịch thành “Mùa thu câu cá” hoặc “Câu cá mùa thu” để đưa vào văn bản chính thức trong sách giáo khoa mà giảng dạy cho học sinh, làm mất ý nghĩa hàm ẩn thâm thúy trong nhan đề bài thơ của tác giả là “Thu điếu” - vốn dĩ là từ Hán Việt.Thiển nghĩ chắc hẳn cụ Tam Nguyên Yên Đổ chẳng thiếu chữ Nôm đến nỗi phải dùng từ Hán Việt để đặt đầu đề cho cả 3 bài thơ Nôm mùa thu: “Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm”. Đây hẳn có dụng ý. Bởi vì ngoài nghĩa ẩn dụ còn có cả phép dùng từ đồng âm (chơi chữ) mà cụ Nguyễn Khuyến vốn rất sành! (Xin tham khảo các câu đối và những bài thơ Nôm khác trong thơ văn Nguyễn Khuyến). Bởi lẽ âm “điếu”, nếu loại bỏ tự dạng của mặt chữ Hán, còn có thể hiểu là “xót thương” theo lối “song quan” (hai nghĩa). Như vậy nhan đề bài “Thu điếu” vừa có ý nghĩa “mùa thu câu …” (ý chỉ người ẩn sĩ chờ thời vì ở đây không có từ “ngư” là cá) theo tự dạng, lại vừa có nghĩa “mùa thu xót thương” theo nghĩa đồng âm, cũng không sai với nội dung bài thơ, không sai với chủ đề. Hiểu như vậy cũng đúng với tâm trạng của nhà thơ vẫn luôn canh cánh bên lòng khi ông từ quan về ở ẩn.“Đời muôn sự chẳng vừa lòngCố đô lui gót một trông hai chờ…”(Tập cổ)Vậy theo người viết bài này thì không thể hiểu nội dung bài thơ “Thu điếu” là “mùa thu câu cá”, hoặc cho rằng chủ đề bài thơ chỉ là “mùa thu làng cảnh Việt Nam” như từ trước tới giờ nhiều người vẫn tán dương, mà bỏ mất nội dung sâu xa và chủ yếu mà tác giả muốn gửi gắm một cách kín đáo trong bài.Chúng ta không thể vận dụng cách hiểu mùa thu theo lối tả thực trong thơ hiện đại như cách hiểu của nhà thơ Xuân Diệu để hiểu những bài thơ thu trong thơ cổ điển mà làm cho cụ Tam Nguyên ở nơi cửu tuyền thêm phiền lòng lần nữa!.</p><p>(1) Giáp Tý: Đơn vị đo thời gian trong lịch phương Đông. Ở đây có ý nói không dám nói lên sự thật của cuộc sống Xuân Thu (một trong Ngũ kinh của Nho gia, là bộ lịch sử cổ của Trung Quốc tương truyền do Khổng Tử soạn, nổi tiếng về chân thực, khách quan).(2) Dương cửu: “Dương cùng ư cửu”: Dương phát đến tột cùng sau đó lại “tiêu” nhường cho Âm bát triển tức quẻ Bĩ (Theo Kinh Dịch)(3)Không phải nghĩa Nguyễn Khuyến sắp chết như chú thích sai trong sách giáo khoa. (Tham khảo Kinh Dịch)(4) Khương Tử Nha: Ẩn sĩ, câu ở bờ sông Vị Thủy, mãi 80 tuổi, vua Văn Vương nhà Chu (TQ) gặp, rước về làm quân sư, tôn làm Thái Công Thượng phụ (tôn trọng ngang cha). Ông giúp Văn Vương, Vũ Vương lập nghiệp nhà Chu.(5) Nghiêm Tử Lăng tức Nghiêm Quang: Ẩn sĩ đời Hán, bạn của Hán Quang Vũ, ở ẩn làm ruộng ở Phú Xuân, câu bên sông Đồng Giang.</p><p><strong>Trần Ngọc Chùynguồn vannghethainguyen</strong></p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Wed, 15 Jul 2026 14:58:43 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">TÂM SỰ CỦA NGUYỄN KHUYẾN QUA BÀI THƠ &quot;THU ĐIẾU&quot; - trang tin tức</media:title>
                        <media:keywords>TÂM SỰ CỦA NGUYỄN KHUYẾN QUA BÀI THƠ &quot;THU ĐIẾU&quot; - trang tin tức</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[TS. Đỗ Thị Mỹ Phương]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/tac-pham-van-hoc-trung-dai-lop-9-a111038.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/tac-pham-van-hoc-trung-dai-lop-9-a111038.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/tac-pham-van-hoc-trung-dai-lop-9-a111038.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>LÝ LỊCH KHOA HỌC</strong></p> <p><strong>A. THÔNG TIN CÁ NHÂN</strong></p> <p><strong>1. Họ và tên:</strong> ĐỖ THỊ MỸ PHƯƠNG </p> <p><strong>Bộ môn:</strong> Văn học Việt Nam trung đại</p> <p><strong>2. Ngày tháng năm sinh:</strong> 29 - 09 -1982 </p> <p><strong>Giới tính: </strong>Nữ </p> <p><strong>Dân tộc:</strong> Kinh</p> <p><strong>3. Quê quán:</strong> Xã Yên Đồng, Huyện Ý Yên, Tỉnh Nam Định</p> <p><strong>4. Địa chỉ Email:</strong> [email protected]</p> <p><strong>5. Địa chỉ liên hệ:</strong> Bộ môn Văn học Việt Nam Dân gian và Trung đại, Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 136 Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội</p> <p><strong>6. Quá trình công tác (công việc, chức vụ, cơ quan)</strong></p> <p><strong>7. Học vị, học hàm</strong></p> <p><strong>B. NGHIÊN CỨU</strong></p> <p><strong>1. Lĩnh vực nghiên cứu chính:</strong></p> <p>- Tác giả, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam</p> <p>- Văn học trung đại Việt Nam trong đời sống đương đại</p> <p><strong>2. Đề tài NCKH đã nghiệm thu</strong></p> <p><strong>3. Bài báo khoa học đã công bố (xếp theo thời gian hoặc trật tự giảm dần của mức độ tiêu biểu)</strong></p> <p><strong>C. GIẢNG DẠY VÀ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC</strong></p> <p><strong>I. GIẢNG DẠY</strong></p> <p><strong>1. Các giáo trình/chuyên đề đã giảng dạy:</strong></p> <p><strong>1.1. Đại học</strong></p> <p>- Văn học trung đại Việt Nam I</p> <p>- Văn học trung đại Việt Nam II</p> <p>- Điển cố và thi văn liệu trong văn học Việt Nam trung đại</p> <p>- Khuynh hướng văn học và loại hình tác giả văn học Việt Nam trung đại</p> <p>- Hệ thống thể loại và ngôn ngữ văn học Việt Nam trung đại</p> <p>- Cơ sở văn hóa Việt Nam</p> <p>- Tiếng Việt cho người nước ngoài</p> <p><strong>1.2. Sau đại học:</strong></p> <p>Thơ trung đại Việt Nam: tiến trình và đặc điểm</p> <p><strong>2. Sách tham khảo cho giáo viên và học sinh phổ thông (viết chung)</strong></p> <p>1. Bộ đề thi trắc nghiệm &amp; tự luận tuyển sinh ĐH-CĐ môn ngữ văn (viết chung) - Nxb. Đại học Sư phạm, H. 2007</p> <p>2. Tuyển tập 36 đề ôn luyện tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng môn văn (viết chung) - Nxb. Đại học Sư phạm, H.2008</p> <p>3. Ôn luyện kiến thức tác phẩm Ngữ văn 8 (viết chung), Nxb. Giáo dục, H. 2011</p> <p>4. Ôn luyện kiến thức tác phẩm Ngữ văn 9 (viết chung), Nxb. Giáo dục, H. 2011</p> <p>5. Ôn luyện kiến thức tác phẩm Ngữ văn 10 (viết chung), Nxb. Giáo dục, H. 2012</p> <p>6. Ôn luyện kiến thức tác phẩm Ngữ văn 11 (viết chung), Nxb. Giáo dục, H. 2012</p> <p>7. Bí quyết chinh phục điểm cao Ngữ văn 6 (viết chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H. 2019</p> <p>8. Bí quyết chinh phục điểm cao Ngữ văn 7 (viết chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H. 2019 </p> <p>9. Bí quyết chinh phục điểm cao Ngữ văn 9 (viết chung) - Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H. 2019</p> <p>10. Củng cố và ôn luyện Ngữ văn 10 (viết chung), Nxb. Thanh Niên, H. 2023</p> <p>11. Phát triển năng lực Ngữ văn 10 (viết chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2023</p> <p>12. Bài tập Ngữ văn cơ bản và nâng cao 11, tập 1 - 2 (Theo sách giáo khoa Kết nối tri thức với cuộc sống); Nxb. Giáo dục Việt Nam, Đà Nẵng, 2023</p> <p>13. Củng cố và ôn luyện Ngữ văn 11 (viết chung), Nxb. Thanh Niên, H.2024.</p> <p>14. Phát triển năng lực Ngữ văn 11, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H.2024.</p> <p>15. Kế hoạch bài dạy môn Ngữ văn lớp 9 (viết chung), tập 1, NXB. Giáo dục Việt Nam, H.2024.</p> <p>16. Củng cố &amp; ôn luyện Ngữ văn 12, Nxb. Dân trí, Hà Nội, 2025.</p> <p>17. Phát triển năng lực Ngữ văn 12, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H.2025.</p> <p>18. Vở bài tập kiểm tra, đánh giá năng lực Ngữ văn 6 (viết chung), NXB. Giáo dục Việt Nam, H.2025</p> <p>19. Vở bài tập kiểm tra, đánh giá năng lực Ngữ văn 7 (viết chung), NXB. Giáo dục Việt Nam, H.2025</p> <p>20. Vở bài tập kiểm tra, đánh giá năng lực Ngữ văn 8 (viết chung), NXB. Giáo dục Việt Nam, H.2025</p> <p>21. Vở bài tập kiểm tra, đánh giá năng lực Ngữ văn 9 (viết chung), NXB. Giáo dục Việt Nam, H.2025</p> <p>22. Ôn thi tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ văn (viết chung), NXB. Giáo dục Việt Nam, H.2025.</p> <p> </p> <p> </p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Wed, 15 Jul 2026 08:06:54 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">TS. Đỗ Thị Mỹ Phương</media:title>
                        <media:keywords>TS. Đỗ Thị Mỹ Phương</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Khoa Ngữ Văn]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/nhung-ly-luan-van-hoc-hay-a111031.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/nhung-ly-luan-van-hoc-hay-a111031.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/nhung-ly-luan-van-hoc-hay-a111031.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>Phan Tuấn Anh</strong></p> <p>Có thể chia sự vận động và phát triển của lý luận văn học Việt Nam sau 1975 thành ba giai đoạn, gắn với ba hệ hình văn học cơ bản là tiền hiện đại, hiện đại và hậu hiện đại liên quan đến những đặc trưng nghệ thuật, điều kiện (condition) về văn hóa và chính sách quản lý văn nghệ của các cấp lãnh đạo. Ba bước chuyển hệ hình (paradigm) lý luận văn học này gắn với ba giai đoạn cơ bản tạm phân chia là 1975 - 1986, 1986 - 1999, 2000 - 2016 mặc dù những đặc tính của các giai đoạn có thể chồng lấn và kế thừa lẫn nhau. Ba giai đoạn này có những khác biệt, thậm chí đối lập, phủ định một cách sâu sắc, nhưng lại có những mối quan hệ biện chứng hữu cơ không thể tách rời. Trong từng giai đoạn, lý luận văn học Việt Nam tồn tại trong những giới hạn khác nhau, cả khách quan lẫn chủ quan như một tất yếu của mọi giai đoạn lịch sử hay mọi nền lý luận văn học khác. Sự phát triển “chòng chành” mà tiến tới của lý luận văn học Việt Nam từ 1975 cho đến nay, chính là sự khắc phục những giới hạn đó để nỗ lực chấp nhận, dung hợp những “cái khác”, cái mới. Tuy nhiên, nhìn lại những giới hạn cũng như những nỗ lực hóa giải (khắc phục) những giới hạn ấy, chúng ta cũng đồng thời nhận ra những cuộc hòa giải (thỏa thuận, quân bình hóa) giữa cái cũ và cái mới, có thể dẫn đến những cơ hội đã bị bỏ lỡ, những cách tân chừng mực và những nghi án văn chương.</p> <p><strong>1. Lý luận văn học Việt Nam 1975 - 1986 và những giới hạn của nguyên lý phản ánh luận </strong></p> <p>Giai đoạn từ 1975 cho đến 1986, có thể nói nền lý luận văn học nước nhà vẫn vận động và viết theo quán tính cũ, tức vẫn mang đầy đủ những đặc trưng của một nền lý luận văn học kháng chiến như giai đoạn 1954 - 1975 ở miền Bắc. Về văn hóa, chúng ta vẫn giữ nguyên nền tảng văn hóa bao cấp, mang đặc trưng kinh tế thời chiến tranh, với những biểu tượng điển hình là cửa hàng mậu dịch và hợp tác xã. Về văn học, chúng ta vẫn độc tôn chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, với sự nhấn mạnh và đề cao “mô hình phản ánh” và “cấu trúc đồng đẳng” mà triết học Marxist, cụ thể là mỹ học Gyorgy Lukacs đã đề xuất. Theo Trương Đăng Dung, văn học Việt Nam giai đoạn này vẫn vận hành<strong> theo tư duy hệ hình lý luận văn học tiền hiện đại</strong>1. Hạt nhân tư tưởng cho kiểu tư duy văn nghệ này, có thể được xem xuất phát từ tuyên ngôn trong cương lĩnh Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 do Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo. Trong đó, đề cao nhiệm vụ cần phải “làm cho thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thắng… làm cho xu hướng tả thực xã hội chủ nghĩa thắng”.</p> <p>Như Phong (1917 - 1985) - một nhà lý luận phê bình tiêu biểu của giai đoạn này trong tuyển tập Bình luận văn học viết: “Phải luôn giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa Mác - Lê và nêu rõ đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng, đi vào giải quyết những vấn đề cụ thể nhất của lý luận cũng như thực tiễn công tác văn nghệ; là không mệt mỏi đấu tranh chống những quan điểm sai lầm văn nghệ bất cứ từ đâu tới, để gạt bỏ những cản trở vướng víu lệch lạc cho sự nghiệp văn nghệ của cách mạng… là phải xây dựng các cơ quan công tác văn nghệ vững mạnh về tư tưởng…” [10,tr.367-368]. Tiểu luận viết vào tháng 2 năm 1975 ấy cũng có thể đại diện cho diện mạo của lý luận phê bình văn học Việt Nam từ 1975 đến 1986, với hàng loạt những tượng đài, lá cờ đầu như Trường Chinh, Tố Hữu, Vũ Đức Phúc, Hà Xuân Trường, Nguyễn Khải, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ… Cách hiểu và cắt nghĩa văn học theo lối tiền hiện đại này không phải không có tính khoa học và cơ sở thực tế. Tuy nhiên, một khi độc tôn, loại trừ hay phủ định tất cả những lý thuyết văn học khác, phủ nhận mọi trào lưu trường phái văn học phi hiện thực xã hội chủ nghĩa là “tư sản, đồi trụy, phản động” thì lại trở nên khiên cưỡng, cứng nhắc, thiếu sức sống, nhất là trong hoàn cảnh mới.</p> <p>Những nhà lý luận tiêu biểu trong giai đoạn 1975 - 1986, đa phần thuộc thế hệ trưởng thành trong chiến tranh, được học tập trực tiếp từ Liên Xô hay Trung Quốc, nên đa phần vẫn thuộc về hệ hình tư duy lý luận văn học tiền hiện đại, trong quan niệm lý luận của họ chủ yếu vẫn đề cao đặc tính phản ánh và chức năng dụng hành của văn học đối với hiện thực xã hội. Trung tâm của đời sống văn học, theo tư duy lý luận văn học 1975 - 1986<strong> vẫn là tác giả - đặc trưng của tư duy văn học tiền hiện đại trên góc độ hệ hình</strong>. Đi kèm với quan niệm ấy, là sự độc tôn hai phương pháp nghiên cứu chính nhằm khảo cứu tác giả là xã hội học và tiểu sử học. Một khi cần nghiên cứu, cắt nghĩa, đánh giá một hiện tượng văn học nào đó, thì công thức chủ yếu vẫn là cần dựng lại tiểu sử của tác giả và tác phẩm, hoàn cảnh xã hội học sáng tạo nên tác phẩm và hoàn cảnh xã hội được phản ánh trong tác phẩm ấy. Mặc dù chúng ta không thể nào phủ nhận những cố gắng và tâm huyết của các nhà văn giai đoạn 1975 - 1986, nhưng rõ ràng đất nước đã bước sang một thời đại mới, với những vấn đề quan thiết mới, nếu văn học vẫn vận hành theo lối cũ thì không tránh khỏi sự nhàm chán, thiếu khả năng sáng tạo.</p> <p>Phản ánh luận với vai trò là hạt nhân tư tưởng của lý luận văn học Việt Nam 1975 - 1986 dần trở thành một “di sản” gánh nặng của quá khứ, gò bó sự sáng tạo văn học của nhà văn lẫn hoạt động nghiên cứu, phê bình của nhà lý luận văn học, mặc dù trong quá khứ hạt nhân tư tưởng này từng đóng vai trò quan trọng trong việc đấu tranh ý thức hệ và đấu tranh văn học. Cuộc sống thời bình, với những hiện thực mới khiến nhà văn không thể phản ánh máy móc, cơ học theo lối cũ. Hơn nữa, sự du hành/nhập của các lí thuyết mới, hoặc sự phục hưng của các lí thuyết văn học cũ phi phản ánh luận sau khi hòa bình lập lại, mà đặc biệt là thời điểm gần sát Đổi mới (thập niên 1980) càng làm cho nhu cầu hóa/hòa giải phản ánh luận trở nên cấp thiết. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, các giới hạn vẫn được bảo lưu/vệ, sự hóa/hòa giải thực sự phải chờ đến giai đoạn sau, với bước ngoặt Đổi mới.</p> <p><strong>2. Lý luận văn học Việt Nam 1986 - 1999 và những giới hạn của trào lưu, phương pháp sáng tác và nguyên lý lý luận văn học </strong></p> <p>Nhằm đưa đất nước hội nhập với thế giới, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra như một cơn mưa cập thời với tinh thần dân chủ, “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Trên phương diện kinh tế, chính trị, Đảng đã chủ trương cải cách nền kinh tế theo cơ chế thị trường, xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, tạo ra những đổi mới mạnh mẽ và sâu sắc. Về quan hệ đối ngoại, Việt Nam không còn đơn cực (phe xã hội chủ nghĩa) mà tiến hành đối ngoại đa cực, xem mọi quốc gia đối tác là bè bạn, chủ trương “khép lại quá khứ, hướng đến tương lai” ngay cả với Hoa Kỳ và những nước đồng minh của họ trong chiến tranh. Trên địa hạt văn nghệ, văn học, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, trong cuộc gặp gỡ lịch sử với văn nghệ sĩ tại Hà Nội vào ngày 6 - 7 tháng 10 năm 1987, đã tuyên bố “Cởi trói” cho văn nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật. “Các đồng chí có nói nhiều đến sự “cởi trói”. Có như vậy mới phát huy được hết khả năng trong lĩnh vực của các đồng chí. “Cởi trói” như thế nào? “Cởi trói” nói ở đây trước hết tôi nghĩ rằng Đảng phải cởi trói. Cởi trói trong lĩnh vực tổ chức, chính sách, trong các quy chế, chế độ” [7]. Từ định hướng mới mẻ, dân chủ này trong sáng tạo, chúng ta thấy các quan điểm lý luận văn học cũng có những đổi mới nhằm khắc phục những giới hạn. Quá trình ấy diễn ra từng bước, chòng chành vỡ ối chuyển dạ chậm rãi, nhưng chắc chắn và rõ rệt. Đầu tiên là xu hướng đổi mới chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa nhằm khắc phục giới hạn về phương pháp sáng tác và trào lưu, thông qua việc giãn nới tối đa phạm vi của hiện thực thành hiện thực của tâm trạng hay hiện thực tâm lý, hiện thực huyền ảo.</p> <p>Sự tiếp nhận nhiều hứng khởi, tạo ra những cách tân mới mẻ của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (magical realism) Mỹ Latin với những tác gia như G.G.Márquez, J.L.Borges, M.V.Llosa, A.L.Carpentier, J.Amado… trong văn học Việt Nam trong hơn 30 năm qua, thực chất là một quá trình chỉ có thể thực hiện nhờ những thành tựu của Đổi mới. Hàng loạt những trào lưu nghệ thuật thuộc chủ nghĩa hiện đại ở phương Tây như chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa đa đa, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện sinh… hoặc các bộ môn khoa/triết học như văn học so sánh, xã hội học, phân tâm học, chủ nghĩa hình thức, hiện tượng học, mỹ học tiếp nhận… cũng được tái tiếp/thừa nhận trong lý luận văn học giai đoạn này. Theo Nguyễn Văn Dân: “Có thể nói, nhiều lý thuyết và phương pháp trước đây được coi là vùng cấm kỵ thì nay đã được phổ biến rộng rãi, hầu như không còn sự hạn chế nào trong việc tiếp cận kho tàng lý luận văn học của thế giới… Thậm chí, có những quan niệm trước đây bị phê phán kịch liệt… nay đã được tiếp thu một cách cởi mở và áp dụng vào thực tế nghiên cứu văn học” [2, tr.92-93].</p> <p>Bên cạnh đó, việc chất vấn, phản biện về nguyên lý phản ánh của văn học cũng được đặt ra mạnh mẽ và riết róng nhằm hòa giải giới hạn về phản ánh luận. Tiêu biểu là cuộc tranh luận giữa Trần Đình Sử và Lê Ngọc Trà về vấn đề văn học phản ánh hiện thực hay là văn học nghiền ngẫm hiện thực. Những quan điểm mới mẻ về mối quan hệ giữa văn học với hiện thực của Lê Ngọc Trà trong các tiểu luận như “Về vấn đề văn học phản ánh hiện thực” (1988) đăng trên báo Văn nghệ và tuyển tập Lý luận và văn học(1990), thực chất là khát vọng đổi mới nền văn học nước nhà, mà trước tiên là đổi mới lý luận văn học. Mục đích giãn nới, hoặc khắc phục giới hạn của phản ánh luận không đơn thuần được/bị khuôn gọn trong địa hạt văn chương, mà thực chất, là một ẩn dụ về khát vọng dân chủ và đổi mới đất nước. Đổi mới theo nghĩa này, tức là phương Tây hóa và đa nguyên hóa quan điểm lý luận văn học. Lê Ngọc Trà viết năm 1988: “Thế là rốt cuộc sau nhiều năm do dự, thì thầm, lần đầu tiên chúng ta đã có can đảm nói to lên, nói công khai một sự thật: “Văn học cách mạng của chúng ta còn nghèo nàn… Tình trạng nghèo nàn của văn học cách mạng trong mấy chục năm vừa rồi có nhiều nguyên nhân: sự lãnh đạo đối với văn nghệ, mối quan hệ giữa chính trị và văn nghệ… Song theo chúng tôi, còn một mặt quan trọng nữa và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn cần “tháo gỡ” trong nhận thức của giới lãnh đạo, sáng tác và cả lý luận phê bình, đó là vấn đề văn học và hiện thực” [11, tr.34-35]. Đọc kĩ lại các tiểu luận của Lê Ngọc Trà, ta thấy một khát vọng thay đổi quan điểm lãnh đạo văn học của Đảng, cũng như mở rộng không khí dân chủ trong đời sống xã hội, để nhà văn có thể nói thật, nhìn thẳng vào cuộc sống, tránh quan điểm thô thiển về văn nghệ tòng thuộc chính trị một cách máy móc.</p> <p>Trong giai đoạn Đổi mới từ 1986 trở đi, chúng ta cũng thấy chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa với tư cách là một trào lưu nghệ thuật và đặc biệt là một phương pháp sáng tác đã không còn độc tôn như trước. Trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa vẫn được nhấn mạnh, thì đến Nghị quyết Trung ương 05 khóa VIII năm 1998, đã không còn nhắc đến chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trên cả phương diện trào lưu và phương pháp sáng tác2. Lúc này, Đảng chủ trương “Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác”. Những nhà nghiên cứu như Lã Nguyên, Hoàng Ngọc Hiến, Lại Nguyên Ân… đã đưa ra ý kiến cần xóa bỏ sự độc tôn chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa như một phương pháp sáng tác có vai trò lãnh/chỉ đạo hoạt động sáng tác văn nghệ, có quyền đứng trên mọi trào lưu và phương pháp sáng tác khác. Thực tiễn đời sống lý luận văn học nước nhà thời Đổi mới dù lặng lẽ, không phát ngôn chính thức, nhưng đi cùng với việc tái nhận thức và tái tiếp/thừa nhận các trào lưu sáng tác phương Tây hiện đại, đã đặt lại vị trí chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong tính lịch sử của nó, tức có hạn chế, có thành tựu và bình đẳng với các trào lưu nghệ thuật còn lại trong tiến trình văn học. Tuy được khắc phục nhiều giới hạn, nhưng có thể nói trên phương diện phương pháp sáng tác, lý luận văn học Việt Nam hiện đại vẫn thực hiện những “hòa giải” hơn là “hóa giải”. Những giải thưởng, tài trợ, sách Nhà nước đặt hàng, tác phẩm được giảng dạy trong nhà trường, đề thi tuyển sinh, cơ hội xuất hiện trên truyền thông… vẫn chủ yếu thuộc về các tác phẩm của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, còn tác phẩm thuộc về những trào lưu khác nhìn chung vẫn gặp nhiều khó khăn trong xuất bản, đánh giá và ghi nhận như trường hợp của Nỗi buồn chiến tranh/ Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh), Miền hoang tưởng/ Hoang tưởng trắng (Nguyễn Xuân Khánh),Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư), truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp…</p> <p>Đi cùng với sự “giải thiêng” về mặt phương pháp sáng tác và nền tảng triết học của lý luận văn học, là quá trình khắc phục giới hạn về những chức năng và thuộc tính của văn học. Nếu như trước đây, những chức năng nặng về giáo huấn, đạo đức và đấu tranh giai cấp được đề cao thì từ Đổi mới trở đi, những chức năng như thẩm mỹ, giải trí và tự biểu hiện được nhấn mạnh. Trong Nguyên lý lý luận văn học của Timophiev (Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1962) văn học được xem có ba chức năng cơ bản là: 1/ nhận thức, 2/ giáo dục và 3/ thẩm mỹ. Trong Lý luận văn học của Gulaiep (Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1982), một trong những cuốn sách lý luận văn học đầu tiên ở nước ta3 và tạo được ảnh hưởng lớn đến giới lý luận văn học Việt Nam, cho rằng văn học có các chức năng: 1/ giáo dục; 2/ nhân đạo; 3/ đấu tranh chống tiêu cực và kẻ thù. Trong giáo trình Lý luận văn học (Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1997 - tái bản lần 1 từ lần xuất bản đầu tiên năm 1986 - 1988) của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Phương Lựu chủ biên, văn học có bốn chức năng 1/ nhận thức; 2/ giáo dục; 3/ thẩm mỹ; 4/ giao tiếp (phần này do Lê Ngọc Trà viết, do đó ông vẫn giữ nguyên quan điểm này trong cuốn Lý luận và văn học (1991)). Trong giáo trình Lý luận văn học của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (Nxb. Giáo dục, in lần đầu năm 1993, được tái bản nhiều lần, năm 2007 tái bản có chỉnh sửa) do Hà Minh Đức chủ biên, đề xuất 6 chức năng 1/ Nhận thức và dự báo; 2/ Thẩm mỹ và giải trí; 3/ Giáo dục và giao tiếp. Mặc dù, như ta đã thấy, đi cùng với quá trình đổi mới kinh tế và đổi mới tư duy lý luận văn học, các chức năng “mới” như giải trí, thẩm mỹ dần được đưa vào, rồi trở nên “được” bình đẳng hóa so với những chức năng cơ bản truyền thống như giáo dục, nhận thức, đấu tranh giai cấp, tuy nhiên, phải đến cuốn Lí luận văn học - vấn đề và suy nghĩ (Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1999) của Nguyễn Văn Hạnh và Huỳnh Như Phương thì vấn đề chức năng văn học mới được tái nhận thức một cách mạnh mẽ. Các tác giả lập luận đanh thép: “Nhưng qua đây có thể thấy nhà thơ không hề coi thường việc “mua vui”, việc giải trí bằng văn chương… Thành kiến đối với chức năng giải trí, “mua vui” của văn chương nghệ thuật, có thể có nguồn gốc từ một quan niệm sống khắc khổ, phiến diện, từ chỗ coi nhẹ chính ngay ý nghĩa của trò chơi và sự nghỉ ngơi, giải trí của con người trong cuộc sống. Trước đây, lí luận văn nghệ ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa hầu như không đề cập đến chức năng giải trí của văn chương nghệ thuật” [3, tr.19]. Như vậy, ta có thể thấy càng về sau, thì các chức năng như thẩm mỹ, giải trí, tự biểu hiện… lại càng được nhấn mạnh. Thậm chí, chức năng thẩm mỹ trước đây bị giới nghiên cứu còn nhiều ngại ngần, e dè, nay với thành tựu Đổi mới, lại được đặt vào trung tâm của các chức năng văn học, Phương Lựu còn xem đó là chức năng có vai trò hệ thống cấu trúc nên/của các chức năng còn lại.</p> <p>Vấn đề những thuộc tính văn học cũng có những chuyển biến, thay đổi nhằm khắc phục những giới hạn. Lý luận văn học Việt Nam giai đoạn trước đề cao tuyệt đối tính đảng của văn học, xuất phát từ những quan điểm được ghi lại trong các sách kinh điển của Marx, Engels và Lenin bàn về văn học nghệ thuật. Những nhà lý luận văn học nước ta, ảnh hưởng trực tiếp từ lý luận Xô viết, mà tiêu biểu là Malencov với nhận định nổi tiếng: “Điển hình văn học là phạm vi thể hiện của tính Đảng Cộng sản trong văn học”4, đã từng xem tính đảng như một thuộc tính tất yếu và phổ biến của văn học. Nguyễn Lương Ngọc, Trần Văn Bính, Nguyễn Văn Hoàn trong Văn nghệ và chính trị (1961) viết: “Chúng ta kiên quyết bảo vệ nguyên tắc tính đảng trong văn học của Lê-nin, chống lại mọi mưu đồ phủ nhận tính đảng của văn học nhưng một mặt khác, chúng ta cũng đề phòng lối hiểu thô thiển, phiến diện về nguyên tắc đó” [8]. Nếu như những bộ sách lý luận văn học như Cơ sở lí luận văn học do Nguyễn Lương Ngọc chủ biên (1980) và cả trong những tiểu luận, bài phát biểu của lãnh đạo từ Đại hội III của Đảng (1960) cho đến trước 1986, tính đảng trong văn học được đề cao, thì sau 1986, tính đảng chỉ được đề xuất như là một thuộc tính của trào lưu chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, chứ không còn được xem là thuộc tính phổ biến của văn học nói chung nữa. Có thể thấy các bộ giáo trình lý luận văn học của Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Tổng hợp Hà Nội trong những lần tái bản sau này năm 1997, 2007, 2008… đã không còn đưa “tính đảng” vào phần nguyên lý chung, mà chỉ đề cập đến những thuộc tính phổ quát của văn học như tính nhân dân, tính dân tộc, tính quốc tế, tính giai cấp. Phần tính đảng không bị xóa bỏ hẳn, mà như trên đã nói, được điều chỉnh lại hợp lý nhằm đưa vào trong phần Tiến trình văn học (tập 3 của bộ Lí luận văn học, Phương Lựu chủ biên), nằm trong những đặc trưng tư tưởng của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa.</p> <p>Lý luận văn học sau 1986 còn có nhiều đổi mới, cách tân mạnh mẽ trên phương diện phục hưng tính chủ thể, con người cá nhân trong văn học. Nếu như lý luận văn học kháng chiến và giai đoạn 1975 - 1986 vẫn chủ yếu đề cao cái ta, cái nhân dân, cái dân tộc, cái giai cấp đặt trong bối cảnh và tâm trạng thời chiến, thì lý luận văn học từ 1986 trở đi quay trở lại với nhịp sống đời thường, với cảm hứng đời tư thế sự quan tâm sâu sát hơn với thân phận cá nhân, bi kịch bản thể. Do đó, Nguyễn Khải - một trong những tượng đài của văn học kháng chiến về cuối đời đã cất tiếng nói đòi Đi tìm cái tôi đã mất: “Trong suốt ba chục năm chiến tranh, mỗi người Việt Nam đã quên hẳn những nhu cầu vật chất và tinh thần của riêng mình để được cùng sống như mọi người, cùng cảm nghĩ như mọi người, sống cùng sống chết cùng chết…” [6].</p> <p>Nguyễn Minh Châu - một tượng đài khác của văn học kháng chiến cách mạng thì viết điếu văn để tiễn đưa một nền văn học cũ đã mất hết sức sống và sự sáng tạo trong bài báo nổi tiếng đăng trên báo Văn nghệ số 49 và 50 năm 1987 với tựa đề Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa. “Tôi không hề nghĩ rằng mấy chục năm qua nền văn học cách mạng - nền văn học ngày nay có được là nhờ bao nhiêu trí tuệ, mồ hôi và cả máu của bao nhiêu nhà văn - không có những cái hay, không để lại được những tác phẩm chân thực. Nhưng về một phía khác, cũng phải nói thật với nhau rằng: mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, văn học minh họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa, kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn mà chúng ta quy cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn. Nhà văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạt đường lối chính sách bằng hình tượng văn học sinh động, và do nhiều lý do từ những ngày đầu cách mạng, các nhà văn cũng tự nguyện tự giác thấy nên và cần làm như thế” [1].</p> <p>Nhờ sự khắc phục những giới hạn trên phương diện lãnh đạo văn nghệ, lý luận văn học hay quan niệm sáng tác, lý luận văn học Việt Nam thời kì Đổi mới đã có nhiều thành tựu mang tính cách mạng hệ hình so với khoảng 15 năm trầm lắng, trì trệ trước đó. Như vậy, về thực chất, lý luận văn học Việt Nam từ 1986 cho đến cuối thế kỷ XX đã được viết, nghiên cứu theo<strong> tư duy hệ hình lý luận văn học hiện đại</strong>với những tác gia tiêu biểu như Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Văn Dân, Trần Ngọc Vương, Trần Đình Hượu, La Khắc Hòa, Lí Hoài Thu, Huỳnh Như Phương, Nguyễn Văn Hạnh… Về văn hóa, chúng ta đã bước sang thời kì hội nhập quốc tế sâu rộng, với biểu tượng văn hóa là những cửa hàng bách hóa tư nhân, những chợ và siêu thị do kinh tế tư nhân làm chủ. Nếu như lý luận văn học giai đoạn 1975 - 1985 (tiền hiện đại) lấy trung tâm là tác giả, với hai phương pháp nghiên cứu chủ yếu là xã hội học và tiểu sử học, thì văn học giai đoạn Đổi mới (hiện đại) lấy<strong> văn bản làm trung tâm</strong>, với phương pháp thi pháp học, tự sự học làm cơ bản. Có thể nói trong giai đoạn này, những cống hiến về mặt lí thuyết làm thay đổi hệ hình lý luận văn học nước nhà của Trần Đình Sử và những học trò của ông (và phần nào đó là của những người đồng thời với Trần Đình Sử như Đỗ Đức Hiểu, Hoàng Ngọc Hiến, Đặng Anh Đào, Nguyễn Xuân Kính, Phan Ngọc, Nguyễn Phan Cảnh…) là quan trọng nhất, tạo ra ảnh hưởng sâu rộng, mặc dù những người tiền nhiệm như Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Lương Ngọc, Hoàng Trinh, Nguyễn Thái Hòa, Vương Trí Nhàn… đã có tìm hiểu ít nhiều về thi pháp từ trước.</p> <p><strong>3. Lý luận văn học Việt Nam 2000 - 2016 và những giới hạn của các cộng đồng diễn giải </strong></p> <p>Không gian dân chủ, đối thoại trong lý luận văn học và quản lý văn nghệ vẫn được duy trì vào đầu thế kỷ XX. Việc cho phép những tiếng nói khác, cho phép giới thiệu những quan điểm tư tưởng mới nhằm tham khảo, phản biện khi cần thiết trong đời sống văn học, tri thức nước nhà là rất quan trọng, đó là một thành tựu của lý luận văn học Đổi mới đã được duy trì cho đến nay. Nhiều nhà văn bị xem “dính án” văn chương và hoặc “có vấn đề” ở giai đoạn đầu thế kỷ XXI vẫn được tiếp tục xuất bản sách, nhận giải thưởng là một ứng xử đầy nhân văn và dân chủ. Nhiều giải thưởng cao quý như giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội đã được trao cho nhiều nhà văn trước đây đã từng bị treo bút, bị án văn chương Nhân văn - Giai phẩm, hoặc ngày nay có những quan điểm chính trị khác, có thể kể ra một số ví dụ như Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Cung, Nguyễn Xuân Khánh…</p> <p>Những chủ đề tưởng chừng như “cấm kỵ” trước đây như đồng tính, loạn luân, cải cách ruộng đất, chiến tranh biên giới phía Bắc (1979) với Trung Quốc, chiến tranh biên giới Tây Nam (1978 - 1989) với Campuchia… lần lượt được những tác phẩm văn học đề cập đến một cách trực diện và dưới cái nhìn nhân bản như Biết đâu địa ngục thiên đường (Nguyễn Khắc Phê), Hoang tâm, Xác phàm (Nguyễn Đình Tú), Mình và họ (Nguyễn Bình Phương), Đội gạo lên chùa (Nguyễn Xuân Khánh), Ba người khác (Tô Hoài)… và lý luận văn học giai đoạn 2000 - 2016 cũng đã có những nghiên cứu kịp thời nhằm khắc phục những giới hạn về các chủ đề này. Tiêu biểu có thể kể đến một số tác giả/gia lý luận văn học có nhiều cống hiến trên lĩnh vực này như Trần Thiện Khanh, Mai Anh Tuấn, Trần Ngọc Hiếu, Phùng Ngọc Kiên, Đoàn Ánh Dương, Nguyễn Mạnh Tiến, Trần Văn Toàn…</p> <p>Trên phương diện lý luận văn học và mỹ học, những thành tựu từ Đổi mới vẫn được tiếp tục kế thừa và có nhiều bước phát triển mới nhằm khắc phục những giới hạn cũ. Các chức năng văn học tiếp tục được nhận thức lại, và quan điểm mới nhất trong bộ giáo trình Lý luận văn học của trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Phương Lựu chủ biên, Nxb. Đại học Sư phạm, 2008) đó là sự thừa nhận đa chức năng của văn học (mục 5.2. Tính đa dạng và thống nhất trong chức năng văn học), dựa trên nhu cầu tiếp nhận phong phú không giới hạn của người đọc. Đây là một bước phát triển mới của tư duy lí luận văn học Việt Nam bởi sự ứng dụng mỹ học tiếp nhận vào lý luận văn học. Những trường phái nghệ thuật phương Tây hiện đại tiếp tục được nghiên cứu sâu hơn qua những công trình như Mười trường phái lý luận phê bình văn học đương đại phương Tây (Nxb. Giáo dục, 1999), Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX(Nxb. Văn học, 2001) của Phương Lựu, Lí luận - phê bình văn học thế giới thế kỷ XX của Lộc Phương Thủy chủ biên (Nxb. Giáo dục, 2007), Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật của Nguyễn Văn Dân (Nxb. Khoa học xã hội, 2013)… và cho phép tái bản lại một vài công trình lý luận - phê bình văn học đã được xuất bản trong chế độ miền Nam trước 1975. Tuy vậy, những thành tựu này nhìn chung vẫn còn ít ỏi, chưa được chính thức giảng dạy nhiều trong nhà trường. Di sản lý luận văn học miền Nam, mặc dù có thể với tinh thần “gạn đục khơi trong” vẫn chưa được đánh giá và phục hưng đúng mức. Đây là những cơ hội đã bị bỏ lỡ trong việc hóa giải các giới hạn của lý luận văn học đầu thế kỷ XXI, cho nên những cố gắng, về cơ bản chỉ có vai trò như những cuộc hòa giải tạm thời.</p> <p>Đặc biệt, sự tiếp nhận chủ nghĩa hậu hiện đại có thể xem là thành tựu lớn nhất của giai đoạn này. Công cuộc tiếp nhận và ứng dụng lý thuyết văn học hậu hiện đại ở Việt Nam ghi nhận công lao của nhiều người, trong đó có Trương Đăng Dung, Đỗ Lai Thúy, Đào Tuấn Ảnh, Ngân Xuyên, Lê Huy Bắc, Hoàng Ngọc Tuấn, Inrasara, Lã Nguyên, Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Minh Quân, Thụy Khuê, Bùi Văn Nam Sơn… Thành tựu này có hai ý nghĩa, thứ nhất chủ nghĩa hậu hiện đại là trào lưu đương đại ở phương Tây, có niên biểu xuất hiện gần như mới mẻ nhất, tiếp cận trào lưu này sẽ đưa văn học nước nhà bắt kịp nhanh nhất với trình độ văn học thế giới. Thứ hai, bản chất của hậu hiện đại là đả phá các đại tự sự, chấp nhận tiếp biến chủ nghĩa hậu hiện đại tức đã chứng minh cho không gian dân chủ được mở rộng về mặt bản chất cả trong xã hội lẫn văn chương. Dĩ nhiên tiến trình tiếp nhận chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam khoảng gần 20 năm qua, mà đặc biệt là 15 năm đầu thế kỷ XXI có nhiều biến cố, khúc quanh và cả sự kì thị, hiểu nhầm, phủ định. Điều này xuất phát từ những giới hạn của các cộng đồng diễn giải khác nhau, khi tầm đón nhận và kinh nghiệm thẩm mỹ của các cộng đồng diễn giải lý luận văn học là rất khác. Chỉ xét riêng trong phạm vi giới lý luận văn học, những cộng đồng diễn giải trưởng thành trong chiến tranh và giai đoạn 1975 - 1986 dường như dị/phản ứng mạnh mẽ với lý luận văn học hậu hiện đại do họ mang một kinh nghiệm thẩm mỹ khác (tiền hiện đại). Ngược lại, cộng đồng diễn giải trưởng thành trong giai đoạn 1986 - 1999 tỏ ra cởi mở hơn cho dù có thể còn e dè, trong khi đó, cộng đồng diễn giải trưởng thành đầu thế kỷ XXI - mà tôi gọi lý luận phê bình thế hệ f sẽ tỏ ra nồng nhiệt, nhanh nhạy tiếp cận với lý luận văn học hậu hiện đại.</p> <p>Cũng cần kể đến đó là sự xuất bản, giới thiệu những trước tác triết học kinh điển phi Marxist, thậm chí có nhiều quan điểm mang tính đối thoại với triết học Marx, hoặc thuộc về những trường phái triết học mà trong quá khứ chúng ta đã từng phê phán, phủ định. Tiêu biểu nhất là Tủ sách tinh hoa của Nhà xuất bản Tri thức với hàng loạt những công trình triết học kinh điển như Hoàn cảnh hậu hiện đại (J.F.Lyotard),Dân chủ và giáo dục - Một dẫn nhập vào triết lý giáo dục (John Dewey), Chủ nghĩa tự do truyền thống(Ludwig von Mises), Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản (Max Weber)… Có thể nói, sự thay đổi về nhận thức luận từ hiện đại chuyển sang hậu hiện đại ở Việt Nam trước tiên không phải xuất phát từ những đổi mới về cơ sở hạ tầng kinh tế, mà là do sự tiếp nhận những luồng triết học mới mẻ đến từ phương Tây. Những công trình triết/mỹ học này, đã tạo ra sự tác động mạnh mẽ hơn bất kì kiệt tác văn học đương đại hay công trình lí luận văn học nào trên thế giới (đã được dịch) đối với sự đổi mới và dịch chuyển hệ hình văn học Việt Nam từ hiện đại sang hậu hiện đại. Một thành tựu khác đó là chúng ta đã chấp nhận dịch và giới thiệu những công trình lý luận văn học nước ngoài kinh điển, mà tiêu biểu là Lý luận văn học của R.Wellek và A.Warren (Nxb. Văn học và Trung tâm nghiên cứu quốc học, 2009).</p> <p>Như vậy, có thể nói, văn học Việt Nam từ cuối thế kỷ XX cho đến đầu thế kỷ XXI đã được viết, nghiên cứu theo<strong> tư duy hệ hình lý luận văn học hậu hiện đại</strong>. Về văn hóa và kinh tế, đất nước cũng bước sang một thời kì mới có tên toàn cầu hóa<strong> (</strong>globalization)<strong>,</strong> với biểu tượng kinh tế là những trang web bán hàng qua mạng và siêu thị trên nền tảng internet. Chính vì vậy, có thể nhận định rằng mặc dù những di sản Đổi mới từ 1986 đến nay là vẫn còn nguyên những giá trị, nhưng văn học đầu thế kỷ XXI sẽ có những đặc trưng và quy luật riêng, chính vì vậy, cần thiết phải phân kỳ lý luận văn học Việt Nam khoảng mười lăm năm trở lại đây thành một giai đoạn mới. Giai đoạn này có thể xem là lý luận văn học giai đoạn toàn cầu hóa hay lý luận văn học hậu hiện đại.</p> <p>Tư duy lý luận văn học hậu hiện đại<strong> lấy người đọc làm trung tâm của đời sống văn học</strong>. Do đó, tôi xem đặc trưng của việc chuyển hệ hình từ lý luận văn học hiện đại sang lý luận văn học hậu hiện đại ở Việt Nam đầu thế kỷ XXI có công lao rất lớn của việc tiếp nhận lí thuyết về người đọc nói riêng và mỹ học tiếp nhận<strong> (</strong>Reception Esthetis) nói chung. Bắt nguồn từ triết học Hiện tượng học của E.Husserl và Tường giải học của Heidegger, Gadamer, mỹ học tiếp nhận mà cụ thể là trường phái Konstanz của Wolfgang Iser và Hans Robert Jauss đã được dịch và giới thiệu ở Việt Nam vào giai đoạn cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI. Nhiều nhà lý luận, phê bình văn học đã có công lao trong việc dịch, giới thiệu và ứng dụng mỹ học tiếp nhận (tiếp nhận văn học) vào Việt Nam. Đầu tiên phải kể đến Nguyễn Văn Trung trong Lược khảo văn học (1968) trước giải phóng, sau đó đến công lao của một loạt những nhà khoa học như Hoàng Trinh, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Văn Dân, Phương Lựu, Trần Đình Sử, Huỳnh Vân, Nguyễn Lai, Nguyễn Thanh Hùng, Huỳnh Như Phương, Phan Trọng Luận, Đỗ Lai Thúy… nhưng tiêu biểu nhất phải kể đến Trương Đăng Dung. Trương Đăng Dung không phải là người nghiên cứu đầu tiên về mỹ học tiếp nhận, nhưng là người chuyên chú nhất và có những nghiên cứu chuyên sâu, đi từ những nền tảng triết học tận nguồn như hiện tượng học hay tường giải học. Từ những công trình của Trương Đăng Dung, mỹ học tiếp nhận đã được nghiên cứu và chú ý thích đáng trong nghiên cứu văn học, góp phần khắc phục những giới hạn của tư duy lý luận văn học hiện đại.</p> <p>Như vậy, có thể thấy tiến trình phát triển của lý luận văn học Việt Nam 1975 - 2016 đã trải qua nhiều lần khắc phục những giới hạn đã biết, để tiếp tục nhận thức, suy ngẫm và tìm tòi về những giới hạn chưa biết, những giới hạn mới. Tuy vẫn còn một vài giới hạn truyền thống mà giới lý luận văn học vẫn chấp nhận thương thỏa để hòa giải, nhưng có thể thấy sự chuyển dịch chắc chắn từ hệ hình tiền hiện đại sang hiện đại và hậu hiện đại. Sự phát triển ấy có khi chậm rãi, có khi nhảy vọt, nhưng sự chiều tiến lên là chắc chắn và rõ ràng. Ý thức về sự phát triển bao giờ cũng là ý thức về những giới hạn, chứ không phải niềm tin có tính đại tự sự về những hỗn độn vô biên. Do đó, dẫu mỗi cá nhân dẫu vẫn chỉ có thể tồn tại trong những giới hạn của cuộc đời mình, nhưng chính vì thế mà chúng ta luôn nỗ lực sống trọn vẹn hơn, ý nghĩa hơn và có tư tưởng hơn trong kiếp người hữu hạn. Nhận thức về cái chưa biết, có thể nói, là một bước dài để đi đến với chân trời của sự hiểu biết.</p> <p>P.T.A</p> <p>————— 1. Về vấn đề này, xin xem thêm: Trương Đăng Dung (2011), “Khoa học văn học tiền hiện đại”, Tạp chí Nghiên cứu văn học,số 6. 2. Về vấn đề này, xin xem thêm luận án tiến sĩ của Đoàn Ánh Dương, Văn học Việt Nam giai đoạn 1986 - 2000: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội, 2015. 3. Có thể kể thêm một số cuốn như Bàn về văn học của Gorky (Nxb. Văn học, Hà Nội, 1965),Cá tính sáng tạo của nhà văn với sự phát triển văn học của Khrapchenko(Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội, 1978). 4. Về vấn đề này, xin xem thêm tiểu luận: Tiếp nhận lí luận văn nghệ Mác Lê nin ở Việt Nam giai đoạn 1945 - 1986của Trần Đình Sử, đăng tại Trandinhsu.wordpress.com.</p> <p>___________________ 1. Nguyễn Minh Châu, Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa, Vietstudies. info, truy cập ngày 5/3/2016. 2. Nguyễn Văn Dân (2015), Các lý thuyết nghiên cứu văn học - ảnh hưởng và tiếp nhận từ ngày đổi mới đến nay, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. 3. Nguyễn Văn Hạnh và Huỳnh Như Phương (1999), Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 4. Inrasara, Văn chương thành phố Hồ Chí Minh thời hậu đổi mới, khởi đầu cho một khởi đầu, 4phuong.net, truy cập ngày 5/3/2016. 5. Jean Francois Lyotard (2007), Hoàn cảnh hậu hiện đại, Nxb. Tri thức, Hà Nội. 6. Nguyễn Khải, Đi tìm cái tôi đã mất, Viet-studies.info, truy cập ngày 5/3/2016. 7. Nguyễn Văn Linh (1987), “Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh nói chuyện với văn nghệ sĩ”, báo Văn nghệ, Hà Nội, số 42 (ra ngày 17/10). 8. Nguyễn Lương Ngọc và…, Văn nghệ và chính trị, Vanhoanghean.com.vn, truy cập ngày 5/3/2016. 9. Nhiều tác giả (2009), Nghiên cứu văn học Việt Nam - những khả năng và thách thức, Nxb. Thế giới, Hà Nội. 10. Như Phong (1964), Bình luận văn học, Nxb. Văn học, Hà Nội. 11. Lê Ngọc Trà (1988), Lý luận và văn học, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.</p> <p>Nguồn: Tạp chí Sông Hương số329/07-2016</p> <p>http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p75/c123/n23883/Ly-luan-van-hoc-Viet-Nam-sau-1975-nhung-gioi-han-va-su-hoa-hoa-giai-gioi-han.html</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Wed, 15 Jul 2026 04:58:36 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Khoa Ngữ Văn</media:title>
                        <media:keywords>Khoa Ngữ Văn</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[NHỚ VỀ TÂY TIẾN (VŨ VĂN SĨ) - Website của Thái Quốc Khánh]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/viet-van-tay-tien-a111015.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/viet-van-tay-tien-a111015.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/viet-van-tay-tien-a111015.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/viet-van-tay-tien.bmp" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[Đối với tôi, những ngày Tây Tiến không hẳn là những ngày in kỷ niện sâu sắc hơn cả. nhưng có lẽ nhiều người hay hỏi về bài thơ Tây Tiến của tôi viết ở giai đoạn này. <p><strong>Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi</strong></p> <p><strong>Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi</strong><strong> Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Người đi Mộc Châu chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng ngưòi trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường đi thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi</strong></p> <p> </p> <p>VŨ VĂN SỸ (Ghi theo lời kể của nhà thơ Quang Dũng)</p> <p> </p> <p>Tôi nhập ngũ đúng ngày cách mạng Tháng tám thành công. Năm đó tôi hai mươi sáu tuổi. Trước cách mạng, tôi học Ban trung học trường Thăng Long. Tốt nghiệp, tôi đi dạy học tư ở Sơn Tây để kiếm sống. </p> <p>Những ngày đầu vào quân đội, tôi nhận công tác ở Phòng công vụ Bắc Bộ. Phòng này do anh Nguyễn Văn Chân phụ trách. Tôi làm phái viên của phòng, có nhiệm vụ đi thu mua vũ khí ở vùng Hà Nam - Sơn Tây. Thấy tôi có chút học hành, lại yêu mến văn chương, anh Chân liền giới thiệu tôi lên chiến khu làm công tác báo chí. Ngày đó văn hóa, văn nghệ, báo chí, uyên truyền trong quan niệm và cả trong công việc, ranh giới không rõ. Như vậy là “sự nghiệp” văn chương của tôi bắt đầu bằng nghề báo. Tôi trở thành phóng viên tiền phương của tờ báo Chiến đấu thuộc Khu II. Tờ báo do anh Văn Phác phụ trách, sau này, anh Văn Doãn lên thay. </p> <p>Tôi yêu thơ và làm thơ hoàn toàn ngẫu nhiên. Thời đi học tôi rất mê Đường chi tam bách thủ, nhất là những bài dịch của nhà thơ Tản Đà. Tôi cũng say thơ mới như bất cứ một học sinh nào thời đó. Nhưng tôi thích thơ Thế lữ hơn cả, đặc biệt bài Nhớ rừng, bởi tâm trang sơn dã của nó. Một nhà văn nữa là Thạch Lam. Thạch Lam không chỉ viết văn mà còn dịch những bài thơ văn xuôi của Pháp. Và có lẽ tôi tiếp thu được gì ở thơ ca Pháp ngày ấy, cũng do đọc các bản dịch này. Khi làm công tác báo chí tôi lại càng thấy thích văn phong của Thạch Lam. Hà Nội ba mươi sáu phố phương của Thạch Lam là một tập bút ký giàu chất thơ. Nhưng phải nói đến một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nga Gôgôn: Tarax Bunba. Tôi yêu những con người Côdắc dũng cảm, yêu tự do, sống phóng khoáng, gắn bó với thanh gươm, yên ngựa và những chiến công trên những thảo nguyên mênh mông như những chiến khu di động chống lại bọn phong kiến xâm lược bảo vệ nền độc lập dân tộc. Tôi thấy có một sự đồng cảm nào đó giữa mình với các nhân vật của truyện. Sau này đi Tây tiến, tôi vẫn còn mang Tarax Bunba theo trong ba lô của mình. </p> <p>Tôi ở báo Chiến đấu đến đầu năm 1947 thì được điều đi học Trường bổ túc Trung cấp (tức Trường bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây). Trường chuyên bổ túc kỹ thuật quân sự cho cán bộ chuẩn bị nhận nhiệm vụ chiến đấu mới. </p> <p>Việc mặc áo lính, và là một cán bộ trong quân đội, đối với tôi ngày ấy có ý nghĩa thiêng liêng và tự hào lắm. <img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/viet-van-tay-tien.bmp" alt="t%C3%A2y%20ti%E1%BA%BFn.bmp" /> </p> <p>Những tháng học ở trường, tôi nhớ mãi hình ảnh vị giáo sư quân sự người Nhật như một kiểu mẫu sĩ quan mà chúng tôi mơ ước và kính nể. Giáo sư có cái tên Việt Nam là Lâm Sơn. Đại tá Lâm Sơn. Ông là sĩ quan cao cấp trong Bộ chỉ huy, thành lập từ ngày đầu kháng chiến. Giáo sư lên lớp bằng tiếng Nhật, có người thông ngôn. Giọng ông sang sảng nghe đầy uy quyền. Kỷ luật trong trường quân sự hồi đó rất nghiêm khắc, nếu như bây giờ có thể gọi là “quân phiệt”. Giờ học đã đành, giờ nghỉ cũng rất “khuôn phép”. Có lần tôi uống cà phê về muộn, cảnh vệ bắt được, cứ lo như ngày nhỏ trốn học bị thầy bắt được. Anh biết sau đó tôi bị phạt thế nào không? Sangds thứ hai đầu tuần, sau lúc chào cờ, đại tá bắt tôi bò bốn vòng quanh cột cờ. Tôi bò mộtcách tự giác, bởi nghĩa rằng , đã mặc áo lính tất phải chịu nhữnh hình phạt đại loại như thế, nếu như mình vi phạm kỉ luật. </p> <p>Có lần Bác Hồ đến thăm trường. Tôi nhớ Bác còn nói cho chúng tôi nghe một cuốn sách viết về chiế tranh du kích. Vốn giàu óc tưởng tượng về hành động chiến đấu của người lính, tôi rất thú hình ảnh người du kích. Bac nói: “lại vô ảnh, khứ vô hình”, nghĩa là đến và đi không ai thấy. Chỉ nội mấy cái âm chữ Hán, đọc lên nghe đã xuất quỷ nhập thần rồi, chưa nói đến việc vận dụng nó vào chiến thuật quân sự. </p> <p>Hôm bế mạc lớp, đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng quân đội, và đồng chí Đàm Quang Trung, có đến dự và nói chuyện. </p> <p>Sau lớp học, tôi về Trung đoàn Tây Tiến, tức là Trung đoàn 54. Anh Tuấn Sơn làm Trung đoàn trưởng. Tôi ở đại đội bộ, làm đại độ trưởng. Tiểu đoàn 212 của tôi là tiểu đoàn trước đây đã từng làm náo động các sân bay Cát Bi, Bạch Mai… bây giờ chuyển sang nhận nhiệm vụ Tây Tiến. </p> <p>Tây Tiến là mộ chiến dịch tiến quân từ Khu III, Khu IV lên Khu X tức là Tây Bắc, vùng Điện Biên Phủ. Đây là chiến dịch có ý nghĩa chiến lược. Năm 1945 khi khắp nơi nổi dậy cướp chính quyền thì nhân dân vùng này nhiều nơi vẫn chưa được giác ngộ cách mạng. Nam 1946, trung đoàn Sơn La có đánh vào Tây Bắc, nhưng mới chỉ có ý nghĩa thăm dò. Đầu năm 1947 ta thành lập Trung đoàn Tây Tiến đầu tiên, gồm các chiến sĩ tình nguyện của Khu III, Khu IV và tự vệ Thành Hà Nội trước thuộc Trung đoàn Thủ đô. Đợt Tây Tiến đầu tiên, ta đánh sâu nhưng phải rút lui ngay, vì lực lượng địch tập trung và mạnh. Tôi đi đợt hai. Nhiệm vụ của chúng tôi là mở đường qua đất Tây Bắc. Một nhiệm vụ không kém phần quan trọng là công tác dân vận gây dựng cơ sở, tranh thủ sự giác ngộ của nhân dân. Vì thế đi đôi với chức vụ đại đội trưởng, tôi còn dược cử làm Phó đoàn tuyên truyền Lào - Việt. </p> <p>Giai đoạn này Hà Nội đang có tiếng súng ở ngoại thành. Chúng tôi xuất phát từ Sơn Tây. Lúc đầu rất đàng hoàng đi bằng ô tô, các ôtô nổi tiếng lúc bấy giờ như của hãng Con Thỏ, Trung Hà, Từ Đường, Mỹ Lâm… đều được Chính phủ công làm nhiệm vụ quân sự. Chúng tôi đi qua đường số 6 qua suổi Rút. Thị trấn Hoà Bình năm ấy còn tự do. Sau, chúng tôi chuyển sang hành quân bằng đôi chân, thực sự nếm mùi Tây Tiến: mơt rừng, ngủ rừng. Những cái dốc thăm thẳm “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”, những chiều “oai linh thác gầm thét”, những đêm “Mường Hịch cọp trêu người”, rồi rải rác dọc biên cương những “nấm mồ viễn xứ”… tôi mô tả trong bait thơ Tây Tiến là rất thực, có pha chút âm hưởng Nhớ rừng của Thế Lữ, mà sau này vô tình tôi mới nhận ra… trong bài thơ Tây Tiến, tôi còn viết “Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc”. Hồi ấy trong đoàn chúng tôi rất nhiều người sốt rét trọc cả đầu. Trong điều kiện gian khổ, thiếu thốn, mình lại không giữ vệ sinh, và lại có giữ cũng chả được, nên bộ đội không njững bị ốm, mà còn chết vì sốt rét rất nhiều. Chúng tôi đóng quân ở nhà dân, cứ mỗi lần nghe tiếng cồng nổi lên, lại tập trung đến nhà trưởng thôn để tiễn một con người vĩnh biệt rừng núi. Tiếng cồng ở Tây Tiến thật buồn đến nẫu ruột. Kể chuyện lại, bây giờ tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng cồng. Anh Như Trang hồi ấy là tiểu đoàn phó, có viết ca khúc tiếng cồng quân y là vì vậy. </p> <p>Đối với miền Tây, gay nhất là thuốc, vì đường tiếp tế rất khó. Tôi nhớ có lần được thuóc từ Khu II gửi lên. Cụ Thi Sơn trong Mặt trận Liên Việt tặng thuốc (nguyên cụ Thi Sơn là tướng của Đề Thám). Trong buổi lễ trao thuốc long trọng này, Anh Hồng Thanh, chính uỷ Trung đoàn, đã thay mặt bộ đội nhận thuốc. Anh còn làm cả thơ. Tôi còn nhớ mấy câu:</p> <p>Một buổi sớm mọi người đều hoan hỉ</p> <p>Từ bệnh nhân đến bác sĩ đều vui</p> <p>Vì được tin kháng chiến chiến Khu II</p> <p>Vừa gửi tặng 3.000 viên thuốc sốt… </p> <p>Không hiểu cảm đọng vì có thuốc hay vì nghe thơ, mà anh Hồng Thanh đọc xong, ai cũng rưng rưng nước mắt... </p> <p>Tôi muốn gợi thêm một ý của bài thơ Tây Tiến để nói lên cái gian khổ, thiếu thốn ở miền Tây. Ngay cả khi nằm xuống, nhiều tử sĩ cũng không có đủ manh chiếu liệm. Nói “áo bào thay chiếu” là cách nói của người lính chúng tôi, cách nói ước lệ của thơ trước đây để an ủi những đồng chí của mình đã ngã xuống giữa đường. </p> <p>Bài thơ Tây Tiến tôi làm khi về dự Đại hội toàn quân ở Liên khu III, làng Phù Lưu Chanh (ten một tổng của Hà Nam thời Pháp). Tôi làm thơ rất nhanh, làm xong đọc trước Đại hội, được mọi người hoan nghê liệt nhiệt. Nhân có Nguyễn Huy Tưởng, đại biểu nhà văn ở Việt Bắc về dự, lúc đi, tôi gửi anh luôn. Sau anh Xuân Diệu cho in ngay ở Tạp chí Văn nghệ. Hồi đó tấm lòng và cảm xúc của mình ra sao thì viết vậy. Tôi chả có chút lý luận gì về thơ cả. Dẫu sao bài thơ Tây Tiến có cái hào khí của lãng mạn một thời gắn với lịch sưở kháng chiến anh dũng của dân tộc… Từ Tây Tiến trở đi tôi làm nhiều thơ hơn. Các bài Đường mươi hai, Ngược đường số 6, Đôi mắt người Sơn Tây cũng là những bài thơ mà tôi thích. </p> <p>Cuối năm 1948, sau chiến dịch Tây Tiến, tôi về làm trưởng tiểu ban tuyên huấn của Trung đoàn 52… Rồi làm trưởng đoàn Văn nghệ Liên khu III. </p> <p>Tháng 8 năm 1951, tôi xuất ngũ. Còn cái trung đoàn Tây Tiến của tôi, hình như sau này được phân chia, bổ sung để thành lập sư đoàn 320 thì phải.</p> <p> V.V.S</p> Thái Quốc Khánh @ 16:29 14/04/2009 Số lượt xem: 477]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Tue, 14 Jul 2026 22:47:29 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/viet-van-tay-tien.bmp" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/viet-van-tay-tien.bmp" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">NHỚ VỀ TÂY TIẾN (VŨ VĂN SĨ) - Website của Thái Quốc Khánh</media:title>
                        <media:keywords>NHỚ VỀ TÂY TIẾN (VŨ VĂN SĨ) - Website của Thái Quốc Khánh</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Đề văn nghị luận xã hội thi tốt nghiệp THPT như thế nào trong 10 năm qua?]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/van-nghi-luan-xa-hoi-la-gi-a111001.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/van-nghi-luan-xa-hoi-la-gi-a111001.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/van-nghi-luan-xa-hoi-la-gi-a111001.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Nghị luận xã hội là 1 trong 2 nội dung của phần Viết thuộc đề thi môn ngữ văn, kỳ thi tốt nghiệp THPT.</p><p>Từ năm 2015 đến năm 2024, câu nghị luận xã hội có trọng số điểm thấp hơn câu nghị luận văn học. </p><p>Song bắt đầu từ năm nay, nghị luận xã hội là phần viết chính, chiếm 4/10 điểm. Trong khi câu nghị luận văn học chỉ còn 2/10.</p><p>Đó là lý do đề nghị luận xã hội nhận được sự quan tâm lớn từ thí sinh.</p><figure><figcaption><p>Thí sinh thi tốt nghiệp THPT 2025 tại Hà Nội (Ảnh: Hải Long)</p></figcaption></figure><p>Các chủ đề nghị luận xã hội trong 10 năm qua chủ yếu tập trung vào vấn đề lối sống, thái độ sống của người trẻ.</p><p>Năm 2015, năm đầu tiên kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học gộp làm một, đề thi môn ngữ văn có cấu trúc gồm 2 phần: Đọc hiểu (3 điểm) và Viết (7 điểm).</p><p>Trong đó, câu nghị luận xã hội và nghị luận văn học chiếm số điểm xấp xỉ nhau, lần lượt là 3 điểm và 4 điểm.</p><p>Đề nghị luận xã hội năm 2015 yêu cầu thí sinh viết bài văn nghị luận 600 chữ bày tỏ suy nghĩ về ý kiến: "Việc rèn luyện kĩ năng sống cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức".</p><p>Năm 2016, đề yêu cầu thí sinh bàn luận về ý kiến: "Sự hèn nhát khiến con người tự đánh mất mình, còn dũng khí lại giúp họ được là chính mình". </p><p>Từ năm 2017, cấu trúc đề thi văn thay đổi. Câu nghị luận xã hội giảm từ 3 xuống 2 điểm. Câu nghị luận văn học tăng từ 4 lên 5 điểm.</p><p>Trong đó, chủ đề nghị luận xã hội sẽ yêu cầu thí sinh bàn luận về một nội dung mà ngữ liệu của phần Đọc hiểu đưa ra.</p><p>Câu nghị luận xã hội của năm 2017 là viết một đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của sự thấu cảm trong cuộc sống, dựa trên ngữ liệu trích từ tác phẩm Thiện, ác và smartphone của tác giả Đặng Hoàng Giang.</p><p>Năm 2018, thí sinh phải trình bày suy nghĩ về sứ mệnh đánh thức tiềm lực đất nước của mỗi cá nhân trong cuộc sống.</p><p>Năm 2019, thí sinh viết một đoạn văn về sức mạnh ý chí của con người trong cuộc sống.</p><p>Năm 2020, đề yêu cầu bàn luận về sự cần thiết phải trân trọng cuộc sống mỗi ngày.</p><p>Năm 2021, thí sinh viết về sự cần thiết phải biết sống cống hiến.</p><p>Năm 2022, vấn đề cần nghị luận là trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc tiếp bước các thế hệ đi trước.</p><p>Năm 2023, thí sinh bày tỏ quan điểm về sự cần thiết phải biết cân bằng cảm xúc trong cuộc sống.</p><p>Năm 2024, thí sinh viết về ý nghĩa của việc tôn trọng cá tính.</p><p>Sáng nay, hơn 1,16 triệu thí sinh cả nước bước vào môn thi đầu tiên của kỳ thi tốt nghiệp THPT 2025.</p><p>Kỳ thi năm nay sẽ có hai loại đề dành cho 2 nhóm thí sinh theo chương trình Giáo dục phổ thông cũ và chương trình hiện hành. Do đó, kỳ thi có 2 đề văn khác nhau.</p><p>Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, số thí sinh đăng ký thi môn ngữ văn theo chương trình cũ là 19.403.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Tue, 14 Jul 2026 18:37:29 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Đề văn nghị luận xã hội thi tốt nghiệp THPT như thế nào trong 10 năm qua?</media:title>
                        <media:keywords>Đề văn nghị luận xã hội thi tốt nghiệp THPT như thế nào trong 10 năm qua?</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Viết mở bài IELTS Writing Task 1]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/mo-bai-a110999.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/mo-bai-a110999.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/mo-bai-a110999.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/mo-bai.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Huyền thấy cách đơn giản và hiệu quả nhất để viết mở bài IELTS Writing Task 1 là dùng từ đồng nghĩa để paraphrase lại đề thi.</p> <p>Mà khổ một cái là các bạn mới học (như Huyền ngày đó) vốn từ đồng nghĩa hạn hẹp lắm, vậy nên tốn khá nhiều thời gian để viết một cái mở bài. Đó là lý do tại sao ngày đó Huyền mất cả 1 tiếng hoặc hơn mới làm xong được một bài Task 1 (Gian nan vô cùng khi vốn từ, nhất là đồng nghĩa, hạn hẹp).</p> <p>Cách đơn giản nhất để viết mở bài là dùng đồng nghĩa để viết lại đề. Vậy cách đơn giản và hiệu quả để có được đồng nghĩa là cách nào? Theo kinh nghiệm tự học, Huyền thấy phân tích bài mẫu là cách nhanh chóng và hiệu quả nhất. Như hình bên dưới, chỉ phân tích có 2 mở bài mẫu thôi mà Huyền đã ghi chú lại quá trời từ đồng nghĩa rồi:</p> <figure><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/mo-bai.jpg" alt="viet-mo-bai-ielts-writing-task-1" /><figcaption>Đây là một bài Huyền học và ghi chép lại</figcaption></figure> <p>Ban đầu chúng ta chỉ cần phân tích phần mở bài của từng bài văn mẫu mà thôi, chưa cần phân tích nguyên bài đâu vì sẽ khá là nản và áp lực nếu chúng ta mới học ielts.</p> <h3>CÁCH GHI CHÉP</h3> <p>Cứ mỗi mở bài như vậy Huyền sẽ ghi chép như sau:</p> <ul> <li>Ghi lại đề - nếu có từ vựng nào trên đề mà mình không biết mình nhớ tra từ điển rồi ghi chú lại.</li> <li>Đọc phần mở bài mẫu và phân tích kỹ xem: có từ/cụm từ nào đồng nghĩa với từ/cụm từ trên đề thi không? Có cấu trúc nào hay mình cần ghi chú lại không → Huyền thường ghi chú phần từ vựng này ngay dưới đề thi.</li> <li>Sau đó ghi lại phần mở bài mẫu vào vở để lúc rảnh lấy ra phân tích lại.</li> <li>Phần ghi chép thường sẽ như sau:</li> </ul> <p>ĐỀ THI:</p> <p>The table shows data about the average length of time (in minutes) that people of different ages spend in a consultation with family doctors in a number of countries.</p> <p>PHẦN TỪ/ CỤM TỪ ĐỒNG NGHĨA:</p> <ul> <li>the table → the chart</li> <li>shows data about → gives information about</li> <li>the average length of time → the typical time</li> <li>people → patients</li> <li>of different ages → split by age group</li> <li>a number of → various</li> </ul> <p>PHẦN MỞ BÀI MẪU:</p> <p>The chart gives information about the typical time that patients spend with doctors in various countries, split by age group.</p> <p>(bài trên hình và ví dụ mẫu lấy từ sách Get IELTS Band 9 In Writing Task 1 Data charts and graphs)</p> <h3>VÍ DỤ</h3> <p>Sau đây là các ví dụ bạn có thể ghi chép lại để học thêm về các đồng nghĩa thường dùng trong mở bài ielts writing task 1 nhé:</p> <p><strong>VÍ DỤ 1: bài mẫu chi tiết bạn xem tại đây nhé.</strong></p> <p>ĐỀ THI:</p> <p>The chart below shows how frequently people in the USA ate in fast food restaurants between 2003 and 2013.</p> <p>PHẦN TỪ/CỤM TỪ ĐỒNG NGHĨA:</p> <ul> <li>The chart <strong>→ </strong>The bar chart</li> <li>shows → compares</li> <li>people in the USA → Americans</li> <li>ate → had meals</li> <li>fast food restaurants → fast food eateries</li> <li>between 2003 and 2013 → in three separate years (2003, 2006 and 2013)</li> </ul> <p>PHẦN MỞ BÀI MẪU:</p> <p>The bar chart compares the proportion of Americans who had meals at fast food eateries in three separate years (2003, 2006 and 2013).</p> <p><strong>VÍ DỤ 2: bài mẫu chi tiết bạn xem tại đây nhé.</strong></p> <p>ĐỀ THI:</p> <p>The bar chart below shows the top ten countries for the production and consumption of electricity in 2014.</p> <p>PHẦN TỪ/CỤM TỪ ĐỒNG NGHĨA:</p> <ul> <li>shows → compares</li> <li>the top ten countries → 10 highest-ranking countries</li> <li>the production and consumption of electricity → electricity generation and consumption</li> </ul> <p>PHẦN MỞ BÀI MẪU:</p> <p>The bar chart compares 10 highest-ranking countries in terms of electricity generation and consumption in 2014.</p> <p><strong>VÍ DỤ 3: </strong><strong>bài mẫu chi tiết bạn xem tại đây nhé.</strong></p> <p>ĐỀ THI:</p> <p>The bar chart below shows the percentage of Australian men and women in different age groups who did regular physical activity in 2010.</p> <p>PHẦN TỪ/CỤM TỪ ĐỒNG NGHĨA:</p> <ul> <li>shows → compares</li> <li>the percentage of → the proportion of</li> <li>Australian men and women → people in Australia</li> <li>men and women in different age groups → according to age and gender</li> <li>did regular physical activity → exercised on a regular basis</li> </ul> <p>PHẦN MỞ BÀI MẪU:</p> <p>The bar chart compares the proportion of people in Australia who exercised on a regular basis in 2010, according to age and gender.</p> <p><strong>VÍ DỤ 4: bài mẫu chi tiết bạn xem tại đây nhé.</strong></p> <p>ĐỀ THI:</p> <p>The chart below shows the percentage of households in owned and rented accommodation in England and Wales between 1918 and 2011.</p> <p>PHẦN TỪ/CỤM TỪ ĐỒNG NGHĨA:</p> <ul> <li>shows → compares</li> <li>the percentage of → the proportion of</li> <li>households → families</li> <li>between 1918 and 2011 → over a 93-year period (1918 - 2011)</li> </ul> <p>PHẦN MỞ BÀI MẪU:</p> <p>The bar chart compares the proportion of families who owned and rented accommodation in England and Wales over a 93-year period (1918 - 2011).</p> <p><strong>VÍ DỤ 5: bài mẫu chi tiết bạn xem tại đây nhé.</strong></p> <p>ĐỀ THI:</p> <p>The table below shows key data on the demographics of four different countries.</p> <p>PHẦN TỪ/CỤM TỪ ĐỒNG NGHĨA:</p> <ul> <li>shows key data on → gives information about</li> <li>the demographics → population, GDP per capita and average life expectancy</li> <li>of four different countries → of four different nations</li> </ul> <p>PHẦN MỞ BÀI MẪU:</p> <p>The table gives information about population, GDP per capita and average life expectancy of four different nations.</p> <p>Mong rằng bài viết sẽ hữu ích với bạn nhé.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Tue, 14 Jul 2026 17:45:37 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/mo-bai.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/mo-bai.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Viết mở bài IELTS Writing Task 1</media:title>
                        <media:keywords>Viết mở bài IELTS Writing Task 1</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Ôn luyện phần tự luận Đánh giá năng lực Bộ Công An 2026 - Kỹ năng ăn điểm]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/dan-y-viet-nghi-luan-xa-hoi-a110977.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/dan-y-viet-nghi-luan-xa-hoi-a110977.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/dan-y-viet-nghi-luan-xa-hoi-a110977.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/dan-y-viet-nghi-luan-xa-hoi.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Ôn luyện phần tự luận đánh giá năng lực Bộ Công An là bước quan trọng giúp thí sinh nâng cao điểm số và tạo lợi thế trong kỳ thi ĐGNL 2026. Để chinh phục tốt câu nghị luận xã hội, bạn cần nắm rõ cách viết bài, rèn kỹ năng lập luận và thực hành đúng phương pháp. Bài viết này sẽ hướng dẫn chi tiết cách viết bài nghị luận xã hội phần tự luận ĐGNL Bộ Công An, chia sẻ kỹ năng và bí quyết đạt điểm cao, đồng thời phân tích đề tự luận các năm trước để bạn xây dựng chiến lược ôn luyện hiệu quả nhất.</p><p><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/dan-y-viet-nghi-luan-xa-hoi.jpg" alt="Ôn luyện phần tự luận Đánh giá năng lực Bộ Công An 2026 - Kỹ năng ăn điểm" /></p><h2><strong>Tổng quan phần tự luận đánh giá năng lực Bộ Công an</strong></h2><p>Phần <strong>tự luận đánh giá năng lực Bộ Công an</strong> được xem là một trong những hợp phần quan trọng nhất của bài thi, bởi nó đo lường trực tiếp năng lực tư duy, khả năng triển khai lập luận và kỹ năng viết của thí sinh. Khác với phần trắc nghiệm kiểm tra kiến thức nhanh, phần tự luận yêu cầu người dự thi thể hiện quan điểm cá nhân thông qua một bài <strong>nghị luận xã hội</strong> có cấu trúc rõ ràng, dẫn chứng hợp lý và lập luận chặt chẽ.</p><p>Cấu trúc chấm điểm của Bộ Công an dành 25 điểm cho phần này - đây là thang điểm lớn nhất trong bài thi Ngữ văn, đồng thời cũng là “khoảng điểm bứt phá” giúp thí sinh nâng cao tổng điểm ĐGNL. Theo thông tin cập nhật mới nhất từ và các nguồn tuyển sinh chính thống, phần tự luận vẫn giữ vai trò bắt buộc, yêu cầu thí sinh thể hiện năng lực giải quyết vấn đề, tư duy phản biện và kỹ năng trình bày mạch lạc.</p><p><img src="https://hsa-education.sgp1.digitaloceanspaces.com/e4e28fe4-e8ae-48a0-bf18-c64e133d23c4_on-luyen-phan-tu-luan-danh-gia-nang-luc-bo-cong-an-2026%20%282%29.png" alt="Ôn luyện phần tự luận Đánh giá năng lực Bộ Công An 2026 - Kỹ năng ăn điểm" /></p><p>Việc nắm rõ <strong>cách viết bài nghị luận xã hội phần tự luận ĐGNL Bộ Công an</strong>, rèn kỹ năng lập luận - dẫn chứng và phân tích đề hiệu quả là yếu tố then chốt giúp thí sinh đạt điểm cao. Đây cũng là lý do phần tự luận thường trở thành yếu tố phân loại mạnh, tạo khoảng cách rõ rệt giữa học sinh chuẩn bị tốt và học sinh ôn luyện chưa đúng hướng.</p><h2><strong>Cấu trúc đề và phân bổ điểm</strong></h2><p>Kỳ thi <strong>đánh giá năng lực Bộ Công an</strong> có thời lượng <strong>180 phút</strong>, với tổng điểm <strong>100 điểm</strong>. </p><p>Trong đó, phần <strong>tự luận</strong> gồm <strong>01 câu nghị luận xã hội</strong>, chiếm <strong>25 điểm</strong>, đánh giá trực tiếp khả năng phân tích, lập luận và trình bày mạch lạc của thí sinh. Phần <strong>trắc nghiệm</strong> chiếm <strong>75 điểm</strong>, bao gồm các nhóm nội dung: Toán, Lịch sử, Ngoại ngữ và một số môn tự chọn tùy theo từng mã bài thi theo quy định của Bộ Công an và thông tin được cập nhật từ các văn bản hướng dẫn tuyển sinh mới nhất.</p><p><img src="https://hsa-education.sgp1.digitaloceanspaces.com/83e777dc-37df-4918-970d-f32e85dc1693_on-luyen-phan-tu-luan-danh-gia-nang-luc-bo-cong-an-2026%20%283%29.png" alt="Ôn luyện phần tự luận Đánh giá năng lực Bộ Công An 2026 - Kỹ năng ăn điểm" /></p><p>Với mức điểm cao và biên độ chấm rộng, phần tự luận được xem là “điểm bứt phá” quan trọng trong tổng điểm ĐGNL. </p><p>Thí sinh nên phân bổ <strong>40-60 phút</strong> cho phần này để đảm bảo đủ thời gian phân tích đề, lập dàn ý và hoàn thiện bài viết trọn vẹn, chi tiết — đặc biệt hữu ích cho chiến lược làm bài sẽ trình bày ở phần lộ trình bên dưới.</p><p>CẬP NHẬT: Cách tra cứu kết quả sơ tuyển Bộ Công an 2026: Cập nhật mới nhất</p><h2><strong>Tiêu chí chấm điểm phần tự luận đề thi Đánh Giá Năng Lực Bộ Công An </strong></h2><p>Trong bài thi tự luận đánh giá năng lực Bộ Công an, thí sinh được chấm theo bộ tiêu chí rõ ràng, tập trung vào năng lực tư duy, lập luận và khả năng diễn đạt. Đây là phần có thang điểm lớn (25 điểm), vì vậy hiểu đúng tiêu chí chấm là bước quan trọng để tối ưu điểm số.</p><h3><i><strong>Ý tưởng / Luận điểm</strong></i></h3><p>Bài viết cần xác định đúng vấn đề nghị luận, đưa ra luận điểm rõ ràng, bám sát yêu cầu đề. Thí sinh phải thể hiện được quan điểm nhất quán, tránh lan man hoặc triển khai sai trọng tâm - đây là lỗi phổ biến khiến bài bị trừ điểm nặng.</p><h4><i><strong>Dẫn chứng &amp; Phân tích</strong></i></h4><p>Dẫn chứng phải chính xác, tiêu biểu và có tính thời sự; phân tích cần logic và làm nổi bật luận điểm. Việc sử dụng dẫn chứng xã hội học, giáo dục, lối sống, đạo đức… giúp bài viết thuyết phục hơn và sát với tiêu chí chấm của Bộ Công an.</p><h4><i><strong>Kết cấu &amp; Lập dàn ý</strong></i></h4><p>Bài tự luận cần đảm bảo bố cục <strong>mở bài - thân bài - kết luận</strong>, triển khai có trật tự, tránh thiếu ý hoặc lặp ý. Một dàn ý rõ ràng giúp người chấm dễ theo dõi mạch lập luận và đánh giá cao năng lực tư duy của thí sinh.</p><h4><i><strong>Ngôn ngữ và Thao tác lập luận</strong></i></h4><p>Thí sinh phải sử dụng ngôn ngữ mạch lạc, chính xác, không mắc lỗi chính tả. Cần vận dụng thành thạo các thao tác lập luận như giải thích, phân tích, bình luận, bác bỏ… để làm rõ thông điệp.</p><h4><i><strong>Sáng tạo &amp; Chiều sâu tư duy</strong></i></h4><p>Những bài có quan điểm độc đáo, ví dụ thực tiễn phong phú, hoặc liên hệ sâu sắc với đời sống sẽ được cộng điểm. Đây là tiêu chí giúp phân loại thí sinh tốp cao, đặc biệt trong kỳ thi có tính cạnh tranh như <strong>ĐGNL Bộ Công an</strong>.</p><h2><strong>Cách viết bài nghị luận xã hội — dàn ý chuẩn</strong></h2><p>Ôn luyện phần tự luận đánh giá năng lực Bộ Công An, để đạt 22-25 điểm ở phần tự luận, thí sinh cần nắm rõ cách viết bài nghị luận xã hội phần tự luận ĐGNL Bộ Công An và triển khai theo một dàn ý khoa học, mạch lạc. Dưới đây là dàn ý 5 đoạn được tối ưu theo cấu trúc chấm điểm mới nhất.</p><p><img src="https://hsa-education.sgp1.digitaloceanspaces.com/4f06ab47-e3df-4676-a596-9a437948f714_on-luyen-phan-tu-luan-danh-gia-nang-luc-bo-cong-an-2026%20%284%29.png" alt="Ôn luyện phần tự luận Đánh giá năng lực Bộ Công An 2026 - Kỹ năng ăn điểm" /></p><h3><strong>Dàn ý 5 đoạn chuẩn</strong></h3><p><i><strong>Mở bài:</strong></i> Giới thiệu vấn đề, dẫn dắt tự nhiên, nêu quan điểm chung.<i><strong>Giải thích vấn đề:</strong></i> Làm rõ khái niệm, biểu hiện, ý nghĩa gốc của vấn đề nghị luận.<i><strong>Bàn luận - 2 luận điểm:</strong></i></p><ul><li>Phân tích sâu, đưa luận cứ rõ ràng.</li><li>Nêu dẫn chứng tiêu biểu, chính xác, phù hợp thực tế xã hội.</li></ul><p><i><strong>Mở rộng - Nhận xét:</strong></i> Chỉ ra mặt trái, phản đề hoặc giới hạn của vấn đề; rút bài học.</p><p><i><strong>Kết luận + Liên hệ: </strong></i>Khẳng định giá trị, liên hệ bản thân hoặc thế hệ trẻ.</p><p>Ưu tiên trình bày 350-600 chữ để đảm bảo đủ độ sâu, vừa phù hợp thời gian làm bài.</p><h3><strong>Mẫu triển khai từng đoạn phần thi tự luận ĐGNL Bộ Công An </strong></h3><p><strong>Mở bài (2-3 câu):</strong>- Nêu thực trạng hoặc tính thời sự của vấn đề.- Giới thiệu trực tiếp nội dung cần nghị luận, tránh lan man.</p><p><strong>Giải thích (2-4 câu):</strong>- Định nghĩa ngắn gọn, một câu là đủ.- Nêu biểu hiện hoặc bản chất của vấn đề.- Trả lời: “Vì sao cần bàn luận vấn đề này?”.</p><p><strong>Bàn luận (mỗi luận điểm 3-4 câu):</strong>- Luận điểm 1: phân tích ý nghĩa tích cực, lợi ích hoặc giá trị xã hội.- Luận điểm 2: nêu dẫn chứng, ví dụ thực tế, giải thích vì sao dẫn chứng thuyết phục.- Thao tác lập luận chính: phân tích, chứng minh, bình luận.</p><p><strong>Mở rộng - Nhận xét (2-3 câu):</strong>- Nêu mặt hạn chế, phản đề hoặc sai lệch trong nhận thức của một bộ phận.- Khuyến nghị thái độ đúng đắn.</p><p><strong>Kết luận + Liên hệ (2-3 câu):</strong>- Khẳng định lại quan điểm.- Liên hệ bản thân/học sinh nhằm tăng tính chân thực.- Kết lại bằng thông điệp tích cực.</p><h2><strong>Kỹ năng ôn luyện tự luận môn Ngữ văn cho ĐGNL Bộ Công An</strong> </h2><p>Để ôn luyện phần tự luận đánh giá năng lực Bộ Công an hiệu quả, thí sinh cần xây dựng bộ kỹ năng thực hành trọng tâm, bám sát cấu trúc đề và tiêu chí chấm điểm. Các kỹ năng dưới đây được tổng hợp từ tài liệu ôn thi chính thống, đề minh họa và kinh nghiệm luyện thi thực tế.</p><h3><strong>Kỹ năng đọc đề &amp; xác định yêu cầu</strong></h3><p>- Thí sinh cần nhận diện từ khóa mệnh lệnh như “bàn luận”, “phân tích”, “nhận xét”, “chứng minh”, “bình luận” để xác định thao tác lập luận chủ đạo.- Khi đọc đề, hãy gạch chân vấn đề trọng tâm và giới hạn phạm vi, tránh viết lan man hoặc lạc đề — lỗi trừ điểm phổ biến nhất trong phần tự luận.</p><p><img src="https://hsa-education.sgp1.digitaloceanspaces.com/199cd29f-8a68-41b4-924a-ee13dbb9a613_on-luyen-phan-tu-luan-danh-gia-nang-luc-bo-cong-an-2026%20%285%29.png" alt="Ôn luyện phần tự luận Đánh giá năng lực Bộ Công An 2026 - Kỹ năng ăn điểm" /></p><h3><strong>Luyện lập dàn ý nhanh trong 10-12 phút</strong> </h3><p>- Sử dụng mẫu dàn ý 5 đoạn (mở - giải thích - bàn luận - mở rộng - kết luận) để tiết kiệm thời gian và đảm bảo logic.- Với mỗi chủ đề quen thuộc như: lối sống đẹp, trách nhiệm, ý chí, văn hóa ứng xử…, hãy chuẩn bị sẵn template dàn ý để khi vào phòng thi chỉ cần điều chỉnh nội dung cho phù hợp đề bài.</p><h3><strong>Kỹ năng chọn và sử dụng dẫn chứng hiệu quả </strong></h3><p>- Ưu tiên dẫn chứng ngắn - đúng - tiêu biểu, có thể đến từ: sự kiện thời sự, tấm gương lịch sử, nhân vật văn học, câu chuyện thực tế hoặc trải nghiệm bản thân.- Không cần đưa quá nhiều dẫn chứng; quan trọng là giải thích được vì sao dẫn chứng đó phù hợp và làm rõ luận điểm — đây là điểm cộng lớn trong chấm bài tự luận.</p><h3><strong>Rèn kỹ năng viết tốc độ &amp; rõ ràng</strong></h3><p>- Tập viết đoạn luận 120-150 chữ trong 8-10 phút để đảm bảo khi vào bài thật, thí sinh hoàn thành toàn bộ bài viết trong khoảng 35-45 phút.- Chú ý trình bày sạch, viết rõ ý, mỗi đoạn 1 luận điểm, câu văn ngắn gọn; tránh viết dài dòng vì người chấm ưu tiên nội dung mạch lạc hơn độ dài.</p><h2><strong>Bí quyết làm tự luận đánh giá năng lực Bộ Công An đạt điểm cao</strong></h2><p>Để đạt 22-25 điểm trong phần tự luận, thí sinh cần kết hợp phương pháp làm bài hiệu quả với chiến lược trình bày thông minh. Dưới đây là bộ bí quyết thiết thực, giúp tối ưu kết quả khi ôn luyện phần tự luận đánh giá năng lực Bộ Công an và khi bước vào phòng thi.</p><h3><strong>Áp dụng kỹ thuật 6P trong toàn bộ bài viết</strong></h3><ul><li><strong>Predict (Dự đoán):</strong> Dự đoán hướng triển khai phù hợp với yêu cầu đề; xác định thao tác lập luận chính.</li><li><strong>Plan (Lập kế hoạch):</strong> Lập dàn ý 5 đoạn trong 3-4 phút để giữ mạch viết mạch lạc.</li><li><strong>Point (Nêu ý):</strong> Mỗi đoạn chỉ có <strong>1 luận điểm rõ ràng</strong>, không gộp nhiều ý gây loãng.</li><li><strong>Proof (Chứng minh):</strong> Dẫn chứng ngắn, tiêu biểu; ưu tiên sự kiện thời sự, tấm gương thật.</li><li><strong>Polish (Chỉnh sửa):</strong> Tối ưu câu văn, bỏ trùng lặp, điều chỉnh giọng văn trang trọng.</li><li><strong>Punchline (Điểm nhấn):</strong> Kết luận có mở rộng, đọng lại thông điệp thực tiễn.</li></ul><h3><strong>Checklist trước khi nộp bài </strong></h3><ul><li>Kiểm tra xem <strong>luận điểm</strong> đã rõ và thống nhất chưa.</li><li>Dẫn chứng có chính xác, phù hợp, được phân tích hợp lý hay chỉ nêu “kể lể”.</li><li>Các đoạn văn có <strong>mạch lạc</strong>, liên kết tốt bằng các từ nối hay không.</li><li>Rà soát <strong>chính tả - ngữ pháp - trình bày</strong> (mỗi lỗi nhỏ có thể trừ 0,25-0,5 điểm).</li><li>Kết luận đã khẳng định lại ý và có liên hệ phù hợp chưa.</li></ul><h3>Những lỗi khiến thí sinh bị mất điểm</h3><ul><li>Lặp ý, kể lại dẫn chứng mà không phân tích.</li><li>Dẫn chứng chung chung, “sáo rỗng” (rất dễ bị trừ điểm).</li><li>Không trả lời đúng yêu cầu đề, bỏ sót phần phản biện.</li><li>Sai chính tả, thiếu dấu câu, trình bày cẩu thả khiến bài giảm sức thuyết phục.</li></ul><p><img src="https://hsa-education.sgp1.digitaloceanspaces.com/6fe795ef-5423-46e3-94a3-1a59712d7bb1_image.png" alt="Ôn luyện phần tự luận Đánh giá năng lực Bộ Công An 2026 - Kỹ năng ăn điểm" /></p><h2><strong>FAQ - Câu hỏi thường gặp khi làm bài thi ĐGNL Bộ Công An phần tự luận </strong></h2><h3><strong>1. Phần tự luận ĐGNL Bộ Công an có bao nhiêu điểm?</strong></h3><p>Phần tự luận chiếm <strong>25/100 điểm</strong>, theo thông tin từ <i>An ninh Nhân dân Online</i> và văn bản hướng dẫn tuyển sinh mới nhất của Bộ Công an.</p><h3><strong>2. Nên dành bao nhiêu phút cho phần tự luận?</strong></h3><p>Thí sinh nên dành <strong>40-60 phút</strong>, tùy vào chiến lược làm bài và mức độ quen thuộc với dàn ý nghị luận xã hội.</p><h3><strong>3. Nên dùng bao nhiêu dẫn chứng trong bài tự luận?</strong></h3><p>Gợi ý <strong>2-3 dẫn chứng chính</strong> và thêm <strong>1 liên hệ thực tiễn</strong>, ưu tiên dẫn chứng ngắn - đúng - có sức nặng để tăng điểm lập luận.</p><h3><strong>4. Cách viết bài nghị luận xã hội phần tự luận ĐGNL Bộ Công An khác gì so với đề thi THPT?</strong></h3><p>Bài tự luận ĐGNL ngắn hơn, chú trọng <strong>luận điểm - phân tích - dẫn chứng</strong>, không yêu cầu trích dẫn văn bản mà đánh giá tư duy xã hội và khả năng diễn đạt.</p><h3><strong>5. Viết dài có được cộng điểm không?</strong></h3><p>Không. Chấm điểm theo chất lượng luận điểm và mạch lạc, không theo độ dài. Gợi ý tối ưu: <strong>350-600 chữ</strong>.</p><h3><strong>6. Có cần viết phản biện trong bài tự luận ĐGNL Bộ Công an không?</strong></h3><p>Có. 1-2 câu phản biện giúp bài viết có chiều sâu, thể hiện tư duy đa chiều — đây là tiêu chí chấm điểm quan trọng.</p><h3><strong>7. Luyện kỹ năng ôn luyện tự luận môn Ngữ văn cho ĐGNL Bộ Công an như thế nào?</strong></h3><p>Hãy luyện <strong>đọc đề, lập dàn ý nhanh, chọn dẫn chứng</strong>, và viết đoạn tốc độ. Mỗi ngày nên luyện 1 đề theo cấu trúc 5 đoạn.</p><h3><strong>8. Có mẹo nào giúp gây ấn tượng với giám khảo?</strong></h3><p>Có: dùng dẫn chứng mới mẻ, thêm câu hỏi tu từ đúng chỗ, kết bài mở rộng. Đây là <strong>bí quyết làm phần tự luận ĐGNL Bộ Công an 2026</strong> rất hiệu quả.</p><h3><strong>9. Nếu lỡ viết sai hướng phải làm gì?</strong></h3><p>Dừng lại 10-15 giây, xác định lại vấn đề trọng tâm và điều chỉnh ngay trong đoạn sau. Không nên gạch xóa quá nhiều gây mất điểm trình bày.</p><h3><strong>10. Có được dùng dẫn chứng cá nhân trong bài tự luận không?</strong></h3><p>Được. Dẫn chứng cá nhân chân thực, ngắn gọn thường tạo sự thuyết phục và giúp bài viết khác biệt, miễn là phù hợp luận điểm.</p><p> </p><p>Ôn luyện phần tự luận đánh giá năng lực Bộ Công An đòi hỏi thí sinh nắm chắc cấu trúc, luyện đề đúng form chuẩn, và rèn kỹ năng diễn đạt mạch lạc. Việc luyện viết thường xuyên giúp tăng tốc độ, tư duy lập luận và cải thiện điểm số rõ rệt. Để học hiệu quả, bạn nên kết hợp luyện đề thời gian thật và tham khảo dàn ý mẫu theo từng dạng câu hỏi.</p><p> </p><p> </p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Tue, 14 Jul 2026 10:32:38 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/dan-y-viet-nghi-luan-xa-hoi.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/dan-y-viet-nghi-luan-xa-hoi.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Ôn luyện phần tự luận Đánh giá năng lực Bộ Công An 2026 - Kỹ năng ăn điểm</media:title>
                        <media:keywords>Ôn luyện phần tự luận Đánh giá năng lực Bộ Công An 2026 - Kỹ năng ăn điểm</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Nêu cảm nhận chung của bạn về nhịp điệu bài thơ.]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/cam-nhan-ve-doan-tho-voi-vang-a110961.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/cam-nhan-ve-doan-tho-voi-vang-a110961.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/cam-nhan-ve-doan-tho-voi-vang-a110961.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Nhịp điệu bài thơ "Vội Vàng" là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm. Nhịp điệu thơ biến hóa linh hoạt, thể hiện những cung bậc cảm xúc khác nhau của nhân vật trữ tình trước thời gian và cuộc sống.</p> <p>- Nhịp thơ nhanh, gấp, dồn dập:</p> <p>+Đây là nhịp điệu chủ đạo của bài thơ, thể hiện sự vội vã, hối hả của nhân vật trữ tình trước thời gian trôi chảy nhanh chóng.</p> <p>-Nhịp điệu này được tạo nên bởi: </p> <p>+Cách sử dụng câu thơ: Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ bát, với những câu thơ ngắn gọn, súc tích.</p> <p>+Cách ngắt nhịp: Nhiều câu thơ được ngắt nhịp 4/3, tạo cảm giác gấp gáp, vội vã.</p> <p>+Sử dụng các động từ mạnh: "tấp nập", "tan", "say", "chết", "đi", "còn", "vội vàng".</p> <p>- Nhịp thơ chậm rãi, thong thả:</p> <p>+Nhịp điệu này xuất hiện ở một số đoạn thơ, thể hiện tâm trạng nuối tiếc, bâng khuâng của nhân vật trữ tình trước những gì đã qua.</p> <p>-Nhịp điệu này được tạo nên bởi: </p> <p>+Cách sử dụng câu thơ: Một số câu thơ được viết theo thể thơ lục bát, với những câu thơ dài, mềm mại.</p> <p>+Cách ngắt nhịp: Nhiều câu thơ được ngắt nhịp 2/2/3, tạo cảm giác chậm rãi, thong thả.</p> <p>+Sử dụng các từ ngữ gợi cảm: "mùa xuân", "cái đẹp", "thanh xuân", "ngày xanh", "tuổi trẻ".</p> <p>-Sự kết hợp hài hòa giữa hai nhịp điệu:</p> <p>+ Sự kết hợp hài hòa giữa hai nhịp điệu nhanh và chậm đã tạo nên một bản giao hưởng cảm xúc vô cùng mãnh liệt, lay động lòng người.</p> <p>+Nhịp điệu thơ lúc nhanh, lúc chậm theo diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình, thể hiện rõ nét những suy tư, trăn trở của nhà thơ về thời gian và cuộc sống.</p> <p>- Nhịp điệu bài thơ "Vội Vàng" là một thành tựu nghệ thuật độc đáo của Xuân Diệu. Nhịp điệu thơ đã góp phần làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm, khiến cho bài thơ trở nên sống động, giàu sức gợi cảm và có giá trị nghệ thuật cao.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Tue, 14 Jul 2026 05:04:24 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Nêu cảm nhận chung của bạn về nhịp điệu bài thơ.</media:title>
                        <media:keywords>Nêu cảm nhận chung của bạn về nhịp điệu bài thơ.</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[[NGỮ VĂN 9]: 3 điểm cần lưu ý khi phân tích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phan-tich-bai-tho-tieu-doi-xe-khong-kinh-a110960.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phan-tich-bai-tho-tieu-doi-xe-khong-kinh-a110960.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phan-tich-bai-tho-tieu-doi-xe-khong-kinh-a110960.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một trong nhiều tác phẩm trọng tâm của chương trình Ngữ văn lớp 9. Trong bài viết dưới đây, thầy Đặng Ngọc Khương - giáo viên môn Ngữ văn tại HOCMAI sẽ giúp học sinh hiểu biết sâu hơn về tác giả, tác phẩm để có cách viết độc đáo, thu hút khi phân tích bài thơ này.</strong></p> <p> </p> <p><strong>Tham khảo thêm:</strong></p> <p><strong>Phân tích bài thơ về tiểu đội xe không kính</strong></p> <h2><strong>Tác giả Phạm Tiến Duật</strong></h2> <p>Phạm Tiến Duật là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Đó là những người chàng trai 15, 16 tuổi chuẩn bị kết thúc cuộc đời học sinh và bước vào giảng đường đại học nhưng nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, họ đã sẵn sàng xếp bút nghiên và những ước mơ, hoài bão của cuộc đời sinh viên để nhập ngũ, đi vào chiến trường khốc liệt.</p> <p>Theo thầy Đặng Ngọc Khương, khi học “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” học sinh cần nắm được 3 nét chính liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của ông. </p> <p>Cụ thể: năm sinh - năm mất (1941-2007); là gương mặt tiêu biểu của thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Mỹ; ông sống và chiến đấu trên chiến trường Trường Sơn khốc liệt.</p> <p>Những bài thơ của Phạm Tiến Duật chủ yếu viết về hình ảnh người lính, thanh niên xung phong ở Trường Sơn. Bởi vậy những gì mà ông viết là xuất phát từ chính trải nghiệm của bản thân và của đồng đội ở chiến trường trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bởi vậy, thơ của ông mang sự tự nhiên, chân thật và nóng hổi của đời sống hiện thực. Giọng thơ tự nhiên, tinh nghịch mà sôi nổi, tươi trẻ là những điểm nổi bật trong phong cách thơ của ông.</p> <p>Một số tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến như: “Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây”, “Gửi em cô thanh niên xung phong”; Lửa đèn…</p> <h2><b>Tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”</b></h2> <p>Bài thơ được viết vào năm 1969 khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bắt đầu bước vào giai đoạn khốc liệt nhất. Đế quốc Mỹ phát hiện ra đường Trường Sơn - tuyến đường huyết mạch tiếp tế chi viện cho miền Nam nên chúng ra sức bắn phá. Con đường huyền thoại trở thành túi bom của giặc Mỹ. Những người lính chiến đấu trên tuyến đường Trường Sơn chịu nhiều hi sinh mất mát nhất, trong đó có Phạm Tiến Duật.</p> <p>Xuất xứ: Bài thơ thuộc chùm thơ đạt giải Nhất báo Văn nghệ (1969-1970), in trong tập “Vầng trăng quầng lửa” (1970).</p> <h2><b>Tri thức bổ trợ khi phân tích bài thơ</b></h2> <p>Kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1954, đất nước ta bị chia cắt làm 2 miền. Miền Bắc đi lên xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục đấu tranh chống chính quyền Mỹ - Diệm và đế quốc Mỹ để tiến tới thống nhất đất nước.</p> <p>Bác Hồ đã từng nói: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý không bao giờ thay đổi”. Thực hiện lời người răn dạy: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập, từ năm 1954-1975 miền bắc song song thực hiện hai nhiệm vụ: vừa xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa tích cực cung ứng tất cả các nguồn lực (binh lực, lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược…) cho chiến trường miền Nam chiến đấu.</p> <p>Không thể sử dụng tuyến đường quốc lộ 1 để vận chuyển đồ tiếp tế, từ năm 1959 Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đã quyết định mở tuyến đường Trường Sơn (đường mòn Hồ Chí Minh) nối liền từ Bắc vào Nam.</p> <p>Tuyến đường Trường Sơn được mở ra dựa trên những con đường mòn có sẵn và được nối với nhau để tạo thành tuyến đường huyết mạch xuyên suốt dãy Trường Sơn phía Tây (giáp Lào và Campuchia) để vào đến miền Nam.</p> <p>Trên tuyến đường này, hàng vạn những chuyến xe ngày đêm đưa binh lực, vũ khí, thuốc men… nhưng đến năm 1969 thì bị giặc phát hiện và trở thành điểm nóng ném bom của đế quốc Mỹ. Điều này cũng đã được Đảng và Nhà nước, Bác Hồ nhận định từ trước đó. Bởi vậy ngay lúc này chúng ta đã có thêm tuyến đường Trường Sơn trên biển với những chuyến tàu không số kịp thời chi viện cho miền Nam.</p> <p>Nhà thơ Tố Hữu đã từng miêu tả sự khắc nghiệt của tuyến đường lịch sử này bằng hai câu thơ sau:</p> <p><i>“Trường Sơn Đông nắng Tây mưa</i></p> <p><i>Ai chưa đến đó thì chưa biết mình”.</i></p> <p>Trên đây, thầy Đặng Ngọc Khương đã giúp học sinh hệ thống lại 3 điểm cần chú ý khi học sinh phân tích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Đây đều là những điểm rất quan trọng và không thể thiếu để bài viết đủ ý và giành được điểm cao.</p> <p>Bên cạnh đó, học sinh có thể tham khảo chương trình <strong>HỌC TỐT</strong> dành cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 của Hệ thống Giáo dục HOCMAI. Với hai khóa học Trang bị kiến thức và Ôn luyện, các em sẽ được củng cố lại những kiến thức đã được học trên lớp đồng thời nâng cao kỹ năng phân tích, cảm nhận về các tác phẩm truyện ngắn, thơ xuất hiện trong chương trình. Từ những bài giảng này, học sinh sẽ tự tin bứt phá về điểm số trong các bài kiểm tra trên lớp và kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Tue, 14 Jul 2026 04:53:37 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">[NGỮ VĂN 9]: 3 điểm cần lưu ý khi phân tích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”</media:title>
                        <media:keywords>[NGỮ VĂN 9]: 3 điểm cần lưu ý khi phân tích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Cách làm bài văn nghị luận xã hội đạt điểm cao]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/ket-bai-cho-bai-van-nghi-luan-xa-hoi-a110943.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/ket-bai-cho-bai-van-nghi-luan-xa-hoi-a110943.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/ket-bai-cho-bai-van-nghi-luan-xa-hoi-a110943.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p> Trong những năm gần đây đề thi Ngữ văn luôn theo hướng mở nhất là ở mảng câu hỏi nghị luận xã hội. Trong cấu trúc đề thi tuyển sinh ĐH-CĐ sắp tới, môn Ngữ văn luôn có một câu nghị luận xã hội (chiếm 3 điểm trong tổng số 10 điểm môn Ngữ văn). </p><p> </p><p> </p> Ảnh minh họa<p> Đây là phần câu hỏi dễ “ăn điểm”, tuy nhiên, nhiều thí sinh vẫn chưa có kỹ năng làm tốt bài văn loại này. Kỳ thi tuyển sinh ĐH - CĐ đang tới gần, xin chia sẻ một số kinh nghiệm về cách học và làm bài văn nghị luận xã hội như sau: <strong>Cần nắm được dạng bài nghị luận xã hội </strong> Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo luôn ra đề thi tốt nghiệp môn Ngữ văn theo hướng mở nhằm đánh giá được năng lực và phân loại trình độ của học sinh, nhất là ở mảng câu hỏi nghị luận xã hội. Điều này cũng giúp học sinh có khả năng vận dụng được những hiểu biết thực tế vào bài viết của mình. Tuy nhiên, nhiều năm qua, vẫn có hiện tượng thí sinh làm xa đề, lạc đề, lan man,… Vì vậy, việc xác định kiểu dạng đề thi nghị luận là rất cần thiết, tránh cho thí sinh đi lạc hướng và làm sai đề. Muốn vậy, mỗi thí sinh phải đọc kỹ đề bài, chú ý những từ ngữ để nhận kiểu, dạng bài văn. Thông thường, ta dễ bắt gặp 2 kiểu, dạng đề đó là: nghị luận về một tư tưởng, đạo lý và nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội. <strong>Lập dàn ý theo bố cục của từng dạng đề nghị luận </strong> Sau khi xác định được kiểu, dạng đề nghị luận, chúng ta cần bắt tay nhanh vào việc lập dàn ý. Tuy nhiên, muốn lập dàn ý đầy đủ thì ta phải nắm được bố cục chung của từng kiểu bài văn nghị luận xã hội. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý thường đề cập tới những vấn đề về đạo đức, lối sống, quan điểm sống của các nhà tư tưởng lỗi lạc hay các danh nhân nổi tiếng. Dấu hiệu để nhận biết kiểu đề này thường là những câu nói trực tiếp để trong ngoặc kép của các nhà tư tưởng, các danh nhân nổi tiếng hay là một câu thơ, một ý kiến trích dẫn trong tác phẩm văn học, … Về bố cục, trước hết phần mở bài, ta phải giới thiệu khái quát tư tưởng, đạo lý cần nghị luận. Phần thân bài cần giải thích các từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm. Sau đó, ta phân tích và chứng minh mặt đúng - sai của tư tưởng, đạo lý đó. Từ đó chỉ ra tầm quan trọng, tác dụng của tư tưởng, đạo lý đối với đời sống xã hội. Cuối cùng, ta cần phải bình luận mở rộng vấn đề: có thể là bác bỏ những biểu hiện sai lệch, khẳng định tính đúng đắn. Tất cả những bước trên ta phải có dẫn chứng đi kèm nhằm tăng tính thuyết phục cho người nghe, người đọc. Phần kết bài cần đánh giá khái quát ý nghĩa tư tưởng đạo lý đã nghị luận và rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng đạo lý đó. <strong>Đối với dạng đề nghị </strong> Luận về một hiện tượng đời sống xã hội thường đề cập tới nhiều vấn đề trong cuộc sống hằng ngày và mang tính chất thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều người như: gian lận trong thi cử, vấn đề tai nạn giao thông, bạo lực học đường, quan điểm về sống thử, văn hóa thần tượng,… Có thể nói, đây là dạng chung mà nhiều năm gần đây Bộ Giáo dục đã hướng đến để học sinh tiếp cận. Để làm dạng bài này đạt kết quả cao, đòi hỏi thí sinh phải có vốn hiểu biết nhất định về đời sống xã hội để vận dụng vào bài làm. Phần mở bài, cần giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận. Phần thân bài, cần triển khai các điểm sau: nêu thực trạng của hiện tượng đời sống: hệ quả tác động (tích cực, tiêu cực) của hiện tượng, thái độ của con người và xã hội đối với hiện tượng, lý giải nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đó (nguyên nhân chủ quan, khách quan), đưa ra giải pháp để giải quyết hiện tượng đời sống. Phần kết bài cần khái quát lại vấn đề đang nghị luận đồng thời bày tỏ thái độ của bản thân về hiện tượng đời sống cần nghị luận. <strong>Tích lũy kiến thức xã hội và nắm bắt thông tin </strong> Nhiều giáo viên khi chấm bài làm của thí sinh đều cho rằng số rất ít thí sinh làm bài tốt ở câu nghị luận xã hội. Bởi lẽ, ở trường học, các em còn quá lệ thuộc vào cách học khuôn mẫu, thiếu tư duy, sáng tạo. Do vậy để đạt điểm cao, ngoài kiến thức được học tại trường, các em phải có lượng hiểu biết về xã hội. Thí sinh có thể ủng hộ hay phản đối một quan niệm nào đó song phải có khả năng lập luận sắc bén và cách hành văn trôi chảy, có sức thuyết phục. Văn nghị luận xã hội khác với nghị luận văn học ở chỗ nó là những kiến thức được tích lũy và lấy ra từ cuộc sống hằng ngày. Vì vậy, bạn cần sự tìm kiếm, học hỏi và nắm bắt thông tin nhanh chóng. Muốn vậy, cần khai thác thông tin trên đài, báo, truyền hình hàng ngày; ghi chép lại những nhân chứng, bài học, tình huống hay và có ý nghĩa trong cuộc sốngđể làm tư liệu, dẫn chứng cho bài làm. <strong>Chú ý về thời gian </strong> Một bài nghị luận xã hội thường có yêu cầu về số lượng câu chữ nên thí sinh cần phân phối lượng thời gian làm bài sao cho phù hợp, tránh viết dài dòng, sa vào kể lể, giải thích vấn đề không cần thiết. Trên cơ sở dàn ý, chúng ta cần luyện cách viết và trình bày sao cho ngắn gọn, mạch lạc, dễ hiểu và có tính thuyết phục cao. </p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Tue, 14 Jul 2026 01:17:36 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Cách làm bài văn nghị luận xã hội đạt điểm cao</media:title>
                        <media:keywords>Cách làm bài văn nghị luận xã hội đạt điểm cao</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Dàn ý NLXH về văn hóa trên không gian mạng]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/nghi-luan-ve-ung-xu-tren-khong-gian-mang-a110925.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/nghi-luan-ve-ung-xu-tren-khong-gian-mang-a110925.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/nghi-luan-ve-ung-xu-tren-khong-gian-mang-a110925.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Mạng xã hội giúp học sinh kết nối, học tập và chia sẻ, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều vấn đề như bạo lực ngôn từ hay tin giả. Vậy học sinh cần làm gì để sử dụng mạng xã hội một cách tích cực và có trách nhiệm? Bài viết này của Thích Văn học sẽ giúp bạn hiểu rõ trách nhiệm của bản thân trong việc xây dựng văn hóa ứng xử văn minh trên không gian mạng, từ đó góp phần tạo nên môi trường trực tuyến an toàn, lành mạnh và đầy giá trị. Cùng đọc và tham khảo nhé!</p> <h3><strong>Đề bài</strong></h3> <p>Mạng xã hội là không gian kết nối nhưng cũng là nơi xảy ra nhiều vấn đề như bạo lực ngôn từ và tin giả. Em hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ về trách nhiệm của học sinh trong việc xây dựng một văn hóa ứng xử văn minh và tích cực trên không gian mạng.</p> <h3><strong>Dàn ý</strong></h3> <strong>Điểm</strong> <strong>Nội dung</strong> <b>a) Đảm bảo về hình thức:</b> bài văn NLXH khoảng 400 chữ, đảm bảo chuẩn ngữ pháp và chính tả,… <strong>0.25</strong> <b>b) Xác định đúng vấn đề nghị luận: </b>trách nhiệm của học sinh trong việc xây dựng một văn hóa ứng xử văn minh và tích cực trên không gian mạng <strong>0.25</strong> <b>c) Đề xuất được hệ thống ý phù hợp</b> <p><b>1. Mở bài</b></p> <p>- Dẫn dắt từ thực tế đời sống/ảnh hưởng của mạng xã hội đến con người</p> <p>- Nêu vấn đề nghị luận: Mỗi học sinh cần có trách nhiệm trong việc xây dựng văn hóa ứng xử văn minh, tích cực trên không gian mạng.</p> <ul> <li>Trực tiếp: khái quát ảnh hưởng tích cực - hạn chế của sự phát triển CNTT và mạng xã hội</li> <li>Gián tiếp: <ul> <li>Anh - xtanh (Einstein): “Tôi sợ một ngày nào đó công nghệ sẽ lấn át sự tương tác của con người. Thế giới sẽ có một thế hệ những kẻ ngốc”. </li> <li>Bác sĩ Nguyễn Vũ Hiệp: “Cũng giống như thuốc, các thiết bị điện tử có “tác dụng phụ” và những độc hại khi sử dụng “quá liều””.</li> </ul> </li> </ul> <strong>0.25</strong> <b>2. Thân bài:</b> <p><strong>- Dẫn dắt đầu thân bài:</strong></p> <ul> <li>Đặt câu hỏi</li> <li>Dẫn dắt trực tiếp: <ul> <li>Mọi người cho rằng A là…. Nhưng thực ra cách hiểu đầy đủ về A lại là…</li> <li>Do sự thay đổi/phát triển của CNTT/thời đại mà những năm gần đây chúng ta mới biết đến A. Đó là …</li> <li>Trong thời đại…, chúng ta/con người/người ta thường định nghĩa về A là. Tuy nhiên, … (ví dụ về lòng hiếu thảo)</li> </ul> </li> </ul> <strong>0.25</strong> <b>a) Giải thích:</b> <p>- Mạng xã hội: là các nền tảng trực tuyến như Facebook, Zalo, Youtube, Instagram,… cho phép người dùng kết nối, giao lưu, chia sẻ thông tin trực tuyến.</p> <p>- Văn hóa ứng xử văn minh, tích cực trên không gian mạng: là cách giao tiếp có trách nhiệm, tôn trọng, trung thực và nhân văn, góp phần xây dựng môi trường mạng an toàn, lành mạnh.</p> <p>→ Trong thời đại công nghệ số, không gian mạng luôn tồn tại song song những lợi ích và nguy cơ xâm hại. Do đó, vấn đề thời đại đòi hỏi mỗi học sinh cần có ý thức và hành động đúng đắn khi sử dụng mạng xã hội, để lan tỏa giá trị tốt đẹp thay vì gây tổn thương hoặc lan truyền thông tin sai lệch.</p> <strong>0.5</strong> <b>b) Bàn luận:</b> <p><strong>- Lợi ích của mạng xã hội đối với học sinh:</strong></p> <ul> <li>Là cầu nối giúp con người xích lại gần nhau, vượt qua khoảng cách địa lý.</li> <li>Cung cấp tri thức, thông tin nhanh chóng, là môi trường học tập, sáng tạo, lan tỏa điều tốt đẹp.</li> <li>Nếu sử dụng đúng cách, mạng xã hội là công cụ hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển cá nhân và cộng đồng.</li> </ul> <strong>0.25</strong> <strong>- Thực trạng sử dụng mạng xã hội của học sinh:</strong> <ul> <li><strong>Tích cực:</strong> lợi ích của mạng xã hội: (nêu ngắn gọn)</li> <li><strong>Tiêu cực:</strong> <ul> <li>Xuất hiện nhiều bạo lực ngôn từ: chửi bới, xúc phạm, miệt thị người khác qua bình luận, bài đăng.</li> <li>Tin giả, tin sai sự thật lan truyền chóng mặt, gây hoang mang dư luận.</li> <li>Một bộ phận học sinh thiếu kỹ năng ứng xử trên mạng, dễ bị cuốn theo trào lưu tiêu cực hoặc bình luận thiếu suy nghĩ.</li> </ul> </li> </ul> <strong>0.25</strong> <strong>- Nguyên nhân: </strong> <ul> <li><strong>Chủ quan: </strong></li> </ul> <ul> <li> <ul> <li>Do thiếu hiểu biết và kỹ năng sử dụng MXH (không biết chọn lọc thông tin, thiếu khả năng kiểm soát cảm xúc,…)</li> <li>Ảnh hưởng bởi tâm lý đám đông</li> <li>Tâm lý muốn nổi tiếng, câu like, câu view,…</li> <li>Ẩn danh trên mạng khiến một số người cảm thấy “an toàn” khi buông lời xúc phạm hoặc lan truyền tin giả mà không sợ hậu quả.</li> </ul> </li> </ul> <ul> <li><strong>Khách quan: </strong></li> </ul> <ul> <li> <ul> <li>Cơ chế kiểm duyệt lỏng lẻo của một số nền tảng mạng xã hội.</li> <li>Sự phát triển quá nhanh của công nghệ thông tin, khiến việc lan truyền tin tức trở nên dễ dàng, khó kiểm soát.</li> <li>Thiếu định hướng từ gia đình, nhà trường và xã hội</li> </ul> </li> </ul> <strong>0.75</strong> <strong>- Hậu quả:</strong> <ul> <li><strong>Đối với cá nhân:</strong> Người bị công kích dễ rơi vào khủng hoảng tâm lý, trầm cảm, mất tự tin, thậm chí có trường hợp tự tử vì tổn thương tinh thần. Người tung tin giả hoặc phát ngôn thiếu kiểm soát có thể mất uy tín, bị xử lý pháp luật, ảnh hưởng tương lai.</li> <li><strong>Đối với cộng đồng:</strong> <ul> <li>Làm “ô nhiễm” môi trường mạng</li> <li>Gây chia rẽ, mất đoàn kết, mất niềm tin xã hội</li> <li>Ảnh hưởng tiêu cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh.</li> </ul> </li> </ul> <strong>0.25</strong> <b>c) Trách nhiệm của học sinh trong việc xây dựng một văn hóa ứng xử văn minh và tích cực trên không gian mạng:</b> <p>- Trước hết, học sinh cần có nhận thức đúng đắn về mạng xã hội và hành vi ứng xử trên đó.</p> <p>- Tích cực rèn luyện kỹ năng và phẩm chất công dân số</p> <p>- Khi sử dụng mạng xã hội, học sinh cần:</p> <ul> <li>Sử dụng ngôn từ lịch sự, chuẩn mực, tránh chửi bới, mỉa mai, xúc phạm hay miệt thị người khác.</li> <li>Tôn trọng sự khác biệt: không công kích, phân biệt đối xử với những ý kiến trái chiều, không “ném đá hội đồng”.</li> <li>Không lan truyền tin giả, không chia sẻ hình ảnh, video nhạy cảm, vi phạm quyền riêng tư của người khác.</li> <li>Giữ bình tĩnh và kiểm soát cảm xúc</li> <li>Chủ động lan tỏa những giá trị tích cực, tử tế</li> <li><i>Dẫn chứng: Nhiều học sinh, sinh viên đã tham gia chiến dịch “Tin”, cuộc thi “Anti Fake News” có sự đồng tổ chức của TikTok để hưởng ứng thông điệp chống tin giả, sai sự thật trên không gian mạng.</i></li> </ul> <strong>0.25</strong> <b>d) Phản đề, mở rộng: </b> <p><strong>- Phản đề:</strong> Phê phán những người dùng mạng thiếu ý thức, cố tình tung tin giả, bôi nhọ danh dự người khác, hoặc thờ ơ trước bạo lực mạng.</p> <p><strong>- Mở rộng:</strong> Không chỉ trên không gian mạng mà trong cả đời sống thực tế con người cũng cần phải thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh.</p> <strong>0.25</strong> <b>3. Kết bài: </b>Khẳng định lại vấn đề và liên hệ bản thân (hoặc đưa ra bài học nhận thức/hành động) <strong>0.25</strong> <b>d) Bài viết có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo </b> <strong>0.25</strong> <p>Tham khảo các bài viết khác tại đây:</p> <p>Dàn ý NLXH về vai trò của áp lực</p> <p> </p><h3>Xem thêm:</h3> <ul> <li>Lớp văn cô Ngọc Anh trực tiếp giảng dạy tại Hà Nội: Tìm hiểu thêm</li> <li>Tham khảo sách <strong>Chuyên đề Lí luận văn học</strong> phiên bản 2025: Tủ sách Thích Văn học</li> <li>Tham khảo bộ tài liệu độc quyền của Thích Văn học siêu hot: Tài liệu</li> <li>Đón xem các bài viết mới nhất trên fanpage FB: Thích Văn Học</li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Mon, 13 Jul 2026 21:10:35 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Dàn ý NLXH về văn hóa trên không gian mạng</media:title>
                        <media:keywords>Dàn ý NLXH về văn hóa trên không gian mạng</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Tiếng gọi thiêng liêng từ con tim]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/tieng-goi-con-tim-a110912.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/tieng-goi-con-tim-a110912.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/tieng-goi-con-tim-a110912.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Với ý nghĩa to lớn, chỉ sau một thời gian ngắn, chương trình đã có sự lan tỏa mạnh mẽ ra nhiều tỉnh, thành trong cả nước.</p><p><b>Biểu tượng thiêng liêng</b></p><p>Với bất cứ người Việt Nam nào, Hoàng Sa - Trường Sa mãi mãi là lãnh thổ thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Đến với các nhà giàn, các đảo và điểm đảo luôn luôn là mơ ước, khát khao cháy bỏng của những người con đất Việt!</p><p>Rồi ngày ấy đã đến, ước mơ trở thành hiện thực. Tháng 5-2015, chúng tôi lên con tàu KN 781, tiến ra biển Đông. Khác với những cuộc chia tay bịn rịn, đẫm nước mắt thường thấy, cuộc chia tay tại cảng Cát Lái hôm ấy thật hân hoan, bởi ai nấy đều háo hức ra khơi và mong chờ ngày đến với Trường Sa, với nhà giàn giữa biển khơi.</p><p>Những ngày lênh đênh trên biển, chúng tôi thường bắt gặp những con tàu đánh cá của ngư dân với lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới trên nóc tàu. Cảm xúc dâng trào! Trong lòng mình có một cảm giác ấm áp, thân thương làm sao. Lá cờ Tổ quốc giữa biển khơi mênh mông như kéo mọi người lại gần nhau. Dù chẳng thân bằng quyến thuộc nhưng sao cảm giác gần gũi, thân thương đến lạ thường!</p><p>Cứ mỗi lần tàu đến với nhà giàn DK hay các đảo, điểm đảo ở Trường Sa, hễ nhìn thấy lá cờ Tổ quốc tung bay là trái tim mỗi người chúng tôi lại rộn ràng, xao xuyến. Chủ quyền quốc gia là tối thượng! Vâng, lá cờ Tổ quốc là biểu tượng thiêng liêng, cao quý. </p><p>Nơi nào có cờ Tổ quốc, nơi ấy là chủ quyền quốc gia. Như muôn triệu con dân đất Việt, chúng tôi yêu thiết tha lãnh thổ mà ông cha ngàn đời đã đổ biết bao máu xương để gầy dựng, gìn giữ!</p><p>Cũng là lễ chào cờ nhưng lễ chào cờ trên đảo Trường Sa Lớn thật thiêng liêng, không gì diễn tả nổi. Nhìn lá cờ Tổ quốc tung bay trên cột mốc chủ quyền, giữa trời xanh mây trắng, biển cả mênh mông, chúng tôi thấy mình bé nhỏ. Không chỉ có tiếng sóng biển mà dường như còn có tiếng gọi thiêng liêng từ trái tim mình!</p><p>Và những điều ấy đã đọng lại, được ấp ủ… Để đến một ngày, chương trình vận động các tập thể, cá nhân, cộng đồng doanh nghiệp cùng chung tay tặng cờ Tổ quốc, cùng với một số thuốc men, dụng cụ sơ - cấp cứu cho ngư dân, kết hợp với tuyên truyền, thông tin về bảo vệ chủ quyền cho bà con chính thức ra đời, góp phần tích cực vào công cuộc bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.</p><p><b>Xuống biển, lên rừng</b></p><p>Chỉ trong một thời gian ngắn, Báo Người Lao Động đã tổ chức trao hàng chục ngàn lá cờ Tổ quốc cho ngư dân ở các tỉnh, thành có biển như: Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, Nghệ An, Bình Thuận, TP HCM…</p><p>Ban Biên tập Báo Người Lao Động cũng đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư lệnh Hải quân. 60.000 lá cờ Tổ quốc đã được lãnh đạo Báo Người Lao Động trao cho lãnh đạo Vùng 2 và Vùng 4 Hải quân, trong đó Vùng 2 Hải quân 20.000 lá cờ Tổ quốc, Vùng 4 Hải quân 40.000 lá cờ Tổ quốc. Số cờ này sẽ được lực lượng Hải quân tặng bà con ngư dân khai thác thủy sản trên biển và sử dụng tại chỗ để bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.</p><p>Không chỉ góp phần bảo vệ chủ quyền trên biển, Báo Người Lao Động cũng đã tích cực tham gia bảo vệ chủ quyền ở các khu vực biên giới trên bộ. Ban Biên tập Báo Người Lao Động đã phối hợp cùng Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng; tổ chức tặng cờ Tổ quốc cho bà con sống dọc biên giới ở khu vực Đàm Thủy (tỉnh Cao Bằng) và Lũng Cú (tỉnh Hà Giang).</p><p><b>Cả xã hội cùng chung tay</b></p><p>Chương trình "Một triệu lá cờ Tổ quốc cùng ngư dân bám biển" do Báo Người Lao Động phát động và triển khai có sức lan tỏa mạnh mẽ. Chương trình đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. </p><p>Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trực tiếp trao tặng cờ Tổ quốc cho ngư dân tại tỉnh Kiên Giang vào ngày 29-7-2019, tại Bình Định ngày 20-8-2019; Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng trao cờ, ngư cụ cho ngư dân tại Bạc Liêu ngày 1-6-2019; Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh chứng kiến và trao tặng cờ cho ngư dân 2 tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Khánh Hòa trong 2 ngày 1 và 2-8-2019.</p><p>Nhiều tập đoàn, doanh nghiệp đã vào cuộc mạnh mẽ, tiêu biểu như: Tập đoàn TH, Tập đoàn Vingroup, Công ty Golf Long Thành, Ngân hàng Nam Á, Ngân hàng Bắc Á, BIDV, PNJ, Saigontourist, Saigon Co.op, Jetstar Pacific…</p><p>Bên cạnh đó, chương trình đã nhận được sự quan tâm, đồng hành, ủng hộ của nhiều tập thể, cá nhân. Trong các chương trình Diễn đàn Doanh nhân Việt Nam 2019 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức; lễ kỷ niệm 3 năm Cà phê doanh nhân do Hiệp hội Doanh nghiệp TP HCM (HUBA) tổ chức… đều có phần tham gia đóng góp cho chương trình từ các doanh nghiệp, doanh nhân. Các trường đại học - cao đẳng như: Đại học Nguyễn Tất Thành, Đại học Mở TP HCM, Cao đẳng Kinh tế… tham gia nhiệt tình, trách nhiệm.</p><p>Chương trình cũng đã nhận được sự đóng góp quý báu từ các cán bộ về hưu với đồng lương ít ỏi; từ các học sinh - sinh viên, công nhân - người lao động trong cả nước. </p><p>Đặc biệt, một số kiều bào đang sinh sống, làm việc ở nước ngoài cũng đã tham gia đóng góp cho chương trình với mong muốn cờ Tổ quốc sẽ tung bay khắp nơi trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.</p><p>Đến nay, mặc dù thời gian chưa dài nhưng chương trình đã thực hiện ký kết ghi nhớ và trao tặng hơn 100.000 lá cờ Tổ quốc. Đó là kết quả rất đáng tự hào. Trong thời gian tới, chương trình "Một triệu lá cờ Tổ quốc cùng ngư dân bám biển" sẽ được tiếp tục triển khai ở 28 tỉnh, thành có biển và một số tỉnh có biên giới trên bộ. </p><p>Hành trình phía trước còn dài với không ít khó khăn, thách thức, Ban Biên tập Báo Người Lao Động - Ban Tổ chức chương trình "Một triệu lá cờ Tổ quốc cùng ngư dân bám biển" rất mong sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội; sự hỗ trợ, đồng hành của các bộ, ban, ngành, lãnh đạo TP HCM và các doanh nghiệp, cộng đồng.</p><p>Những nỗ lực không mệt mỏi của lãnh đạo các cấp, tập thể Báo Người Lao Động và nhân dân cả nước nhằm góp phần bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc ta!</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Mon, 13 Jul 2026 17:40:38 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Tiếng gọi thiêng liêng từ con tim</media:title>
                        <media:keywords>Tiếng gọi thiêng liêng từ con tim</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[CHUYÊN MỤC CHÂN DUNG TÁC GIẢ: HÀN MẶC TỬ]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/gioi-thieu-tac-gia-han-mac-tu-a110911.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/gioi-thieu-tac-gia-han-mac-tu-a110911.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/gioi-thieu-tac-gia-han-mac-tu-a110911.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>“Mai sau, những cái tầm thường, mực thước sẽ biến đi và còn lại của cái thời kỳ này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử” - Đó là những lời của Chế Lan Viên dành tặng cho Hàn Mặc Tử và đó cũng như một tuyên ngôn rằng: thơ Hàn đặc biệt và người sẽ sống mãi.</p> <p>Hàn Mặc Tử (22.9.1912 - 11.11.1940), tên thật là Nguyễn Trọng Trí, ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống theo đạo, bản thân Hàn Mặc Tử cũng chịu ảnh hưởng bởi gia đình, ông cũng là một người ngoan đạo, ảnh hưởng ấy còn đi vào trong thơ Hàn. Hàn Mặc Tử bộc lộ tài thơ từ sớm, tập thơ đầu tay của ông là thơ Đường, đã được Phan Bội Châu khen nức nở. Từ đấy, cái tên Hàn Mặc Tử dần được biết đến trên văn đàn. Trong cuộc đời Hàn Mặc Tử, cũng có nhiều bóng hồng thoáng qua đời. Tuy nhiên, có lẽ cái nghiệt ngã mà người tài từ thiên cổ vẫn mang mà như cụ Nguyễn Du nói là: “Tài tình chi lắm cho trời đất ghen” thì Hàn Mặc Tử cũng chẳng tránh nổi kiếp số đớn đau. Khoảng đầu những năm 1935, gia đình Hàn Mặc Tử đã phát hiện những dấu vết của bệnh phong - một căn bệnh thuộc loại “tứ chứng nan y” bấy giờ trên người Hàn Mặc Tử, tuy nhiên, thời gian này bệnh trạng còn chưa phát lộ hẳn nên Hàn Mặc Tử chỉ nghĩ là phong ngứa bình thường. Đến giai đoạn những năm 1938-1939, bệnh tật diễn tiến mạnh hơn, vật vã trong những cơn đau, ông phải vào Bệnh viện phong Quy Hòa để chữa trị. Mang theo nỗi đau đớn về thể xác do bệnh tật mang lại, Hàn Mặc Tử còn phải chịu dày vò bởi tâm bệnh với con đường tình duyên chẳng mấy suôn sẻ. Hai nỗi đau ấy Hàn Mặc Tử gửi cả vào thơ, khiến những lời thơ của ông dường như cũng rướm máu. Vào nhà thương Quy Hòa được hai tháng, Hàn Mặc Tử nói lời chia tay với cõi đời, ông từ trần vào tháng 11 năm 1940.</p> <p>Bén duyên với nghiệp cầm bút, Hàn Mặc Tử lấy nhiều bút danh khác như Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh, Mlle Phương Liên,… Ngoài ra, Hàn Mặc Tử còn được biết đến là chủ soái của trường thơ Loạn ở Bình Định bấy giờ. Ông được đánh giá là một hiện tượng thơ đầy bí ẩn và phức tạp. Hàn Mặc Tử đã để lại một sự nghiệp thơ vô cùng giá trị như: “Lệ Thanh thi tập (thơ), Gái quê (1936), Thơ Điên (hay Đau Thương, 1938), Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm Châu Duyên, Chơi giữa mùa trăng”.</p> <p>Nhắc đến Hàn Mặc Tử, người đời nhớ đến một hồn thơ bí ẩn, kì lạ xếp vào hàng bậc nhất của thi ca đương thời. Nhưng, Hàn Mặc Tử cũng là một hồn thơ đặc biệt. Đặc biệt ở tài năng nghệ thuật ít ai bì kịp - “mai sau này những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến đi và còn lại cái thời kì này chút gì đáng kể. Đó là Hàn Mặc Tử”. Nhưng đặc biệt nhất là phải ở những câu thơ đầy ám ảnh của ông do bệnh tật, nỗi cô đơn đã khiến Hàn Mặc Tử sáng tạo nên một thế giới vượt qua ngoài tầm kiểm soát của lí trí thông thường mà đó là kết quả của sự dâng trào mãnh liệt về cảm xúc, của tưởng tượng, của trạng thái được đẩy lên cực điểm. Khởi đầu, Hàn Mặc Tử sáng tác thơ theo lối cổ điển nhưng về sau thì lại mang đậm khuynh hướng lãng mạn, thậm chí ông còn vượt qua được lãng mạn để chạm đến bến bờ thơ tượng trưng siêu thực.</p> <p>Để nói về Hàn Mặc Tử thì còn phải tốn hàng ngàn trang giấy, hàng ngàn bút mực, tuy nhiên, điều muốn nói ở con người Hàn đó chính là một niềm yêu đời, yêu người tha thiết, tha thiết đến cùng cực. Thơ Mới nếu nói về tình yêu đời đắm say chẳng ai lại không nhớ đến nhà thơ mới nhất trong số những nhà thơ Mới - Xuân Diệu. Thế nhưng nhắc Xuân Diệu là nhắc về một hồn thơ lúc nào cũng dào dạt, đắm say, cuồng nhiệt nhưng khi nhớ về Hàn Mặc Tử người ta thường nhớ đến một con người phải sống trong đớn đau, trong quằn quại. Và đau thương là thế nhưng người đời đều phải công nhận rằng “cái căn cốt lành mạnh tích cực” là một tình yêu đến đau đớn hướng về cuộc đời trần thế. Hàn Mặc Tử ham mê sự sống, nhìn nó qua màu sắc dục tính nhưng không hề vẩn đục, với ông đó là cõi đời trinh khiết mà bản thân Hàn không tài nào với được. Phải, làm sao có thể khi cái căn bệnh được coi là tứ chứng nan y thuở bấy giờ là sợi dây thừng ngăn cách Hàn với đời, sống trong cô đơn, trong xa lánh, trong ruồng bỏ lại thêm những mặc cảm thân phận, trong vắng lặng chỉ có một niềm đau đáu hướng về cuộc đời, về con người. Hãy cùng xem thế giới trinh khiết mà Hàn Mặc Tử đã dụng công, dụng tâm khắc họa trong từng lời thơ:</p> <p>“Trong làn nắng ửng: khói mơ tan,Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.Sột soạt gió trêu tà áo biếc,Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.” (Trích từ “Mùa xuân chín”)</p> <p>“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.Vườn ai mướt quá, xanh như ngọcLá trúc che ngang mặt chữ điền.” (Trích từ “Đây thôn Vĩ Dạ”)“Mai sáng mai, trời cao rộng quá!Gió căng hơi và nhạc lên mây.Đôi lòng cũng ấm như xuân ấm,Chỉ có áo xuân trắng trẻo thay…” (Trích từ “Xuân đầu tiên”)</p> <p>Khi bị bệnh tật giày vò, ông tự thấy mình cách xa cuộc đời, thuộc về mỗi cõi khác, là chốn “lãnh cung” nhưng càng chia lìa, càng bị cuộc đời bỏ rơi, thi sĩ càng yêu đời thiết tha, đắm say đến đau đớn. Yêu đời nên mới thấy đời đẹp, mà càng thấy đẹp bao nhiêu, trinh khiết bao nhiêu lại càng tiếc đời, và càng tiếc đời lại càng đau khổ. Vì lẽ đó mà dễ thấy trong thơ Hàn vừa có nỗi đớn đau tuyệt vọng, lại vừa có những trong trẻo, thanh khiết thiêng liêng. Và như đã nói, Hàn Mặc Tử là một hồn thơ bí ẩn, lạ lùng, bàn luận về thơ Hàn người ta có thể nhắc đến biết bao là vấn đề, tuy nhiên, dù thế nào cũng không thể phủ định có một tình yêu đời nồng thắm, thiết tha mà thơ Hàn mang nặng, chính lẽ ấy đã khiến người thi sĩ tài hoa mà bạc mệnh này sẽ sống mãi cùng non sông gấm vóc.</p> <h3>Xem thêm:</h3> <ul> <li>Lớp văn cô Ngọc Anh trực tiếp giảng dạy tại Hà Nội: Tìm hiểu thêm</li> <li>Tham khảo sách <strong>Chuyên đề Lí luận văn học</strong> phiên bản 2025: Tủ sách Thích Văn học</li> <li>Tham khảo bộ tài liệu độc quyền của Thích Văn học siêu hot: Tài liệu</li> <li>Đón xem các bài viết mới nhất trên fanpage FB: Thích Văn Học</li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Mon, 13 Jul 2026 17:32:32 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">CHUYÊN MỤC CHÂN DUNG TÁC GIẢ: HÀN MẶC TỬ</media:title>
                        <media:keywords>CHUYÊN MỤC CHÂN DUNG TÁC GIẢ: HÀN MẶC TỬ</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC, LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phe-binh-van-hoc-tu-ay-a110909.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phe-binh-van-hoc-tu-ay-a110909.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phe-binh-van-hoc-tu-ay-a110909.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p> Nửa thế kỷ đã trôi qua, kể từ ngày đất nước được hoàn toàn thống nhất, cuộc sống bình yên đã trở lại trên đất nước ta, trở thành một mốc giới cho phép nhìn lại chặng đường phát triển của văn học, nghệ thuật nói chung, của lý luận, phê bình văn học nói riêng. Sự nhìn nhận lại này là cần thiết bởi năm mươi năm qua là thời kỳ tăng tốc trong lịch sử phát triển đất nước, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được khẳng định một cách thuyết phục, trong khi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền đất nước vẫn là nhiệm vụ cấp bách thường xuyên, thường trực. Nhiệm vụ của văn học, nghệ thuật trong thời kỳ này cũng mang những sắc thái mới, chấp nhận những quy ước mới trong bộn bề những diễn biến đa chiều, đa cực do sự quốc tế hóa, toàn cầu hóa nhanh chóng và tính chất muôn màu muôn vẻ mà xã hội tiêu dùng mang lại.</p> <p> Có thể khẳng định dứt khoát đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng là một bộ phận quan trọng của đường lối cách mạng Việt Nam, có mặt ngay trong các quan điểm đấu tranh được đưa ra trong 282 chữ của Chánh cương vắn tắt, cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định các giai đoạn, đối tượng, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam và trong năm điểm của Sách lược vắn tắt, xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội quân tiên phong của giai cấp vô sản, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn và được thảo luận, thông qua tại Hội nghị thành lập Ðảng tháng 2.1930. Đường lối văn hóa, văn nghệ được cụ thể hóa thành nguyên tắc “dân tộc, khoa học, đại chúng”, xác lập nhiệm vụ xây dựng mặt trận văn hóa nghệ thuật trong Đề cương về Văn hóa Việt Nam do Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo năm 1943. Đây là văn kiện chính thức đầu tiên của Đảng ta về vấn đề này, ngay khi chưa giành được độc lập. Trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa đăng trên Báo Cứu quốc, số 1986, ngày 5.1.1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Việc sáng tác văn chương, bằng tài năng nghệ sĩ, không phải chỉ là một nghề để kiếm sống mà còn là một trách nhiệm công dân. Tính nhất quán trong nguyên tắc chỉ đường này trong suốt mấy chục năm qua không chỉ được thể hiện trên lĩnh vực sáng tác văn học, nghệ thuật mà còn được quán triệt sâu sắc trong lĩnh vực lý luận và phê bình văn học. Đường lối phát triển văn hóa, văn nghệ là một thành phần của đường lối cách mạng dân tộc.</p> <p> Thuật ngữ “văn học” (la littérature) được hiểu là “nghệ thuật” và “ngôn từ”; vừa là nghệ thuật của ngôn từ (tức là quyền lực của diễn ngôn) hay nghệ thuật về ngôn từ (tức diễn ngôn của quyền lực), là kiểu ngôn từ mang tính nghệ thuật, vừa bao gồm mọi nghi thức lời nói, cách thức biểu cảm, hình thức diễn tả, cấu trúc ngữ pháp, tạo thành sức mạnh của diễn ngôn hay sức mạnh tự thân của nghệ thuật. Văn chương là thành quả sáng tạo mang tính khoa học, tuân thủ trật tự logic sáng tạo, là lĩnh vực sản xuất đặc thù, đặc biệt: không chỉ có tinh thần (tư tưởng tác phẩm) mà còn cả vật chất (vỏ vật chất ngôn từ của tác phẩm), cả trạng thái tinh thần vật chất hóa (tư tưởng tác phẩm lôi cuốn độc giả, biến thành hành động như hịch, cáo, lời kêu gọi…) hoặc vật chất tinh thần hóa (vẻ đẹp của các hình tượng trở thành vẻ đẹp vật chất qua cảm thụ của độc giả, qua chuyển thể của đạo diễn hay nghệ sĩ…). Trong thực tế, hoạt động sáng tạo văn chương cũng chính là cách ghi lại sự vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng thành ấn tượng hòa đồng để đa bội hóa cảm xúc của chủ thể quan sát, tạo ra khả năng lay động, kích thích những mạch ngầm liên tưởng để kết nối tất cả lại thành một trạng thái cảm xúc, có thể là “lặng lẽ và dịu êm”, có thể là “ồn ào và dữ dội” (Xuân Quỳnh). Bởi lẽ, trước hết, nhà văn là người viết (l’écrivant), rồi khi công trình mà họ sáng tạo ra trở thành sản phẩm có ý thức, sản phẩm mang ý thức, được tiếp nhận là sản phẩm văn chương thì lúc đó người viết trở thành nhà thơ (le poète) hay nhà văn (l’écrivain), được hiểu là người viết ra cái đẹp, bởi thuật ngữ poïêsis1 trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là sáng tạo, mà ở phương Tây, các nhà thơ được đề cao hơn các nhà viết truyện ngắn, tiểu thuyết hay kịch. Vì thế, W. Shakespeare, rất nổi tiếng trên kịch trường, vẫn phải sáng tạo ra 154 bài sonnets, 2 bản trường ca để được vinh danh là nhà thơ của nước Anh khi qua đời.</p> <p> Các ấn tượng về thế giới nhân quần nhân sinh đi vào tư duy người sáng tạo nghệ thuật, theo kiểu vô thức, sẽ khơi dậy sự đồng tình, đồng cảm, mở ra những khát vọng, đam mê, tạo ra sự tranh luận trong tâm can người sáng tạo, định vị các ý tưởng nhân văn, thành chủ đề tác phẩm. Khi Nguyễn Du viết “Trăm năm trong cõi người ta” thì cái ý niệm “trăm năm” mơ hồ tự nó là một khởi xuất vô thức bởi cái “trăm năm” đó, cái cuộc thế nhân gian đó là ấn tượng không sao xóa đi được, cũng không sao kiểm soát được, nó hiện diện trong tâm khảm nhà thơ thành cái nhìn trực giác vào cõi xa xăm. Từ đó, cái ẩn ức kết tụ trong “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”, ùa về trong tâm khảm tác giả, tuôn ra đầu ngòi bút, hiện hình trên trang giấy thành tác phẩm của nhà thơ, thành các chủ đề tài mệnh tương đố, thân mệnh tương đố, tài tình tương đố... Sự tưởng tượng càng trực giác vô thức thì trường nhìn càng kỳ ảo, huyễn hoặc và có khả năng biến hóa phi thường. Bởi lẽ một trong những phẩm chất của văn nhân chính là trạng thái vô thức trực giác, họ luôn nhìn thấy tính chất khác thường trong những sự vật, hiện tượng mà những người khác chỉ thấy bình thường. Khi Balzac - người thấu thị (visionnaire)2 nói “Khi tôi nhắm mắt lại tôi mới thực là tôi” thì ông đã khẳng định tính trực giác vô thức này. Khả năng trực giác vô thức trong sáng tạo văn chương là lăng kính phản ánh quy luật tự nhiên và xã hội của nghệ sĩ sáng tạo, cũng chính là năng lực trực giác của các nhà khoa học, mà đa phần các phát kiến khoa học đều gắn với tính chất này; chẳng hạn, nhà hóa học Nga D. I. Mendeleev thấy được bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học qua giấc mơ của chính ông…</p> <p> Nhà thơ P. Valéry nói: “Thần thánh ân cần ban cho ta câu thơ đầu tiên (nghĩa là nhà thơ được thức tỉnh từ tiếng gọi từ sâu thẳm vô thức - LNC), còn câu thơ thứ hai thì ta phải tự làm lấy…”. Vì vậy, chất liệu văn chương để xây dựng tác phẩm đương nhiên cũng phải được nhà thơ, nhà văn nhào trộn và rút ra từ thế giới vô thức, từ tưởng tượng trực giác ấy. Vì sáng tạo vô thức, về nguyên tắc, cũng là sáng tạo theo quy luật khách quan của cái đẹp, cho nên nhà thơ, nhà văn trở thành người sáng tạo, mà sự sáng tạo đó không phụ thuộc hoặc lệ thuộc ý muốn chủ quan của nhà văn, nhà thơ - người viết, để khi hiện hình thành tác phẩm, cái tưởng tượng trở nên hữu hình, có xương có thịt, trở thành hiện thực, thành thế giới thứ hai, được tưởng tượng tạo ra từ chất liệu của thế giới nhìn thấy, cảm thấy, khiến cho cuộc sống tinh thần phong phú hơn và đó cũng là sức mạnh vô song của văn chương. Cái trực giác vô thức gắn với sáng tạo, sáng tác, tạo thành tác phẩm nghệ thuật bao hàm cả sáng tạo ngôn từ. Louis Aragon nhấn mạnh: “Trong đời mình, tôi chưa bao giờ viết một cuốn tiểu thuyết nào như cách sắp xếp câu chuyện, sắp xếp diễn biến nhằm ghi lại những điều đã tưởng tượng ra theo một đề cương, từ một sự bố trí có trù định trước. Các tiểu thuyết của tôi, xuất phát từ câu đầu tiên… tôi luôn luôn giống như một độc giả trong trắng trước các tiểu thuyết ấy. Mọi sự luôn luôn diễn ra như thể tôi mở quyển sách của người khác mà chẳng biết gì”3. Việc viết ra tác phẩm, dù là nhà sáng tạo (le créateur) hay kẻ viết lách (l’écriteur-l’écrivain) thì đều thực hiện chức năng: “Viết lách không những ghi lại những điều thầm kín của ta mà còn gợi ra bao điều thầm kín khác… Trong khi viết, ta tự khám phá bản thân mình, ta hiểu biết được chính mình… viết là đem lại các hình thể (les figures), đem lại sự hiện hữu cho những mơ mộng của ta, biến chúng thành tiểu thuyết”4. Sức mạnh sáng tạo nghệ thuật trong Chí Phèo của Nam Cao hiện hình ngay trong câu đầu tiên: “Hắn vừa đi vừa chửi”. Đây là thời khắc Nam Cao xuất trình nhân vật, theo đó “hắn” được mặc định là nhân vật có giới tính, là nam, dứt khoát không phải là nữ; có độ tuổi trung niên chứ không phải thiếu niên hay lão niên; không gian mà “hắn” xuất hiện là một con đường bằng phẳng được biểu đạt bằng các từ “vừa… vừa…”, theo nhịp hành động “chửi” khác thường của “hắn”; thời gian mà “hắn” hành động là buổi tối, khi người người đã đi vào trạng thái nghỉ ngơi, để bài ca cuộc đời mà “hắn” “chửi” ra ngấm vào từng cá thể (“chắc hắn trừ mình ra”); chính hành động này quy định tính chất nhân vật, cũng là quyền lực diễn ngôn được tạo ra bằng nghệ thuật ngôn từ.</p> <p> Văn học là cách nhìn thế giới tự nhiên và xã hội của một cộng đồng có chung ngôn ngữ, cho nên tính dân tộc là đặc điểm đầu tiên mà tác phẩm văn học phải xác lập, để lý luận và phê bình văn học hướng tới làm sáng tỏ các phẩm chất dân tộc ấy. Ngôn ngữ, chất liệu cơ bản của văn học, là ngôn ngữ dân tộc, quy định đặc trưng dân tộc. Không có nền văn học nào phi dân tộc. Văn học bao giờ cũng là văn học của một dân tộc, của một cộng đồng người được liên kết trong một hoàn cảnh địa lý đặc thù. Mỗi tác phẩm văn học là một tấm thảm ngôn từ được đan dệt bằng vô số các từ ngữ, được khớp nối bằng hàng loạt các mệnh đề, các quy tắc ngôn ngữ (cách thức lập ngôn, đảo cú, ẩn dụ, tu từ…) mà trong đó các từ có thể mất đi một phần, có thể mất đi toàn bộ nghĩa từ vựng của nó để trở thành một nghĩa mới hay mang vào tác phẩm một nghĩa mới, làm cho cái thế giới ngôn từ của tác phẩm trở nên sống động, có hồn, súc tích và đa nghĩa. Mỗi từ trong tấm thảm ngôn từ ấy tự nó trở thành một ký hiệu, có quyền lực riêng, có năng lực biểu cảm riêng và gắn liền với tính chất đặc thù của sự sáng tạo văn chương, trở thành mảnh đất của các khám phá phê bình mang tính nghệ thuật, nghĩa là phê bình văn học phải đọc ra, chỉ ra cái đẹp từ chính cái đẹp đã có, chỉ ra các tầng bậc khác nhau của cái đẹp được sắp xếp, được tạo sinh hay phái sinh trong bản thân tác phẩm.</p> <p> Nhấn mạnh giá trị nhiều mặt của Truyện Kiều, học giả Phạm Quỳnh viết: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ!... Một nước không thể không có quốc-hoa, Truyện Kiều là quốc-hoa của ta; một nước không thể không có quốc-túy, Truyện Kiều là quốc-túy của ta; một nước không thể không có quốc-hồn, Truyện Kiều là quốc-hồn của ta. Truyện Kiều là cái “văn tự” của giống Việt-Nam ta đã “trước bạ” với non sông đất nước này. Trong mấy nghìn năm ta chôn rau cắt rốn, gửi thịt gửi xương ở cõi đất này, mà ta vẫn hình như một giống ăn trọ ở nhờ; đối với đất nước non sông vẫn chưa có một cái văn-tự văn-khế phân-minh, chứng nhận cho ta có cái quyền sở-hữu chính-đáng. Mãi đến thế-kỷ mới rồi mới có một đấng quốc-sĩ, vì nòi giống, vì đồng-bào, vì tổ tiên, vì hậu-thế, rỏ máu làm mực, “tá-tả” một thiên văn-khế tuyệt-bút, khiến cho giống An-Nam được công-nhiên, nghiễm-nhiên, rõ-ràng, đíchđáng là chủ-nhân-ông một cõi sơn-hà gấm vóc”5... Như vậy, tính dân tộc của sáng tạo văn chương trở thành nguyên tắc cốt lõi để từ đó tác phẩm văn chương trở thành thông điệp tinh thần của một dân tộc, nhà văn, nhà thơ trở thành những nhà ngoại giao không hộ chiếu, kết nối dân tộc mình với các dân tộc khác. Truyện Kiều, Lục Vân Tiên… sớm được dịch sang tiếng Pháp, trở thành những thông điệp tinh thần mang tính nhân văn cao cả của dân tộc.</p> <p> Vì chất liệu tạo sinh văn học là ngôn từ nên mọi tác phẩm văn chương bao hàm trong nó tính thời gian, trở thành loại hình nghệ thuật thời gian. Văn học làm sống lại kiểu thời gian nhân tính đặc trưng của người, gắn với câu chuyện được kể, tạo thành cách “diễn tả cuộc sống đương diễn ra bằng chính chất liệu được lấy từ bản thân cuộc sống đó”, để chuyển tải các thông điệp khẳng định và hoàn thiện cái đẹp nhân tính. Văn học, một mặt trở thành tấm gương phản chiếu thời đại; mặt khác, cũng là tấm gương phản chiếu tâm hồn và trí tuệ thời đại, là cách thức phản biện xã hội, nhấn mạnh cái đẹp nhân tính phải được nhận thức và phát huy, tạo thành tính chất “nêu gương”, “làm gương” để nhân thế ngẫm suy và “noi gương”, “theo gương” những hình tượng văn học. Vì thế, khi “Cổ thi thiên ái thiên nhiên mĩ/ Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong” thì “Hiện đại thi trung ưng hữu thiết/ Thi gia dã yếu hội xung phong”6 đã xác định tính chất mới của nền văn học mới, trở thành nguyên lý sáng tạo văn chương của thời kỳ lịch sử mới, quy định vị thế chiến sĩ - xã hội của người sáng tác. Văn học phải phản ánh được đặc thù và xác lập được diện mạo văn chương một thời đại lịch sử nhất định, có như thế văn học mới mang phẩm chất khoa học. Hình thức văn bản của tác phẩm văn học phải thể hiện tính thẩm mĩ, làm nổi bật phong cách cá tính sáng tạo và trường từ vựng của tác giả qua các biểu tượng văn hóa mang đặc trưng dân tộc, qua các sắc thái tu từ, các loại chủ đề gắn với đề tài người sáng tác chọn, kèm theo cách lý giải sự vật, hiện tượng tuân thủ trường nhìn thời đại, tính liên văn bản trong quan hệ liên văn hóa. Mỗi tác phẩm văn chương đều là sản phẩm của một cá tính sáng tạo, mà cá tính sáng tạo này càng độc đáo thì tác phẩm càng có ý nghĩa, đặc biệt khi trường nhìn của người sáng tác trùng khít với trường nhìn thời đại, tạo ra sự tiếp nhận rộng rãi hay tạo ra tính đại chúng của văn chương. Tác phẩm hay thì dễ say lòng người và dễ đi vào lòng người mà Truyện Kiều là minh chứng. Trên kịch trường Pháp thế kỷ XVII, xung quanh Le Cid (1636) của P. Corneille; Trường học làm vợ (L’École des femmes,1661) của J. P. Molière, Andromaque (1667) của J. Racine đã diễn ra những cuộc tranh luận văn học sôi nổi, “ai cũng cảm thấy mình có quyền bàn” về các tác phẩm đó, tạo ra cách tiếp nhận văn chương từ bình diện độc giả. Sự tiếp nhận của độc giả là nơi mọi tác phẩm văn học “tồn tại hay không tồn tại”, một kiểu thước đo thời gian. Một nền văn học chỉ được coi là phát triển hay có sự phát triển khi nền văn học đó có những tác phẩm sống và tồn tại lan tỏa trong lòng độc giả. Hàm lượng văn chương quy định sự tồn tại và phát triển, tạo ra tầm nhìn tổng thể của văn học, cũng chính là phẩm chất khoa học của văn chương, làm thức dậy khát vọng sống, đánh thức phần nhân tính của con người trong mỗi con người, mà nhờ vậy tác phẩm văn học mang tính nhân văn càng cao thì khả năng tiếp nhận hay tính đại chúng càng rộng rãi. Chỉ có những tác phẩm hay, tác phẩm có giá trị nhân văn nhân tính mới được quyền tồn tại cùng lịch sử dân tộc, còn không thì chúng sẽ bị loại bỏ.</p> <p> Xuất phát từ đặc trưng này, lý luận văn học sẽ bàn (luận) về cái “lý” tại sao văn học tồn tại, tức là bản chất văn chương, để đi tới xác lập chức năng xã hội của văn chương, để trở thành nội dung chính của phê bình văn học. Vì thế, lý luận văn học phương Tây thường được trình bày dưới dạng các “Ars poetica”, chẳng hạn Nghệ thuật thơ ca (Poetika) của Aristote, Nghệ thuật thơ (Art poétique, 1674) của N. D. Boileau… Sang thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, phương Tây tập trung giới thiệu các hệ thống lý thuyết văn chương (les théories littéraires) gắn với các trường phái, theo đó một loạt các chủ nghĩa7 ùa vào văn đàn. Ở Việt Nam, từ Sơ thảo nguyên lý văn học8 do GS. Nguyễn Lương Ngọc soạn, và bộ sách tham khảo Nguyên lý lý luận văn học của L. I. Timopheev, cho đến hệ thống các giáo trình lý luận văn học nhiều tập trong các thập niên bảy mươi, tám mươi của thế kỷ trước đều đi sâu khẳng định bản chất và xác lập các chức năng của văn chương, theo tiêu chí văn học phản ánh hiện thực, coi văn học là tấm gương phản chiếu xã hội đặc thù. Đặc điểm dễ nhận thấy của các bộ giáo trình lý luận văn học là tính khuôn mẫu, vừa trình bày các luận giải về bản chất văn học vừa trình xuất các khía cạnh khác nhau, theo đó tác phẩm được tạo ra. Việc giới thiệu các lý thuyết văn học được dần dần mở rộng trong các chuyên khảo, chuyên luận, tạo ra sự khởi sắc trong tiếp nhận các lý thuyết văn chương. Lý luận văn học mang tính khoa học, nghiên cứu văn học như một hiện tượng văn hóa, trong quan hệ với ngôn ngữ học (la linguistique) và mĩ học (l’esthétique), mà vì vậy lý thuyết về ngôn ngữ văn học còn được gọi là thi pháp học (poétique). Bản thân văn học là một hệ thống mĩ học gồm hai phương diện biểu hiện, đồng thời cũng là hai hướng để phê bình văn học tiếp cận tác phẩm văn chương. Một mặt, nó là một vựng tập tu từ học về các thể loại, phong cách hay hình thể ngôn ngữ tu từ học; mặt khác, nó là một thể chế xã hội - lịch sử chứa đựng trong nó một truyện kể mang tính cấu thành (hay một diễn trình), chứa đựng một diễn ngôn mang tính thể chế. Hệ thống mĩ học là điều kiện để văn học trở thành loại hình nghệ thuật; còn thể chế xã hội - lịch sử biến văn học thành lĩnh vực sản xuất, thành nghề chuyên môn: văn học trở thành một nghệ thuật khi những thợ thủ công (của nghề) trở thành nghệ sĩ; đây chính là nguồn gốc của tác phẩm nghệ thuật, cũng là nguồn gốc của các nghệ sĩ, văn sĩ, thi sĩ hay kịch sĩ… Phương Tây gọi sáng tạo văn chương là nghề văn cũng trên cơ sở này. Các tác phẩm văn học, nghệ thuật, ngoài việc thực hiện chức năng tạo dựng và bảo vệ cái đẹp nhân tính, tôn tạo và gìn giữ các giá trị người của con người còn cung cấp chất liệu xây dựng các lý thuyết văn chương, dẫn tới hoạt động phê bình văn chương, gắn với cách thưởng thức văn chương. Cuốn Nghệ thuật thơ ca của Aristote ra đời trên nền tảng văn học cổ đại Hy Lạp, một nền văn học độc đáo mang đậm tính thơ, được xây dựng trên nguyên tắc sáng tạo của tính thơ, tức là cách thức tổ chức xây dựng hình ảnh hình tượng thơ, tổ chức các yếu tố vần điệu, nhạc nhịp trong kết cấu văn bản thơ từ bình diện cấu trúc, trở thành nguyên tắc cơ bản của sáng tạo văn chương. Lý luận văn học của Aristote bắt nguồn từ kho tàng thần thoại phong phú, từ những bản sử thi mẫu mực của Homère, từ những bi kịch sáng giá của Eschile, Sophocle, Euripide, các hài kịch xuất sắc của Aristophane và những đại diện thơ ca có tên tuổi bất tử trong di sản văn học thế giới. Cuốn Nghệ thuật thơ của N. D. Boileau là kết quả nghiên cứu kịch trường Pháp thế kỷ XVII với những tên tuổi sáng giá như Corneille, Racine, Molière… Cuốn Văn tâm điêu long (文 心 雕 龍) của Lưu Hiệp, ra đời ở thế kỷ thứ V, cũng dựa trên các tác phẩm văn học Trung Hoa đã có cho tới lúc đó để bàn về cái đẹp của chính nền văn học ấy. Sau này, loại sách có tính lý luận kiểu như vậy thường kèm theo định ngữ “thi thoại” như Tùy Viên thi thoại, Vương Ngư Dương thi thoại… đều dựa trên cơ sở bình phẩm, tán dương các tác phẩm thơ ca đã có. Trong số các nhà phê bình nổi tiếng của văn học cổ điển Trung Hoa còn có Kim Thánh Thán - “Vua của thể loại văn bạch thoại Trung Quốc”. Vấn đề lý thuyết văn học được mở rộng hơn trong thế kỷ XX-XXI. Trong “Lời giới thiệu” cuốn Lý thuyết văn học, một dẫn luận ngắn gọn, Jonathan Culler viết: “Lý thuyết là một loạt các “cách tiếp cận” cạnh tranh nhau, mỗi cách đều có quan điểm và cam kết về mặt lý thuyết. Các lý thuyết, như chủ nghĩa cấu trúc, giải cấu trúc, chủ nghĩa nữ quyền, phân tâm học, chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa lịch sử mới, đều có nhiều điểm chung. Đây là lý do để bàn về lý thuyết nói chung chứ không nghiêng về những lý thuyết cụ thể. Để giới thiệu lý thuyết, tốt nhất là thảo luận các câu hỏi và nhận định chung, hơn là khảo sát các trường phái lý thuyết. Sẽ tốt hơn nếu các cuộc tranh luận quan trọng không chống lại “trường phái” này hay “trường phái” kia nhưng vẫn làm nổi bật được sự khác biệt của chúng. Việc đề cao lý thuyết đương đại như tập hợp các phương pháp tiếp cận hoặc phương pháp giải thích mang tính cạnh tranh đã làm suy yếu lợi ích và sức thuyết phục của các lý thuyết, vốn xuất phát từ những khám phá về cách tạo nghĩa, cách hình thành bản sắc con người…”9. Đây là một cách tiếp cận mang tính chất phê bình trong lĩnh vực lý luận văn học. Trên phạm vi này, nền lý luận văn học của chúng ta đã tiếp thu sáng tạo, góp phần làm sáng tỏ chức năng xã hội của văn chương. Đồng thời, các lý thuyết văn chương mới, như phân tâm học, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu hiện đại và nhất là thi pháp học, đã mang lại những kết quả nhất định cho chúng ta. Tuy nhiên, các lý thuyết văn chương phương Tây đều dựa trên dữ liệu văn hóa, văn học xứ sở này, tức là mọi lý thuyết đều mang tính lịch sử cụ thể; vì vậy, không nên tiếp nhận, vận dụng một cách áp đặt vào hoàn cảnh Việt Nam. Văn đàn phương Tây sau mấy thập niên tìm tòi, ồn ã, đưa ra các loại lý thuyết văn chương, thì nay cũng yên ắng trở lại, với xu thế tìm kiếm các giá trị nhân văn vĩnh hằng, không thể đảo ngược trong lịch sử nhân loại, để khẳng định giá trị người của con người, để bảo vệ môi trưởng sống mỏng manh dễ vỡ là trái đất, nơi có tám tỉ sinh vật loại homo sapiens đang tồn tại. Các lý thuyết văn chương mới của phương Tây sẽ xuất hiện rồi lại biến đi khi sứ mệnh lịch sử của chúng đã đạt hay không đạt được cũng là điều dễ hiểu, bởi lịch sử nhân loại là tiếp nhận và loại trừ, còn bản chất của khoa học là sự chọn lựa cái tối ưu.</p> <p> Thuật ngữ “phê bình văn học” (la critique littéraire) là sự kết hợp của: “phê” và “bình”. Phê, ở đây, ghi nhận sự đồng tình, đồng cảm, đồng thuận (phê chuẩn), đánh dấu điều tâm đắc, đồng cảm, gặp gỡ giữa người đọc và văn bản được đọc, có thể là một bài thơ, một tác phẩm văn học hay nghệ thuật nói chung; phê, theo cách hiểu này, sẽ gắn với các hình thức bình thơ, thẩm thơ, cách thức thể hiện sự tán dương hay rung động, đồng cảm của các nhà Nho thế kỷ trước. Tất nhiên, “phê” còn mang hàm nghĩa phê phán, chỉ trích nữa, tức là chỉ ra chỗ sai, cái sai, chỉ ra chỗ lệch chuẩn so với chuẩn thời đại, để từ đó đưa ra việc “phán”, mà nhẹ nhất là “phê bình” hiểu theo nghĩa xã hội học (phê phán hay góp ý cho nhau…), đương nhiên là “phán” phải theo một cách nhìn hay tuân thủ một cách nhìn quan phương nào đó. Vì thế, việc “phán” này có thể là đúng, cũng có thể có chỗ chưa đúng, để từ đây sẽ nảy sinh các tranh luận. Còn “bình” có nghĩa là bình phẩm, bình luận, đánh giá, nhận xét, nêu lên cái được, cái hay hoặc cái chưa được, chưa hay…</p> <p> Như vậy, “bình” sẽ thực hiện chức năng “thêm vào”, còn “phê” thực hiện chức năng “chỉ ra”. Cả hai sẽ kết hợp với nhau tạo ra phê bình, nghĩa là cùng đọc và giảng giải cái hay, cái đẹp để tạo ra sự cộng hưởng nghệ thuật, đánh giá, bàn luận, nhận xét về các giá trị nghệ thuật mà tác phẩm mang lại. Bởi lẽ một tác phẩm văn chương chỉ có giá trị khi nó mang giá trị nhân tính, khi giá trị nhân tính của tác phẩm được tiếp nhận, được chia sẻ, được truyền bá, còn khi một tác phẩm được ấn loát nào đó không mang giá trị người, xét trên bình diện nghệ thuật, thì nó chỉ là văn chương giả mạo và giả tạo. Phê bình văn học là hình thức biểu thị quan điểm, thái độ trước các sự vật, hiện tượng; là hình thức bắt buộc, vì sự vật hiện, tượng đó phương hại đến lợi ích cộng đồng hoặc ở mức độ thấp nhất là hàm chứa khả năng vi phạm tới lợi ích cộng đồng; hoặc hiện tượng, sự vật đó trở thành hiện tượng lạ, sự vật lạ, thành trung tâm chú ý của cộng đồng mà cần được minh định hay tường giải để có cách hiểu tương đối thống nhất về sự vật, hiện tượng ấy; trong ý nghĩa này, phê bình văn học góp phần thực hiện chức năng phản biện xã hội của văn chương. Như vậy, phê bình văn học là khả năng nhận diện, đánh giá ở bình diện cao nhất một hay nhiều hiện tượng văn học, có khả năng khái quát, xác lập các khái niệm liên quan, định danh chính xác sự vật hay hiện tượng và sử dụng chúng làm công cụ khảo sát tác phẩm hay nhận diện, đánh giá nhà văn… Phê bình văn học không thể thiếu các khái niệm công cụ này nhưng mỗi thời đại lại quy định chuẩn mực mĩ học đặc thù hay phẩm cấp văn chương thời đại đó nên hệ khái niệm phê bình mỗi thời đại cũng có những nét khác biệt. Vì văn học là sản phẩm tinh thần mang đậm bản sắc cá nhân nên việc phê bình cũng mang bản sắc cá nhân qua cách tiếp thu, lĩnh hội hay thưởng thức, qua việc chỉ ra cái nhìn nhất quán và tính logic nội tại của tác phẩm nghệ thuật, bởi tính khoa học qua cách diễn trình của tác giả quy định giá trị tác phẩm. Trong Thư gửi nữ văn sĩ Margaret Harkness, F. Engels khẳng định H. De Balzac là một “bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực” và nhấn mạnh ông đã học được ở Balzac “nhiều hơn là trong tất cả các sách của các nhà sử học, các nhà kinh tế học, các nhà thống kê chuyên nghiệp thời ấy cộng chung lại”, bởi phẩm chất khoa học của Tấn trò đời gắn liền với cách phản ánh sự thật hay hiện thực cuộc sống qua các điển hình thời đại. Trong Tựa Tấn trò đời (1842), Balzac viết: “Xã hội Pháp sẽ là nhà sử học, còn tôi chỉ là người thư ký. Lập bảng liệt kê những thói hư và những đức hạnh, tập hợp những sự kiện chủ yếu của các đam mê, vẽ nên các tính cách, lựa chọn những biến cố chính yếu của xã hội, cấu tạo những điển hình bằng cách phối hợp các nét của nhiều tính cách đồng chất, thì có lẽ tôi có thể viết nên pho lịch sử mà biết bao nhà sử học đã bỏ qua, lịch sử của các phong tục”; “Không chỉ mọi con người, mà các biến cố chủ yếu của đời sống cũng biểu hiện bằng điển hình, có những hoàn cảnh được biểu thị ở tất cả các cuộc đời, những giai đoạn điển hình, và đó là một trong những điều chân xác mà tôi vẫn hằng tìm tòi nhiều hơn cả”10. Vì vậy, thông qua nội dung tư tưởng và cái nhìn mĩ học mà tác phẩm mang lại, phê bình văn học thực hiện chức năng phản biện xã hội trên cơ sở phân tích, lý giải các phương diện khác nhau của tác phẩm. Quyền được ngờ vực chân lý vốn gắn liền với các phản tư khoa học, là nền tảng của khoa học, từ nay có thêm người bạn đồng hành mới của nó đó là quyền được tạo tác chân lý. Phê bình thực chất là hoạt động lý giải, diễn giải hay đánh giá một hoạt động hay một sáng tạo nhân tính khác có bản chất trí tuệ hay mĩ học của hoạt động ấy, được xác định trong quan hệ với chính văn học, nghệ thuật.</p> <p> Từ đây sẽ xuất hiện mối quan hệ giữa văn học trong tư cách là sáng tạo tinh thần đặc thù và phê bình, cùng cách thức sản sinh ra phê bình như là một hoạt động, cũng mang tính sáng tạo, phái sinh từ thực tế sáng tạo của văn học. Phê bình văn học, với tư cách là một khoa học, gắn với chức năng phản biện xã hội, chức năng tạo ra phẩm chất văn chương, quy định tính văn học cho tác phẩm văn học. Chức năng phản biện xã hội của văn học, nếu nhìn nhận một cách khái quát thì là sự tư duy lại, tư duy trên cơ sở lật đi lật lại những vấn đề liên quan tới nhân sinh, tới đạo đức lối sống, tới cách thức ứng xử thẩm mĩ, tới thân phận con người… để từ đó rút ra những đáp số cần thiết cho những vấn đề tương ứng mà cuộc sống đặt ra, để tạo ra lý do tồn tại đích thực của văn chương, bởi lẽ văn chương không phải chỉ là các hình thức kể chuyện hay các câu chuyện được kể mà là chiếc kính chiếu yêu soi tỏ bản chất các hoạt động tinh thần của con người, tạo ra khả năng tổ chức và điều chỉnh xã hội, giúp con người sống và hành động theo lẽ thiện, theo phẩm chất nhân tính, nhằm hoàn thiện con người (viết hoa). Sự vượt thoát hay thâm nhập của người đọc, người nghiên cứu tác phẩm văn chương, bao giờ cũng phải đạt tới độ thăng hoa trong cảm thụ, vươn tới độ chín trong nhận hiểu thì lúc đó mới đi tới cảm nhận chung mang tính phê bình. Bởi nếu tác phẩm văn học là sản phẩm sáng tạo của tinh thần và mang trong nó tính chất sáng tạo của tinh thần thì phê bình văn học cũng phải là sự sáng tạo trong trường cộng hưởng với sự sáng tạo tinh thần của người nghệ sĩ, cũng là sáng tạo tinh thần ở một cấp độ cao hơn. Nếu không như vậy thì không có sự đồng cảm “thôi - xao”11 được. Bản thân công việc phê bình văn học cũng là một hoạt động sáng tạo, có như vậy phê bình văn học mới đạt tới tầm cấp của một nền phê bình chân chính. Sự phê bình chỉ có được khi đã có tác phẩm văn học, tức là khi đã có đối tượng để phê bình. Phê bình văn học, với tư cách là một hình thức đánh giá, nhận xét hay thẩm bình văn chương nói riêng, nghệ thuật nói chung, phải đáp ứng và tương xứng một tầm cấp nhất định. Nhà phê bình phải có hiểu biết, có năng lực cảm thụ hay nhận hiểu về lĩnh vực tham gia phê bình, phải là người định hướng chỉ đường cho độc giả, dẫn dắt độc giả đi khám phá cái hay, cái đẹp, cái được, cái chưa được của tác phẩm văn chương, vừa phải hòa mình vào tác phẩm vừa phải vượt mình lên trên hay ra ngoài tác phẩm đó, vừa sống với tác phẩm vừa vượt thoát ra khỏi tác phẩm để tạo ra được góc nhìn hay trường nhìn mang tính phê bình về tác phẩm định nói tới hay định bình phẩm. Phê bình văn học vay mượn hệ thống các công cụ thông tin giao tiếp từ văn học, nghệ thuật, sử dụng các khái niệm phái sinh; để có sự phê bình thì cần có hệ thống khái niệm công cụ liên quan đến lĩnh vực văn chương, mà hệ thống các khái niệm văn học này cũng không phải là một sớm một chiều có được mà cũng phải tiếp nhận, vận động, biến đổi, nghĩa là khi văn học đạt tới một độ chín nhất định thì lúc đó mới sản sinh ra được hệ thống khái niệm tương ứng. Hệ thống khái niệm này khi đã ra đời thì nó sẽ tiếp tục phát triển và hoàn thiện trong thời gian và không gian.</p> <p> Chức năng định hướng mở đường dẫn lối này của phê bình văn học là rất quan trọng bởi lẽ phê bình văn học không phải là việc cãi nhau, nói một cách văn vẻ hơn là tranh luận với nhau, mà là định hướng tạo ra chuẩn mực nghệ thuật của thời đại, tạo ra chuẩn mực xã hội của văn chương, để từ đó góp phần tạo ra một nền văn học chân chính, một nền văn học ca ngợi con người, cổ vũ, bênh vực để hoàn thiện con người. Trong ý nghĩa này, phê bình văn học không phải là sự tô hồng một chiều hay bôi đen phản cảm mà là sự ý thức về chức năng phê bình vì sự tiến bộ xã hội, vì sự hoàn thiện nhân cách con người theo yêu cầu thời đại và lịch sử, dân tộc và nhân loại. Người phê bình phải có con mắt tài hoa, phải là người trung thực và có bản lĩnh, cá tính riêng thì mới tạo ra được nghệ thuật phê bình có phong cách và cá tính. Việc xem xét các khái niệm văn học, lý luận văn học và phê bình văn học cho thấy giữa chúng có mối quan hệ biện chứng khăng khít. Một nền văn học, thông qua hệ thống các tác phẩm đa thể loại, là nguồn chất liệu để rút ra các kiến giải về bản chất văn chương, mở hướng phát triển cho chuyên ngành lý luận, hướng tới các kiến giải lý thuyết chiều sâu như ở văn đàn phương Tây. Tác phẩm văn học và hệ thống khái niệm công cụ của lý luận văn học mở ra con đường bình giải văn chương, cho phép tiếp nhận tác phẩm văn chương qua hình thức đặc thù là phê bình văn học. Nếu tác phẩm văn học gắn liền với sự phục sinh từ trí tưởng tượng trực giác của người nghệ sĩ thì lý luận văn học là quả ngọt tự sinh từ sản phẩm văn chương đó, cho thấy nguyên tắc tạo hình, tạo dáng của văn chương, qua chất liệu ngôn từ và hình tượng, biểu tượng, tạo ra quyền lực diễn ngôn mang tính thời sự và thời đại. Còn phê bình văn học cũng là loại quả ngọt được tạo ra từ sự pha trộn chất liệu văn chương với các nguyên tắc cấu thành tác phẩm. Chất liệu văn chương phong phú, dồi dào, đa văn hóa giúp cho lý thuyết văn chương càng thêm phát triển và tạo điều kiện để các tranh luận văn chương chân chính xuất hiện, tạo ra sự định hướng, bổ sung cho sự phát triển của lý luận văn học. Tác phẩm văn chương, một mặt là tấm gương phản chiếu thời đại, mặt khác cũng là tấm gương để con người tự soi lại chính mình; tự thân văn chương đã là cách thức phản biện xã hội, mà vì thế ngành lý luận xác lập nguyên lý sáng tác và ngành phê bình khai thác giá trị nhiều mặt của văn chương, cũng có tính chất phản biện xã hội, nhằm lành mạnh hóa và hoàn thiện xã hội con người. Sự phát triển tăng tốc đột biến của khoa học kỹ thuật tất yếu ảnh hưởng tới văn chương. Xã hội mang đặc trưng tiêu dùng sẽ hướng văn học, nghệ thuật vào con đường thương mại hóa, sẽ xuất hiện những tác phẩm câu khách rẻ tiền, những sản phẩm được tạo ra bằng AI, ChatGPT, kiểu nhân vật ra đời trong ống nghiệm, không quê hương Tổ quốc hay họ hàng thân thích sẽ đi vào văn học, thay thế những loại nhân vật quen thuộc… mà vì thế việc định hướng mở đường phát triển văn chương cũng có những đòi hỏi thực tiễn cấp bách cần được quan tâm xử lý. Đó là bài toán xã hội mà thời đại mới, thời đại toàn cầu hóa, thời đại của cầu trường kỹ thuật đặt ra. Nhưng vượt lên tất cả, nguyên tắc định hướng phát triển theo xu thế nhân văn tiến bộ vẫn là xu thế áp đảo, trở thành nguyên tắc xây dựng đường lối văn hóa, văn nghệ trong thời kỳ mới. Vì thế, văn học, nghệ thuật mãi mãi là một mặt trận mà văn nghệ sĩ là chiến sĩ. Đường lối văn hóa, văn nghệ nhất quán của Đảng ta là phương châm tác chiến, là sự vận dụng sáng tạo nguyên tắc “dân tộc, khoa học, đại chúng”, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của những nghệ sĩ có tài năng thực sự.</p> <p> </p> <p> </p> <p> </p> <p><strong>Chú thích:</strong> 1 Mục từ “Poésie” trong Le Petit Robert, Paris, 1980, p. 1467. 2 Lê Nguyên Cẩn (1999), Cái kỳ ảo trong tác phẩm Balzac, NXB. Giáo dục, tr. 9. 3 L. Aragon: “Je n’ai jamais appris à écrire ou les incipits”, theo B. Lecherbonnier (1971), Aragon, Bordas, Paris-Montréal, p. 47. 4 B. Lecherbonnier (1971), Aragon, Bordas-Montréal, p. 213. 5 Bài diễn thuyết về Truyện Kiều của học giả Phạm Quỳnh đọc trong dịp giỗ Nguyễn Du, do Hội Khai Trí Tiến Đức tổ chức ngày 8.12.1924 (ngày 10.8 năm Giáp Tý), đăng lại trên Tạp chí Nam Phong số 86. 6 Hồ Chí Minh (2008), Nhật ký trong tù, NXB. Thanh niên, tr. 157. 7 Như: chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu hiện đại… 8 Nguyễn Lương Ngọc (1958), Sơ thảo nguyên lý văn học, NXB. Giáo dục. 9 Jonathan Culler (1997), Literary Theory, A Very Short Introduction (Lý thuyết văn học, một dẫn luận ngắn gọn), Oxford University Press Inc, p. 1. 10 Balzac (1999), Tấn trò đời, tập 1, NXB. Thế giới, tr. 41. 11 Đó là câu chuyện về Giả Đảo (779-843), nhà thơ đời Đường, cũng là nhà sư hoàn tục. Lúc đang cưỡi ngựa đi về Tràng An, ông trăn trở suy nghĩ mãi về hai câu thơ ông vừa sáng tác: “Điểu túc trì biên thụ/ Tăng thôi nguyệt hạ môn” (Chim đậu ở bờ ao/ Nhà sự đẩy cửa dưới trăng); ông phân vân không biết nên dùng chữ “thôi” = đẩy hay chữ “xao” = gõ; ông buông cương ngựa, huơ tay làm động tác lúc đẩy lúc gõ. Con ngựa của ông gặp một đoàn quan quân đang đi kinh lý và Giả Đảo bị bắt lại. Rất may cho ông là viên quan đi kinh lý lại là Hàn Dũ. Giả Đảo nói ra suy nghĩ của mình và được Hàn Dũ góp ý nên dùng chữ “xao” = gõ sẽ hay hơn chữ “thôi” = đẩy vì chữ “xao” gợi lên được một hình tượng về âm thanh.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Mon, 13 Jul 2026 16:59:34 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC, LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC</media:title>
                        <media:keywords>MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC, LÝ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Translating Books: Literary Translation Techniques]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phong-cach-van-hoc-la-gi-a110899.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phong-cach-van-hoc-la-gi-a110899.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phong-cach-van-hoc-la-gi-a110899.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Literary translation is one of the most important processes when translating a piece of literature to achieve global recognition. Outstanding titles like One Hundred Years of Solitude, 1984, Anna Karenina, Memoirs of a Geisha, and more couldn’t have achieved global recognition without literary translation.</p> <p>Literary translation is a process that affects different types of literature, from non-fiction to poetry and everything in between. In this article, we’ll go over the definition of literary translation, its importance, different strategies and organizations that support it, and more. We’ll also cover what it’s like to work as a literary translator, how to find work, and more literary translation FAQs. </p> <p>Finally, we’ll also offer some insights into how we handle literary translation and how we can help you achieve the best possible results when translating your works. Let’s get right into it!</p> <h2>What Is Literary Translation?</h2> <p>Literary translation is the art of translating creative writing, like novels, poems, plays, and short stories, into another language while preserving the author’s original voice, tone, and style. Literary translation goes far beyond swapping words between languages. It requires a deep understanding of both the source and target cultures, as well as the literary techniques that give a work its soul.</p> <p>The definition of literary translation can be summarized as the process of transferring literature from one language to another without losing its artistic and emotional impact. In other words, literary translation’s meaning is not just about accuracy; it’s about re-creating the experience of the original work for readers around the world.</p> <p>Translators must pay close attention to nuance, rhythm, metaphors, and even wordplay. A single sentence in a novel might take hours to translate correctly because every word choice matters. That’s what makes literary translation both challenging and incredibly rewarding. When it’s done correctly, authors can expect their readers to understand their work, regardless of their language. And this can bring immense success both in terms of recognition and sales.</p> <h3>Why Literary Translation Matters in World Literature</h3> <p>Literary translation plays a powerful role in shaping how we understand each other across borders. Without it, readers around the world would miss out on stories that define entire cultures. From poetry to fiction, translated literature gives us a glimpse into lives, histories, and ideas we might never experience firsthand.</p> <p>Some of the most celebrated books in the world are available to us only because of literary translation. Gabriel García Márquez’s One Hundred Years of Solitude, Haruki Murakami’s Kafka on the Shore, Elena Ferrante’s My Brilliant Friend, and Fyodor Dostoevsky’s Crime and Punishment are just a few examples. These works have reached global audiences and influenced countless writers, thinkers, and artists far beyond their countries of origin.</p> <p>Translation does not just carry words from one language to another. It carries emotion, identity, and perspective. That is why literary translation is essential to the growth of world literature. It helps stories travel, opens up cultural exchange, and builds understanding between people across the globe.</p> <h3>Literary Translation vs. Literal Translation</h3> <p>Although they may sound similar, literary translation and literal translation are very different in purpose and approach. Literal translation sticks closely to the exact words and structure of the original text. It focuses on accuracy at the word or phrase level, which works well for things like instruction manuals or technical documents.</p> <p>Literary translation, on the other hand, is more concerned with meaning, tone, and artistic expression. It often involves rephrasing, restructuring, or even rewriting parts of the text to capture the spirit of the original in a new language.</p> <p>Here is a simple example:</p> <p>Original (French): Il pleuvait des cordes.</p> <ul> <li><strong>Literal translation</strong>: "It was raining ropes." This sounds strange in English.</li> <li><strong>Literary translation</strong>: "It was pouring rain." This conveys the intended meaning in natural English.</li> </ul> <p>This example shows why literary translation requires cultural awareness, creativity, and a strong sense of style. Translators must make judgment calls that go beyond grammar and vocabulary to deliver the same emotional and artistic impact the author intended.</p> <h3>Common Challenges in Literary Translation</h3> <p>Literary translation is a rewarding but demanding craft. Translators are not just working with language—they’re working with emotion, culture, humor, rhythm, and style. Every word has weight, and every decision can shape how a story is understood by readers in a completely different part of the world. The most common challenges usually fall into two major categories: linguistic and cultural.</p> <h4>Idiomatic Expressions and Cultural Nuances:</h4> <p>Idioms and culturally specific expressions are often untranslatable in a direct way. Phrases like “kick the bucket” or “spill the beans” might make perfect sense in English, but try translating them word-for-word into another language, and they may sound confusing or absurd. Literary translators have to find or create expressions in the target language that carry the same impact, tone, and meaning. This takes deep familiarity with both cultures and a creative approach to problem-solving.</p> <h4>Wordplay and Literary Devices</h4> <p>Wordplay is notoriously difficult to translate. Puns, rhymes, and double meanings often depend on the unique sound or structure of a language. Take the French pun “Il est à l’ouest,” which means “he’s in the west” but is also slang for someone who is spaced out or not all there. That double meaning doesn’t carry over naturally into English, so a translator would need to get creative—maybe finding another expression that implies confusion or distance in a clever way.</p> <p>Metaphors, alliteration, and rhythm can also pose problems. Poetry, for example, often relies on specific meter and rhyme schemes. A translator might need to sacrifice one aspect (like rhyme) to preserve another (like tone), or rework the line entirely to capture the feeling of the original.</p> <h4>Cultural Context and References</h4> <p>Books are filled with subtle cultural cues—foods, holidays, clothing, humor, and gestures that carry deep meaning for native readers. These details help create atmosphere and meaning, but they can be lost on international readers if not carefully handled.</p> <p>Should a translator keep a local reference and add a footnote? Should they modify it slightly so the target audience understands the implication without added explanation? There’s no one-size-fits-all answer. For instance, a reference to a specific local dish might be kept in the original if it adds texture to the setting, but if it’s essential to the plot, the translator may add a line of context to help the reader understand why it matters.</p> <h4>Historical and Geographical Context</h4> <p>Many literary works are anchored in particular historical moments or geographic locations. A French novel set during the Revolution or an Argentine short story steeped in political symbolism might include references that are unfamiliar to readers elsewhere. Translators must research these allusions to ensure accuracy, but they also have to decide how much context to provide in the translated version.</p> <p>In some cases, subtle historical background can be built into the narrative with a well-placed phrase or reworded sentence. In others, translators rely on footnotes or introductions to help readers appreciate the depth of the setting without breaking the flow of the story.</p> <p>All of these challenges mean that literary translation is never a mechanical process. It’s an interpretive act—one that requires careful reading, strong writing skills, and a deep respect for the original work. The best translations feel natural in the new language while staying true to the heart of the original. That balance is what makes literary translation such a fascinating and vital part of world literature.</p> <h2>Translation Strategies in World Literature</h2> <p>To translate literature well, a translator needs more than fluency in two languages. They need a toolbox of strategies that help them carry over the emotion, voice, and rhythm of the original. These literary translation strategies and techniques make it possible to transform stories without losing their soul. Let’s take a closer look at the most essential ones.</p> <h3>Preserving the Author’s Voice</h3> <p>Voice is what gives a writer their unique sound. It includes tone, sentence structure, personality, and even attitude. A sarcastic narrator in Italian should still sound sarcastic in English. A quiet, poetic tone in Korean should remain delicate and lyrical in French.</p> <p>Preserving the author’s voice means choosing words and phrasing that reflect their style in the new language. That could involve using informal contractions for a casual voice, or long flowing sentences for a more reflective tone. The translator needs to feel the rhythm of the original and reflect it naturally in the translation.</p> <h3>Modulating Sentence Structure</h3> <p>Languages don’t always share the same sentence patterns. A phrase that works perfectly in Russian might sound awkward or confusing in English if translated literally. That’s where modulation comes in.</p> <p>Modulation involves changing how something is said, switching active to passive voice, reordering clauses, or using different parts of speech, to make the sentence more natural in the target language. It helps the translation flow smoothly without sacrificing meaning or nuance. For example, “He missed the train” in English might be “The train escaped him” in another language. The translator decides which form feels more appropriate for the audience.</p> <h3>Maintaining Tone and Rhythm</h3> <p>Tone affects how a text makes the reader feel. It can be serious, playful, dramatic, or anything in between. In literary translation, tone must be consistent. A romantic passage shouldn’t feel cold. A dark moment should stay tense and emotional.</p> <p>Rhythm is just as important. In poetry, rhythm can carry emotional weight and guide the pace. In prose, sentence length and punctuation shape how a reader experiences a scene. Translators often read the original aloud to understand the pace, then make sure their version feels similar, even if the words have changed.</p> <h3>Adapting Cultural References</h3> <p>Stories are filled with references that make sense in one culture but not in another. A children’s book that mentions Halloween might confuse readers in a country that doesn’t celebrate it. A reference to a popular TV show might fall flat without context.</p> <p>Adaptation means replacing or slightly altering a reference to make it feel familiar to the new reader. This could mean switching a food item, changing a holiday, or adding context in the sentence. The key is to keep the original meaning and emotional tone while making the reference understandable in the new language.</p> <h3>Recreating Wordplay and Sound</h3> <p>Wordplay is one of the hardest things to translate. Puns, rhymes, and jokes often rely on how words sound, not just what they mean. Literal translations usually miss the point entirely.</p> <p>To deal with this, translators might invent a new pun that fits the moment, use a similar-sounding phrase, or substitute another kind of literary device. The goal is not to preserve the original word, but the original effect—whether that’s humor, cleverness, or surprise.</p> <p>Sound is also key in poetry and lyrical prose. Alliteration, repetition, and rhyme all shape how a text feels. A good translator listens to the music of the language and finds ways to echo it in the new version, even if that means rewriting sections creatively.</p> <h3>Using Transcreation for Creative Impact</h3> <p>Sometimes, a passage needs to be completely reimagined to work in the target language. This is where transcreation comes in. Transcreation is common in marketing content, song lyrics, and scripts, but it also shows up in novels, especially in scenes full of idioms, jokes, or emotional intensity. A translator using transcreation might take more liberties with the words, but always stays true to the author’s intent.</p> <p>These strategies are what allow literature to cross borders. When used with care and creativity, they help stories feel just as powerful, beautiful, and moving in translation as they are in the original language.</p> <h2>Organizations That Support Literary Translators</h2> <p>Literary translation may be a solitary craft, but translators are never truly alone. Around the world, there are organizations that provide support, resources, and community for those working in the field. In the United States, one of the most important institutions for literary translators is the American Literary Translators Association.</p> <p>Also known as ALTA, this organization is a key hub for translators of poetry, fiction, and creative nonfiction. Founded in 1978, it is dedicated to advancing the art of literary translation and supporting the people who practice it. Its mission includes promoting cultural exchange through literature and helping translators gain recognition for their work. ALTA offers a wide range of valuable resources. These include webinars, mentorship programs, and access to professional development tools. One of its most anticipated offerings is the annual ALTA conference, which brings together translators, publishers, writers, and students for workshops, panel discussions, and networking opportunities. The conference fosters collaboration, learning, and exposure to new voices and trends in world literature.</p> <p>ALTA also helps connect translators with funding opportunities. They offer several awards and prizes, including the National Translation Award and the ALTA Emerging Translator Mentorship Program. These initiatives give translators both financial support and professional visibility, helping early-career translators build momentum and seasoned professionals gain new recognition.</p> <p>In addition to ALTA, other organizations and literary translation agencies also play a role in supporting this important work. From residencies and grants to publishing partnerships and advocacy work, these communities provide a foundation for literary translators to thrive.</p> <p>Whether you’re just starting or have years of experience, being part of a network like ALTA gives you access to guidance, feedback, and encouragement. It’s a reminder that even when you’re working alone on a page, you’re part of a larger global conversation.</p> <h2>Working with a Literary Translation Agency</h2> <p>When it comes to translating books, poetry, or other creative works, partnering with a literary translation agency can make a big difference. These agencies specialize in preserving voice, tone, and cultural meaning while adapting a work for a new audience.</p> <p>A good agency matches your project with skilled translators, handles editing and quality checks, and ensures everything runs smoothly from start to finish. This is especially helpful for authors and publishers working on complex or large-scale projects.</p> <p><strong>MotaWord</strong> is one of the top literary translation choices. We’re recognized for our global network of professional translators. We offer fast, high-quality literary translation services in over 110 languages. Whether you're an indie author or a major publisher, MotaWord can help your work reach readers around the world.</p> <p>While freelancers can be a good option for smaller projects, agencies offer added structure, consistency, and expert support, making them a smart choice for anyone looking to publish internationally.</p> <h2>Becoming a Literary Translator</h2> <p>If you love literature and have a strong command of more than one language, becoming a literary translator might be the perfect path for you. But it’s not just about knowing two languages—it’s about knowing how to write, how to interpret style and emotion, and how to bring a story to life in a new cultural context.</p> <p>So, how do you become a literary translator? There’s no single path, but most professionals start with a strong background in language and literature. A degree in translation, comparative literature, or a related field can be helpful, but what matters most is your ability to write well and understand the nuances of both the source and target languages.</p> <p>Literary translators also need deep literary knowledge. You should be familiar with different genres, narrative styles, and the literary traditions of the cultures you’re working with. Reading widely and critically in both languages is essential.</p> <p>To get into literary translation, start by building a portfolio. Translate short texts, poems, or excerpts from books in the public domain. Consider submitting your work to literary journals or contests, many of which welcome translations. This helps you gain experience and build visibility. Some translators also get started by translating their own work.</p> <p>You can also explore mentorship programs or workshops offered by organizations like ALTA. These programs provide feedback from experienced professionals and introduce you to the wider literary translation community.</p> <p>Finding opportunities can take time. Look into small publishers, literary magazines, or translation grants that support emerging translators. Networking through conferences, events, and online forums can open up new leads and collaborations.</p> <p>Above all, becoming a literary translator takes patience, curiosity, and a love for language. With practice and persistence, you can grow into a voice that helps literature travel across borders.</p> <h2>Literary Translation FAQs</h2> <h3>1. How much do literary translators make?</h3> <p>Earnings can vary widely depending on the language pair, genre, location, and a translator’s experience level. Freelancers may charge by the word, page, or project. Some work is paid through royalties, while others receive flat fees. In many cases, grants, fellowships, or prizes also provide financial support, especially for translators working on literary works with artistic or cultural value.</p> <h3>2. Is a degree required to become a literary translator?</h3> <p>You don’t necessarily need a degree, but a strong background in literature, writing, and language is essential. Many literary translators have degrees in fields like comparative literature, translation studies, or foreign languages. What matters most is your ability to produce accurate, expressive, and culturally sensitive translations—and a degree can certainly help with that.</p> <h3>3. What makes literary translation different from other types?</h3> <p>Unlike technical or legal translation, literary translation focuses on style, tone, rhythm, and artistic voice. The translator often acts as a co-creator, making choices that preserve the story’s emotional and narrative impact. It’s not just about transferring information—it’s about recreating an experience for the reader.</p> <h2>MotaWord Understands the Art and Value of Literary Translation</h2> <p>Literary translation is more than just a language skill. It’s an art form that connects people, cultures, and ideas across borders. It gives readers access to voices they might never hear otherwise, and it gives stories the power to resonate globally.</p> <p>Whether you’re a reader exploring translated literature for the first time or a writer looking to share your work internationally, literary translation plays a vital role in building those bridges. And if you're someone who dreams of becoming a literary translator, there’s no better time to start learning, practicing, and finding your voice.</p> <p>At MotaWord, we understand the care and creativity that literary translation demands. We work with skilled professionals who know how to preserve tone, rhythm, and meaning across languages, whether it’s for a novel, a memoir, or a collection of poetry. If you're an author or publisher, we’re here to help your stories travel. Because great stories deserve to be heard—everywhere, by everyone. Reach out to us today to translate your work!</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Mon, 13 Jul 2026 13:29:54 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Translating Books: Literary Translation Techniques</media:title>
                        <media:keywords>Translating Books: Literary Translation Techniques</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Nghiên cứu Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)  và Cái bóng trên tường (Nguyễn Đình Thi) từ lí thuyết liên văn bản]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phan-tich-van-ban-chuyen-nguoi-con-gai-nam-xuong-a110891.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phan-tich-van-ban-chuyen-nguoi-con-gai-nam-xuong-a110891.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phan-tich-van-ban-chuyen-nguoi-con-gai-nam-xuong-a110891.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>1. Lê Huy Bắc (2015), Liên văn bản hay tiếp nhận của tiếp nhận, Nghiên cứu khoa học - Trường Đại học Văn hiến, số 7 - tháng 5, tr.19-25. </p> <p>2. Nguyễn Đổng Chi (2000), Vợ chàng Trương (in trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam), Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr1236-1240. </p> <p>3. Nguyễn Đình Chú, Nói thêm về Chuyện người con gái Nam Xương. </p> <p>https://nguvan.hnue.edu.vn/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u/V%C4%83n-h%E1%BB%8Dc-Vi%E1%BB%87t-Nam-trung-%C4%91%E1%BA%A1i/p/noi-them-ve-chuyen-nguoi-con-gai-nam-xuong-351. </p> <p>Ngày đăng trên trang web: 11/10/2020; Ngày tác giả truy cập: tháng 3/2026. </p> <p>4. Nguyễn Dữ (1937), Chuyện người con gái Nam Xương (in trong Truyền kỳ mạn lục - bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện), Tủ sách dịch Tân Việt, tr201-210. </p> <p>5. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Phạm Vĩnh cư chủ biên), Nxb Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du. </p> <p>6. Nguyễn Đăng Na (2007), Người con gái Nam Xương một bi kịch của con người (in trong Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam), Nxb Giáo dục, tr217-221. </p> <p>7. Nguyễn Nam (2004), Cái bóng và những khoảng trống trong văn chương. </p> <p>https://nguvan.hnue.edu.vn/Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u/V%C4%83n-h%E1%BB%8Dc-Vi%E1%BB%87t-Nam-trung-%C4%91%E1%BA%A1i/p/cai-bong-va-nhung-khoang-trong-trong-van-chuong-350Ngày đăng trên trang web: 11/10/2020. Ngày tác giả truy cập: tháng 3/2026. </p> <p>8. Nguyễn Phong Nam (2015), Bàn về quan điểm tiếp cận Nam Xương nữ tử truyện của Nguyễn Dữ, Tạp chí Khoa học xã hội, nhân văn và giáo dục, tập 5, số 4A, tr62-66. </p> <p>9. Nguyễn Đình Thi (2001), Cái bóng trên tường (in trong Tuyển tập tác phẩm văn học (Tập II) - Kịch), Nxb Văn học, tr565-582. </p> <p>10. Nguyễn Văn Thuấn (2018), Giáo trình Lý thuyết liên văn bản, Nxb Đại học Huế. </p> <p>11. Nguyễn Thị Tính (2018), Chuyện người con gái Nam Xương thông điệp của Nguyễn Dữ về cuộc đời, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 1. </p> <p>https://philology.hpu2.edu.vn/doc/chuyen-nguoi-con-gai-nam-xuong-thong-diep-cua-nguyen-du-ve-cuoc-doi.html. </p> <p>Ngày đăng trên trang web: (không hiển thị); Ngày tác giả truy cập: tháng 3/2026 </p> <p>12. Nguyễn Thùy Trang (2025), Những chiều sâu triết lí trong kịch của Nguyễn Đình Thi, Tạp chí Sông Hương, số 442. </p> <p>http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c540/n34225/Nhung-chieu-sau-triet-ly-trong-kich-cua-Nguyen-Dinh-Thi.html. </p> <p>Ngày đăng trên trang web: 24/12/2025; Ngày tác giả truy cập: tháng 3/2026. </p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Mon, 13 Jul 2026 10:52:44 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Nghiên cứu Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)  và Cái bóng trên tường (Nguyễn Đình Thi) từ lí thuyết liên văn bản</media:title>
                        <media:keywords>Nghiên cứu Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ)  và Cái bóng trên tường (Nguyễn Đình Thi) từ lí thuyết liên văn bản</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Viết đoạn văn 200 chữ về vai trò của trí tưởng tượng]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/viet-van-200-chu-a110883.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/viet-van-200-chu-a110883.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/viet-van-200-chu-a110883.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/viet-van-200-chu-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>Đề bài: Trong thời đại công nghệ, một số bạn trẻ cho rằng chỉ có kiến thức khoa học và trải nghiệm thực tế mới dẫn đến thành công. Vì thế, các bạn ấy coi nhẹ vai trò của trí tưởng tượng. Liệu đây có phải là một suy nghĩ đúng đắn?</strong></p> <p><strong>Từ những suy nghĩ riêng, em hãy viết đoạn văn đối thoại với các bạn ấy về vai trò của trí tưởng tượng.</strong></p> <h2><strong>Dàn ý Đoạn văn 200 chữ về vai trò của trí tưởng tượng</strong></h2> <p><strong>1. Mở đoạn:</strong></p> <p>Nêu vấn đề đối thoại: Vai trò của trí tưởng tượng trong thời đại công nghệ ngày nay.</p> <p><strong>2. Thân đoạn:</strong></p> <p>- Trí tưởng tượng được hiểu là: Tưởng tượng là khả năng hình thành các hình ảnh, cảm giác, khái niệm trong tâm trí khi không nhận thức đối tượng đó thông qua thị giác, thính giác hoặc các giác quan khác.</p> <p>- Hiện nay, ngày càng có nhiều bạn trẻ cho rằng chỉ có kiến thức thực khoa học và trải nghiệm thực tế mới có thể thành công. Có thật sự là như vậy hay không?</p> <p>- Rèn luyện tư duy, trải nghiệm thực tế rất cần thiết tuy nhiên việc xem vấn đề rèn luyện tư duy trải nghiệm thực tế hơn là rèn luyện trí tưởng tượng có phần hơi phiến diện.</p> <p>+ Trí tưởng tượng giúp con người làm cho đời sống tinh thần trở nên phong phú nhiều màu sắc -&gt; Cuộc sống đẹp đẽ, có ý nghĩa hơn.</p> <p>+ Trí tưởng tượng khơi nguồn sáng tạo, hoài bão trong hành trình trưởng thành của tuổi trẻ,</p> <p>+ Trí tưởng tưởng tượng tạo ra sự phân biệt giữa con người và máy móc. Trí tưởng tượng giúp con người tạo ra máy móc và làm chủ máy móc.</p> <p>=&gt; Như vậy, có thể khẳng định trí tưởng tượng luôn có một vai trò, vị trí vô cùng quan trọng trong mọi thời điểm, mọi không gian, thời gian.</p> <p>Rèn luyện năng lực tưởng tượng không đồng nghĩa với ảo tưởng, xa rời thực tại, tưởng tượng cần được định hướng bằng tư duy đúng đắn, cần được hiện thực hóa bằng trải nghiệm thực tế, dũng khí hành động,…</p> <p>- Bài học nhận thức và hành động.</p> <p><strong>3. Kết đoạn: </strong>Tổng kết vấn đề nghị luận.</p> <p><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/viet-van-200-chu-1.jpg" alt="Đoạn văn 200 chữ về vai trò của trí tưởng tượng" /></p> <h2><strong>Đoạn văn 200 chữ về vai trò của trí tưởng tượng (Mẫu 1)</strong></h2> <p>Trong cuộc sống, trí tưởng tượng là một trong những năng lực tinh thần quan trọng nhất của con người, góp phần tạo nên sự phát triển vượt bậc của xã hội. Trí tưởng tượng giúp con người vượt qua những giới hạn của thực tại, mở ra khả năng hình dung những điều chưa từng có, từ đó khơi nguồn cho sáng tạo. Chính nhờ trí tưởng tượng, loài người đã phát minh ra nhiều thành tựu vĩ đại: từ việc chế tạo máy bay, tàu vũ trụ cho đến những tiến bộ trong khoa học, nghệ thuật và công nghệ hiện đại. Có thể nói, mỗi phát minh đều bắt đầu từ một ý tưởng tưởng chừng “phi lý”, nhưng nhờ kết hợp trí tưởng tượng với tri thức mà con người biến nó thành hiện thực. Trí tưởng tượng không chỉ có giá trị trong khoa học, mà còn giúp cuộc sống tinh thần thêm phong phú. Đọc một trang sách văn học, xem một bức tranh nghệ thuật hay lắng nghe một bản nhạc, trí tưởng tượng đưa ta đến những không gian mới, khiến ta đồng cảm và thấu hiểu hơn với con người, cuộc đời. Tuy nhiên, trí tưởng tượng chỉ thực sự có giá trị khi song hành cùng tri thức. Nếu chỉ có trí tưởng tượng mà thiếu nền tảng hiểu biết, con người dễ rơi vào ảo tưởng viển vông. Ngược lại, tri thức mà không có trí tưởng tượng sẽ dẫn đến lối mòn, thiếu sáng tạo. Vì vậy, mỗi người cần vừa không ngừng học hỏi để bồi đắp tri thức, vừa nuôi dưỡng trí tưởng tượng để biến tri thức thành động lực sáng tạo. Chỉ khi cân bằng cả hai yếu tố ấy, con người mới có thể làm nên những điều kỳ diệu và cống hiến cho sự tiến bộ của nhân loại.</p> <h2><strong>Đoạn văn 200 chữ về vai trò của trí tưởng tượng (Mẫu 2)</strong></h2> <p>Không phải ngẫu nhiên khi khẳng định rằng trí tưởng tượng là một trong những năng lực đặc biệt nhất của con người. Nhờ có trí tưởng tượng, chúng ta không chỉ ghi nhớ và tái hiện thế giới mà còn có khả năng sáng tạo ra những hình ảnh, ý tưởng chưa từng tồn tại. Hiểu một cách đơn giản, trí tưởng tượng chính là việc con người có thể dựng nên trong tâm trí những hình ảnh, âm thanh, tình huống mà không cần sự tác động trực tiếp của giác quan. Từ thế giới tưởng tượng của các nhà văn, ta có “xưởng sô-cô-la” diệu kỳ của ông Quơn-cơ; từ trí tưởng tượng của các nhà khoa học, ta có những phát minh thay đổi cuộc sống nhân loại như điện thoại, máy bay hay trí tuệ nhân tạo. Rõ ràng, tưởng tượng không chỉ nuôi dưỡng đời sống tinh thần mà còn là nền tảng của sự sáng tạo và đổi mới. Nó giúp con người dự báo, hình dung trước tương lai, tìm ra lời giải cho những vấn đề còn chưa có đáp án. Thử hình dung nếu con người không có trí tưởng tượng, chúng ta sẽ chỉ dừng lại ở việc tồn tại, chứ không thể làm nên những bước tiến vượt bậc của văn minh. Bởi vậy, mỗi người cần biết trân trọng, rèn luyện và sử dụng trí tưởng tượng đúng hướng để biến những điều tưởng như viển vông thành hiện thực, góp phần làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.</p> <h2><strong>Đoạn văn 200 chữ về vai trò của trí tưởng tượng (Mẫu 3)</strong></h2> <p>Trong cuộc sống, ta không thể phủ nhận được sự kì diệu của trí tưởng tượng của con người đóng vai trò rất quan trọng. Trí tượng tượng mang lại nhiều lợi ích to lớn cho con người, thậm chí là khỏi nguồn cho những khám phá mới, tri thức mới của nhân loại. Vì tưởng tượng nó có một sức mạnh phi thường vượt không gian và thời gian, nó đem lại cho người vận hành nó cảm giác thăng hoa đang tưởng nó nhưng giống như đang sống thật ở hiện tại. Hơn thế, nó cho phép con người hình dung ra được kết quả cuối cùng, từ đó có thế làm nên nhiều điều kì diệu. Trí tưởng tượng cần song hành với tri thức vì thiếu đi một trong hai, con người và xã hội loài người sẽ không thể phát triển toàn diện được. Do vậy, chúng ta cũng nên học hỏi nhiều hơn nữa, luôn ý thức về sự hoàn thiện và phát huy kiến thức có được để sáng tạo cái mới và phải biết tưởng tượng, ước mơ để tạo động lực cho tương lai.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Mon, 13 Jul 2026 08:38:34 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/viet-van-200-chu-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/viet-van-200-chu-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Viết đoạn văn 200 chữ về vai trò của trí tưởng tượng</media:title>
                        <media:keywords>Viết đoạn văn 200 chữ về vai trò của trí tưởng tượng</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Soạn bài Loạn đến nơi rồi - ngắn nhất Cánh diều]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/soan-van-12-canh-dieu-a110852.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/soan-van-12-canh-dieu-a110852.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/soan-van-12-canh-dieu-a110852.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Soạn bài Thực hành đọc hiểu: Loạn đến nơi rồi trang 63 → trang 71 ngắn nhất mà vẫn đủ ý được biên soạn bám sát sách Ngữ văn lớp 12 Cánh diều giúp học sinh soạn văn 12 dễ dàng hơn.</p> <h2>Soạn bài Loạn đến nơi rồi - ngắn nhất Cánh diều</h2> <p>Soạn bài: <b>Loạn đến nơi rồi - Cô Nguyễn Hoa (Giáo viên VietJack)</b></p> <p><strong>1. Chuẩn bị</strong></p> <p><strong>Yêu cầu (trang 63 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): </strong></p> <p>- Đọc trước đoạn trích, tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Xuân Trình và vở kịch Mùa hè ở biển.</p> <p>- Đọc nội dung đoạn giới thiệu để hiểu bối cảnh đoạn trích.</p> <p><strong>Trả lời:</strong></p> <p>* Tác giả Xuân Trình:</p> <p>- Năm sinh: 1936 - 1991</p> <p>- Quê quán: quê thôn Lỗ Xá, xã Yên Hưng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định</p> <p>- Ông là nhà viết kịch, nhà lãnh đạo sân khấu tiên phong của sự nghiệp đổi mới. </p> <p>* Vở kịch Mùa hè ở biển:</p> <p>- Sáng tác: 1981</p> <p>- Nội dung: Vở kịch đề cập việc thực hiện khoán ruộng đến từng hộ nông dân ở một địa phương. Với cách làm này, năng suất lúa, hoa màu tăng cao, chăn nuôi phát triển mạnh. Vì vậy, dân no ấm, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước.</p> <p><strong>2. Đọc hiểu</strong></p> <p><strong>Nội dung chính:</strong> Đoạn trích nói về nhân vật Đoàn Xoa - một người tốt, nhưng vì duy ý chí, máy móc, không biết lắng nghe từ thực tiễn đời sống nên đã tự biến mình thành đối tượng châm biếm.</p> <p><strong>* Trả lời câu hỏi giữa bài:</strong></p> <p><strong>Câu 1 (trang 63 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): </strong>Chú ý chỉ dẫn sân khấu để hình dung về nhân vật và bối cảnh.</p> <p><strong>Trả lời:</strong></p> <p>Chỉ dẫn sân khấu: Đồng chí Đoàn Xoa về. Đúng như mọi người đã miêu tả. Dù mới đi thăm đồng, con người của đồng chí vẫn toát lên một vẻ trịnh trọng nghiêm túc khiến người ta cảm thấy vì nể hơn là gần gũi. Mọi người đứng cả lên chờ đón.</p> <p><strong>Câu 2 (trang 64 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): </strong>Hành động “giả vờ” hỏi của ông Đoàn Xoa khi đi thăm đồng đã nhận được câu trả lời như thế nào từ phía bà con?</p> <p><strong>Trả lời:</strong></p> <p>Ông đã nhận được câu trả lời không đúng sự thật của bà con.</p> <p><strong>Câu 3 (trang 65 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): </strong>Tại sao những người thân của ông Đoàn Xoa cũng không dám nói thật với ông ?</p> <p><strong>Trả lời:</strong></p> <p>Bởi vì:</p> <p>- Ông là một người cán bộ tốt nhưng duy ý chí, máy móc, không biết lắng nghe thực tiễn đời sống. </p> <p>- Sợ ông phát hiện ra sự thật, mọi người đang khoán chui ruộng đất để cày. </p> <p><strong>Câu 4 (trang 66 sgk Ngữ văn 12 Tập 1):</strong> Điều cụ Bản “cam đoan” liệu có xảy ra?</p> <p><strong>Trả lời:</strong></p> <p>Điều cụ Bản “cam đoan” có thể sẽ xảy ra.</p> <p><strong>Câu 7 (trang 67 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): </strong>Câu nói “Loạn,loạn đến nơi rồi”, thể hiện suy nghĩ, tâm trạng gì của ông Đoàn Xoa ?</p> <p><strong>Trả lời:</strong></p> <p>Câu nói đã thể hiện tâm trạng hoảng hốt, không ngờ làng xã thân yêu mà ông từng gắn bó, ngay cả người trong gia đình đều chung tay vào việc khoán chui. </p> <p><strong>Câu 8 (trang 68 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): </strong>Em hiểu thế nào là “bán chui” ?</p> <p><strong>Trả lời:</strong></p> <p>Bán chui là làm ra của cải như lương thực, thực phẩm ( cá, thịt,..) mà không đem về nạp vào mậu dịch tức là nạp cho nhà nước mà lại đem bán và thu tiền cá nhân. </p> <p><strong>Câu 9 (trang 69 sgk Ngữ văn 12 Tập 1):</strong> Thái độ, hành động của Quân với ông Xoa có gì khác các nhân vật Cụ Bản và Hướng. </p> <p><strong>Trả lời:</strong></p> <p>- Thái độ của Quân có phần gay gắt và thẳng thắn hơn. </p> <p>- Khi ông Đoàn Xoa hỏi lý lẽ anh sẵn sàng trả lời ngọn ngành từng câu hỏi mà không trốn tránh hay sợ sệt.</p> <p><strong>Câu 10 (trang 70 sgk Ngữ văn 12 Tập 1):</strong> Chú ý thái độ mỉa mai của Quân khi gọi ông Xoa là “ông duy vật”.</p> <p> Thái độ mỉa mai châm biếm với lỗi suy nghĩ lệch lạc, lạc hậu.</p> <p><strong>*Trả lời câu hỏi cuối bài:</strong></p> <p><strong>Câu 1 (trang 70 sgk Ngữ văn 12 Tập 1):</strong> Tóm tắt và nêu tình huống của đoạn trích.</p> <p><strong>Trả lời:</strong></p> <p>- Tóm tắt: Ông Đoàn Xoa về thăm nhà, thăm lại làng xã thấy mọi việc có tiến triển tốt đẹp, ông muốn ở lại chơi thêm mấy hôm. Trong quá trình dạo quanh xóm làng, ông đã sinh nghi vì thấy ruộng đồng chia nhỏ nhưng không một ai chịu nói sự thật. Cho đến cuộc nói chuyện với Cụ Bản, ông Đoàn Xoa mới vỡ lẽ ra sự thật và ông không thể chấp nhận được, muốn báo lên trung ương. Ông lại ra bãi biển mua cá, thấy ngư dân cũng “bán chui”, ông và anh thuyền trưởng đối chất tư tưởng với nhau căng thẳng.</p> <p>- Tình huống của đoạn trích: Ông Đoàn Xoa về thăm làng, ông nhận ra cả xã đã bí mật thực hiện khoán chui, ông không chấp nhận được và muốn báo lên trung ương.</p> <p><strong>Câu 2 (trang 70 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): </strong>Dòng nào dưới đây nêu đúng về ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích?</p> <p>A. Ngôn ngữ đối thoại và chỉ dẫn sân khấu</p> <p>B. Ngôn ngữ độc thoại và chỉ dẫn sân khấu</p> <p>C. Ngôn ngữ đối thoại và bàng thoại</p> <p>D. Ngôn ngữ đối thoại và độc thoại</p> <p><strong>Trả lời:</strong> </p> <p>Chọn đáp án: A</p> <p><strong>Câu 3 (trang 71 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): </strong>Đoạn trích thể hiện xung đột giữa những nhân vật nào? Vì sao giữa các nhân vật đó lại nảy sinh xung đột?</p> <p><strong>Trả lời:</strong></p> <p>- Đoạn trích thể hiện xung đột giữa:</p> <p>+ ông Xoa và cụ Bản, bí thư Hướng</p> <p>+ ông Xoa và thủy thủ đánh cá</p> <p>+ ông Đoàn Xa và thuyền trưởng đánh cá </p> <p>- Giữa các nhân vật xảy ra xung đột bởi sự khác biệt về mặt tư tưởng, quan điểm :</p> <p>+ Cụ Bản: cho rằng cốt yếu vẫn là dân no đủ, ấm no và đó phải là một niềm vui cho tất cả mọi người &gt;&lt; ông Đoàn Xoa: nguyên tắc, giáo điều, chỉ cần làm đúng luật mà không xem xét lại lý luận có phù hợp với thực tiễn hay chưa.</p> <p>+ Thủy thủ: quan tâm đến lệnh thuyền trưởng, không quan tâm đến hệ thống cán bộ, Đảng ủy,... &gt;&lt; ông Đoàn Xoa mọi việc đều phải được thông qua từ trên xuống dưới.</p> <p>+ Thuyền trưởng: cho rằng hợp tác xã là trái tự nhiên, kìm hãm sự phát triển của con người &gt;&lt; ông Đoàn Xoa: làm việc tập thể là tốt nhất, hợp tác xã là biện pháp tối ưu giúp ai cũng được phát triển.</p> <p><strong>Câu 4 (trang 71 sgk Ngữ văn 12 Tập 1):</strong> Em có đồng tình với ý kiến “Tôi nói ông là người duy tâm, người trái ngược tự nhiên...”, “Nguyên do của cái nghèo, một phần vì còn tồn tại nhiều người nghĩ trái tự nhiên như ông đấy.” Của thuyền trưởng Quân về nhân vật Đoàn Xoa không? Vì sao?</p> <p><strong>Trả lời:</strong></p> <p>- Em đồng tình với ý kiến của thuyền trưởng Quân.</p> <p>- Vì: </p> <p>+ Thuyền trưởng Quân cho rằng Đoàn Xoa là người duy tâm, người sống trái với quy luật tự nhiên và không nhìn nhận vào thực tế cuộc sống nên có cái nhìn hạn hẹp, đi trái với tự nhiên về vấn đề xã hội. </p> <p>+ Ông Đoàn Xoa còn có lối tư duy duy ý chí, trái với quy luật tự nhiên, đồng thời do non kém về kiến thức, không nắm bắt khoa học kỹ thuật phát triển của một số bộ phận con người đã vô tình trở thành bước cản lớn làm chậm tiến độ phát triển của xã hội. Đây chính là nguyên do của cái nghèo vẫn còn tồn tại trong thời kì bấy giờ.</p> <p><strong>Câu 5 (trang 71 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): </strong>Có ý kiến cho rằng: Để thể hiện tính cách nhân vật Đoàn Xoa, chỉ cần nêu sự việc ông phát hiện “khoán chui”, không cần thêm chi tiết “bán cá chui” trên bãi biển. Ý kiến của em như thế nào?</p> <p><strong>Trả lời:</strong></p> <p>- Em không đồng tình với ý kiến đó.</p> <p>- Chi tiết phát hiện sự việc khoán chui người đọc mới cảm nhận được những cảm xúc, thái độ ngỡ ngàng, bức xúc của ông. Chi tiết này chưa đủ để cho người đọc hiểu được suy nghĩ cũng như tính cách của nhân vật.</p> <p>- Chi tiết phát hiện bán cá chui: là xung đột chính thể hiện tính cách của nhân vật Đoàn Xoa qua hai cuộc đối thoại ở đoạn sau. Qua đó, có thể thấy được tầm nhìn hạn hẹp, lỗi thời, trái với quy luật tự nhiên của ông Xoa.</p> <p><strong>Câu 6 (trang 71 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): </strong>Việc nhân vật Đoàn Xoa trở thành đối tượng bị châm biếm trong đoạn trích gợi cho em suy nghĩ gì?</p> <p><strong>Trả lời:</strong></p> <p>- Em suy nghĩ về vấn đề đường lối lãnh đạo của các cán bộ. </p> <p>- Thái độ phê phán của tác giả về những cái cũ, tiêu cực trong sản xuất và quan hệ xã hội ở nông thôn ta hiện nay. Vì tư duy duy lí, trái với quy luật tự nhiên đồng thời do non kém về kiến thức, không nắm bắt khoa học kỹ thuật phát triển của con người (cụ thể là ông Đào Xoa) đã vô tình trở thành bước cản làm chậm tiến độ phát triển của xã hội. </p> <p>Bài giảng: <b>Loạn đến nơi rồi - Cô Yến Hoa (Giáo viên VietJack)</b></p> <p>Xem thêm các bài Soạn văn lớp 12 Cánh diều ngắn nhất, hay khác:</p> <ul> <li><p><b>Thực hành tiếng Việt trang 71</b></p></li> <li><p><b>Viết báo cáo kết quả của bài tập dự án</b></p></li> <li><p><b>Trình bày báo cáo kết quả của bài tập dự án</b></p></li> <li><p><b>Tự đánh giá: Tiền tội nghiệp của tôi ơi</b></p></li> <li><p><b>Hướng dẫn tự học trang 80</b></p></li> </ul> <p>Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 12 hay khác:</p> <ul> <li><b>Soạn văn 12 Cánh diều (hay nhất)</b></li> <li><b>Soạn văn 12 Cánh diều (ngắn nhất)</b></li> <li><b>Soạn Chuyên đề Văn 12 Cánh diều</b></li> <li><b>Giải lớp 12 Cánh diều (các môn học)</b></li> <li><b>Giải lớp 12 Kết nối tri thức (các môn học)</b></li> <li><b>Giải lớp 12 Chân trời sáng tạo (các môn học)</b></li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sun, 12 Jul 2026 22:47:21 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Soạn bài Loạn đến nơi rồi - ngắn nhất Cánh diều</media:title>
                        <media:keywords>Soạn bài Loạn đến nơi rồi - ngắn nhất Cánh diều</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Phân tích vẻ đẹp người lái đò Sông Đà thông qua hai trùng vi thạch trận đầu tiên.]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/trung-vi-thach-tran-a110848.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/trung-vi-thach-tran-a110848.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/trung-vi-thach-tran-a110848.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>a. Mở bài:</p> <p>- Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm</p> <p>- Giới thiệu luận đề: Vẻ đẹp người lái đò thông qua hai trùng vi thạch trận đầu tiên.</p> <p>b. Thân bài:</p> <p>Vẻ đẹp trí dũng thể hiện qua cuộc chiến đấu với Sông Đà:</p> <p>(+) Khắc họa trong tương quan với hình ảnh sông Đà hung bạo, hùng vĩ:</p> <p>- Nghệ thuật tương phản đã làm nổi bật một cuộc chiến không cân sức:</p> <p>+ Một bên là thiên nhiên bạo liệt, hung tàn, sức mạnh vô song với sóng nước, với thạch tinh nham hiểm.</p> <p>+ Một bên là con người bé nhỏ trên chiếc thuyền con én đơn độc và vũ khí trong tay chỉ là những chiếc cán chèo.</p> <p>=&gt; Cuộc chiến không cân sức nhằm tôn vinh vẻ đẹp của con người trong công cuộc trinh phục tự nhiên.</p> <p>(+) Diễn biến cuộc chiến.</p> <p>- Cuộc vượt thác lần một:</p> <p>+ Sông Đà trong trùng vi thạch trận thứ nhất.</p> <p>+ Người lái đò Sông Đà:</p> <p>++ Khi thạch trận dàn bày vừa xong thì cái thuyền vụt tới ở một tư thế hiên ngang, chủ động không hề sợ hại sẵn sàng nghênh chiến đối đầu với dòng thác dữ.</p> <p>++ Ông lái đò hai tay giữ chặt mái chèo để khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình-&gt; Sự vững vàng để đối chọi luồng nước giữ.</p> <p>++ Trước đoàn quân liều mạng sóng nước xông vào (…), ông đò “cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cái cuống lái, mặt méo bệch đi” nhưng vẫn kiên cường vượt qua cuộc hỗn chiến, vẫn cầm lái chỉ huy “ngắn gọn mà tỉnh táo” để phá tan trùng vi thạch trận thứ nhất.</p> <p>=&gt; Kết quả: Vậy là phá xong trùng vi thạch trận vòng thứ nhất. Nổi bật lên sự dũng cảm của ông lái đò.</p> <p>- Cuộc vượt thác lần hai: </p> <p>+ Sông Đà ở trùng vi thạch trận thứ hai.</p> <p>+ Người lái đò Sông Đà:</p> <p>++ Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật.</p> <p>++ Trước dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh trên sông đá, ông lái đò cùng chiếc thuyền cưỡi trên dòng thác như cưỡi trên lưng hổ. Ông ghì cương lái miết về phía luồng cửa sinh sau khi bám chắc luồn nước đúng.</p> <p>++ Khi bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước xô ra, ông đò không hề nao núng mà tỉnh táo, linh hoạt thay đổi chiến thuật, ứng phó kịp thời “đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến” để rồi “những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền”.</p> <p>c. Kết đoạn:</p> <p>- Tổng hợp nội dung và nghệ thuật.</p> <p> </p> <p> </p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sun, 12 Jul 2026 19:33:25 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Phân tích vẻ đẹp người lái đò Sông Đà thông qua hai trùng vi thạch trận đầu tiên.</media:title>
                        <media:keywords>Phân tích vẻ đẹp người lái đò Sông Đà thông qua hai trùng vi thạch trận đầu tiên.</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Đề thi thử tốt nghiệp môn văn năm học 2022, 2023 liên trường tỉnh Quảng Nam (kèm đáp án)]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/3-trung-vi-thach-tran-tren-song-da-a110838.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/3-trung-vi-thach-tran-tren-song-da-a110838.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/3-trung-vi-thach-tran-tren-song-da-a110838.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<h2>Đề thi thử tốt nghiệp môn văn năm học 2022, 2023 liên trường tỉnh Quảng Nam</h2><p><b>I. ĐỌC HIỂU</b> (3,0 điểm)</p><p><b>Đọc văn bản:</b></p><figure><img src="https://bqn.1cdn.vn/2025/03/26/image(4).png" alt="Đề thi thử tốt nghiệp môn văn năm học 2022, 2023 liên trường tỉnh Quảng Nam (kèm đáp án)" /></figure><p><b>Thực hiện các yêu cầu:</b></p><p><b>Câu 1. </b>(0,75 điểm) Xác định thể thơ của văn bản.</p><p><b>Câu 2.</b> (0,75 điểm) Câu thơ nào thể hiện rõ phương ngữ của người miền Trung ?</p><p><b>Câu 3. </b>(1,0 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong đoạn thơ:</p><p>anh đi vào mơ</p><p>vào thực</p><p>vào buổi chiều chẳng có ai để nhớ</p><p>mưa bủa vây bốn phía</p><p>mưa như nước mắt đàn ông</p><p>rơi lì lợm...</p><p><b>Câu 4. </b>(0,5 điểm) Nhận xét những suy ngẫm của tác giả về bão được thể hiện trong văn bản.</p><p><b>II. LÀM VĂN</b> (7,0 điểm)</p><p><b>Câu 1.</b> (2,0 điểm)</p><p>Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày</p><p>suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải biết vượt qua những cơn bão lòng.</p><p><b>Câu 2. </b>(5,0 điểm)</p><p>… Ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo võ khí trên cánh tay mình. Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả thuyền lên. Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt. Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò […]. Mặt sông trong tích tắc loà sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng. Nhưng ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nước của đá thác. Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái. Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ nhất. Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật. Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này. Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh cửa, sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông. Vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn. Cưỡi lên thác Sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ. Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. Bốn năm bọn thuỷ quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến. Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền. Chỉ còn vẳng reo tiếng hò của sóng thác luồng sinh. Chúng vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào cửa sinh nó trấn lấy. Còn một trùng vây thứ ba nữa. Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả. Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác. Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vào tự động lái được lượn được. Thế là hết thác.</p><p>(Trích Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, Tập một,</p><p>NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.189-190)</p><p>Trình bày cảm nhận của anh/chị về đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét cái nhìn mang tính phát hiện về con người của nhà văn Nguyễn Tuân.</p><h2>Đáp án đề thi thử tốt nghiệp môn văn năm học 2022, 2023 liên trường tỉnh Quảng Nam</h2><h3><b>Hướng dẫn chung</b></h3><p>Thầy cô giáo cần nắm vững yêu cầu của Hướng dẫn chấm và Đáp án - Thang điểm này để đánh giá tổng quát bài làm của học sinh. Do đặc trưng của môn Ngữ văn, thầy cô giáo cần linh hoạt trong quá trình chấm, tránh đếm ý cho điểm, khuyến khích những bài viết sáng tạo.</p><p>Việc chi tiết hóa điểm số của các câu (nếu có) trong Hướng dẫn cụ thể phải được thống nhất trong Tổ chấm và đảm bảo không sai lệch với tổng điểm toàn bài.</p><p>Bài thi được chấm theo thang điểm 10. Điểm tổng toàn bài làm tròn theo quy định.</p><h3><b>Hướng dẫn cụ thể</b></h3><p><b>I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)</b></p><p><b>Câu 1. </b>Thể thơ của văn bản: Tự do.(Học sinh trả lời y đáp án, trả lời khác đáp án thì không cho điểm)</p><p><b>Câu 2.</b> Câu thơ thể hiện rõ phương ngữ của người miền Trung: đời chi lạ !(Học sinh trả lời y đáp án, trả lời khác đáp án thì không cho điểm)</p><p><b>Câu 3.</b> Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong đoạn thơ:</p><p>Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong đoạn thơ:</p><p>- Làm nổi bật sự lì lợm, dai dẳng của cơn mưa chiều ở Sài Gòn đồng thời</p><p>thể hiện nỗi buồn, sự trăn trở của tác giả trước cơn bão lòng, bão đời.</p><p>- Làm cho đoạn thơ giàu hình ảnh, tăng tính biểu cảm.</p><p>(Mỗi ý 0,5 điểm)</p><p><b>Câu 4. </b>Nhận xét những suy ngẫm của tác giả về bão được thể hiện trong văn bản:</p><p>- Những suy ngẫm của tác giả: Bão cũng xé thành hai cõi: Bão lòng và bão đời. Bão lòng làm tan nát đời anh, bão đời cứ mải mê tàn phá nên anh xin nó hãy lặng yên, còn bão lòng anh để mình anh chịu..</p><p>- Nhận xét những suy ngẫm của tác giả: Suy ngẫm sâu sắc, đầy nhân văn, cao thượng.</p><p>(Mỗi ý 0,25 điểm)</p><p><b>II. LÀM VĂN (7,0 điểm)</b></p><p><b>Câu 1.</b> Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải biết vượt qua những cơn bão lòng.</p><p>a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn : Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.</p><p>b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: sự cần thiết phải học cách vượt qua những cơn bão lòng.</p><p>c. Triển khai vấn đề nghị luận: Học sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ sự cần thiết phải biết vượt qua những cơn bão lòng. Có thể triển khai theo hướng:</p><p>- Giải thích: bão lòng là những nỗi buồn đau, những khó khăn khó giải quyết khiến người gặp phải băn khoăn, trăn trở trong lòng.</p><p>- Bàn luận vấn đề:</p><p>+ Sự cần thiết phải học cách vượt qua những cơn bão lòng:</p><p>• Cuộc đời không phải lúc nào cũng bằng phẳng, bình yên như ý muốn nên con người không thể mãi đắm chìm trong cơn bão lòng, hay đầu hàng, bỏ cuộc, mà phải biết đứng lên để tìm cách vượt qua nó.</p><p>• Vượt qua những cơn bão lòng sẽ khẳng định sự mạnh mẽ trong thế giới tâm hồn con người, sẽ hình thành được những phẩm chất tốt đẹp như niềm tin, nghị lực, sự kiên trì, dũng cảm… Từ đó, giúp con người trưởng thành hơn và có cơ hội thành công hơn, có thể đóng góp sức mình nhiều hơn cho cộng đồng và xã hội.</p><p>+ Phê phán những người yếu đuối, mãi đắm chìm trong những cơn bão lòng mà không tìm cách vượt qua.</p><p>- Bài học:</p><p>+ Con người cần phải nhận thức được rằng: dám vượt qua những cơn bão lòng thì mới có thể tồn tại, mạnh mẽ, trưởng thành và hướng tới thành công.</p><p>+ Cần tôi rèn ý chí, nghị lực; cần lạc quan và dũng cảm đối mặt với những cơn bão lòng và tìm cách vượt qua nó, không được suy nghĩ tiêu cực.</p><p>d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.</p><p>e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; cách diễn đạt mới mẻ.</p><p>(Khuyến khích những bài viết sáng tạo, biết mở rộng vấn đề)</p><p><b>Câu 2. </b>Cảm nhận của anh/chị về đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét cái nhìn mang tính phát hiện về con người của nhà văn Nguyễn Tuân.</p><p>a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận</p><p>Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.</p><p>b. Xác định đúng vấn đề của đề bài:</p><p>- Cảm nhận nội dung và nghệ thuật đoạn trích.</p><p>- Nhận xét cái nhìn mang tính phát hiện về con người của nhà văn Nguyễn Tuân.</p><p>c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Cụ thể:</p><p>c1. Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Tuân, hoàn cảnh ra đời, xuất xứ tác phẩm Người lái đò Sông Đà, vấn đề nghị luận: đoạn trích nói về cảnh vượt thác của ông lái đò trên dòng Sông Đà hung bạo.</p><p>c2. Cảm nhận đoạn trích: Học sinh có thể cảm nhận theo nhiều cách nhưng cần đáp ứng các yêu cầu sau:</p><p>- Nội dung: đoạn trích tái hiện cảnh ông đò chiến đấu với Sông Đà hung bạo, vượt qua ba trùng vi thạch trận.</p><p>+ Trùng vi một: Trước sự hung hãn của đá và sóng nước, ông lái đò kiên cường bám trụ “hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình”. Trước đoàn quân liều mạng sóng nước xông vào..., ông đò “ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch đi” nhưng vẫn kiên cường vượt qua cuộc hỗn chiến, vẫn cầm lái chỉ huy “ngắn gọn mà tỉnh táo” để phá tan trùng vi thạch trận thứ nhất.</p><p>- Trùng vi hai: Con Sông Đà tiếp tục được dựng dậy như “kẻ thù số một” của con người với tâm địa còn độc ác và xảo quyệt hơn. Ông lái đò “không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật”. Trước dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh trên sông đá, ông lái đò cùng chiếc thuyền cưỡi trên dòng thác như cưỡi hổ. Khi bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước xô ra, ông đò không hề nao núng mà tỉnh táo, linh hoạ thay đổi chiến thuật, ứng phó kịp thời “đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến” để rồi “những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền”.</p><p>- Trùng vi ba: Bị thua ông đò ở hai lần giao tranh trước, trong trùng vi thứ ba, dòng thác càng trở nên điên cuồng, dữ dội. Ông đò càng chứng tỏ được tài nghệ của mình, cứ “phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa… vút qua cổng đá”, “vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được”… để rồi chiến thắng vinh quang. Câu văn “Thế là hết thác” như một tiếng thở phào nhẹ nhõm khi ông lái đã bỏ lại hết những thác ghềnh ở phía sau lưng.</p><p>- Nguyên nhân chiến thắng:</p><p>+ Nhờ ông lái đò ngoan cường, lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm vượt qua những thử thách khốc liệt của cuộc sống.</p><p>+ Nhờ sự tài trí, sự am hiểu đến tường tận tính nết của Sông Đà.</p><p>* Cảm nhận nghệ thuật:</p><p>- Thể loại tuỳ bút tự do, phóng túng.</p><p>- Tài hoa: sử dụng nhiều động từ mạnh ; nhiều hình ảnh so sánh, nhân hóa, liên tưởng bất ngờ thú vị ; nhịp điệu câu văn nhanh, mạnh, dồn dập.</p><p>- Uyên bác: vận dụng kiến thức của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau.</p><p>(Lưu ý: Đáp án khá chi tiết, học sinh có thể phân tích nội dung đi kèm nghệ thuật, giám khảo cần linh hoạt khi chấm)</p><p>* Nhận xét về cái nhìn mang tính phát hiện về con người của Nguyễn Tuân</p><p>+ Qua nhân vật người lái đò, một người lao động vô danh, bình dị, Nguyễn Tuân thể hiện cái nhìn mang tính phát hiện về con người: Người anh hùng không chỉ có ở chiến trường chống giặc ngoại xâm mà còn có ngay trong cuộc sống lao động hằng ngày. Với Nguyễn Tuân, ông đò còn là một nghệ sĩ bởi ông chỉ là người lao động bình thường nhưng đã hoàn thành công việc bình thường ấy một cách xuất sắc.</p><p>+ Đây chính là cách Nguyễn Tuân tôn vinh, ca ngợi ý chí con người, ngợi ca lao động vinh quang đã giúp con người chiến thắng sức mạnh của thiên nhiên hung dữ. Và ông lái đò là chất vàng mười đã qua thử lửa trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.</p><p>=&gt; Qua đó thấy được phong cách độc đáo, tài hoa, uyên bác và cá tính sáng tạo mạnh mẽ của nhà văn.</p><p>* Đánh giá: Cảnh vượt thác của ông lái đò chính là một cảnh tượng độc đáo, hấp dẫn người đọc đến từng câu từng chữ. Qua đó, nhà văn đã ca ngợi sự trí dũng tài hoa, ca ngợi tư thế chiến thắng của con người trước sông Đà nham hiểm thâm độc, hung bạo.</p><p>d. Chính tả, dùng từ, đặt câu:</p><p>Đảm bảo quy tắc chính tả, không mắc lỗi ngữ pháp, dùng từ.</p><p>e. Sáng tạo:</p><p>Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sun, 12 Jul 2026 14:26:39 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Đề thi thử tốt nghiệp môn văn năm học 2022, 2023 liên trường tỉnh Quảng Nam (kèm đáp án)</media:title>
                        <media:keywords>Đề thi thử tốt nghiệp môn văn năm học 2022, 2023 liên trường tỉnh Quảng Nam (kèm đáp án)</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[NLXH bàn về vấn đề Chúng ta cần làm gì để đẩy lùi nạn bạo lực học đường]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/van-nghi-luan-bao-luc-hoc-duong-a110833.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/van-nghi-luan-bao-luc-hoc-duong-a110833.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/van-nghi-luan-bao-luc-hoc-duong-a110833.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/van-nghi-luan-bao-luc-hoc-duong-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>Đề bài:</strong> Viết bài văn nghị luận xã hội bàn về vấn đề: Chúng ta cần làm gì để đẩy lùi nạn bạo lực học đường.</p> <p><strong>Bài làm</strong></p> <p><strong>I. MỞ BÀI</strong></p> <blockquote> <p>Bạo lực học đường đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại trong xã hội hiện nay. Từ những lời nói xúc phạm, đe dọa cho đến các hành vi hành hung, tất cả đều gây tổn thương sâu sắc cho học sinh và phá vỡ môi trường học tập vốn cần sự an toàn, tôn trọng. Không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển của mỗi cá nhân, bạo lực học đường còn đặt ra thách thức lớn đối với chất lượng giáo dục và tương lai của thế hệ trẻ. Vì vậy, mỗi người chúng ta cần chung tay hành động để xây dựng một môi trường học đường an toàn, lành mạnh và đầy tính nhân văn.</p> </blockquote> <p><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/van-nghi-luan-bao-luc-hoc-duong-1.jpg" alt="NLXH về đẩy lùi nạn bạo lực học đường" /></p> <p><strong>II. THÂN BÀI</strong></p> <p><strong>Luận điểm 1. Giải thích vấn đề bạo lực học đường là gì?</strong></p> <p>- Bạo lực học đường được hiểu là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập, xâm hại thân thể, sức khỏe, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của người học xảy ra trong cơ sở giáo dục hoặc lớp độc lập.</p> <p><strong>Luận điểm 2. Phân tích các khía cạnh của vấn đề</strong></p> <p><strong>* Thực trạng:</strong></p> <p>+ Hiện tượng bạo lực học đường trong thời gian gần đây xảy ra liên tục hơn và bộc lộ tính chất nguy hiểm, nghiêm trọng. Điều đáng lo ngại là lý do dẫn đến bạo lực đôi khi rất đơn giản như va chạm trong lúc chơi đùa, trên đường đi học, mâu thuẫn nói xấu nhau trên các diễn đàn, mạng xã hội,…</p> <p>+ Chỉ tính từ đầu năm 2024 đến nay, cả nước đã xảy ra nhiều vụ bạo lực học đường. Điển hình như tại tỉnh Sóc Trăng, một học sinh nữ Trường THCS Châu Văn Đơ bị một bạn túm tóc, đánh liên tiếp ngay tại lớp học. Trong khi đó, tại tỉnh Phú Thọ, công an đã vào cuộc điều tra vụ việc hai học sinh nữ Trường THPT Mỹ Văn (huyện Tam Nông) đánh nhau do mâu thuẫn trong chuyện yêu đương… trước sự chứng kiến của nhiều học sinh mà không được can ngăn kịp thời.</p> <p>* <strong>Nguyên nhân:</strong></p> <p>- Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường:</p> <p><strong>+ </strong>Do ảnh hưởng từ môi trường gia đình: một số học sinh thiếu sự quan tâm, giáo dục từ gia đình do bố mẹ li hôn hoặc phụ huynh quá bận rộn với công việc, không có thời gian quan tâm, dạy dỗ con cái. Một số gia đình lại có cách giáo dục sai lầm, sử dụng bạo lực để dạy con, vô tình gieo mầm bạo lực trong tâm hồn trẻ thơ.</p> <p>+ Ảnh hưởng bạo lực từ phim ảnh, các trò chơi điện tử trên mạng xã hội.</p> <p>+ Do căng thẳng trong học tập, thua kém bạn bè hay vì những lý do về tâm, sinh lý lứa tuổi.</p> <p><strong>+ </strong>Do một số học sinh thiếu kỹ năng sống: thiếu kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kiểm soát cảm xúc, giao tiếp hiệu quả… Khi gặp mâu thuẫn, các em dễ dàng sử dụng bạo lực để giải quyết.</p> <p>+ Do công tác tuyên truyền pháp luật trong trường học còn hạn chế, những biện pháp xử lí vi phạm còn chưa nghiêm khắc, triệt để.</p> <p><strong>+</strong> Xã hội cũng chưa có sự quan tâm đúng mức đến vấn đề này.</p> <p><strong>* Hậu quả của bạo lực học đường</strong></p> <p>- Bạo lực học đường gây ra những hậu quả nghiêm trọng về thể chất và tinh thần của học sinh và cả bản thân các học sinh thực hiện hành vi bạo lực. Đối với sức khỏe thể chất sẽ gây ra những thương tích trên cơ thể, trường hợp nghiêm trọng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Còn về tâm lý sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của học sinh, gây ra tâm lý sợ hãi, lo âu, bất an, uất ức và bị ám ảnh là những trạng thái phổ biến mà hầu hết các em học sinh bị bạo lực đã phải trải qua.</p> <p>- Nạn nhân của bạo lực học đường thường có những biểu hiện lầm lì, ít nói, mất tự tin, luôn ở trong trạng thái lo lắng, ngại tiếp xúc với mọi người, lo sợ khi đến trường, thậm chí phát sinh các vấn đề về sức khỏe tâm thần. Ngoài ra còn ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình học tập: học tập không thể tập trung học, lo sợ khi đến lớp, dẫn đến việc kết quả học tập sa sút.</p> <p>- Đối với các em học sinh gây bạo lực cũng sẽ trở thành đối tượng bị thù hằn và bị ghét bởi các nạn nhân và các bạn cùng học, cùng với là nỗi lo lắng bị trả thù từ phía nạn nhân, gia đình và bạn bè của nạn nhân. Phải đối mặt với việc chịu kỷ luật của nhà trường (đình chỉ học tập tạm thời hoặc bị đuổi học), nghiêm trọng hơn là phải chịu sự truy tố của pháp luật.</p> <p>- <strong>Đối với xã hội:</strong> Làm suy giảm chất lượng giáo dục, gây bất ổn xã hội.</p> <p><strong>* Ý kiến trái chiều:</strong></p> <p>- Một số người cho rằng bạo lực học đường là hình thức tự vệ chính đáng bởi có áp bức có đấu tranh, có người lại cho rằng đó chỉ là những trò đùa nghịch của trẻ con, không đáng để quan tâm. Tuy nhiên, quan điểm này hoàn toàn sai lầm. Bạo lực học đường không phải là trò đùa, có nhiều hình thức để tự vệ không nhất thiết phải dùng đến bạo lực. Khi bạo lực xảy ra nó có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho cả nạn nhân và người gây ra bạo lực.</p> <p><strong>Luận điểm 3. Giải pháp giải quyết nạn bạo lực học đường</strong></p> <p><strong>* Các biện pháp phòng chống bạo lực học đường</strong></p> <p><strong>Giải pháp 1.Đối với học sinh:</strong></p> <p>- Học sinh nên tích cực rèn luyện kĩ năng sống, học cách kiềm chế cảm xúc, ngoan ngoãn, lễ phép với ông bà, bố mẹ, thầy cô giáo..</p> <p>- Học sinh cũng cần phải nhận thức rõ các hành vi bạo lực, tránh xa bạo lực và nói không với bạo lực. Khi nhận thấy có hành vi bạo lực xảy ra phải kịp thời thông báo ngay cho nhà trường, thầy cô giáo hoặc cơ quan có thẩm quyền để can thiệp và xử lý kịp thời.</p> <p><strong>Giải pháp 2. Đối với nhà trường và các cơ quan quản lý giáo dục:</strong></p> <p>- Thường xuyên tổ chức các hoạt động mang tính hướng thiện và định hướng nhân cách cho học sinh, giúp học sinh phát huy những đức tính tốt đẹp trong bản thân.</p> <p>- Xây dựng quy chế, nội quy phòng chống bạo lực học đường cụ thể, chi tiết, phù hợp với từng cấp học. Tổ chức các buổi tập huấn, phổ biến quy chế, nội quy cho học sinh.</p> <p>- Có hình phạt và cách giáo dục nghiêm khắc, phù hợp đối với những học sinh gây ra bạo lực và có biện pháp hỗ trợ kịp thời đối với nạn nhân.</p> <p>- Tăng cường các hoạt động truyền thông, phối hợp với gia đình và cơ quan, đoàn thể để phòng tránh bạo lực học đường.</p> <p><strong>Giải pháp 3. Đối với giáo viên</strong></p> <p>- Giáo viên chủ nhiệm là người gần gũi với học sinh nhất, có thể phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường và có biện pháp can thiệp kịp thời.</p> <p>- Giáo viên cần chủ động quan tâm, theo dõi tình hình của các em học sinh trong lớp. Phối hợp với gia đình và nhà trường hỗ trợ kịp thời những khó khăn của học sinh. Đồng thời, có biện pháp can ngăn, giáo dục kịp thời đối với những trường hợp có nguy cơ dẫn đến bạo lực đường.</p> <p>- Tích cực tổ chức các hoạt động tập thể nhằm tăng cường tình cảm của các em học sinh trong cùng lớp, cùng trường, tạo môi trường học tập và giảng dạy lành mạnh.</p> <p><strong>Giải pháp 4. Đối với gia đình học sinh:</strong></p> <p>- Bố mẹ cần tạo ra môi trường sống lành mạnh, nói không với bạo lực trong gia đình, yêu thương cho con cái, là tâmd gương sáng cho con cái noi theo.</p> <p>- Phụ huynh cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhà trường và giáo viên chủ nhiệm để kịp thời nắm bắt tình hình học tập của con em mình tại trường học.</p> <p><strong>* Liên hệ bản thân</strong></p> <p>- Là một học sinh, chúng ta cần phải nhận thức được mức độ nghiêm trọng của nạn bạo lực học đường, cần phải làm gì đó để ngăn chặn bạo lực học đường. Tham gia các hoạt động tuyên truyền về phòng chống bạo lực học đường, sống chan hòa, yêu thương bạn bè, không bao giờ sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn.</p> <p><strong>III. KẾT BÀI</strong></p> <blockquote><p>Bạo lực học đường là một thực trạng đáng báo động, để lại nhiều hệ lụy cho học sinh, gia đình và toàn xã hội. Việc ngăn chặn và giảm thiểu tình trạng này không chỉ là trách nhiệm của nhà trường hay gia đình, mà cần sự chung tay của tất cả mọi người. Hãy bắt đầu bằng những hành động nhỏ nhất để tạo nên một môi trường học tập tích cực, an toàn và tôn trọng.“Hãy nói không với bạo lực học đường!” — đó không chỉ là khẩu hiệu, mà là lời nhắc nhở và lời kêu gọi mỗi chúng ta cùng hành động vì tương lai tốt đẹp của học sinh, của cộng đồng.</p></blockquote>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sun, 12 Jul 2026 12:59:30 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/van-nghi-luan-bao-luc-hoc-duong-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/van-nghi-luan-bao-luc-hoc-duong-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">NLXH bàn về vấn đề Chúng ta cần làm gì để đẩy lùi nạn bạo lực học đường</media:title>
                        <media:keywords>NLXH bàn về vấn đề Chúng ta cần làm gì để đẩy lùi nạn bạo lực học đường</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Nhà văn Nguyễn Tuân: Trăm năm vang bóng]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/cac-nha-phe-binh-noi-gi-ve-nguyen-tuan-a110828.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/cac-nha-phe-binh-noi-gi-ve-nguyen-tuan-a110828.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/cac-nha-phe-binh-noi-gi-ve-nguyen-tuan-a110828.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Sinh thời, trong các nhà văn Việt Nam , ông luôn là tâm điểm thu hút sự chú ý của mọi người. Ngày ông tạ thế, Báo Văn nghệ làm một số báo đặc biệt để tưởng nhớ ông và đến nay, khó có số báo nào tập hợp được nhiều bài viết hay về một tác giả như số báo dành cho Nguyễn Tuân. Những dịp kỷ niệm ngày sinh và ngày mất của ông, anh em trong văn giới đều không quên. Cũng trên tinh thần như vậy, trong bài viết này, tôi xin kể lại một số mẩu chuyện vui có tính giai thoại về nhà văn Nguyễn Tuân khi chúng ta đã bước sang năm 2010, chẵn 100 năm sinh nhà văn Nguyễn Tuân.</p> <p><strong>Với chú bé thích chen ngang</strong></p> <p>Sinh thời, nhà văn Nguyễn Tuân có thói quen đến uống bia ở quầy bia Cổ Tân. Bấy giờ bia còn là loại hiếm nên đôi khi nhà văn cũng phải xếp hàng như mọi người và bởi vậy mà ông được chứng kiến không ít cảnh chen ngang. Lần ấy, nhà văn già rất ngạc nhiên khi thấy một chú bé - tay xách một cái can to - ở đâu bỗng chạy đến, lách vào đứng ngay trước mặt ông. Nhà văn nắm lấy vai chú bé, hỏi ngay:</p> <p>- Này, cháu làm gì thế?</p> <p>Đứa bé ngước mắt nhìn ông già rồi trả lời hết sức thản nhiên:</p> <p>- Thưa bác, cháu xếp hàng mua bia cho bố cháu.</p> <p>- Thế thì - Nhà văn già cúi xuống đứa bé - Cháu hãy nhìn kỹ bác đây này: Bác già rồi. Đầu bác hói, tóc bác bạc, cằm bác có râu. Nhớ chưa?</p> <p>- Dạ thưa bác, cháu nhớ rồi - Lần này đứa bé trả lời có vẻ ngần ngại. Song nó vẫn băn khoăn - Nhưng thưa bác, nhớ thế để làm gì ạ? </p> <p>Nhà văn già điềm nhiên trả lời:</p> <p>- À, để rồi ngày mai nhỡ bác có đến sau thì nhớ cho bác chen ngang với nhé.</p> <p>Đứa bé im lặng, đỏ bừng mặt... Nó đã hiểu.</p> <p><strong>Với nhà phê bình cơ hội</strong></p> <p>Ai cũng biết Nguyễn Tuân vốn là người không ưa gì các nhà phê bình. Ông từng nói rằng, ông mong các nhà phê bình "bất tử", để khi xuống âm phủ ông không phải sống chung với họ. Bởi vậy mà một lần, một nhà phê bình (vốn nổi tiếng là một kẻ cơ hội, đục nước béo cò) lần tìm đến chơi với ông. Vừa thoáng thấy bóng nhà phê bình kia, Nguyễn Tuân đóng ngay cửa lại. Nhà phê bình đứng ngoài gõ, gọi: </p> <p>- Nguyễn Tuân ơi, Nguyễn Tuân có nhà không?</p> <p>Nguyễn Tuân đứng ở sau cánh cửa, nói vọng ra:</p> <p>- Nguyễn Tuân đi vắng rồi!</p> <p>Nhà phê bình muối mặt, đành quay trở về. </p> <p><strong>Với kẻ mạo danh mình</strong></p> <p>Trước Cách mạng, nhà văn Nguyễn Tuân từng gặp một sự cố không lấy gì làm dễ chịu: Tại Sài Gòn, một tay thuộc diện sống bừa phứa, bạt tử đã bất ngờ cho in danh thiếp bằng tiếng Pháp đề tên mình là "Nhà văn Nguyễn Tuân".</p> <p>Không chỉ mạo danh Nguyễn Tuân cho oai, gã này còn vay chằng vay bửa rồi xù nợ. Chuyện đến tai người em của Nguyễn Tuân là ông Nguyễn Khánh Đàm, bấy giờ đang sống ở Sài Gòn. Nhận thấy đây là vụ việc nghiêm trọng, ông Đàm đã lên tiếng với cơ quan pháp luật. Đánh hơi thấy điều bất lợi, tên "Nguyễn Tuân dỏm" vội chuồn khỏi Sài Gòn rút về Sóc Trăng. Tại đây, chứng nào tật nấy, y lại tiếp tục mạo xưng là "Nhà văn Nguyễn Tuân" và tằng tịu được với một cô giáo trẻ vốn rất mến mộ văn tài tác giả "Vang bóng một thời".</p> <p>Nhà văn Nguyễn Tuân chỉ thực sự biết chuyện này sau ngày giải phóng miền Nam , nhân chuyến ông vào thăm thành phố Hồ Chí Minh. Qua nguồn tin báo chí, bà giáo nọ lần tìm được địa chỉ bác Nguyễn, bèn gửi thư kể lại chuyện buồn ngày xưa cũ và mời bác Nguyễn xuống nhà chơi. Nguyễn Tuân nghe chuyện không khỏi buồn vơ vẩn. Nhưng rồi ông tìm cách xua cảm giác đó đi bằng một câu nói hài hước mà nhà văn Tô Hoài hiện còn nhớ rất rõ: "Chuyện ba, bốn mươi năm về trước, có thứ gì "tốt nhất" nó lấy mất rồi. Giờ hai ông bà già gặp nhau, còn "nước nôi" gì nữa…".</p> <p><strong>Với ứng viên Tổng thống Mỹ 2008</strong></p> <p>Nhiều người đã biết, Thượng nghị sĩ John McCain - ứng viên Tổng thống Mỹ 2008 - trong thời kỳ là phi công tham gia cuộc chiến tranh Việt Nam, đã bị ta bắn rơi ngày 25/10/1967 khi thực hiện phi vụ đánh bom Hà Nội. Sau này, trong một cuốn băng trả lời phỏng vấn, ông nói ông không rõ máy bay của mình "bị dính tên lửa hay đạn phòng không". Chỉ biết, khi nhảy dù, ông rơi xuống một hồ nước và được người dân vớt lên, đưa tới bệnh viện. Cũng trong cuộc phỏng vấn, McCain cho hay, ông được phía Việt Nam đối xử tốt. </p> <p>Về việc xử sự với John McCain, trong tư cách tù binh chiến tranh, ở bài bút ký "Đèn điện phố phường Hà Nội vui sáng hơn bất cứ lúc nào" (sau này được đưa vào tập bút ký "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi"), nhà văn Nguyễn Tuân đã phơi mở cho chúng ta thấy chính sách nhân đạo của Nhà nước Việt Nam trong việc đối xử với tù binh nói chung và với cá nhân Thiếu tá phi công John McCain nói riêng.</p> <p>Trong bài bút ký, Nguyễn Tuân gọi McCain theo cách ông phiên âm ra tiếng Việt là Mích Kên. Ông kể, khi McCain ngỏ ý "Xin ông một điếu thuốc lá", thì nhà văn lớn của Việt Nam trực tiếp cắm thuốc và bật diêm cho McCain hút. Theo mô tả của Nguyễn Tuân thì hành động của ông đã khiến viên phi công Mỹ phải nhiều lần nghển đầu cảm ơn.</p> <p>Cũng tại cuộc chất vấn này, Nguyễn Tuân đã có những trao đổi về văn học với viên phi công tù binh. Và khi McCain nói ông ta thích đọc tác phẩm của các nhà văn Mỹ John Steinbeck, Hemingway, và cho rằng Steinbeck sau này viết không hay vì "già rồi nên cỗi", ông ta đã được lão nhà văn Việt Nam chỉnh lại, rằng Steinbeck "lẫn mất phương hướng và sự thật lịch sử rồi", rằng đáng ra người ta phải thu hồi cái sắc bằng (của giải Nobel) đã trao cho ông này vì những trang viết ca ngợi sự giết chóc của quân xâm lược Mỹ.</p> <p>Nhân thể, Nguyễn Tuân đã nói cho McCain hay, việc ông ta còn sống sau lần máy bay bị bắn hạ không phải vì "Chúa Trời nào đã cứu sống anh đâu mà chính là vì những người dân Hà Nội chân chính đó đã hết sức tôn trọng phép nước đối với tù binh Mỹ bị bắt sống". Theo phân tích của Nguyễn Tuân, những người bơi ra vớt McCain ở hồ Trúc Bạch hôm ấy hoàn toàn có thể giết chết ông ta vì họ từng là nạn nhân của bom đạn Mỹ. Cuối buổi trò chuyện, McCain thổ lộ: "Có lẽ sau này tôi sẽ xin đi làm quản lý ở một công ty nào" và "tôi là một người đang thấy cần phải có hòa bình và mong chiến tranh kết thúc". Ra về, Nguyễn Tuân đã để cả chỗ thuốc lá còn lại cho McCain. </p> <p>Qua cuộc phỏng vấn nói trên, có thể thấy nhà văn Nguyễn Tuân đã thực hiện rất tốt việc mà ngày nay chúng ta gọi là "ngoại giao văn hóa". </p> <p><strong>Với các nhà biên tập</strong></p> <p>Trong đời sống văn chương, báo chí hiện thời, ngày càng xuất hiện nhiều trường hợp người viết quá dễ dãi với tác phẩm của mình. Bài viết vừa ráo mực, họ đã đem "chào hàng" tại các tòa báo mà không cần đọc lại bản thảo lấy một lần. Và khi in ra, họ cũng không cần biết nó đã bị (hoặc được) cắt xén, sửa chữa ra sao. Câu giao ước thường trực của họ với các biên tập viên là: "Khi in, tùy ban biên tập cắt gọt, sửa chữa thoải mái". Thật khác với trường hợp của nhà văn bậc thầy Nguyễn Tuân. Dường như việc phải sửa văn của cụ là một việc cực chẳng đã của các biên tập viên, đồng thời cũng là... nỗi lo thon thót của họ. Bởi, không khéo thì chỉ vì một vài chữ, cụ đòi bỏ cả bài, hoặc vì một bài, cụ xin rút lại cả tập sách, không cho xuất bản nữa. Mà các biên tập viên làm việc với cụ đâu phải là bậc thường, toàn những nhân vật gạo cội cả đấy. </p> <p>Nhà văn Kim Lân mặc dù từng là chỗ tâm giao của cụ Nguyễn (hai người từng cùng tham gia bộ phim "Chị Dậu" chuyển thể từ tiểu thuyết "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố), vậy mà một lần - do tình thế đưa đẩy- Kim Lân đã phải khéo léo thuyết phục cụ Nguyễn chỉnh sửa một đôi chữ trong bài viết của cụ. Thoạt đầu, cụ Nguyễn ưng thuận, nhưng sau khi sách in ra, không biết ngẫm nghĩ thế nào, cụ lại sa sả mắng Kim Lân ngay giữa trụ sở Hội Nhà văn, rằng Kim Lân "nếu có quyền có chức cũng không phải vừa đâu", rằng vừa rồi Kim Lân đã "cắt của mình mấy chữ, đểu quá..." (việc này nhà văn Kim Lân đã kể lại trong bài hồi ký "Nguyễn Tuân, anh là người sung sướng nhất"). </p> <p>Việc đặt tên cho cuốn "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi" của Nguyễn Tuân cũng không... đơn giản. Thoạt đầu, khi đưa duyệt bản thảo (sách do Hội Văn nghệ Hà Nội xuất bản), nhà văn Tô Hoài, Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội đề nghị cụ Nguyễn đổi tên tập sách. Theo ý Tô Hoài, chỉ cần để cái tên "Hà Nội đánh Mỹ" là đủ. </p> <p>Nguyễn Tuân bực bội: "Ông thấy nó dài dòng ở chỗ nào?". Tô Hoài giải thích: "Để là "Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi" cứ thấy y như mình đứng ở bề trên mà ban khen cho Hà Nội vậy".</p> <p>Nguyễn Tuân nổi xung: "Đấy! Ba cái anh duyệt bài là chúa hay suy diễn. Tôi không có đứng trên đứng dưới gì sất, chỉ có điều là tôi không chịu được cái gì chung chung. Tôi nói "Hà Nội ta" là "Hà Nội của chúng ta đây! Của ta đây!". Tôi tự hào về cái Hà Nội của ta, thế có được không? Thế còn đánh Mỹ thì phải nói "đánh Mỹ giỏi" chứ nói "đánh Mỹ" thì ai biết đánh Mỹ như thế nào? Một cái tên sách, nó là cái tên sách của tôi, sao ông cứ bắt phải giống mọi người? Nếu ông làm biên tập mà cứ muốn gọt tôi cho bằng tròn vo như vậy, không có cá tính, không có cái riêng của tôi thì thôi, để sách đó, tôi không in nữa".</p> <p><strong>Với người đi viếng mình</strong></p> <p>Là một người từng nhiều lần trong đời tiễn đưa bạn hữu về chốn an nghỉ cuối cùng, nhà văn Nguyễn Tuân thường để ý tới sự nắng nôi của con đường dẫn vào khu nghĩa trang. Đặc biệt, đường đến nghĩa trang Văn Điển trước đây còn không mấy có nhà cửa, bóng cây xanh, những người đi theo xe tang thường phải chịu những nỗi cực nhọc vất vả khi vào ngày hè oi nóng. Bởi vậy, trong một lần nói vui với bạn bè về việc sau này mình khuất núi, nhà văn Nguyễn Tuân ngỏ ý: Vì bình sinh hay uống bia, nên ông đề nghị, khi chết, thay vì việc mua vòng hoa, mọi người hãy tập trung số tiền đó để mua một téc bia chở đi trước xe đặt quan tài ông để phục vụ anh em trên đường tiễn ông xuống... Văn Điển</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sun, 12 Jul 2026 09:20:34 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Nhà văn Nguyễn Tuân: Trăm năm vang bóng</media:title>
                        <media:keywords>Nhà văn Nguyễn Tuân: Trăm năm vang bóng</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/ve-dep-hinh-tuong-nguoi-lai-do-song-da-a110827.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/ve-dep-hinh-tuong-nguoi-lai-do-song-da-a110827.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/ve-dep-hinh-tuong-nguoi-lai-do-song-da-a110827.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Nguyễn Tuân là nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Nhắc đến Nguyễn Tuân người ta nghĩ ngay tới một phong cách nghệ thuật độc đáo, tài hoa vào loại bậc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam. Suốt một đời cầm bút, Nguyễn Tuân luôn mãi miết đi tìm cái đẹp. Nếu trước cách mạng Nguyễn Tuân đi tìm những vẻ đẹp xưa còn sót lại trong những thú chơi tao nhã, đài các của một tầng lớp nhà nho thất thế thì sau cách mạng ông lại say sưa với những vẻ đẹp tươi mới của cảnh sắc thiên nhiên quê hương đất nước, vẻ đẹp của con người lao động mới. Tiêu biểu cho sự chuyển hướng trong quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Tuân giai đoạn sau cách mạng là tùy bút “Người lái đò sông Đà”. Đắm mình trong vẻ đẹp của dòng sông huyền thoại, Nguyễn Tuân không chỉ thấy sự quyến rũ, hấp dẫn của cảnh sắc thiên nhiên mà còn lắng nghe trong đó âm vang bài ca lao động của con người chinh phục thiên nhiên. Người lái đò sông Đà với vẻ đẹp tài hoa, trí dũng hơn đời chính là hiện thân cho những con người lao động mới, là nhân vật tiêu biểu cho quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Tuân giai đoạn sau cách mạng.</p> <p> Tùy bút “Người lái đò Sông Đà” được in trong tập tùy bút “Sông Đà” (1960). Đây là kết quả của chuyến thâm nhập thực tế ở Tây Bắc của nhà văn sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Tác được đánh giá là một công trình mĩ thuật bằng ngôn từ về Tây Bắc kì vĩ, thơ mộng đồng thời là tấm lòng của nhà văn lớn đối với đất nước, nhân dân ta. Trong tùy bút “Người lái đò Sông Đà”, Nguyễn Tuân tự cho mình là người “đi tìm cái thứ vàng của màu sắc sông núi Tây Bắc và nhất là cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày nay đang nhiệt tình gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc sáng sủa, tươi vui và bền vững”, người lái đò sông Đà với vẻ đẹp trí dũng, tài hoa nghệ sỹ độc hành đưa con đò mưu sinh chiến đấu với con sông Đà hung bạo chính là biểu hiện cụ thể cho “chất vàng mười” của con người Tây Bắc.</p> <p> Người lái đò được khắc họa trong tác phẩm là người Lai Châu, khoảng 70 tuổi. Ông đã từng xuôi ngược Sông Đà không dưới 100 lần, trong đó có tới 60 lần giữ lái chính. Con số đó cho thấy ông lái đò là người tài giỏi, lão luyện trong nghề chèo thuyền vượt thác Sông Đà. Người lái đò là một nhân vật không tên, chỉ được gọi bằng nghề nghệp của mình. Bằng cách ấy, nhà văn muốn khắc họa tính chất đại diện của ông lái đò. Ông lái đò là hiện thân của những con người lao động bình dị và vô danh trong muôn triệu người khác. Ông cũng giống như những chị lao công, cô dân quân, anh bộ đội... là những người bình thường mà vĩ đại nhất trong mỗi trang văn của Nguyễn Tuân sau cách mạng. Ở cái tuổi 70, nhưng ông lái đò lại có một vẻ ngoài đầy phong sương, cơ thể in hằn mùi sông nước “tay lêu nghêu như cái sào, chân khuỳnh ra như kẹp lấy một cái bánh lái tưởng tượng nào đó, giọng nói ào ào như thác lũ Sông Đà, nhãn giới vòi vọi như nhìn về một bến xa nào đó”. Tuổi đã cao nhưng cặp mắt ông đò vẫn tinh anh, thông thạo từng đường đi nước bước trên Sông Đà. Đặc điểm ngoại hình và tố chất ấy được tạo nên bởi nét đặc thù của môi trường lao động trên sông nước, nó toát lên cái thần thái của một người đã gắn bó với sông nước nhiều năm. Những đường nét ngoại hình của ông đò đủ để minh chứng cho ta hiểu rằng: không cần một chàng trai lực lưỡng trẻ khỏe nào mà chính ông lái đò Lai Châu với 70 tuổi đời và 10 năm kinh nghiệm chiến đấu sẽ khuất phục được con Sông Đà bất kham kia.</p> <p> Trong tác phẩm, người lái đò hiện lên với vẻ đẹp trí dũng song toàn. Để làm nổi bật phẩm chất anh hùng, dũng cảm của người lái đò, bằng trí tưởng tượng phong phú của mình, Nguyễn Tuân đã dựng lên một cuộc thủy chiến khốc liệt mà ở đó sông Đà hiện ra bộ mặt ác hiểm tột cùng và người lái đò cũng phô bày những phẩm chất hiếm có. Để làm nổi bật tính chất khốc liệt của trận chiến trên thác đá sông Đà, Nguyễn Tuân đã cho thấy tương quan lực lượng giữa 2 bên tham chiến. Một bên là sông Đà với sự hung hãn tột cùng từ những quãng bờ sông với vách đá cao ngất chẹt lòng sông Đà lại như một cái yết hầu, những cái hút nước ghê người sẵn sàng lôi tuột bất cứ con thuyền nào dìm xuống đánh cho tan xác đến thế trận dàn sẵn hàng ngàn năm nay bởi binh pháp của thần sông, thần đá với đội quân đá ô hợp, hiếu chiến và những dòng thác muốn “lật bung”, “ăn chết” những con thuyền... Trái ngược với sự hung bạo, ác hiểm của con sông Đà, người lái đò chỉ có một chiếc thuyền đuôi én thon nhỏ và mái chèo mỏng mảnh mà sóng thác sông Đà có thể ùa vào bẻ gãy bất cứ lúc nào. Nhưng bù lại sự thô sơ của vũ khí ông lái đò có một trí tuệ thông minh và trái tim dũng cảm không biết sợ. Trong cuộc chiến không cân sức ấy con người đã chiến thắng nhờ sự gan dạ, dũng cảm, ngoan cường.</p> <p>Ở trùng vi thứ nhất, dòng sông mở ra 5 cửa, 4 cửa tử, 1 cửa sinh. Cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn. Những tên đá đám tảng đám hòn dữ tợn, nham hiểm được chia ra 3 hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền. Phối hợp với thế trận đá “Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả thuyền lên”. Chúng thi nhau đánh ông lái đò những đòn tỉa, đòn âm, đòn “vô sở bất chí” làm ông lái đò nhiều khi mặt “méo bệch” ra vì đau đớn. Song người lái đò vẫn không hề nao núng, ông vẫn bình tĩnh, đầy mưu trí như một vị chỉ huy, lái con thuyền vượt qua ghềnh thác. Ông lái đò “hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình”. Ngay cả khi bị thương, người lái đò vẫn “cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái”. Bước sang trùng vi thứ 2, sóng thác tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền và cửa sinh lại bố trí lệch qua bờ hữu ngạn. Nhưng ông lái đò đã nắm rất vững âm mưu của kẻ thù. Mỗi động tác của ông đều tỏ ra dứt khoát, mạnh mẽ, chính xác tuyệt vời. Để diễn tả điều này Nguyễn Tuân đã huy động một vốn từ ngữ phong phú và bố trí chúng vào những vị trí không thể thay thế được. Ông lái đò “nắm chặt lấy bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc vào luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, lái miết một đường chèo về phía của đá ấy”... Hàng loạt động từ được huy động như một đội quân ngôn ngữ hùng hậu hò reo theo từng động tác của ông lái đò. Tư thế dũng mãnh của ông lái đò được Nguyễn Tuân diễn tả trong một hình ảnh so sánh đắc địa “Cưỡi lên thác Sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”. Bọn tướng đá, đứa thì “ông tránh mà rải bơi chèo lên”, đứa thì bị “ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”. Một trùng vi với bao cửa tử, cửa sinh mà chỉ một vài ngón đòn ông lái đò đã đánh sập vòng vây của lũ đá đồng thời làm cho bọn đá phải thua cuộc với bộ mặt “tiu nghỉu, xanh lè thất vọng”. Đến vòng thứ bà, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả, luồng sống ở chặng này lại nằm ngay giữa bọn đá hậu vệ. Mặc dù phải đối mặt với khó khăn nhưng bằng sự trí dũng cao cường, người lái đò đã chủ động “tấn công”. Ông chẳng khác gì một kị sĩ dũng cảm đang thuần phục một con ngựa bất kham. Ông đã biến chiếc thuyền sáu bơi chèo thành một mũi tên “phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó”. Con thuyền “như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được”. Sự thần tốc trong cách đánh đã giúp người lái đò vượt qua trùng vi cuối cùng đầy phi thường. Có thể nói trong cuộc chiến với SĐ, người lái đò đã bộc lộ những phẩm chất tuyệt vời của một vị tướng lão luyện, một chiến binh quả cảm.</p> <p>Ông lái đò là người tinh thạo, từng trải, giàu kinh nghiệm, hiểu biết sâu sắc về từng luồng lạch, ngõ ngách trên Sông Đà. Đã 70 tuổi, cái tuổi đầu bạc chân rung nhưng ông lại một trí nhớ siêu phàm. Ông lái đò thông thuộc thế trận sông Đà như lòng bàn tay của mình, đóng đinh vào đầu tất cả luồng nước đúng của 73 con thác hiểm trở: “Sông Đà, đối với ông lái đò ấy như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những cái chấm than, chấm câu và cả những đoạn xuống dòng”. Ông lái đò vừa thuộc quy luật của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này, vừa nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Vì thế, vào trận mạc, ông thật khôn khéo, bình tĩnh như vị chỉ huy cầm quân tài ba. Mọi giác quan của ông lão đều hoạt động trong sự phối hợp nhịp nhàng, chính xác.</p> <p> Phẩm chất nổi bật nhất, độc đáo nhất ở người lái đò sông Đà là phong thái của một nghệ sĩ tài hoa với phong thái ung dung bình dị. Trong tác phẩm, Nguyễn Tuân đã xây dựng một hình tượng người lái đò nghệ sĩ mà nhà văn trân trọng gọi là tay lái ra hoa. Phẩm chất tài hoa nghệ sỹ của ông lái đò trước hết được thể hiện ở niềm đam mê, thích thú với nghề chèo thuyền vượt thác của ông. Tất cả những gì ác hiểm nhất của con sông Đà bày ra hàng ngàn năm nay ông lái đò chỉ xem đó là sự kích thích trí mạo hiểm. Với ông phải chạy thuyền trên những khúc sông không có thác, ông cảm thấy “dại chân, dại tay và buồn ngủ”, và khi xuôi hết thác ghềnh thì ông cũng thấy hết cả mặn mà với con sông. Bởi vậy thật có lý khi có người đã ví ông lái đò là “tình nhân” của thiếu phụ sông Đà, một người tình nhân rất đỗi thủy chug ngay cả khi người thiếu phụ ấy nổi cơn thịnh nộ. Để chiến thắng con sông Đà hung hãn, bạo ngược bên cạnh phẩm chất anh hùng dũng cảm, sự dạn dày kinh nghiệm, ông lái đò còn sở hữu một bàn tay khéo léo, tài hoa để có thể chèo lái con thuyền vượt qua bao nhiêu trùng vi thạch trận. Những đường chèo của ông khi vượt qua bao cửa tử, cửa sinh trên sông Đà không những chính xác mà còn vô cùng điêu luyện, thuần thục, đẹp mắt. Có thể nói rằng trong cuộc thủy chiến trên sông Đà, ông lái đò với tay lái “ra hoa” đã chơi một vũ điệu ba lê trên sóng nước, ông đã điều khiển con đò một cách điệu nghệ, vượt qua tất cả các cửa tử để về đích một cách an toàn, ngoạn mục.</p> <p>Không chỉ là người tài trí mà ông lái đò còn có phong thái ung dung pha chất nghệ sỹ. Xong trận, trở về với cuộc sống đời thường ông đò lúc nào cũng ung dung, thanh thản như chưa từng vượt thác: Sóng thác xèo xèo tan ra trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang ca mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi cá túa ra đầy tràn ruộng. Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi. Như những nghệ sĩ chân chính, sau khi vắt kiệt sức mình để thai nghén nên tác phẩm không mấy ai tự tán dương về công sức của mình. Người lái đò vừa làm xong một công việc phi thường, vĩ đại nhưng ông không bao giờ xem đó là việc phi thường, vĩ đại. Đấy chính là vẻ đẹp cao quý, giản dị, là cái tâm trong sáng của người bình dân ngày đêm lặng lẽ công hiến, xây dựng quê hương đất nước. Nhà văn Nguyễn Tuân đưa ra một lời nhận xét : “Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy sự sống từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp, đáng nhớ… Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo”.</p> <p>Để xây dựng thành công hình tượng người lái đò, Nguyễn Tuân chú ý sáng tạo nên tình huống thử thách để nhân vật bộc lộ phẩm chất của mình. Càng nhấn mạnh sự hung bạo dữ dội của Sông Đà, tác giả cảng khắc họa được sự từng trải, mưu mẹo, dũng cảm, tài hoa của ông lái đò. Bên cạnh đó, tác giả còn tung ra một kho ngôn từ miêu tả đầy cá tính, giàu chất tạo hình, lối nhân hóa, so sánh độc đáo, mới lạ, bất ngờ mà vô cùng chính xác, vốn tri thức phong phú về nhiều mặt: lịch sử, địa lý, quân sự, võ thuật, điện ảnh, điêu khắc, hội họa...</p> <p>Trong “Người lái đò Sông Đà” Nguyễn Tuân đã cực tả những cuộc vượt thác thường ngày của người dân Tây Bắc như những trận đánh biến ảo, đầy sức hấp dẫn. Trên cái nền hoành tráng ấy, người lái đò hiện ra với vẻ đẹp kì vĩ, phi thường. Với chiến công kì diệu của mình họ xứng đáng được tôn vinh như những người anh hùng. Ông lái đò là một hình tượng đẹp về người lao động mới. Qua hình tượng này, Nguyễn Tuân muốn phát biểu quan niệm của mình: Anh hùng không chỉ có trong chiến đấu mà còn có cả trong cuộc sống lao động đời thường.</p> <p> Nhà văn Nga Leptonxtôi đã từng nói: “Một tác phẩm chân chính là kết quả của tình yêu”. Chính tình yêu cuộc sống, tình yêu con người đã thôi thúc người nghệ sỹ đi tìm “chất vàng mười” cho văn chương của họ. Xuyên suốt chặng hành trình cùng với người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân đã thể hiện tình yêu da diết của mình với thiên nhiên quê hương đất nước và đặc biệt là tình yêu những người lao động mới. Họ chính là những con người bình thường mà vĩ đại trên mỗi trang văn của Nguyễn Tuân sau cách mạng.</p> <p><strong> </strong></p> <p><strong>TÀI LIỆU THAM KHẢO</strong></p> <p>1. Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu…- Nguyễn Tuân in trong Văn học Việt Nam (1900- 1945)- NXB Giáo dục, 2000.</p> <p>2. Nguyễn Đăng Mạnh- Nguyễn Tuân- in trong Văn học Việt Nam 1945- 1975- tập 2- NXB Giáo dục, H.1990</p> <p>3. Sách giáo khoa Ngữ văn 12 nâng cao, tập 1- NXB Giáo dục, 2008</p> <p>4. Nguyễn Tuân, Tác giả trong nhà trường- NXB Văn học, 2007</p> <p>5. Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập1 &amp; 2, NXB Văn học, 2008</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sun, 12 Jul 2026 09:01:29 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                                    <media:keywords></media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Hình tượng Rồng trong mỹ học phương Đông]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/li-luan-van-hoc-ve-hinh-tuong-nghe-thuat-a110825.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/li-luan-van-hoc-ve-hinh-tuong-nghe-thuat-a110825.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/li-luan-van-hoc-ve-hinh-tuong-nghe-thuat-a110825.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/li-luan-van-hoc-ve-hinh-tuong-nghe-thuat-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<strong></strong><p><strong>Sáng 11/3, Bảo tàng Hà Nội phối hợp với Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật tổ chức tọa đàm “Hình tượng Rồng trong mỹ học phương Đông” nhằm làm rõ hơn các hình tượng rồng và ảnh hưởng của rồng trong đời sống văn hóa Việt.</strong></p><strong> </strong><p>Tọa đàm “Hình tượng Rồng trong mỹ học phương Đông” nằm trong khuôn khổ trưng bày chuyên đề “Năm Thìn kể chuyện rồng”, giới thiệu hơn 100 tài liệu, hiện vật nhằm làm rõ biểu tượng rồng trong kiến trúc tại các công trình tôn giáo tín ngưỡng qua bộ sưu tập của Bảo tàng Hà Nội và ứng dụng rồng trong đời sống - mỹ thuật đương đại được thể hiện qua các sản phẩm làng nghề, sản phẩm thủ công đặc sắc.</p> <figure><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/li-luan-van-hoc-ve-hinh-tuong-nghe-thuat-1.jpg" alt="" /><figcaption>Đầu rồng (trang trí đầu nóc mái tại chùa Báo Ân, thế kỷ 11-12) nằm trong trưng bày chuyên đề “Năm Thìn kể chuyện rồng”</figcaption></figure> <p>Tham gia tọa đàm là các diễn giả TS. Trần Hậu Yên Thế - Giảng viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội; TS. Ngô Viết Hoàn - Giảng viên Bộ môn Lí luận văn học, Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; PGS.TS Lê Thời Tân - Giảng viên cao cấp Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội.</p> <figure><img src="https://sovhtt.hanoi.gov.vn/wp-content/uploads/2024/03/img-2618.jpg" alt="" /><figcaption>Toàn cảnh buổi tọa đàm</figcaption></figure> <p>Theo các diễn giả, rồng là một biểu tượng văn hóa, là sản phẩm tinh thần hình thành trong quá trình con người nhận thức về thế giới tự nhiên - xã hội. Ở phương Đông, trong lịch sử phát triển của các dân tộc, hình tượng Rồng được gắn với các ý nghĩa phù hợp với tính chất thời đại như: biểu tượng của nguồn gốc dân tộc, vương quyền, sức mạnh siêu nhiên, sự may mắn, thịnh vượng.</p> <p>Trong tâm thức của người Việt, Rồng còn là cội nguồn của dân tộc với truyền thuyết “con Rồng, cháu Tiên”. Trong tư duy nông nghiệp, rồng là thần mưa giúp cho mùa màng bội thu. Rồng là một biểu tượng vô cùng thiêng liêng. Chίnh vì vậy, hὶnh tượng Rồng được sử dụng nhiều trong kiến trúc cung đὶnh, đὶnh chùa, trang phục vua chúa và ở các triều đại cũng cό những khác biệt.</p> <figure><img src="https://sovhtt.hanoi.gov.vn/wp-content/uploads/2024/03/img-2627.jpg" alt="" /><figcaption>TS. Trần Hậu Yên Thế giới thiệu về hình tượng rồng trong tương quan so sánh nghệ thuật Đông - Tây.</figcaption></figure> <p>Tại buổi tọa đàm, TS. Trần Hậu Yên Thế đã giới thiệu về hình tượng rồng trong tương quan so sánh nghệ thuật Đông - Tây. Tiến sĩ Trần Hậu Yên Thế cũng đưa ra quan điểm của mình về sự sáng tạo từ những linh vật, trong đó có linh vật rồng. Tiến sĩ đã đưa ra dẫn chứng từ Nhật Bản, “trong truyền thống, người Nhật ít có những linh vật ngộ nghĩnh, đáng yêu, thì trong công nghiệp sáng tạo hôm nay, họ lại tạo ra rất nhiều những linh vật dễ mến. Đó là những linh vật được thiết kế dễ thương của các địa phương, tổ chức, công ty hay của một sự kiện văn hóa nào đó. Và đây là một ngành kinh doanh nổi tiếng”.</p> <p>Tại buổi toạ đàm, các diễn giả làm rõ hơn hình tượng rồng và ảnh hưởng của rồng trong đời sống văn hóa Việt. Đồng thời giới thiệu hình tượng rồng Việt qua các câu chuyện, qua các mảng trang trí kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, họa tiết hoa văn, đồ dùng sinh hoạt.</p> <p><strong>Hòa An</strong></p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sun, 12 Jul 2026 08:35:49 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/li-luan-van-hoc-ve-hinh-tuong-nghe-thuat-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/li-luan-van-hoc-ve-hinh-tuong-nghe-thuat-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Hình tượng Rồng trong mỹ học phương Đông</media:title>
                        <media:keywords>Hình tượng Rồng trong mỹ học phương Đông</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Soạn bài Đi lấy mật ngắn nhất Văn 7 tập 1 Kết nối tri thức]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/soan-van-bai-di-lay-mat-a110821.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/soan-van-bai-di-lay-mat-a110821.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/soan-van-bai-di-lay-mat-a110821.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>Trước khi đọc</strong></p> <p><strong>(trang 18 SGK Ngữ văn 7, tập 1)</strong></p> <p>Hãy kể tên một số miền quê của Việt Nam mà em từng đến thăm hoặc biết tới qua tác phẩm nghệ thuật (tranh ảnh, phim, thơ văn…). Nơi nào đã để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất?</p> <p> <strong>Lời giải chi tiết:</strong> </p> <p>Một số miền quê ở Việt Nam: đảo Cô Tô, phố Kì Lừa, Lào Cai, An Giang, Cà Mau,…</p> <p><strong>Đọc văn bản</strong></p> <p><strong>Câu 1 (trang 20, SGK Ngữ văn 7, tập 1)</strong></p> <p>Cò giảng giải cho An những gì?</p> <p><strong>Lời giải chi tiết:</strong></p> <p>Cò giảng giải cho An cách để nhìn thấy ong mật</p> <p><strong>Câu 2 (trang 22, SGK Ngữ văn 7, tập 1)</strong></p> <p>Tóm tắt nội dung câu chuyện của má nuôi An. </p> <p><strong>Lời giải chi tiết:</strong> </p> <p>Má nuôi An có dặn dò và chỉ An cách nhận biết được bầy ong, lấy mật bằng cách quan sát nhành cây, hướng gió, tính trước đường bay của ong mật,…</p> <p><strong>Câu 3 (trang 23, SGK Ngữ văn 7, tập 1)</strong></p> <p>So sánh sự khác biệt trong cách “thuần hóa” ong rừng của người dân vùng U Minh. </p> <p><strong>Lời giải chi tiết:</strong> </p> <p>Người dân vùng U Minh “thuần hóa” ong rừng bằng tổ ong hình dáng nhánh kèo.</p> <p><strong>Sau khi đọc</strong></p> <p><strong>Câu 1 (trang 24, SGK Ngữ văn 7, tập 1)</strong></p> <p>Đoạn trích có mấy nhân vật? Em hãy chỉ ra mối quan hệ của các nhân vật đó.</p> <p><strong>Lời giải chi tiết:</strong> </p> <p>- Nhân vật: An, Cò, tía nuôi và má nuôi</p> <p>- Mối quan hệ: An là con nuôi của vợ chồng ông lão bán rắn, anh em với thằng Cò</p> <p><strong>Câu 2 (trang 24, SGK Ngữ văn 7, tập 1)</strong></p> <p>Nêu cảm nhận về nhân vật tía nuôi của An. Cảm nhận của em dựa trên những chi tiết tiêu biểu nào? </p> <p><strong>Dàn ý tham khảo 1:</strong></p> <p>- Là một người đàn ông từng trải và rất quan tâm đến những đứa con. </p> <p>- Sự chuẩn bị kĩ lưỡng: mang theo những vật dụng cần thiết như túi, cái gù, chà gạc </p> <p>- Một người từng trải và nhiều kinh nghiệm đi rừng </p> <p>- Là người cha quan tâm và yêu thương con. </p> <p><strong>Dàn ý tham khảo 2:</strong></p> <p>- Tía nuôi của An là một chăm chỉ làm lụng, tràn đầy kinh nghiệm</p> <p>- Hành động rất dứt khoát và mạnh mẽ khi đang đi làm, phục vụ công việc của mình</p> <p>- Là một người đầy tình cảm</p> <p><strong>Câu 3 (trang 24, SGK Ngữ văn 7, tập 1)</strong></p> <p>Cảnh sắc thiên nhiên rừng U Minh được nhà văn tái hiện qua cái nhìn của ai? Em hãy nhận xét khả năng quan sát và cảm nhận về thiên nhiên của nhân vật ấy. </p> <p><strong>Lời giải chi tiết:</strong> </p> <p>Cảnh sắc thiên nhiên rừng U Minh được nhà văn tái hiện qua cái nhìn của cậu bé An =&gt; khả năng quan sát và cảm nhận thật tinh tế, sâu sắc về thiên nhiên của nhân vật An</p> <p><strong>Câu 4 (trang 24, SGK Ngữ văn 7, tập 1)</strong></p> <p>Theo em, nhân vật Cò là một cậu bé sinh ra và lớn lên ở đâu? Điều gì khiến em khẳng định như vậy? </p> <p><strong>Lời giải chi tiết:</strong> </p> <p>Nhân vật Cò là một cậu bé sinh ra và lớn lên ở trong rừng, chi tiết “Cặp chân của nó như bộ giò nai, lội suốt ngày trong rừng…” đã cho thấy điều đó</p> <p><strong>Câu 5 (trang 24, SGK Ngữ văn 7, tập 1)</strong></p> <p>Nhân vật An đã được nhà văn miêu tả qua những chi tiết nào (ngoại hình, lời nói, hành động, suy nghĩ, cảm xúc, mối quan hệ với các nhân vật khác…)? Em hãy dựa vào một số chi tiết tiêu biểu để khái quát đặc điểm tính cách của nhân vật An.</p> <p><strong>Lời giải chi tiết:</strong> </p> <p>Nhân vật An được nhà văn miêu tả qua những chi tiết:</p> <p>- Hành động: chen vào giữa, quảy tòn ten một cái gùi bé mà má nuôi tôi đã bơi xuồng đi mượn; Đảo mắt khắp nơi để tìm bầy ong mật; Reo lên khi nhìn thấy bầy chim đẹp; Ngước nhìn tổ ong như cái thúng. </p> <p>- Suy nghĩ: Về những lời má nuôi đã dạy mà không có trong sách giáo khoa; Về thằng Cò; Lặng im vì nghĩ rằng nếu hỏi gì thì bị khinh vì cái gì cũng không biết; Nghĩ lại những lời má kể </p> <p>- Trạng thái, cảm xúc: Mệt mỏi sau một quãng đường đi; Vui vẻ reo lên và đúc kết ra những điều quý giá để có thể nhìn thấy được bầy ong mật. </p> <p>- Có những quan sát và miêu tả rất tinh tế về khu rừng U Minh. </p> <p>- Có mối quan hệ rất tốt với má nuôi và tía nuôi</p> <p>=&gt; Là một cậu bé nghịch ngợm nhưng lại ham học hỏi và khám phá, có những suy nghĩ, quan sát và rút ra được những bài học kinh nghiệm sâu sắc.</p> <p><strong>Câu 6 (trang 24, SGK Ngữ văn 7, tập 1)</strong></p> <p>Đọc đoạn trích, em có ấn tượng như thế nào về con người và rừng phương Nam?</p> <p><strong>Lời giải chi tiết:</strong></p> <p>- Con người và rừng phương Nam thật đẹp và đặc biệt:</p> <p>+ Con người nơi đây có vốn sống phong phú với những nét sắc sảo, tự do và từng trải.</p> <p>+ Thiên nhiên đất rừng nơi đây quả thật rất hùng vĩ, đó vừa là sự hoang sơ của các cây già, đó là sự nên thơ của sinh vật trong rừng,….</p> <p><strong>Viết kết nối với đọc</strong></p> <p><strong>(trang 24, SGK Ngữ văn 7, tập 1)</strong></p> <p>Viết đoạn văn (khoảng 5-7 câu) trình bày cảm nhận của em về một chi tiết thú vị trong đoạn trích Đi lấy mật.</p> <p><strong>Lời giải chi tiết:</strong> </p> <p>Trong đoạn trích “Đi lấy mật”, chi tiết người dân vùng U Minh “thuần hóa” ong rừng là một chi tiết thú vị. Trong khi các nơi khác nuôi ong bằng những chiếc tổ nhân tạo bằng những vật liệu khác nhau như tổ bằng đồng hình chiếc vại, tổ bằng đất nung, tổ bằng sành… thì người dân vùng U Minh nuôi ong kiểu tổ hình nhánh kèo. Vì biết tập tính của loài ong rừng, họ biết rằng không phải ngẫu nhiên mà ong đóng trên một cành cây nào đó nên họ đã định sẵn cho chúng một nơi để đóng tổ. Qúa trình dựng tổ cho ong cũng rất tỉ mỉ vì chúng không đóng chỗ rợp, ong chúa thì kị, không bao giờ đóng tổ ở những nơi còn mùi sắt của con dao chặt kèo. Sự độc đáo, mới lạ trong cách nuôi ong rừng đã khiến nơi đây trở nên khác biệt, không nơi nào xứ nào giống như vậy. </p> <p><strong>Sachbaitap.com</strong></p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sun, 12 Jul 2026 08:09:26 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Soạn bài Đi lấy mật ngắn nhất Văn 7 tập 1 Kết nối tri thức</media:title>
                        <media:keywords>Soạn bài Đi lấy mật ngắn nhất Văn 7 tập 1 Kết nối tri thức</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Thiết Bị Thông Minh Phân Tích Chỉ Số Cơ Thể TAPUHO TBS180]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phan-tich-a110816.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phan-tich-a110816.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phan-tich-a110816.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<h2>Đặc điểm kỹ thuật</h2><p><strong>THIẾT BỊ PHÂN TÍCH CHỈ SỐ CƠ THỂ LÀ GÌ ?</strong></p><p>Máy phân tích chỉ số cơ thể là một thiết bị sử dụng các công nghệ khác nhau để thu nhập dữ liệu về hình dạng và kích thước của cơ thể người. Dữ liệu này sau đó được sử dụng để tính toán và phân tích các chỉ số cơ thể, chẳng hạn như: Chiều cao, cân nặng, chỉ số khối cơ thể (BMI) Các số đo từng khu vực trên cơ thể và cuối cùng đưa ra cho bạn được lời khuyên tổng thể khi biết được hết các chỉ số cần lưu ý và điều chỉnh.</p><p><strong>LỢI ÍCH CỦA VIỆC SỬ DỤNG THIẾT BỊ PHÂN TÍCH CHỈ SỐ CƠ THỂ</strong></p><p>Thiết bị phân tích chỉ số cơ thể hay còn gọi là đo Inbody, giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh về mỡ và tim mạch bằng cách phân tích các chỉ số mỡ, cơ và nước khi đo Inbody, bạn sẽ biết được phần trăm mỡ hiện tại và đưa ra cách kiểm soát cơ thể hiệu quả. Kiểm soát được lượng mỡ trong cơ thể giúp bạn giảm các nguy cơ mắc các căn bệnh nguy hiểm về tim mạch hay mỡ trong máu...</p><p><strong>THIẾT BỊ THÔNG MINH PHÂN TÍCH CHỈ SỐ CƠ THỂ TAPUHO TBS180</strong></p><p>Thiết bị thông minh phân tích chỉ số cơ thể TAPUHO TBS180 hoạt động dựa trên <strong>công nghệ 8 điện cực chuyên dụng (6 kênh đo lường), chuyển hoá các dữ liệu chỉ số cơ thể tới điện thoại di động qua Bluetooth</strong> để đo lường và phân tích toàn diện về thành phần cơ thể của bạn. Sản phẩm này có thể phân tích được các chỉ số cơ thể như:</p><ul><li>Cân nặng</li><li>Chỉ số BMI</li><li>Mỡ cơ thể (%)</li><li>Nước trong cơ thể (%)</li><li>Cơ xương (%)</li><li>Xương (%)</li><li>Muối vô cơ</li><li>Protein (%)</li><li>Cơ (%)</li><li>Chỉ số mỡ nội tạng</li><li>Mỡ dưới da</li><li>Khối lượng cơ nạc</li><li>Tạng người</li><li>BMR</li><li>Các chỉ số khác</li><li>Phân tích mỡ từng phần</li><li>Phân tích cơ từng phần</li><li>Đưa lời khuyên cho người sử dụng sản phẩm</li><li>Tải trọng tối đa lên đến 180kg</li><li>Thiết kế gọn gàng, tinh tế phù hợp không gian nhà bạn</li><li>Kết quả chính xác</li><li>Theo dõi chỉ số cơ thể thông minh</li><li>Phân tích chi tiết từng chỉ số</li><li>Đưa ra lời khuyên</li><li>Giúp việc theo dõi sức khoẻ có cuộc sống lành mạnh</li></ul><p><strong>BỘ SẢN PHẨM BAO GỒM:</strong></p><ul><li>1 thân máy</li><li>1 tay cầm</li><li>Pin AAA</li><li>1 Sách hướng dẫn sử dụng</li><li>1 Hướng dẫn kích hoạt bảo hành điện tử</li></ul><p><strong>Ý NGHĨA CỦA TỪNG CHỈ SỐ</strong></p><ul><li><strong>Cân nặng</strong></li></ul><p>Là một chỉ số cơ bản nhưng khối lượng cơ thể góp phần quan trọng trong quá trình phân tích cơ thể. Chỉ số này cho bạn biết tổng trọng lượng của cơ thể, bao gồm cả mỡ, cơ và xương.</p><ul><li><strong>Chỉ số BMI (chỉ số khối lượng cơ thể):</strong></li></ul><p><strong>Là tỷ lệ chuẩn hóa giữa trọng lượng so với chiều cao</strong>, được sử dụng như một chỉ số chung về hình thể. BMI được tính bằng cách chia chiều cao của bạn (đơn vị kg) cho bình phương chiều cao (đơn vị mét).</p><p>Chỉ số BMI là một chỉ số tốt cho nghiên cứu tổng quát dân số nhưng lại tồn tại những hạn chế nghiêm trọng khi đánh giá sức khỏe cá nhân. Vì vậy việc sử dụng các chỉ số chuyên sâu là rất cần thiết để đánh giá đúng sức khỏe sức khỏe thể chất.</p><ul><li><strong>Khối lượng mỡ cơ thể %:</strong></li></ul><p>Đo lường số lượng mỡ trong cơ thể, giúp bạn quản lý tình trạng mỡ thừa.</p><p><strong>Phần trăm mỡ cơ thể (Body Fat Percentage)</strong> - % là chỉ số thể hiện phần trăm khối lượng mỡ so với khối tượng toàn bộ cơ thể.Quá nhiều mỡ sẽ ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của bạn. Lượng mỡ thừa trong cơ thể làm gia tăng các triệu chứng nguy hiểm như bệnh tim mạch, huyết áp cao, chứng tiểu đường và một số loại ung thư.</p><p>Nhưng ngược lại, mỡ đóng vai trò quan trọng với cơ thể hơn bạn nghĩ, là yếu tố quan trọng cho các chức năng cơ bản của cơ thể. Đồng thời điều tiết nhiệt độ cơ thể, lưu trữ vitamin và là thành phần đệm tại các khớp. Mọi người cần một lượng mỡ phù hợp để cơ thể khỏe mạnh.</p><ul><li><strong>Nước trong cơ thể %</strong></li></ul><p>Là chỉ số thể hiện phần trăm tổng lượng chất lỏng so với khối lượng cơ thể.Nước đóng vai trò quan trọng trong rất nhiều hoạt động, có mặt ở trong tất cả các tế bào, mô và cơ quan nội tạng. Giúp ổn định nồng độ các chất trong cơ thể, phong độ thi đấu thể thao và làm đẹp da. Đảm bảo tỷ lệ lượng nước trong cơ thể ở mức hợp lý sẽ giúp cơ thể hoạt động hiệu quả và giảm thiểu nguy cơ dẫn tới các vấn đề sức khỏe.</p><p>Tổng lượng nước cần duy trì cho một cơ thể khỏe mạnh được các chuyên gia chỉ ra: Nữ giới: 45% - 60% Nam giới: 50% - 65%</p><ul><li><strong>Cơ xương %</strong></li></ul><p>Khối lượng cơ bao gồm khối lượng các cơ xương, cơ trơn như cơ tim, cơ hệ tiêu hóa và nước chứa trong các tế bào cơ.Cơ bắp đóng vai trò quan trọng trong cơ thể người, như cỗ máy hoạt động chính, tiêu tốn phần lớn năng lượng của bạn trong ngày.</p><p>Khi bạn luyện lập thể chất, khối lượng cơ bắp sẽ tăng lên, kéo theo mức tiêu tốn năng lượng gia tăng theo. Tăng cường lượng cơ trong cơ thể sẽ khiến tỷ lệ trao đổi chất cơ bản BMR tăng lên, giúp giảm lượng mỡ thừa trong cơ thể và giảm cân một cách lành mạnh.</p><p>Lượng cơ được đánh giá bằng chỉ số khối lượng cơ và chiều cao cơ thể như sau (điểm số càng cao, mật độ cơ càng tốt).</p><ul><li><strong>Xương %</strong></li></ul><p><strong>Chỉ số thể hiện khối lượng xương trong cơ thể (xương khoáng, Canxi và các khoáng chất khác).</strong></p><p>Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng luyện tập và phát triển cơ bắp giúp hệ xương chắc khỏe hơn. Lượng xương có quan hệ tỷ lệ thuận với lượng cơ của cơ thể. Thực tế, cấu trúc xương gần như không thay đổi nhiều trong khoảng thời gian ngắn, chúng ta cần phát triển và duy trì hệ xương chắc khỏe bằng chế độ ăn uống lành mạnh và tập luyện thường xuyên.</p><p>Trọng lượng xương trung bình ở các khoảng cân nặng (kg)</p><ul><li><strong>Muối vô cơ</strong></li></ul><p>Chỉ số giúp cho bạn xem có bị thừa hay thiếu để bổ sung thêm như Magie, Photpho, Sắt, Canxi cho cơ thể.</p><ul><li><strong>Protein %</strong></li></ul><p>Xác định phần trăm protein trong tổng trọng lượng cơ thể. Đo lường lượng protein trong cơ thể, cần thiết cho sự phát triển và sửa chữa cơ bắp.</p><ul><li><strong>Khối lượng cơ</strong></li></ul><p>Khối lượng cơ bao gồm khối lượng các cơ xương, cơ trơn như cơ tim, cơ hệ tiêu hóa và nước chứa trong các tế bào cơ. Cơ bắp đóng vai trò quan trọng trong cơ thể người, như cỗ máy hoạt động chính, tiêu tốn phần lớn năng lượng của bạn trong ngày.</p><p>Khi bạn luyện lập thể chất, khối lượng cơ bắp sẽ tăng lên, kéo theo mức tiêu tốn năng lượng gia tăng theo. Tăng cường lượng cơ trong cơ thể sẽ khiến tỷ lệ trao đổi chất cơ bản BMR tăng lên, giúp giảm lượng mỡ thừa trong cơ thể và giảm cân một cách lành mạnh.</p><p>Lượng cơ được đánh giá bằng chỉ số khối lượng cơ và chiều cao cơ thể như sau (điểm số càng cao, mật độ cơ càng tốt).</p><ul><li><strong>Chỉ số mỡ nội tạng</strong></li></ul><p>Đo lường mức mỡ có trong các cơ quan nội tạng, có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể.</p><p><strong>Chỉ số thể hiện lượng mỡ ở khoang bụng, bao bọc xung quanh các cơ quan nội tạng.</strong></p><p>Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng thậm chí khi cân nặng và lượng mỡ cơ thể của bạn không thay đổi, trong quá trình lão hóa, lượng mỡ trong cơ thể có xu hướng dịch chuyển sang vùng ổ bụng. Điều này gia tăng nguy cơ mắc các chức bệnh nguy hiểm. Đảm bảo chỉ số mỡ nội tạng nằm trong mức cho phép giúp phòng tránh các chứng bệnh nguy hiểm như đau tim, tăng huyết áp và có thể trì hoãn khởi phát tiểu đường tuýp II.</p><ul><li><strong>Mỡ dưới da</strong></li></ul><p>Chỉ số đo bề dày lớp mỡ dưới da được dùng như một số đo trực tiếp sự béo phì. Bề dày lớp mỡ dưới da ước lượng kích thước kho dự trữ mỡ dưới da, từ đó cho phép ước lượng tổng số lượng mỡ của cơ thể.</p><ul><li><strong>Khối lượng cơ nạc</strong></li></ul><p>Một chỉ số phân tích cơ thể quan trọng chính là khối lượng cơ nạc. Nói một cách đơn giản, khối lượng cơ nạc bao gồm tất cả mọi thứ trong cơ thể của bạn ngoài chất béo.</p><ul><li><strong>Tạng người</strong></li></ul><p>Chỉ số đo cho biết bạn thuộc tạng người Gầy, Béo Phì hay Cơ Bắp để có một chế độ ăn và tập luyện phù nhất. Từ đó bạn có thể cho mình một lộ trình cho việc ăn uống và dinh dưỡng một cách tốt nhất</p><ul><li><strong>Chỉ số BMR (Tốc độ trao đổi chất cơ bản)</strong></li></ul><p>Chỉ số này thể hiện độ tuổi trung bình tương ứng với tỷ lệ trao đổi chất, cho bạn biết lượng năng lượng cơ thể tiêu hao để duy trì hoạt động cơ bản như hô hấp và tiêu hóa.</p><p>Nếu tuổi chuyển hóa của bạn cao hơn tuổi thực, đó là dấu hiệu bạn cần cải thiện Tỷ lệ Trao đổi chất Cơ bản BMR bằng cách tăng cường vận động, luyện tập và gia tăng lượng cơ, giảm lượng mỡ trong cơ thể.</p><p>Để phân tích thành phần cơ thể cần sử dụng thiết bị phân tích thành phần cơ thể TAPUHO TSB180. Với thiết bị này sẽ giúp bạn biết được chính xác các chỉ số quan trọng của cơ thể để điều chỉnh thói quen hằng ngày, giảm tối đa nguy cơ bệnh tật. </p><p> </p><p><strong>CÁC BƯỚC SỬ DỤNG:</strong></p><p>Bước 1: Đảm bảo thiết bị đã được lắp pin đầy đủ.</p><p>Bước 2: Tải App bằng cách quét mã trên vỏ hộp và thiết lập ứng dụng</p><p>Bước 3: Kết nối và đăng ký thông tin</p><p>Bước 4: Tiến hành đo</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sun, 12 Jul 2026 06:32:38 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Thiết Bị Thông Minh Phân Tích Chỉ Số Cơ Thể TAPUHO TBS180</media:title>
                        <media:keywords>Thiết Bị Thông Minh Phân Tích Chỉ Số Cơ Thể TAPUHO TBS180</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Gợi ý phân tích tác phẩm Việt Bắc của tác giả Tố Hữu]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phan-tich-tac-pham-viet-bac-a110771.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phan-tich-tac-pham-viet-bac-a110771.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phan-tich-tac-pham-viet-bac-a110771.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p> </p><p>Bài thơ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là thành tựu xuất sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ ra đời nhân một sự kiện lịch sử: Tháng 10 năm 1954, những người kháng chiến rời căn cứ miền núi trở về miền xuôi. Từ điểm xuất phát ấy, bài thơ ngược về quá khứ để tưởng nhớ một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, để nói lên nghĩa tình gắn bó thắm thiết với Việt Bắc, với Đảng và Bác Hồ, với đất nước và nhân dân - tất cả là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn để dân tộc ta vững vàng bước tiếp trên con đường cách mạng. Nội dung ấy được thể hiện bằng hình thức đậm tính dân tộc. Bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu.</p><p>Hoàn cảnh sáng tác tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt, đầy xúc động bâng khuâng: Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…. Đó là cuộc chia tay của những người từng sống gắn bó suốt mười lăm năm ấy, có biết bao kỉ niệm ân tình, từng sẻ chia mọi cay đắng ngọt bùi, nay cùng nhau gợi lại những hồi ức đẹp đẽ, khẳng định nghĩa tình thuỷ chung và hướng về tương lai tươi sáng. Chuyện ân tình cách mạng đã được Tố Hữu khéo léo thể hiện như tâm trạng của tình yêu lứa đôi.</p><p>Diễn biến tâm trạng như trong tình yêu lứa đôi được tổ chức theo lối đối đáp quen thuộc của ca dao, dân ca, bên hỏi, bên đáp, người bày tỏ tâm sự, người hô ứng, đồng vọng. Hỏi và đáp đều mở ra bao nhiêu kỉ niệm về một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, mở ra bao nhiêu nỗi niềm nhớ thương. Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là độc thoại, là sự biểu hiện tâm tư, tình cảm của chính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến.</p><p>Qua hồi tưởng của chủ thể trữ tình, cảnh và người Việt Bắc hiện lên thật đẹp. Nỗi nhớ thiết tha của người cán bộ sắp về xuôi đã khắc sâu thiên nhiên núi rừng Việt Bắc vời vẻ đẹp vừa hiện thực, vừa thơ mộng, thi vi, gợi rõ những nét riêng biệt, độc đáo, khác hẳn những miền quê khác của đất nước. Chỉ những người đã từng sổng Việt Bắc, coiViệt Bắc cũng là quê hương thân thiết của mình mới có nỗi nhớ thật da diết, những cảm nhận thật sâu sắc, thấm thía về ánh nắng ban chiều, ánh trăng buổi tối, những bản làng mờ trong sương sớm, những bếp lửa hồng trong đêm khuya, những núi rừng sông suối mang những cái tên thân thuộc - tất cả là khoảng thời gian và không gian lóng lánh kỷ niệm :</p> <p>Nhớ gì như nhớ người yêu …………………. Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.</p><p>Nhưng có lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ về Việt Bắc là sự hoà quyện thắm thiết giữa cảnh với người, là ấn tượng không thể phai mờ về những người dân Việt Bắc cần cù trong lao động, thuỷ chung trong nghĩa tình :</p><p>Ta về, mình có nhớ ta …………………….. Nhớ ai Tiếng hất ân tình thuỷ chung</p><p>Có thể thấy thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với bao vẻ đẹp thật đa dạng, phong phú, sinh động, thay đổi theo từng thời tiết, từng mùa. Gắn bó với từng khung cảnh ấy là hình ảnh những con người bình thường người đi làm nương rẫy, người đan nón, người hái măng,… .Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của mình, họ đã góp phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến. Chính nghĩa tình của nhân dân với cán bộ, bộ đội, sự đồng cảm và san sẻ, cùng chung mọi gian khổ và niềm vui, cùng gánh vác mọi nhiệm vụ nặng nề, khó khăn,… tất cả càng làm Việt Bắc thêm ngời sáng trong tâm trí của nhà thơ. Việt Bắc - đó là hình ảnh những mái nhà “hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”, là hình ảnh người mẹ trong cái “nắng cháy lưng- Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô”, là những tháng ngày đồng cam cộng khổ :</p> <p>Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng,…</p><p>Có thể nói, âm hưởng trữ tình vang vọng suốt bài thơ đã tạo nên khúc ca ngọt ngào, đằm thắm của tình đồng chí, nghĩa đồng bào, của tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu đời.</p><p>Theo dòng hồi tưởng của chủ thể trữ tình, bài thơ dẫn người đọc vào khung cảnh Việt Bắc chiến đấu với không gian núi rừng rộng lớn, những hoạt động tấp nập, những hình ảnh hào hùng, những âm thanh sôi nổi, dồn dập, náo nức. Cách mạng và kháng chiến đã xua tan vẻ âm u, hiu hắt của núi rừng, đồng thời khơi dậy sức sống mạnh mẽ của thiên nhiên và con người Việt Bắc. Bài thơ tràn đầy âm hưởng anh hùng ca, mang dáng vẻ một sử thi hiện dại, bởi vì chỉ cần phác hoạ khung cảnh hùng tráng ở Việt Bắc, Tố Hữu đã cho thấy khí thế vô cùng mạnh mẽ của cả một dân tộc đứng lên chiến đấu vì Tổ quốc độc lập, tự do :</p><p>Những đường Việt Bắc của ta ……………………………. Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.</p><p>Dân tộc ấy đã vượt qua bao thiếu thốn, gian khổ, hi sinh để lập nên những kì tích, những chiến công gắn với những địa danh: Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên,… Nhưng Tố Hữu không chỉ miêu tả khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến mà còn đi sâu lí giải những cội nguồn sức mạnh đã dẫn tới chiến thắng. Đó là sức mạnh của lòng căm thù: Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai, sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung: Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của sự hoà quyện gắn bó giữa con người với thiên nhiên - tất cả tạo thành hình ảnh đất nước đứng lên :</p> <p>Nhớ khi giặc đến giặc lùng ………………………… Đất trời ta cả chiến khu một lòng .</p><p>Đặc biệt, với những lời thơ trang trọng mà thiết tha, Tố Hữu đã nhấn mạnh, khẳng định Việt Bắc là quê hương của Cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, là đầu não của cuộc kháng chiến, nơi hội tụ bao tình cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng của mọi người Việt Nam yêu nước. Trong những năm tháng đen tối trước Cách mạng, hình ảnh Việt Bắc hiện dần từ mờ xa (mưa nguồn suốt lũ, những mây cùng mù) đến xác định như một chiến khu kiên cường, nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh những địa danh sẽ mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc :</p><p>Mình về,còn nhờ núi non ……………………… Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.</p><p>Trong những ngày kháng chiến gian lao, Việt Bắc là nơi có Cụ Hồ sáng soi, có Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công. Để khẳng định niềm tin yêu của cả nước với Việt Bắc, Tố Hữu lại dùng những vần thơ rất mộc mạc, giản dị mà thắm thiết nghĩa tình :</p><p>Ở đâu đau đớn giống nòi ………………………. Quê hương Cách mạng dựng nên Cộng hoà .</p> <p>Nghệ thuật biểu hiện của bài thơ đậm đà tính dân tộc. Điểm đáng chú ý trước hết là Tố Hữu đã phát huy được nhiều thế mạnh của thể lục bát truyền thống. Cấu tứ của bài thơ là cấu tứ ca dao với hai nhân vật trữ tình là ta và mình, người ra đi và người ở lại hát đối đáp với nhau. Trong cuộc hát đối đáp chia tay lịch sử này, người ở lại lên tiếng trước, nhớ về một thời xa hơn, thời đấu tranh gian khổ trước Cách mạng, sau đó người ra đi nối tiếp nhớ lại kỉ niệm thời chín năm kháng chiến.</p><p>Nhà thơ rất chú ý sử dụng kiểu tiểu đối của ca dao, chẳng những có tác dụng nhấn mạnh ý mà còn tạo ra nhịp thuyên chuyển, cân xứng, hài hoà, làm cho lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, thấm sâu vào tâm tư:</p><p>Mình về rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng măng mai để già;</p><p>…Điều quân chiến dịch thu đông Nông thôn phát động giao thông mở đường,…</p><p>Về ngôn ngữ thơ, Tố Hữu chú ý sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân rất giản dị mộc mạc nhưng cũng rất sinh động để tái hiện lại một thời cách mạng và kháng chiến đầy gian khổ mà dạt dào tình nghĩa. Đó là thứ ngôn ngữ rất giàu hình ảnh cụ thể:</p> <p>Nghìn đêm thăm thẳm sương dày; Nắng trưa rực rỡ sao tràng;…</p><p>và cũng là thứ ngôn ngữ rất giàu nhạc điệu:</p><p>Chày đêm nện cối đều đều suối xa; Đêm đêm rầm rập như là đất rung;…</p><p>Đặc biệt, thơ Tố Hữu sử dụng rất nhuần nhuyễn phép trùng điệp của ngôn ngữ dân gian:</p><p>Mình về, mình có nhớ ta; Mình về, có nhớ chiến khu; Nhớ sao lớp học i tờ; Nhớ sao ngày tháng cơ quan,; Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều,…</p><p>tất cả tạo ra một giọng điệu trữ tình nghe thiết tha, êm ái, ngọt ngào như âm hưởng lời ru, đưa ta vào thế giới của kỉ niệm và tình nghĩa thuỷ chung.</p><p>Bài thơ là khúc ca ân nghĩa, là hồi tưởng đầy xúc động và ân tình của Tố Hữu về chặng đường mười lăm năm đã qua của đất nước (từ khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 đến hoà bình lập lại năm 1954), từ đó mà hướng về tương lai tươi sáng, nhắc nhớ tâm nguyện thuỷ chung. Viết về nghĩa tình dân tộc và hướng về đồng bào mình, Tố Hữu đã phát huy được hình thức nghệ thuật mang tính dân tộc, trong đó nổi bật là cách sử dụng thể thơ lục bát và ngôn ngữ thơ đậm sắc thái dân gian. Có thể coi Việt Bắc là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến mà cội nguồn sâu xa của nó là tình yêu quê hương đất nước, là niềm tự hào về sức mạnh của nhân dân, là truyền thống ân nghĩa, đạo lí thuỷ chung của dân tộc Việt Nam.</p> <p> </p><p><strong>Lưu ý : Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo!</strong></p><p><strong>Tuyensinh247 Tổng hợp</strong></p><p> </p><p> </p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 11 Jul 2026 15:00:47 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Gợi ý phân tích tác phẩm Việt Bắc của tác giả Tố Hữu</media:title>
                        <media:keywords>Gợi ý phân tích tác phẩm Việt Bắc của tác giả Tố Hữu</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[THCS HỒ VĂN LONG]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/bai-van-ve-uoc-mo-a110747.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/bai-van-ve-uoc-mo-a110747.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/bai-van-ve-uoc-mo-a110747.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p> </p> <p> Cuộc sống đầy sắc màu với những cung bậc trầm, bổng đã ban tặng cho con người những ước mơ hoài bão, lí tưởng. Bắt đầu vào cuộc sống, đặc biệt với những người trẻ tuổi, việc lựa chọn cho mình một hướng đi, một niềm đam mê để thực hiện ước mơ là một điều quan trọng. Ở độ tuổi 12, tôi luôn nuôi một ước mơ là trở thành một nhà văn.</p> <p> Tôi muốn trở thành một nhà văn vì lòng hâm mộ và thần tượng nhà văn Tố Hữu, Đỗ Trung Quân, Minh Huệ… Họ đã viết ra những tác phẩm thật tuyệt, mang lại những cảm xúc, bài học quý giá cho cuộc sống. Những điều không thể nói, những diều băn khoăn, thắc mắc hay những cảm xúc lạ thường - nếu ai đó chưa kịp biết thì văn chương là người biết và nói ra đầu tiên. Văn chương mang lại cho người đọc bao hình dung về sự sống, bồi đắp cho tâm hồn thêm đẹp, thêm hoàn thiện. Không những thế văn chương còn mang lại sự thư giãn sau những buổi học và giờ làm việc căng thẳng. Đặc biệt hơn, văn còn dạy cho tôi tiếng Việt, giúp tôi nhận ra cái đẹp và cái hay của tiếng nói dân tộc. </p> <p> Tự bản thân tôi yêu văn và học văn, không biết văn học đã vào trong trái tim tôi lúc nào và như thế nào, thật khó trả lời. Bầu trời văn học có muôn vì sao, mỗi ngôi sao là một điều kì diệu, bí ẩn của văn học, vì vậy mà tôi muốn khám phá tất cả vì sao đó. Tôi ước tôi được đọc hết tất cả tác phẩm văn học nổi tiếng trên thế giới, tôi ước mình khám phá ra điều kì diệu của văn chương. Tôi mong rằng, một ngày nào đó có thể là lúc này hay khi tôi đã trưởng thành bằng con tim và cảm xúc tôi có thể viết ra một án văn chương hay có nghĩa cho cuộc sống này, để mọi người có thể hiểu thế giới có muôn điều tốt đẹp và kì diệu mà con người cần khám phá để thêm yêu và hiểu cuộc sống hơn.</p> <p> Tôi biết ước mơ như cánh diều nhỏ bay giữa bầu trời rộng lớn. Tôi cũng biết rằng có những ước mơ sẽ thành hiện thực nhưng cũng có những ước mơ không thể thực hiện. Nhưng tôi tin rằng, với sự cố gắng và quyết tâm, tôi sẽ biến ước mơ của mình thành sự thật trong tương lai. Tôi yêu văn và cũng hi vọng văn sẽ yêu tôi.</p> <p> <strong>Nguyễn Trung Hiếu</strong></p> <p><strong> Lớp 6/1, trường THCS Hồ Văn Long</strong></p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 11 Jul 2026 09:36:21 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">THCS HỒ VĂN LONG</media:title>
                        <media:keywords>THCS HỒ VĂN LONG</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, ĐOẠN VĂN]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/cach-lam-bai-nghi-luan-ve-doan-tho-bai-tho-a110746.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/cach-lam-bai-nghi-luan-ve-doan-tho-bai-tho-a110746.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/cach-lam-bai-nghi-luan-ve-doan-tho-bai-tho-a110746.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/cach-lam-bai-nghi-luan-ve-doan-tho-bai-tho.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>Nghị luận về một bài thơ, bài văn là một chủ đề vô cùng quen thuộc nhưng không hề dễ làm, đặc biệt với những học sinh học chưa tốt môn Văn. Để làm tốt dạng đề này, học sinh cần phải xác định đúng vấn đề nghị luận cũng như nắm chắc kiến thức cơ bản cùng kỹ năng phân tích, làm bài. Học ngay những mẹo làm bài siêu hiệu quả sau đây.</strong></p> <p> </p> <h2><b>Xác định đúng vấn đề cần nghị luận</b></h2> <p>Xác định đúng vấn đề nghị luận vô cùng quan trọng trước khi học sinh bắt đầu viết bài. Điều này sẽ giúp học sinh tránh được tình trạng viết bài lan man, lạc đề. Cụ thể, nội dung của đoạn thơ là gì, tác giả muốn gửi gắm thông điệp gì. Khi đã xác định được vấn đề cần nghị luận, học sinh sẽ biết cần lấy dẫn chứng nào để chứng minh luận điểm bài viết.</p> <h2><b>Tìm luận điểm cho bài viết</b></h2> <p>Để bài văn có chiều sâu, học sinh nên phân tích dựa trên hệ thống luận điểm chính và phụ. Luận điểm chính là ý kiến khái quát về đoạn thơ, đoạn văn. Các luận điểm phụ là những ý kiến cụ thể để chứng minh cho luận điểm chính. </p> <p>Ví dụ: Với đoạn thơ “Quê hương” của Tế Hanh, bạn có thể đặt luận điểm chính là: “Đoạn thơ “Quê hương” của Tế Hanh đã vẽ nên một bức tranh tươi đẹp, sống động về làng quê và thể hiện tình yêu tha thiết của tác giả đối với quê hương”. Các luận điểm phụ có thể là:</p> <ul> <li>Hình ảnh làng quê hiện lên thật gần gũi, thân thuộc.</li> <li>Tình cảm của tác giả đối với quê hương được thể hiện qua những chi tiết cụ thể.</li> <li>Nghệ thuật miêu tả tinh tế đã góp phần làm nổi bật vẻ đẹp của quê hương.</li> </ul> <h2><b>Hoàn cảnh sáng tác</b></h2> <p>Mỗi bài văn, thơ đều có hoàn cảnh sáng tác rõ ràng. Mỗi hoàn cảnh sáng tác đều phản ánh hiện thực xã hội đương thời. Dựa vào hoàn cảnh sáng tác, độc giả phần nào có thể hiểu thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm: lòng yêu nước, thương dân,…</p> <p>Cụ thể, tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” được sáng tác khi tác giả Phạm tiến Duật đang sống trong thời kỳ ác liệt của cuộc chiến tranh chống Đế quốc Mỹ của nhân dân ta. Hiểu được hoàn cảnh sáng tác như vậy sẽ giúp học sinh cảm nhận được không khí hào hùng được thể hiện trong từng câu thơ, hình ảnh thơ mà tác giả viết ra.</p> <figure><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/cach-lam-bai-nghi-luan-ve-doan-tho-bai-tho.jpg" alt="" /><figcaption>Ảnh minh họa</figcaption></figure> <h2><b>Chú ý tới nghệ thuật ngôn từ</b></h2> <p>Một số nghệ thuật ngôn từ mà học sinh cần chú ý khi phân tích tác phẩm như nhịp điệu của bài thơ, các biện pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ,… Những yếu tố đó có tác dụng gì, gợi lên được cảm xúc gì trong lòng độc giả,…</p> <p>Trong bài thơ “Bạn đến chơi nhà”, Nguyễn Khuyến đã sử dụng nhiều biện pháp tu từ như:</p> <ul> <li>Liệt kê: “Cải chửa ra cây, cà mới nụ/ Bầu vừa rụng rụng cho tay kẻo hái” -&gt; Tạo cảm giác chân thực, gần gũi với cuộc sống thường ngày.</li> <li>Đối lập: “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa/ Ao sâu nước cả, khéo đạp đổ” -&gt; Tạo ra sự hài hước, dí dỏm.</li> </ul> <h2><b>Lồng ghép cảm nhận cá nhân</b></h2> <p>Bộc lộ cái tôi cá nhân vào bài viết sẽ giúp bài viết thêm phần thú vị và hấp dẫn. Tuy nhiên cảm nhận ấy cần được dựa trên hoàn cảnh sáng tác, nội dung và nghệ thuật của tác phẩm để đánh giá và nêu lên quan điểm của bản thân. Để tăng thêm mức độ hiểu biết của bản thân, hãy liên hệ nội dung của tác phẩm với cuộc sống thực tiễn và bản thân rút ra được bài học gì từ tác phẩm.</p> <p>Chẳng hạn, bài thơ “Bạn đến chơi nhà” đã thành công trong việc thể hiện tình bạn chân thành, giản dị nhưng sâu sắc. Qua những hình ảnh mộc mạc, gần gũi, nhà thơ đã gửi gắm thông điệp về tình bạn vượt lên trên vật chất. Bài thơ gợi cho người đọc cảm xúc ấm áp, trân trọng những tình cảm đẹp đẽ trong cuộc sống.</p> <p>Trên đây là một số phương pháp học tốt Văn để các bạn có thể áp dụng luôn vào bài, cải thiện điểm số môn Văn. Ngoài ra để học tốt môn Văn, phụ huynh và học sinh hãy tham khảo ngay khóa học trực tuyến Topclass. Các con được học thật thi thật, chương trình bám sát SGK, đội ngũ giáo viên giỏi đồng hành. Phụ huynh, học sinh đăng ký học thử miễn phí ngay TẠI ĐÂY.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 11 Jul 2026 09:34:34 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/cach-lam-bai-nghi-luan-ve-doan-tho-bai-tho.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/cach-lam-bai-nghi-luan-ve-doan-tho-bai-tho.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, ĐOẠN VĂN</media:title>
                        <media:keywords>CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, ĐOẠN VĂN</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Trật tự tính từ trong tiếng Anh (OSASCOMP): Quy tắc và cách nhớ]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/tu-tinh-a110730.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/tu-tinh-a110730.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/tu-tinh-a110730.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tu-tinh-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Trong tiếng Anh, để mô tả một sự vật nào đó, bạn chỉ cần tuân theo cấu trúc tính từ + Noun, nghĩa là đặt tính từ ngay trước danh từ. Tuy nhiên, khi cần dùng nhiều hơn 1 tính từ, bạn cần phải nắm được trật tự tính từ trong câu. Cùng ELSA Speak khám phá cách sắp xếp tính từ trong tiếng Anh - quy tắc <strong>OSASCOMP</strong> qua bài viết này nhé! </p><figure><strong>Key Takeaways</strong></figure><h2><strong>Trật tự tính từ trong tiếng Anh</strong> (OSASCOMP)</h2><p>OSASCOMP là gì? Trật tự tính từ trong tiếng Anh là quy định thứ tự của tính từ (adjective) trong câu thuộc cùng một cụm danh từ (noun phrase). Trật tự tính từ trong tiếng Anh được sắp xếp theo quy tắc OSASCOMP như sau:</p><figure><strong>Opinion → Size → Age → Shape → Color → Origin → Material → Purpose</strong></figure><p>Việc sắp xếp các đặc điểm miêu tả của sự vật theo đúng hệ thống giúp người nghe tiếp nhận thông tin một cách mạch lạc và chính xác nhất.</p><p><strong>Ví dụ: </strong></p><ul><li>a lovely (opinion) small (size) new (age) red (color) Japanese (origin) silk (material) sleeping (purpose) bag.→ Một chiếc túi ngủ bằng lụa Nhật Bản màu đỏ mới nhỏ nhắn dễ thương.</li><li>a beautiful (opinion) long (size) old (age) black (color) French (origin) leather (material) coat.→ Một chiếc áo khoác da Pháp màu đen cũ dáng dài rất đẹp.</li><li>an expensive (opinion) large (size) modern (age) square (shape) wooden (material) dining (purpose) table.→ Một chiếc bàn ăn bằng gỗ hình vuông hiện đại, to lớn, đắt tiền.</li><li>a nice (opinion) tiny (size) ancient (age) white (color) Vietnamese (origin) ceramic (material) tea (purpose) cup.→ Một chiếc tách trà bằng gốm Việt Nam màu trắng cổ xưa nhỏ nhắn rất xinh.</li></ul><figure><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tu-tinh-1.jpg" alt="Trật tự tính từ là quy định thứ tự của tính từ (adjective) trong câu tiếng Anh" /><figcaption>Trật tự tính từ là quy định thứ tự của tính từ (adjective) trong câu tiếng Anh</figcaption></figure><h2><strong>Trật tự tính từ theo quy tắc OSASCOMP</strong></h2><p>Việc áp dụng công thức OSASCOMP giúp người học xác định vị trí ưu tiên của mỗi từ loại trong tiếng Anh khi chúng cùng đứng trước một danh từ, dễ dàng xây dựng những cụm danh từ phức tạp mà vẫn đảm bảo tính chính xác trong ngữ pháp tiếng Anh. Khi nắm vững quy tắc này, câu văn sẽ trở nên tự nhiên và chuyên nghiệp hơn, tránh việc sắp xếp lộn xộn gây khó hiểu cho người nghe.</p><h3>Bảng quy tắc sắp xếp tính từ trong tiếng Anh</h3><p>Hệ thống bảng quy tắc sắp xếp tính từ trong tiếng Anh dưới đây mô tả chi tiết trình tự các thành phần miêu tả, giúp bạn đối chiếu và áp dụng hiệu quả vào quá trình làm bài tập cũng như giao tiếp thực tế.</p><figure><strong>Thứ tự </strong><strong>Loại tính từ</strong><strong>Ví dụ</strong><strong>O</strong><strong>Opinion</strong><strong>S</strong><strong>Size</strong><strong>A - Age: </strong><strong>S - Shape</strong><strong>C</strong><strong>Color</strong><strong>O</strong><strong>Origin</strong><strong>M</strong><strong>Material</strong><strong>P</strong><strong>Purpose:</strong><figcaption>Bảng quy tắc sắp xếp tính từ trong tiếng Anh</figcaption></figure><p><strong>Ví dụ</strong>: A <strong>lovely small black</strong> cat. (Một chú mèo đen nhỏ đáng yêu).</p><p><strong>Giải thích chi tiết</strong>:</p><ul><li><strong>Lovely</strong>: Đây là tính từ chỉ quan điểm (opinion), thể hiện đánh giá cá nhân của người nói về chú mèo. Theo quy tắc OSASCOMP, nhóm quan điểm luôn đứng đầu tiên trong chuỗi tính từ miêu tả.</li><li><strong>Small</strong>: Đây là tính từ chỉ kích cỡ (size), miêu tả vóc dáng của đối tượng. Thành phần này đứng ngay sau tính từ chỉ quan điểm.</li><li><strong>Black</strong>: Đây là tính từ chỉ màu sắc tiếng Anh (color), thuộc nhóm đặc điểm đứng sau quan điểm và kích cỡ.</li><li><strong>Cat</strong>: Danh từ chính đứng ở cuối cụm từ, nhận sự bổ nghĩa từ tất cả các tính từ phía trước.</li></ul><p>→ Như vậy, trật tự tính từ trong câu trên hoàn toàn tuân thủ trình tự: Opinion (lovely) + Size (small) + Color (black) + Noun (cat).</p><figure><img src="https://vn.elsaspeak.com/wp-content/uploads/2026/05/OSASCOMP-2.jpg" alt="Trật tự tính từ theo quy tắc OSASCOMP" /><figcaption>Trật tự tính từ theo quy tắc OSASCOMP</figcaption></figure><blockquote><blockquote><p>&gt;&gt; Vì OSASCOMP có nhiều nhóm tính từ dễ bị đảo vị trí, bạn có thể luyện thêm các bài tập ngữ pháp tiếng Anh liên quan ngay trong ELSA để củng cố lại thứ tự từng nhóm và nhớ lâu hơn.</p><figure><img src="https://vn.elsaspeak.com/wp-content/uploads/2025/09/banner-blog-luyen-ngu-phap-tieng-anh-vi.jpg" alt="Ôn luyện ngữ pháp tiếng Anh từ cơ bản đến nâng cao cùng ELSA Speak - sửa lỗi thì, từ loại và cấu trúc ngay lập tức" /></figure></blockquote></blockquote><h3>Thứ tự của từ hạn định và từ chỉ số lượng</h3><p>Trong tiếng Anh, vị trí của từ hạn định (determiner) và lượng từ (quantifiers) luôn được ưu tiên đứng trước chuỗi OSASCOMP để giới hạn phạm vi hoặc số lượng của danh từ đang được nhắc đến. Công thức tổng quát cho một cụm danh từ đầy đủ như sau:</p><figure></figure><p>Dưới đây là chi tiết về cách sắp xếp các thành phần bổ trợ này kèm theo ví dụ minh họa:</p><figure><strong>Loại từ</strong><strong>Đại diện</strong><strong>Ví dụ</strong><strong>These</strong> <strong>two</strong><strong>This</strong><figcaption>Thứ tự của từ hạn định và từ chỉ số lượng trong cụm danh từ tiếng Anh</figcaption></figure><figure><img src="https://vn.elsaspeak.com/wp-content/uploads/2026/05/OSASCOMP-3.jpg" alt="Thứ tự sắp xếp của từ hạn định và từ chỉ số lượng" /><figcaption>Thứ tự sắp xếp của từ hạn định và từ chỉ số lượng</figcaption></figure><h2>Trường hợp ngoại lệ trong trật tự tính từ trong tiếng Anh</h2><p>Ngoài công thức chuẩn, người học cần lưu ý đến những bối cảnh ngôn ngữ đặc thù nơi mà sự sắp xếp các từ loại tuân theo thói quen sử dụng hoặc định nghĩa chuyên biệt thay vì quy tắc OSASCOMP thông thường.</p><p>Việc nhận diện chính xác các tình huống đặc biệt giúp tránh việc lắp ghép từ ngữ một cách khiên cưỡng, đảm bảo câu văn giữ được sự tự nhiên vốn có của người bản xứ. Các tổ hợp từ dưới đây minh họa rõ nét những trường hợp mà trật tự tính từ không thay đổi dù có sự xuất hiện của các yếu tố miêu tả khác:</p><figure><strong>Trường hợp</strong><strong>Ví dụ</strong><strong>Danh từ ghép (Compound Noun)</strong><strong>Cụm từ cố định (Collocation)</strong><strong>Tính từ mang tính phân loại (Classifying Adjectives)</strong><strong>Thuật ngữ học thuật hoặc kỹ thuật</strong><strong>Cụm tính từ tạo thành đơn vị nghĩa riêng</strong><figcaption>Bảng tổng hợp các trường hợp ngoại lệ không tuân theo quy tắc OSASCOMP trong trật tự tính từ</figcaption></figure><h2><strong>Mẹo nhớ trật tự tính từ trong tiếng Anh</strong></h2><p>OSASCOMP là gì? Còn được biết đến với phiên bản đầy đủ “<strong>ông sáu ăn súp cua ông mập phì</strong>”, đây là mẹo nhớ trật tự tính từ trong tiếng Anh, rút từ chữ cái viết tắt của các loại từ. Cụ thể:</p><figure><figcaption>Mẹo ghi nhớ quy tắc OSASCOMP</figcaption></figure><p><strong>Ví dụ:</strong> Sắp xếp những từ sau theo đúng trật tự tính từ: Japanese/ bike/ a/ new/ luxurious/ big/ blue</p><ul><li>Origin (nguồn gốc): Japanese (Nhật Bản)</li></ul><ul><li>Noun (danh từ): Bike (xe đạp) → đứng cuối câu</li></ul><ul><li>Mạo từ: A (một) → đứng đầu câu</li></ul><ul><li>Age (độ tuổi): New (mới)</li></ul><ul><li>Opinion (quan điểm/đánh giá): Luxurious (sang trọng)</li></ul><ul><li>Size (kích cỡ): Big (lớn)</li></ul><ul><li>Color (màu sắc): Blue (xanh da trời)</li></ul><p>→ Sắp xếp theo trật tự OSASCOMP: A luxurious big new blue Japanese bike. (Một chiếc xe đạp Nhật Bản lớn màu xanh mới sang trọng).</p><figure><img src="https://vn.elsaspeak.com/wp-content/uploads/2026/05/OSASCOMP-4.jpg" alt="Mẹo ghi nhớ nhanh trật tự tính từ" /><figcaption>Mẹo ghi nhớ nhanh trật tự tính từ</figcaption></figure><p>&gt;&gt; Nếu bạn muốn áp dụng OSASCOMP vào giao tiếp hàng ngày, trải nghiệm ngay phiên bản ELSA Premium, luyện tập không giới hạn cùng gia sư A.I. nhé!</p><figure><img src="https://vn.elsaspeak.com/wp-content/uploads/2024/08/Banner-Blog-4-2-1024x409.jpg" alt="" /></figure><h2><strong>Quy tắc sử dụng dấu phẩy giữa các tính từ</strong></h2><p>Việc sử dụng dấu câu (punctuation) hợp lý giữa các thành phần miêu tả giúp cấu trúc câu trở nên rõ ràng và chuyên nghiệp hơn. Những hướng dẫn cụ thể sau đây sẽ giúp bạn xác định chính xác trường hợp nào cần dùng dấu phẩy để ngăn cách các đặc điểm của danh từ.</p><figure><strong>cùng loại</strong><strong>Cần có dấu phẩy</strong><strong>khác loại</strong><strong>Không cần dấu phẩy</strong></figure><p>Để hiểu rõ hơn, cùng xét 2 ví dụ dưới đây:</p><p><strong>1. Henry is a lovely tiny white British dog that they adopted 1 week ago.</strong></p><ul><li>Lovely (adj): dễ thương → tính từ chỉ quan điểm</li><li>Tiny (adj): nhỏ bé → tính từ chỉ kích cỡ</li><li>White (adj): trắng → tính từ chỉ màu sắc</li><li>British (adj): thuộc về nước Anh → tính từ chỉ nguồn gốc</li></ul><p>→ Tính từ khác loại với nhau nên theo quy tắc <strong>không cần sử dụng dấu phẩy</strong></p><p><strong>2. She was such a beautiful, thoughtful and delicate woman. </strong></p><ul><li>Beautiful (adj): đẹp → tính từ chỉ quan điểm</li><li>Thoughtful (adj): biết suy nghĩ → tính từ chỉ quan điểm</li><li>Delicate (adj): tinh tế → tính từ chỉ quan điểm</li></ul><p>→ Tính từ cùng loại với nhau nên <strong>cần ngăn tách bởi dấu phẩy.</strong></p><p><strong>Lưu ý quan trọng</strong>:</p><figure><strong>Lưu ý</strong><strong>Ví dụ</strong><strong>Đúng</strong><strong>Sai</strong><strong>,</strong><strong>Đúng</strong><strong>Sai: </strong><strong>and</strong><strong>and</strong><figcaption>Lưu ý khi sử dụng dấu phẩy giữa các tính từ</figcaption></figure><figure><img src="https://vn.elsaspeak.com/wp-content/uploads/2026/05/OSASCOMP-5.jpg" alt="Quy tắc sử dụng dấu phẩy giữa các tính từ" /><figcaption>Quy tắc sử dụng dấu phẩy giữa các tính từ</figcaption></figure><h2><strong>Bài tập trật tự tính từ trong tiếng Anh [Có đáp án chi tiết]</strong></h2><h3>Bài tập về OSASCOMP</h3><p><strong>Bài 1: Chọn đáp án đúng</strong></p><figure></figure><p><strong>Bài 2: Sắp xếp các tính từ theo đúng thứ tự trước danh từ</strong></p><ol><li>small / beautiful / old / French / vase</li><li>modern / large / glass / office / building</li><li>round / tiny / silver / jewelry / box</li><li>expensive / new / German / sports / car</li><li>long / black / leather / winter / coat</li><li>old / lovely / stone / country / house</li><li>tall / young / American / basketball / player</li><li>large / blue / ceramic / serving / bowl</li><li>ancient / mysterious / Egyptian / stone / statue</li><li>comfortable / big / brown / leather / sofa</li><li>short / funny / animated / children’s / movie</li><li>small / cute / white / Japanese / kitten</li><li>old / traditional / wooden / fishing / boat</li><li>big / impressive / modern / city / library</li><li>beautiful / long / silk / evening / dress</li></ol><p><strong>Bài 3: Tìm và sửa lỗi sai trong thứ tự tính từ</strong></p><ol><li>She has a beautiful small old French vase.</li><li>It’s a wooden old brown chair.</li><li>He bought a Italian expensive sports car.</li><li>They live in a stone big traditional house.</li><li>She wore a silk red beautiful dress.</li><li>We saw a metal small strange object.</li><li>It’s an American young talented actor.</li><li>He has a black leather stylish jacket.</li><li>They adopted a white small cute puppy.</li><li>She owns a French modern large restaurant.</li></ol><h3>Bài luyện tập IELTS</h3><p><strong>Viết câu mô tả theo chủ đề, sử dụng ít nhất 8 tính từ theo đúng trật tự.</strong></p><p><strong>Chủ đề</strong>: Describe your dream house.</p><p>Gợi ý viết 5 câu:</p><ul><li>Describe the exterior of the house.</li><li>Describe the living room.</li><li>Describe the bedroom.</li><li>Describe the garden.</li><li>Describe the location</li></ul><h3>Đáp án</h3><p><strong>Bài 1:</strong></p><figure></figure><p><strong>Bài 2: </strong></p><ol><li>a small beautiful old French vase</li><li>a large modern glass office building</li><li>a tiny round silver jewelry box</li><li>an expensive new German sports car</li><li>a long black leather winter coat</li><li>a lovely old stone country house</li><li>a tall young American basketball player</li><li>a large blue ceramic serving bowl</li><li>an ancient mysterious Egyptian stone statue</li><li>a big comfortable brown leather sofa</li><li>a short funny animated children’s movie</li><li>a small cute white Japanese kitten</li><li>an old traditional wooden fishing boat</li><li>a big impressive modern city library</li><li>a beautiful long silk evening dress</li></ol><p><strong>Bài 3: </strong></p><ol><li>a beautiful small old French vase</li><li>a brown old wooden chair</li><li>an expensive Italian sports car</li><li>a big traditional stone house</li><li>a beautiful red silk dress</li><li>a small strange metal object</li><li>a talented young American actor</li><li>a stylish black leather jacket</li><li>a small cute white puppy</li><li>a large modern French restaurant</li></ol><h3>Bài mẫu IELTS</h3><ol><li>I would love to live in a large modern white glass oceanfront house.</li><li>It would have a spacious bright comfortable minimalist living room.</li><li>My bedroom would be a cozy small warm wooden private space.</li><li>Outside, there would be a beautiful large green peaceful garden.</li><li>The house would be located in a quiet charming coastal European town.</li></ol><p>Bài viết trên đã tổng hợp quy tắc <strong>trật tự tính từ</strong> trong tiếng Anh. Hy vọng những kiến thức bổ ích mà ELSA Speak chia sẻ trong danh mục từ loại sẽ giúp ích cho bạn trên con đường chinh phục ngoại ngữ.</p><p>&gt;&gt; Bạn đang tìm một lộ trình học tiếng Anh bài bản, tiết kiệm và hiệu quả? Nhập mã INFVN để nhận mức giá ưu đãi đặc biệt chỉ dành riêng cho học viên ELSA.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 11 Jul 2026 06:39:38 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tu-tinh-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tu-tinh-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Trật tự tính từ trong tiếng Anh (OSASCOMP): Quy tắc và cách nhớ</media:title>
                        <media:keywords>Trật tự tính từ trong tiếng Anh (OSASCOMP): Quy tắc và cách nhớ</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[5+ Dàn ý bài thơ Đồng Chí (hay, ngắn gọn)]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/dan-y-phan-tich-bai-tho-dong-chi-a110695.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/dan-y-phan-tich-bai-tho-dong-chi-a110695.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/dan-y-phan-tich-bai-tho-dong-chi-a110695.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Tổng hợp Dàn ý bài thơ Đồng Chí hay nhất, ngắn gọn giúp học sinh có thêm tài liệu tham khảo để viết văn hay hơn.</p> <h2>5+ Dàn ý bài thơ Đồng Chí (hay, ngắn gọn)</h2> <p>Bài giảng: <b>Đồng chí - Cô Nguyễn Dung (Giáo viên VietJack)</b></p> <h3><strong>Dàn ý bài thơ Đồng Chí</strong></h3> <p><b>Dàn ý bài thơ Đồng Chí - mẫu 1</b></p> <p><b>1, Mở bài</b></p> <p> - Giới thiệu tác giả, tác phẩm </p> <p> + Chính Hữu là một tác giả lớn của nền thi ca cách mạng, vừa là nhà thơ, vừa là chiến sĩ tham gia chiến dịch Việt Bắc.</p> <p> + Bài thơ được sáng tác vào năm 1948, viết về người chiến sĩ, về tình đồng đội, về khát vọng hòa bình.</p> <p><b>2, Thân bài</b></p> <p><i>a, Sự hình thành tình đồng chí</i></p> <p> - Sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân của những người lính: đều là những nông dân, những người con của vùng quê nghèo khó “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá”.</p> <p> - Từ “đôi người xa lạ”, họ cùng đi lính, chung lí tưởng chiến đấu vì Tổ quốc, “súng bên súng đầu sát bên đầu” sát cánh bên nhau trên chiến trường, chia bùi sẻ ngọt “đêm rét chung chăn” mà thành “đôi tri kỷ”.</p> <p> - Nghệ thuật: sử dụng hình ảnh gợi tả đặc sắc, thủ pháp sóng đôi.</p> <p> - Từ “Đồng chí”: cách gọi vừa trang nghiêm vừa thân thuộc, đầy tình cảm, mang hơi thở thời đại mới của cách mạng, kháng chiến. Giọng thơ chùng xuống, lắng đọng, tạo cảm giác thiêng liêng. </p> <p><i>b, Những kỉ niệm, sóng gió cùng trải qua:</i></p> <p> - Cảm thông sâu sắc những tâm tư, nỗi niềm của nhau: vì mục đích chung mà gạt đi niềm riêng tư, để lại sau lưng những gì yêu quý như “ruộng nương”, “gian nhà”, “giếng nước gốc đa” - những hình ảnh đại diện cho quê hương. </p> <p>⇒ Dù tư thế ra đi dứt khoát, “mặc kệ” nhưng họ vẫn nhớ quê hương da diết.</p> <p> - So sánh mở rộng với bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi: </p> <p><i>“Người ra đi đầu không ngoảnh lại</i></p> <p><i>Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”.</i></p> <p> - Cùng chia sẻ những gian lao, thiếu thốn trên chiến trường:</p> <p> + Bệnh sốt rét rừng: “biết từng cơn ớn lạnh”, “run người”, “trán ướt mồ hôi”.</p> <p> + Khó khăn thiếu thốn: áo rách vai, quần vá, không giày, chịu đói rét.</p> <p> - Nghệ thuật: </p> <p> + Liệt kê, tả thực: cụ thể hóa những vất vả trong cuộc sống của người lính những năm kháng chiến chống Pháp, làm nổi bật lên sự sẻ chia, đoàn kết “thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.</p> <p> + Tiếp tục sử dụng thủ pháp sóng đôi: “anh” - “tôi” tạo sự song hành, gắn bó giữa những người đồng đội.</p> <p> - Liên hệ mở rộng với tình đồng đội trong truyện “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê.</p> <p><i>c, Tình đồng chí và khát vọng hòa bình</i></p> <p> Ba câu cuối kết thúc bài thơ bằng hình ảnh hai người đồng đội đứng gác trong đêm:</p> <p> - Cảnh hoang vắng “rừng hoang sương muối” làm nổi bật hình ảnh “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”: hiên ngang, chủ động, “chờ” không sợ hãi.</p> <p> - Hình ảnh đặc biệt: “Đầu súng trăng treo”</p> <p> + Gợi tả: hai người lính đứng gác dưới ánh trăng, trăng lặn xuống thấp dần khi trời gần sáng và như treo trên đầu súng. </p> <p> + Đặt hai biểu tượng đối lập trong cùng một câu thơ: “súng” tượng trưng cho chiến tranh, hiện thực; “trăng” tượng trưng cho vẻ đẹp hòa bình, lãng mạn.</p> <p>⇒ tạo nên một biểu tượng đẹp về cuộc đời người lính: chiến sĩ mà thi sĩ, thấu hiểu hiện thực nhưng vẫn không ngừng hi vọng vào tương lai tươi đẹp.</p> <p> - Nghệ thuật: sử dụng hình ảnh tả thực, cặp hình ảnh đối lập.</p> <p><b>3, Kết bài</b></p> <p> - Kết luận về tác phẩm: miêu tả chân thực những gian khổ thời chiến tranh, ca ngợi tình cảm gắn bó, sẻ chia giữa những người lính, thể hiện khát vọng hòa bình.</p> <p> - Liên hệ thực tiễn: tình đồng chí, tương thân tương ái đến nay vẫn còn nguyên giá trị, những người còn sống luôn trăn trở, nhớ thương đồng đội đã hi sinh ⇒ thế hệ trẻ cần luôn tôn trọng, biết ơn những người lính, phát huy tinh thần tương trợ lẫn nhau trong cuộc sống.</p> <p><b>Dàn ý bài thơ Đồng Chí - mẫu 2</b></p> <p><strong>1. Mở bài</strong></p> <p>Giới thiệu tác giả Chính Hữu và bài thơ Đồng chí.</p> <p><strong>2. Thân bài</strong></p> <p>a. Đoạn thơ thứ nhất (Quê hương anh… Đồng chí!).</p> <p>Giới thiệu quê hương, xuất thân của mình và đồng đội: “nước mặn đồng chua, đất cày lên sỏi đá” → cùng chung cảnh ngộ nghèo khó, là những người nông dân chất phác, mộc mạc.</p> <p>“chẳng hẹn quen nhau”: chiến tranh đã đưa những người nông dân này thành chiến sĩ chiến đấu cùng nhau, thân quen nhau và trở thành đôi bạn thân thiết.</p> <p>“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”: sự kề vai sát cánh, song hành cùng nhau trên khắp những ngả đường chiến đấu.</p> <p>“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”: không chỉ bên nhau trong những chặng đường chiến đấu, họ còn bên nhau trong cuộc sống thường nhật ở chiến trường, chia sẻ với nhau những điều nhỏ nhặt nhất và trở thành người bạn tri kỉ của nhau.</p> <p>“Đồng chí!”: hai tiếng đồng chí thiêng liêng vang lên để khẳng định cho tình bạn keo sơn của hai người chiến sĩ từ sự thấu hiểu đến việc cùng chung lí tưởng.</p> <p>→ Hình ảnh người chiến sĩ hiện lên chất phác, mộc mạc nhưng giàu tình cảm khiến người đọc thêm thương mến, yêu thương.</p> <p>b. Đoạn thơ tiếp theo (Ruộng nương… trán ướt mồ hôi)</p> <p>Sự thấu hiểu cho hoàn cảnh của người đồng chí: Cuộc sống của họ còn nhiều khó khăn nhưng, phải vất vả mưu sinh nhưng họ vẫn gửi lại phía sau để chiến đấu giành độc lập cho tổ quốc.</p> <p>Quay lại thực tại chiến đấu: cơn sốt rét rừng → hoàn cảnh chiến đấu vô cùng khắc nghiệt, gian khổ.</p> <p>c. Đoạn thơ tiếp theo (Áo anh rách vai… nắm lấy bàn tay)</p> <p>Thực tế ở chiến trường: người chiến sĩ không có lấy một manh áo lành lặn để mặc, chiếc quần cũng là từ chắp vá từ mảnh vải bỏ đi mà thành thế mà vẫn phải chống chọi với cái rét. Sự lạc quan của người lính được thể hiện ở nụ cười tươi rói giữa mùa đông buốt giá.</p> <p>Giữa nơi rừng núi hoang vu đầy gai góc, chưa kể đến bom đạn nguy hiểm, người chiến sĩ không có lấy một đôi giày để đi bảo vệ đôi chân của mình, chính vì hoàn cảnh khó khăn thế mà họ hiểu nhau hơn, họ trao nhau cái nắm tay thay cho tình thương, sự đồng cảm, thấu hiểu.</p> <p>d. Khổ thơ cuối cùng</p> <p>Không gian: ban đêm, nơi rừng hoang sương muối.</p> <p>Hình ảnh người lính: đứng canh gác cạnh nhau giữa trời đất để chờ giặc tới.</p> <p>“Đầu súng trăng treo” hình ảnh liên tưởng thú vị, mũi súng ngửa lên trời giống như chiếc giá đỡ ánh trăng tròn, tạo cảm giác thi vị, làm cho người đọc hiểu thêm về khung cảnh chiến đấu.</p> <p><strong>3. Kết bài</strong></p> <p>Nêu khái quát lại nội dung, nghệ thuật và giá trị của tác phẩm.</p> <p><b>Dàn ý bài thơ Đồng Chí - mẫu 3</b></p> <p><strong>a) Mở bài</strong></p> <p>Giới thiệu vài nét về tác giả Chính Hữu: Chính Hữu (1926 - 2007) là “nhà thơ quân đội thực thụ cả ở phía tác giả lẫn tác phẩm”, trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp.</p> <p>Giới thiệu khái quát về bài thơ Đồng chí: Đồng chí (1948) là một trong những bài thơ đặc sắc của ông viết về tình cảm của những người lính gắn bó thiêng liêng trong kháng chiến.</p> <p><strong>b) Thân bài</strong></p> <p><strong>* Khái quát về hoàn cảnh sáng tác</strong></p> <p>Bài thơ được sáng tác vào đầu năm 1948 - sau chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947. Khi đó ông là chính trị viên đại đội, từng theo đơn vị tham gia chiến dịch Việt Bắc và từng sống trong tình đồng chí, đồng đội keo sơn, gắn bó vượt qua những khó khăn gian khổ trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc. Sau chiến dịch, ông bị ốm nặng, phải nằm lại điều trị. Đơn vị đã cử một đồng chí ở lại để chăm sóc cho Chính Hữu và người đồng đội ấy rất tận tâm giúp ông vượt qua những khó khăn, ngặt nghèo của bệnh tật. Cảm động trước tấm lòng của người bạn, ông đã viết bài thơ “Đồng chí” như một lời cảm ơn chân thành nhất gửi tới người đồng đội, người bạn nông dân của mình.</p> <p><strong>* Cơ sở hình thành tình đồng chí.</strong></p> <p>- Cùng chung cảnh ngộ, xuất thân: Đều là những nông dân, những người con của vùng quê nghèo khó “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá”.</p> <p>-&gt; Thành ngữ dân gian “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá” được tác giả vận dụng rất tự nhiên, nhuần nhụy khiến người đọc có thể dễ dàng hình dung được những miền quê nghèo khổ, nơi sinh ra những người lính.</p> <p>+ Hình ảnh “quê hương anh” và “làng tôi” hiện lên với biết bao nỗi gian lao vất vả</p> <p>-&gt; Cấu trúc sóng đôi, đối ứng: “Quê anh - làng tôi” đã diễn tả sự tương đồng về cảnh ngộ.</p> <p>=&gt; Sự tương đồng về cảnh ngộ đã trở thành niềm đồng cảm giai cấp, là cơ sở cho tình đồng chí, đồng đội của người lính.</p> <p>- Cùng chung lí tưởng chiến đấu:</p> <p>Trước khi nhập ngũ, họ đều là những con người xa lạ: “Anh với tôi đôi người xa lạ”</p> <p>“Tự phương trời” họ về đây đứng trong cùng đội ngũ, có một lí tưởng chung, cùng một mục đích cao cả: chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc.</p> <p>Họ cùng đi lính, chung lí tưởng chiến đấu vì Tổ quốc, “súng bên súng đầu sát bên đầu” sát cánh bên nhau trên chiến trường.</p> <p>Hình ảnh “súng” - “đầu” sóng đôi tượng trưng cho nhiệm vụ chiến đấu và lý tưởng cao đẹp. -&gt; Điệp từ “súng” và “đầu” như nhấn mạnh tình cảm gắn bó trong chiến đấu của người đồng chí.</p> <p>- Sự chan hoà, chia sẻ mọi gian lao và niềm vui với đồng đội</p> <p>“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”</p> <p>“Đêm rét chung chăn”: Đêm Việt Bắc thì quá rét, chăn lại quá nhỏ, loay hoay mãi không đủ ấm</p> <p>“Tri kỉ”: người bạn thân thiết hiểu rất rõ về ta</p> <p>-&gt; Vất vả, gian nan đã gắn kết họ lại với nhau và trở thành những người bạn tâm giao gắn bó.</p> <p>=&gt; Những người chiến sĩ chia sẻ với nhau những gian khó đời thường “đêm rét chung chăn”, hiểu rõ về nhau để trở thành “tri kỉ”.</p> <p>Từ “Đồng chí”: cách gọi vừa trang nghiêm vừa thân thuộc, đầy tình cảm, mang hơi thở thời đại mới của cách mạng, kháng chiến.</p> <p>-&gt; Hai tiếng ấy vang lên làm bừng sáng cả bài thơ, là kết tinh của một tình cảm cách mạng cao đẹp: tình đồng chí.</p> <p>=&gt; Như vậy, trong tình đồng chí có tình cảm giai cấp (xuất thân từ nông dân), có tình bạn bè tri kỉ và có sự gắn bó giữa con người cùng chung lí tưởng, chung mục đích chiến đấu.</p> <p><strong>* Những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí</strong></p> <p>- Cảm thông sâu sắc những tâm tư, nỗi niềm của nhau:</p> <p>Họ hiểu về hoàn cảnh ra đi của nhau: bỏ lại sau lưng những gì bình dị, thân thuộc nhất, những gì đã gắn bó với họ từ lúc chào đời: “ruộng nương, gian nhà, giếng nước, gốc đa”</p> <p>Họ cùng nhau xác định lí tưởng: ra đi để bảo vệ những gì thân thương nhất, thái độ dứt khoát ra đi thể hiện quyết tâm chiến đấu.</p> <p>=&gt; Tình cảm đồng chí thân thiết, họ chia sẻ với nhau những gì riêng tư, thân thuộc nhất của họ.</p> <p>Dù tư thế ra đi dứt khoát, “mặc kệ” nhưng họ vẫn nhớ quê hương da diết.</p> <p>Hình ảnh hoán dụ mang tính nhân hoá “giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” càng tô đậm sự gắn bó yêu thương của người lính đối với quê nhà.</p> <p>=&gt; Tâm tư ấy, nỗi nhớ nhung ấy của “anh” và cũng là của “tôi”, là đồng chí họ thấu hiểu và chia sẻ cùng nhau. Tình đồng chí đã được tiếp thêm sức mạnh bởi tình yêu quê hương đất nước ấy.</p> <p>- Sự đồng cam cộng khổ, sẻ chia gian lao thiếu thốn của đời lính trên chiến trường.</p> <p>Thủ pháp sóng đôi: “anh” - “tôi” tạo sự song hành, gắn bó giữa những người đồng đội.</p> <p>“biết từng cơn ớn lạnh”, “run người”, “trán ướt mồ hôi” -&gt; họ thương nhau khi phải trải qua những cơn sốt rét rừng.</p> <p>Khó khăn thiếu thốn đời thường: thiếu thuốc men, áo rách vai, quần vá, không giày, chịu đói rét.</p> <p>“miệng cười buốt giá”</p> <p>-&gt; Sự thiếu thốn về vật chất không làm tình cảm của họ phai nhạt đi, ngược lại làm cho họ quyết tâm hơn vì lí tưởng:</p> <p>“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”</p> <p>Họ nắm tay nhau - cái nắm tay để sẻ chia, truyền hơi ấm, để hi vọng, để quyết tâm -&gt; Cử chỉ cảm động chan chứa tình cảm chân thành, biểu hiện trực tiếp nhất của tình đồng chí.</p> <p><strong>* Bức tranh đẹp về tình đồng chí</strong></p> <p>- Nhiệm vụ gian khổ của người lính:</p> <p>“đêm, rừng hoang, sương muối” -&gt; hoàn cảnh chiến đấu khắc nghiệt</p> <p>Nhiệm vụ của những người lính chiến: đứng gác, phục kích sẵn sàng “chờ giặc tới”</p> <p>- Hình ảnh đặc biệt: “Đầu súng trăng treo”</p> <p>Gợi tả: hai người lính đứng gác dưới ánh trăng, trăng lặn xuống thấp dần khi trời gần sáng và như treo trên đầu súng.</p> <p>Đặt hai biểu tượng đối lập trong cùng một câu thơ: “súng” tượng trưng cho chiến tranh, hiện thực; “trăng” tượng trưng cho vẻ đẹp hòa bình, lãng mạn.</p> <p>=&gt; Một biểu tượng đẹp về cuộc đời người lính: chiến sĩ mà thi sĩ, thấu hiểu hiện thực nhưng vẫn không ngừng hi vọng vào tương lai tươi đẹp.</p> <p><strong>* Đánh giá về đặc sắc nghệ thuật</strong></p> <p>Thể thơ tự do với những câu dài ngắn đan xen linh hoạt</p> <p>Hình ảnh thơ cụ thể, xác thực mà giàu sức khái quát</p> <p>Ngôn ngữ thơ hàm súc, cô đọng, giàu sức biểu cảm</p> <p>Sử dụng nhiều từ ngữ đắt giá</p> <p>Hình ảnh thơ song hành</p> <p><strong>c) Kết bài</strong></p> <p>Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.</p> <p>Cảm nhận của em về tác phẩm. Liên hệ tình đồng chí, tương thân tương ái ngày nay.</p> <p><b>Dàn ý bài thơ Đồng Chí - mẫu 4</b></p> <p><strong>I. Mở bài</strong></p> <p>Giới thiệu tác phẩm: Đồng Chí, tác giả: Chính Hữu.</p> <p>Hoàn cảnh sáng tác: đầu năm 1948, sau khi tác giả đã cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt Bắc.</p> <p><strong>II. Thân bài</strong></p> <p><strong>1. Cơ sở hình thành tình đồng chí</strong></p> <p>- Tình đồng chí bắt nguồn từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân của những người lính:</p> <p>"Quê hương anh nước mặn đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá"</p> <p>“Anh” ra đi từ vùng "nước mặn đồng chua", "tôi" từ miền "đất cày lên sỏi đá".</p> <p>Hai miền đất xa nhau và "đôi người xa lạ" nhưng cùng giống nhau ở cái "nghèo".</p> <p>Hai câu thơ giới thiệu thật giản dị hoàn cảnh xuất thân của người lính: Họ là những người nông dân nghèo.</p> <p>- Tình đồng chí hình thành từ sự cùng chung nhiệm vụ, cùng chung lý tưởng, sát cánh bên nhau trong hàng ngũ chiến đấu:</p> <p>"Súng bên súng, đầu sát bên đầu"</p> <p>Họ vốn "chẳng hẹn quen nhau" nhưng lý tưởng chung của thời đại đã gắn kết họ lại với nhau trong hàng ngũ quân đội cách mạng.</p> <p>"Súng" biểu tượng cho nhiệm vụ chiến đấu, "đầu" biểu tượng cho lý tưởng, suy nghĩ.</p> <p>Phép điệp từ (súng, đầu, bên) tạo nên âm điệu khoẻ, chắc, nhấn mạnh sự gắn kết, cùng chung lý tưởng, cùng chung nhiệm vụ.</p> <p>- Tình đồng chí nảy nở và bền chặt trong sự chan hòa và chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui:</p> <p>“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”</p> <p>Cái khó khăn thiếu thốn hiện lên: đêm rét, chăn không đủ đắp nên phải "chung chăn".</p> <p>Nhưng chính sự chung chăn ấy, sự chia sẻ với nhau trong gian khổ ấy đã trở thành niềm vui, thắt chặt tình cảm của những người đồng đội để trở thành "đôi tri kỷ".</p> <p>=&gt; Sáu câu thơ đầu đã giải thích cội nguồn và sự hình thành của tình đồng chí giữa những người đồng đội. Câu thơ thứ bảy như một cái bản lề khép lại đoạn thơ một để mở ra đoạn hai.</p> <p><strong>2. Những biểu hiện của tình đồng chí</strong></p> <p>- Tình đồng chí là sự cảm thông sâu sắc những tâm tư, nỗi niềm của nhau. Những người lính gắn bó với nhau, họ hiểu đến những nỗi niềm sâu xa, thầm kín của đồng đội mình:</p> <p>“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày,Gian nhà không, mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra lính”</p> <p>Người lính đi chiến đấu để lại sau lưng những gì yêu quý nhất của quê hương: ruộng nương, gian nhà, giếng nước gốc đa. Từ "mặc kệ"cho thấy tư thế ra đi dứt khoát của người lính.</p> <p>Nhưng sâu xa trong lòng, họ vẫn da diết nhớ quê hương. Ở ngoài mặt trận, họ vẫn hình dung thấy gian nhà không đang lung lay trong cơn gió nơi quê nhà xa xôi.</p> <p>- Tình đồng chí còn là cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính :</p> <p>Những gian lao, thiếu thốn trong cuộc sống của người lính những năm kháng chiến chống pháp hiện lên rất cụ thể, chân thực: áo rách, quần vá, chân không giày, sự khổ sở của những cơn sốt rét rừng hành hạ, trời buốt giá, môi miệng khô và nứt nẻ, nói cười rất khó khăn, có khi nứt ra chảy cả máu. Nhưng những người lính vẫn cười bởi họ có hơi ấm và niềm vui của tình đồng đội "thương nhau tay nắm lấy bàn tay".</p> <p>Hơi ấm ở bàn tay, ở tấm lòng đã chiến thắng cái lạnh ở "chân không giày" và thời tiết "buốt giá". Cặp từ xưng hô "anh" và "tôi" luôn đi với nhau, có khi đứng chung trong một câu thơ, có khi đi sóng đôi trong từng cặp câu liền nhau diễn tả sự gắn bó, chia sẻ của những người đồng đội.</p> <p><strong>3. Hình ảnh biểu tượng cho tình đồng chí</strong></p> <p>- Ba câu cuối cùng kết thúc bài thơ bằng một hình ảnh thơ thật đẹp:</p> <p>“Đêm nay rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tớiĐầu súng trăng treo”</p> <p>Nổi lên trên cảnh rừng đêm hoang vắng, lạnh lẽo là hình ảnh người lính "đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới". Đó là hình ảnh cụ thể của tình đồng chí sát cánh bên nhau trong chiến đấu. Họ đã đứng cạnh bên nhau giữa cái giá rét của rừng đêm, giữa cái căng thẳng của những giây phút "chờ giặc tới". Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ, giúp họ vượt lên tất cả...</p> <p>- Câu thơ cuối cùng mới thật đặc sắc: "Đầu súng trăng treo". Đó là một hình ảnh thật mà bản thân Chính Hữu đã nhận ra trong những đêm phục kích giữa rừng khuya.</p> <p>- Nhưng nó còn là một hình ảnh thơ độc đáo, có sức gợi nhiều liên tưởng phong phú sâu xa.</p> <p>"Súng" biểu tượng cho chiến tranh, cho hiện thực khốc liệt. "Trăng" biểu tượng cho vẻ đẹp yên bình, mơ mộng và lãng mạn.</p> <p>Hai hình ảnh "súng" và "trăng" kết hợp với nhau tạo nên một biểu tượng đẹp về cuộc đời người lính: chiến sĩ mà thi sĩ, thực tại mà mơ mộng. Hình ảnh ấy mang được cả đặc điểm của thơ ca kháng chiến - một nền thơ giàu chất hiện thực và giàu cảm hứng lãng mạn.</p> <p>Vì vậy, câu thơ này đã được Chính Hữu lấy làm nhan đề cho cả một tập thơ - tập "Đầu súng trăng treo".</p> <p>=&gt; Đoạn kết bài thơ là một bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của người lính.</p> <p><strong>III. Kết bài</strong></p> <p>Tóm tắt các ý đã phân tích.</p> <p>Liên hệ bản thân.</p> <p><b>Dàn ý bài thơ Đồng Chí - mẫu 5</b></p> <p><strong>1. Mở bài</strong></p> <p>Trong suốt những năm tháng chiến đấu khốc liệt, giữa những người lính chiến đã hình thành một thứ tình cảm hết sức đặc biệt và thiêng liêng ấy là tình đồng chí.</p> <p>Và thứ tình cảm ấy đã được Chính Hữu xây dựng một cách rất giản dị, hồn nhiên và cũng đầy xúc cảm qua bài thơ Đồng chí.</p> <p><strong>2. Thân bài</strong></p> <p><strong>* Tác giả:</strong></p> <p>Chính Hữu (1926-2007), tên khai sinh là Trần Đình Đắc, quê ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, gia nhập vào Trung đoàn Thủ đô năm 1946, cuộc đời của ông trải dọc suốt chiều dài của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ</p> <p>Các sáng tác của ông chủ yếu viết về đề tài chiến tranh và người lính, thơ của Chính Hữu bộc lộ được những cảm xúc chân thành mãnh liệt, ngôn ngữ giàu hình ảnh và giọng điệu phong phú.</p> <p><strong>* Tác phẩm:</strong></p> <p>Đồng chí (1948), in trong tập Đầu súng trăng treo, là tác phẩm đã đánh dấu tên tuổi của Chính Hữu trong thi đàn Việt Nam.</p> <p>Nhan đề "Đồng chí" xét về nghĩa đen là những người có cùng chí hướng lý tưởng, ngoài ra còn là sự khám phá ngợi ca một tình cảm thiêng liêng sâu nặng của một người lính Cách mạng.</p> <p><strong>* Phân tích:</strong></p> <p>- Cơ sở của tình đồng chí (7 câu thơ đầu):</p> <p>Cùng xuất thân là nông dân, đến từ những làng quê nghèo khó đất đai khô cằn.</p> <p>Có chung lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc hòa trong không khí cách mạng thời đại, người nông dân đứng lên làm chủ đất nước.</p> <p>Chung một nhiệm vụ chiến đấu, chung nhau một cuộc đời quân ngũ, chung một hoàn cảnh sinh hoạt, từ đó dẫn đến sự sẻ chia ấm áp.</p> <p>- Biểu hiện của tình đồng chí, đồng đội (10 câu thơ tiếp):</p> <p>Thấu hiểu lẫn nhau, cả về những mối bận lòng, cả về nỗi nhớ quê hương và cả ý chí kiên cường mãnh liệt.</p> <p>Sự đồng cam cộng khổ, trong những năm tháng chiến đấu, dẫu có khó khăn nhưng vẫn kề vai sát cánh, lạc quan trước chiến tranh khắc nghiệt.</p> <p>Tình yêu thương, khao khát được gắn kết, chiến đấu cùng nhau, lấy tinh thần để bù đắp cho những thiếu thốn vật chất =&gt; Tình đồng chí vững bền.</p> <p>- Ca ngợi sức mạnh và vẻ đẹp của tình đồng chí (3 câu thơ cuối):</p> <p>Giữa không gian, thời gian khắc nghiệt, đối diện với trận chiến khốc liệt sắp bắt đầu nhưng người lính chiến vẫn ung dung, điềm tĩnh, luôn ở thế chủ động.</p> <p>Hình ảnh "đầu súng trăng treo" mang nhiều sức gợi: Súng là biểu tượng của chiến tranh, của người lính, trăng lại là biểu tượng của hòa bình, của sự lãng mạn thi vị.</p> <p>Vầng trăng còn đại diện cho vẻ đẹp sáng trong của tình đồng chí, cũng là vẻ đẹp tâm hồn của những người lính chiến, của nhân dân Việt Nam.</p> <p><strong>3. Kết bài</strong></p> <p>- Đồng chí của Chính Hữu đã khám phá và ngợi ca một tình cảm đẹp giữa những người lính chiến ấy là tình đồng chí, đồng đội, qua đó xây dựng thành công hình tượng người lính thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp.</p> <p>- Nghệ thuật nổi bật là lối miêu tả chân thực, tự nhiên giàu sức gợi, từ ngữ hình ảnh cũng rất dung dị nhưng giàu ý nghĩa biểu tượng, giọng thơ tự nhiên cảm xúc dồn nén chân thành.</p> <p><b>Dàn ý bài thơ Đồng Chí - mẫu 6</b></p> <p><strong>1. Mở bài</strong></p> <p>Giới thiệu đôi nét về đề tài chiến tranh, người lính trong thơ ca: Đây là đề tài quen thuộc đã đi vào thơ ca của rất nhiều các tác giả tiêu biểu.</p> <p>Khái lược nét riêng độc đáo của Chính Hữu và Đồng chí - một bài thơ viết theo đề tài người lính: Chính Hữu xuất hiện trên thi đàn với phong cách thơ bình dị. Bài thơ Đồng chí tuy vẫn đi vào đề tài người lính nhưng đã vượt qua tất cả những xáo mòn để mang đến những cảm xúc rất chân thực về tình đồng chí nơi trái tim.</p> <p><strong>2. Thân bài</strong></p> <p><strong>a. Đôi nét về hoàn cảnh sáng tác tác phẩm</strong></p> <p>Bài thơ ra đời đầu năm 1948, giữa lúc nhà thơ và đồng đội hoạt động chống lại cuộc tấn công của Pháp lên chiến khu Việt Bắc.</p> <p>Ra đời trong hoàn cảnh khó khăn nhưng bài thơ có thể đã như một lời động viên tinh thần cho chính tác giả Chính Hữu, làm sang trọng thêm hồn thơ chiến sĩ của ông.</p> <p><strong>b. 7 câu thơ đầu: Sự lí giải về cơ sở của tình đồng chí</strong></p> <p>- Hai câu đầu: Hoàn cảnh xuất thân của những người chiến sĩ:</p> <p>Xuất thân từ ngư dân miền biển (nước mặn đồng chua) và nông dân (đất cày lên sỏi đá)</p> <p>Hoàn cảnh khó khăn, vất vả, nghèo khó</p> <p>⇒ Sự tương đồng về cảnh ngộ xuất thân nghèo khó là cơ sở cho sự đồng cảm giai cấp của những người lính cách mạng.</p> <p>- Hai câu tiếp: Hoàn cảnh gặp gỡ:</p> <p>“Đôi người xa lạ”: Hai đối tượng “anh”- “tôi” vốn không quen biết</p> <p>“Chẳng hẹn quen nhau”: Tuy sự quen nhau là không hẹn trước, nhưng chính việc cùng hoàn cảnh xuất thân, cùng tham gia chiến đấu đã làm họ nảy nở tình cảm cao đẹp.</p> <p>- 3 câu thơ tiếp: Sự gắn kết trọn vẹn giữa những người đồng chí:</p> <p>Hình ảnh song hành “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”: Tình đồng chí nảy nở và bền chặt khi họ chia sẻ với nhau những khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ.</p> <p>Những người chiến sĩ còn chia sẻ với nhau những gian khó đời thường “đêm rét chung chăn”, hiểu rõ về nhau để trở thành “tri kỉ”.</p> <p>Hai tiếng “Đồng chí!” vang lên làm bừng sáng cả bài thơ, là kết tinh của một tình cảm cách mạng cao đẹp: tình đồng chí.</p> <p><strong>c. 10 câu thơ tiếp: Diễn tả những biểu hiện cụ thể vẻ đẹp và sức mạnh của tình đồng chí đồng đội</strong></p> <p>- 3 câu đầu: Tình đồng chí là cảm thông những tâm sự thầm kín về hậu phương, quê hương</p> <p>Họ hiểu về hoàn cảnh ra đi của nhau: bỏ lại sau lưng những gì bình dị, thân thuộc nhất, những gì đã gắn bó với họ từ lúc chào đời: “ruộng nương, gian nhà, giếng nước, gốc đa”</p> <p>Họ cùng nhau xác định lí tưởng: ra đi để bảo vệ những gì thân thương nhất, thái độ dứt khoát ra đi thể hiện quyết tâm chiến đấu</p> <p>⇒ Tình cảm đồng chí thân thiết, họ chia sẻ với nhau những gì riêng tư, thân thuộc nhất của họ</p> <p>- 7 câu tiếp: Đồng chí là cùng chia sẻ với nhau những gian lao thiếu thốn trong đời lính</p> <p>Họ san sẻ cùng nhau, cùng nhau trải qua những “cơn ớn lạnh”, những khi “sốt run người vầng trán đẫm mồ hôi” ⇒ Hình ảnh chân thực, họ thương nhau khi phải trải qua những cơn sốt rét</p> <p>Họ chia sẻ cho nhau, cùng nhau trải qua những thiếu thốn về vật chất trong cuộc sống hằng ngày: “Áo anh rách vai...không giày”: Sự thiếu thốn về vật chất không làm tình cảm của họ phai nhạt đi, ngược lại làm cho họ quyết tâm hơn vì lí tưởng</p> <p>“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” Biểu hiện của tình đồng chí trực tiếp nhất, họ nắm tay nhau - cái nắm tay để sẻ chia, truyền hơi ấm, để hi vọng, để quyết tâm ⇒ Cử chỉ cảm động chan chứa tình cảm chân thành</p> <p><strong>d. 3 câu cuối: Biểu tượng đẹp, giàu chất thơ của tình đồng chí</strong></p> <p>- 2 câu đầu: Nhiệm vụ gian khổ của người lính</p> <p>Hoàn cảnh: đêm, rừng hoang, sương muối ⇒ hoàn cảnh khắc nghiệt</p> <p>Nhiệm vụ của những người lính chiến: đứng gác, phục kích sẵn sàng “chờ giặc tới”</p> <p>⇒ Tình đồng chí được tôi luyện trong thử thách, gian lao, hình ảnh của họ đứng cạnh bên nhau vững chãi làm mờ đi sự gian khổ, ác liệt của chiến tranh, tình đồng chí giúp họ lãng mạn và bình thản trong mọi hoàn cảnh</p> <p>- Câu cuối “Đầu súng trăng treo”: hình ảnh kết thúc đầy bất ngờ, độc đáo, điểm sáng của toàn bài, gợi liên tưởng thú vị:</p> <p>“Súng”: biểu tượng của chiến tranh</p> <p>“trăng”: biểu tượng cho thiên nhiên trong mát, cho hòa bình</p> <p>⇒ Sự hòa hợp giữa trăng và súng làm toát lên vẻ đẹp tâm hồn người lính, vừa nói lên ý nghĩa của việc họ cầm súng chiến đấu là bảo vệ cho cuộc sống thanh bình nơi quê hương ⇒ Tình đồng chí của họ càng thêm cao cả và ý nghĩa bội phần</p> <p><strong>3. Kết bài</strong></p> <p>Khẳng định lại những nét tiêu biểu, đặc sắc về nghệ thuật làm nên thành công của bài thơ Đồng chí: thể thơ tự do, ngôn ngữ cô đọng, hình ảnh chân thực</p> <p>Bài thơ là lời tuyên bố chân thực nhất, bình dị nhất nhưng lại sâu sắc và thiêng liêng nhất về tình đồng chí đồng đội trong hoàn cảnh khó khăn tột cùng</p> <p>Liên hệ cảm nhận riêng của bản thân về tình bạn trong thời đại hiện nay</p> <p><b>Dàn ý bài thơ Đồng Chí - mẫu 7</b></p> <p><strong>A. Mở bài</strong></p> <p>- Giới thiệu tác giả Chính Hữu: Nhà thơ Chính Hữu có họ tên là Trần Đình Đắc, bút danh là Chính Hữu, sinh năm 1928. quê ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Là chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Đồng thời, ông cũng là nhà thơ chiến sĩ trong suốt những năm dài khói lửa chống Pháp và chống Mỹ xâm lược. Chính Hữu làm thơ không nhiều và hầu như chỉ viết về người lính và chiến tranh. Thơ ông bình dị, cảm xúc dồn nén, vừa thiết tha vừa trầm hùng:</p> <p>- Giới thiệu bài thơ "Đồng chí": Bài thơ "Đồng chí là một trong những bài thơ đặc sắc viết về đề tài người lính trong 9 năm kháng chiến chống Pháp và được viết vào đầu mùa xuân năm 1948 tại chiến khu Việt Bắc. Bài thơ ca ngợi tình đồng chí cao cả và thiêng liêng của những người nông dân mặc áo lính, ra đi vì tiếng gọi tổ quốc.</p> <p><strong>B. Thân bài</strong></p> <p><strong>1. Cơ sở hình thành tình đồng chí:</strong></p> <p>- Hai câu thơ đầu có giọng điệu tâm tình của một tình bạn thân thiết:</p> <p>"Quê hương anh nước mặn, đồng chua,Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá".</p> <p>- Những người lính đều có xuất thân là những vùng quê nghèo khổ, là nơi "nước mặn, đồng chua", là xứ sở "đất cày lên sỏi đá". Mượn tục ngữ, thành ngữ để nói về làng quê, nơi chôn nhau cắt rốn thân yêu của mình, Chính Hữu đã làm cho lời thơ trở nên bình dị, chất thơ mộc mạc</p> <p>- Năm câu thơ tiếp theo kể về sự chuyển biến từ"đôi người xa lạ" rồi "thành đôi tri kỉ", về sau trở thành "đồng chí". Chính nhờ cùng mục tiêu chiến đấu nên họ từ những người xa lạ mà gắn kết với nhau thành đồng chí chung một hàng ngũ quân đội.</p> <p><strong>2. Những biểu hiện của tình đồng chí.</strong></p> <p>"Súng bên súng, đầu sát bên đầu,Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.Đồng chí!"</p> <p>- "Súng bên súng" là cách nói ẩn dụ cho việc chung lí tưởng chiến đấu. Họ cùng ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước quê hương, vì độc lập, tự do của dân tộc.</p> <p>- "Đầu sát bên đầu" là hình ảnh diễn tả ý hợp tâm đầu của đôi bạn tâm giao.</p> <p>- Câu thơ "Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ" là câu thơ hay và cảm động gợi ra kỉ niệm một thời gian khổ đã qua.</p> <p>- Câu đặc biệt "Đồng chí" như một lời xúc động của tác giả về tình cảm đồng chí thắm thiết. Nó dường như là một bản lề đóng lại những câu thơ ở trên và mở ra các câu thơ ở dưới.</p> <p>- Ba câu thơ tiếp theo thể hiện việc họ chung một nỗi nhớ: nhớ ruộng nương, nhớ bạn thân cày, nhớ gian nhà, nhớ giếng nước, gốc đa.</p> <p>"Ruộng nương anh gửi bạn thân cày,Gian nhà không mặc kệ gió lung lay,Giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính".</p> <p>- "Giếng nước, gốc đa" là hình ảnh thân thương của làng quê được ẩn dụ và nhân hóa trở thành những con người ở lại có nỗi nhớ đối với người ra đi.</p> <p>- Chung hoàn cảnh khó khăn, đó là trải qua những cơn sốt rét.</p> <p>"Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh,Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi.Áo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh vámiệng cười buốt giá chân không giày,.."</p> <p>- Trong hoàn cảnh thiếu thốn và khổ sở ấy, những người lính vẫn hiện lên với hình ảnh "Miệng cười buốt giá". Hình ảnh này không những thể hiện tinh thần lạc quan của họ mà còn thể hiện được tình đồng chí sâu đậm.</p> <p>- Hình ảnh "Tay nắm lấy bàn tay" chính là cái nắm tay để động viên nhau, truyền cho nhau tình thương và sức mạnh, để vượt qua mọi thử thách.</p> <p><strong>3. Biểu tượng sâu sắc của tình đồng chí</strong></p> <p>- "Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới" cho thấy một tư thế chủ động, cùng nhau kề vai sát cánh của những người lính.</p> <p>- Hình ảnh "đầu súng trăng treo" là một sáng tạo thi ca mang vẻ đẹp lãng mạn của thơ ca kháng chiến. Trong rừng, vầng trăng Việt Bắc giữa núi ngàn chiến khu tỏa sáng trong màn sương mờ huyền ảo. Ta thấy được dường như mọi gian nan căng thẳng của trận đánh sẽ diễn ra đang nhường chỗ cho vẻ đẹp huyền diệu, thơ mộng của vầng trăng, và chính đó cũng là vẻ đẹp cao cả thiêng liêng của tình đồng chí, tình chiến dấu.</p> <p><strong>C. Kết bài</strong></p> <p>Bài thơ "Đồng chí" vừa mang vẻ đẹp giản dị, bình dị khi nói về đời sống vật chất của người chiến sĩ, lại vừa mang vẻ đẹp cao cả, thiêng liêng, thơ mộng khi nói về đời sống tâm hồn, về tình đồng chí của các anh - người lính binh nhì buổi đầu kháng chiến.</p> <p><b>Dàn ý bài thơ Đồng Chí - mẫu 8</b></p> <p><strong>1. Mở bài:</strong></p> <p>Viết về đề tài tình cảm trong chiến tranh vốn là đề tài đước các văn nghệ sĩ hết sức quan tâm. Đóng góp vào kho tàng ấy, nhà thơ Chính Hữu với bài thơ “Đồng chí” đã tái hiện lại hình ảnh người lính chống Pháp một cách chân thực, giàu tính lãng mạn. “Đồng chí” là bài thơ ca ngợi một tình cảm mới, quan hệ mới giữa người với người trong cách mạng và kháng chiến. Đó là tình cảm gắn bó, sẻ chia được gửi vào hai tiếng “đồng chí” thân thương.</p> <p><strong>2. Thân bài:</strong></p> <p><strong>* 7 câu thơ đầu: </strong>Cơ sở hình thành tình đồng chí:</p> <p>Mở đầu bài thơ, tác giả giới giả giới thiệu cảnh ngộ của những người lính:</p> <p>“Quê hương anh nước mặn, đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”.</p> <p>Hai câu thơ sóng đôi nhau như những người bạn bên nhau. Giọng thơ tâm tình, thủ thỉ, tâm tình, thân thiết. Hai cụm từ, hai thành ngữ: “nước mặn đồng chua, đất cày sỏi đá” quen thuộc, gần gũi. Câu thơ mô tả cuộc sống nghèo khó của những người lính. Họ là những người nông dân mặc áo lính, quen thuộc việc cày cấy hơn là cầm súng ra chiến trận. Đất nước có loạn, họ buông tay cuốc tay cày để cầm súng lên đường tiêu diệt kẻ thù chung.</p> <p>Cùng thời, nhà thơ Hồng Nguyên trong bài thơ “Nhớ” cũng viết về những người nông dân mặc áo lính rất cảm động:</p> <p>“Lũ chúng tôi”Bọn người tứ xứGặp nhau hồi chưa biết chữQuen nhau từ buổi một haiSúng bắn chưa quenQuân sự mươi bàiLòng vẫn cười vui kháng chiến”</p> <p>Họ gặp nhau nơi chiến tuyến, trong cùng một đơn vị với bao ước mơ và khát vọng lớn lao. Người lính nông dân áo vải bọc bạch với nhau những lời tâm sự chân thành và thấu hiểu:</p> <p>“Anh với tôi đôi người xa lạTự phương trời chẳng hẹn quen nhau”</p> <p>Hai từ “anh”, “tôi” vừa đứng ở hai dòng thơ, sang đến dòng thơ thứ ba đã hội nhập lại làm một: “Anh với tôi”, trên cùng một dòng thơ. Đó là sự gặp gỡ, là sự đồng tình, đồng cảm… Từ “đôi” mà Chính Hữu sử dụng vừa là vần vừa là điệu, vừa thể hiện sự gắn chặt bên nhau giữa hai người lính, không thể tách rời.</p> <p>Từ “xa lạ” đến “thân quen” là một sự hội ngộ bất ngờ. Sự hội ngộ ấy chính là sự gặp gỡ của những người lính có những điểm chung. Trước hết, ở họ có chung nhau nhiệm vụ chiến đấu, chung một kẻ thù:</p> <p>“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”.</p> <p>Cùng cầm súng bảo vệ tổ quốc. Họ là người lính vệ quốc. Họ có chung một lý tưởng, một niềm tin: đánh tan giặc Pháp xâm lược, đuổi chúng về Tây, xây dựng lại cuộc đời ấm êm, thanh bình của những người nông dân Việt Nam bên ruộng đồng với con trâu, nhánh lúa, củ khoai… Hai từ mang nghĩa chuyển với phương thức ẩn dụ: “súng, đầu” được luyến láy, lặp lại, càng khẳng định ước mơ, lý tưởng ấy của họ. “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”, hai vế câu sóng đôi với nhau như muốn hình tượng hóa những người lính bên nhau có nhau trong cuộc chiến đấu thần kì, chống kẻ thù chung.</p> <p>Họ chung nhau một cuộc chiến đấu gian khổ, thiếu thốn: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”. Cái khó khăn của thời kì đầu kháng chiến chống Pháp mà họ cần phải vượt qua, phải khắc phục và chiến thắng nó. Và cũng từ trong gian khổ, khó khăn, ở họ lại hình thành một tình cảm mới: sự thấu hiểu, chia sẻ, tinh thần đồng cam cộng khổ, họ gọi nhau, xem nhau là “tri kỷ”.</p> <p>Hai câu thơ vừa như một lời tự sự, như một lời chia sẻ, đồng cảm thân thiết giữa những người lính bộ đội cụ Hồ. Từ những điểm chung cao quý ấy, họ gọi nhau là “đồng chí” đầy trìu mến. Hai tiếng đồng chí vừa bình dị vừa thiêng liêng. Bình dị là bởi họ không cần điều chi lớn lao ngay lúc này ngoài việc cùng chung chí hướng, cùng chiến đấu chống kẻ thù bảo vệ đất nước. Thiêng liêng là bởi những người lính Việt Nam đã chọn một danh từ có hàm nghĩa sâu sắc để chỉ một mối quan hệ mang tính thời đại - tình cảm gắn kết của những người cộng sản trong mặt trận chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc.</p> <p>Hai tiếng thơ thân thương biết mấy của quá trình hình thành tình cảm đặc biệt của những người lính: xa lạ → quen nhau → tri kỷ → đồng chí! Câu thơ chỉ có một từ. Một từ lắng đọng. Một từ thiêng liêng, cao cả. Bởi nó khẳng định sự gắn bó bền chặt của những người lính bên nhau, có nhau, không thể cắt rời. Hai tiếng thơ thật tha thiết, cứ thấm dần, thấm dần vào lồng xương, ống máu; ở tận tâm can của họ, động viên họ vượt qua gian khổ, khó khăn; sống chết có nhau, cùng chia ngọt sẻ bùi…</p> <p>Câu thơ như một nốt nhấn trong bản tình ca sâu lắng, là câu thơ chốt của toàn đoạn thơ gồm bảy câu với ý tưởng: Như thế là đồng chí!</p> <p><strong>* 10 câu thơ tiếp theo: Biểu hiện của tình đồng chí:</strong></p> <p>Hai câu đầu:</p> <p>“Ruộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không, mặc kệ gió lung lay”.</p> <p>- Giọng tâm tình, chia sẻ…</p> <p>- Nỗi niềm: ruộng nương → gửi lại bạn thân,</p> <p>Gian nhà → mặc kệ sự nghèo khó.</p> <p>→ “bạn thân” là ai? → mẹ, chị, vợ, em gái của anh? (khi tất cả trai làng đều lên đường đáp lười thiêng liêng của núi sông)</p> <p>→ hai từ “gửi, mặc kệ” → thái độ dứt khoát của người lính: dứt áo ra đi, một lòng lên đường kháng chiến bảo vệ tổ quốc:</p> <p>“Người ra đi đầu không ngoảnh lạiSau lưng thềm nắng lá rơi đầy…”.</p> <p>(Nguyễn Đình Thi)</p> <p>→ Vẻ đẹp của người lính: Đức hi sinh, quên mình, gác lại tình riêng, đáp lời sông núi.</p> <p>→ Biểu hiện tình yêu nước, yêu làng quê của người nông dân sao mộc mạc, dung dị, chân chất, không một chút hoa mỹ cầu kỳ, chau chuốt.</p> <p>Câu tiếp: “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”</p> <p>- “Giếng nước gốc đa” → Những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam (lũy tre, đình làng, dòng sông, bờ ruộng, cầu ao, gốc rạ…) → Gợi đến hình ảnh những người thân ở làng quê; hình bóng quê nhà; hậu phương vững mạnh… đang dõi theo, đang đợi chờ, mong ngóng…</p> <p>- Hình ảnh “Người ra lính” → mang ý nghĩa khái quát → chỉ chung những người con của quê hương đang lên đường bảo vệ tổ quốc; những con người đang xông pha giữa chiến trận gian lao, nguy hiểm, ở tiền tuyến xa xôi.</p> <p>→ Cả hai hình ảnh gắn kết với nhau qua từ “nhớ”, sao thân thương, tha thiết. Đó chính là sự giao hòa, đoàn kết, gắn bó giữa hậu phương và tiền tuyến bền chặt bên nhau → Hai hình ảnh hoán dụ thật đặc sắc, độc đáo.</p> <p>Sáu câu tiếp:</p> <p>“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnhSốt run người vừng trán ướt mồ hôiÁo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giày”.</p> <p>- Những câu thơ ngắn, sóng đôi liên tiếp:</p> <p>“Áo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh vá”</p> <p>Và:</p> <p>“Miệng cười buốt giáChân không giày”.</p> <p>Những câu thơ giàu sức biểu cảm, diễn đạt rất chân thực những khó khăn, thiếu thốn hoặc những lúc ốm đau bệnh tật, những cơn sốt rét rừng trong cuộc sống chiến đấu nhiều gian khổ mà hầu như người lính nao cũng trải qua. Những câu thơ thật gần gũi, thân thuộc như chính cuộc sống chiến đấu lúc bấy giờ trải ra trên trang thơ đến ấn tượng, khó có thể nào quên.</p> <p>Chính Hữu cũng viết trong “Ngày về”</p> <p>“Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặmBụi trường chinh phai bạc áo hào hoa”.</p> <p>Hai câu thơ bóng bẩy, hoa mỹ, thế nhưng ít người nhớ đến. Ngược lại, người đọc nhớ mãi, xúc động đến không cùng những “cơn ớn lạnh, sốt run người, ướt mồ hôi, áo rách vai, quần mảnh vá…” Thế mới thấy thơ hay là hay ở tiếng thơ, lời thơ chân thực, dung dị, mộc mạc của cuộc sống.</p> <p>Hai hình ảnh tưởng chừng đối lập: “Miệng cười buốt giá” và “Chân không giày” làm sáng lên tinh thần lạc quan, yêu cuộc sống chiến đấu lúc bấy giờ của những người lính vệ quốc.</p> <p>Chính cuộc sống ở chiến trường gian khổ, cuộc sống của những người lính cùng chia sẻ, đồng cảm với nhau giúp cho Chính Hữu thêm vốn sống, sự hiểu biết để sáng tác những vần thơ truyền cảm đến vậy! Đồng thời nhưng hình ảnh thơ chân thực, gần gũi với cuộc sống - chiến đấu gian khổ lúc bấy giờ của những người lính vệ quốc đã có sức lôi cuốn gây xúc động mạnh trong lòng độc giả.</p> <p>Nói như nhà thơ Xuân Diệu: “Chính Hữu dám đưa những hình ảnh bình dị mà đặc sắc này vào thơ như tiếng súng bắn đoàng, giản dị mà sâu sắc đến giật mình!” Những gian khổ ấy còn là biểu tượng cho tình đồng đội gắn bó bên nhau ngay cả những lúc gian nan nhất. Đó cũng chính là nét đẹp của người lính Cụ Hồ, nét đẹp của quân đội nhân dân Việt Nam.</p> <p>Câu thơ cuối: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” là một hình ảnh thơ giàu sức biểu cảm. Cách thể hiện tình cảm của người lính cũng giản dị và chân thật như chính con người họ vậy. Không ồn ào, không hình thức; thật lặng lẽ và đầy xúc động! Chỉ là một cái nắm tay hết sức bình thường nhưng bao nhiêu năm tâm sự đều gửi gắm trong đó. Họ nắm tay để truyền cho nhau hơi ấm, sức mạnh, nghị lực; động viên nhau vượt qua gian khổ, thúc giục nhau cùng vững vàng tiến bước đi lên…</p> <p>Đồng cảm, sau này, nhà thơ Lưu Quang Vũ cũng viết</p> <p>“Phút chia tay ta chẳng nói câu gìĐiều muốn nới đôi bàn tay đã nói”.</p> <p>Một sự gặp gỡ thật thú vị.</p> <p><strong>* 3 câu thơ cuối: sức mạnh của tinh thần đồng chí:</strong></p> <p>“Đêm nay rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tớiĐầu súng trăng treo”.</p> <p>Trong những giây phút đối mặt với kẻ thù, tình đồng chí càng trở nên cao đẹp, thiêng liêng. Điều kiện chiến đấu thử thách gian lao: “rừng hoang, sương muối” nhưng những người lính không đơn độc, không rét buốt; bên cạnh họ là tình đồng đội ấm áp: “Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”.</p> <p>Hơn lúc nào hết, người lính thấm thía tình đồng đội, cùng chia sẻ với nhau sự sống và chết. Có đồng đội, họ có tư thế chiến đấu hiên ngang, chủ động, họ biến cái không thể thành có thể, làm cho những gian lao, khó nhọc trở nên nhẹ nhàng.</p> <p>Biểu tượng “Đầu súng trăng treo” là một biểu tượng nghệ thuật độc đáo, đậm chất thơ. Câu thơ có sự kết hợp nhuần nhị giữa hai bút pháp nghệ hiện thực và lãng mạn. Cuộc chiến đấu gian khổ ác, liệt là hiện thực trước mắt. Còn ánh trăng bền vững trên cao là biểu tượng của ước mơ, hạnh phúc và an vui. Hình ảnh còn là sự hài hòa giữa hai tâm hồn chiến sĩ và thi sĩ; giữa hai tính chất: trữ tình và chiến đấu.</p> <p>Cách xây dựng những câu thơ sóng đôi biểu hiện sự gắn bó, sẻ chia những gian nan, nhọc nhằn trong cuộc sống chiến đấu chống kẻ thù chung. Ngôn từ chọn lọc, chân thực, cô đọng và hàm súc → diễn đạt một ý tưởng trọn vẹn đi dọc suốt bài thơ: Tình đồng đội đồng chí thắm thiết - điểm tựa tin cậy cho người lính những khi đối mặt với hiểm nguy - cái chết.</p> <p><strong>3. Kết bài:</strong></p> <p>Chiến tranh đã đi qua nhưng những năm tháng lịch sử ấy là thời khắc không thể nào quên. Nhà thơ Chính Hữu cùng bài thơ “Đồng chí” đã góp thêm vào trang sử hào hùng của dân tộc một hình tượng văn học mơi: hình tượng người lính Cụ Hồ và ý nghĩa cao đẹp của tình đồng đội, đồng chí. Những người lính ấy đã hi sinh anh dũng trong cuộc chiến tranh vệ quốc, mãi mãi được những người đời sau ghi nhớ</p> <p>“Họ đã sống và chếtGiản dị và bình tâmKhông ai nhớ mặt đặt tênNhưng họ đã làm nên Đất Nước”.</p> <h3><strong>Phân tích bài thơ Đồng Chí - mẫu 1</strong></h3> <p>Chính Hữu quê ở Hà Tĩnh là nhà thơ chiến sĩ viết về người lính và hai cuộc chiến tranh, đặc biệt tình cảm cao đẹp của người lính như tình đồng chí, đồng đội và tình yêu quê hương. Tác phẩm ''Đồng Chí'' được viết vào năm 1948, in trong tập ''Đầu súng trăng treo'', là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất viết về người lính cách mạng của văn học thời kháng chiến chống Pháp. Ở bảy câu thơ đầu, tác giả đã cho chúng ta thấy cơ sở để hình thành nên tình đồng chí đồng đội của những người lính cách mạng :</p> <p>“Quê hương anh nước mặn đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đáAnh với tôi đôi người xa lạTự phương trời chẳng hẹn quen nhauSúng bên súng đầu sát bên đầuĐêm rét chung chăn thành đôi tri kỉĐồng chí !''</p> <p>Đầu tiên tác giả cho ta thấy tình đồng chí của họ bắt nguồn từ sự tương đồng về cảnh ngộ xuất thân :</p> <p>''Quê hương anh nước mặn, đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá''</p> <p>Hai câu thơ có kết cấu sóng đôi, đối ứng với nhau :''quê hương anh-làng tôi'', ''nước mặn đồng chua-đất cày lên sỏi đá'', cách giới thiệu thật bình dị, chân thật về xuất thân của hai người lính họ là những người nông dân nghèo. Thành ngữ : ''nước mặn đồng chua'',''đất cày lên sỏi đá'' gợi ra sự nghèo khó của những vùng ven biển bị nhiễm mặn, đất khô cằn không trồng trọt và khó canh tác được. Qua đó, ta có thể thấy đất nước đang trong cảnh nô lệ, chiến tranh triền miên dẫn đến cuộc sống của những người nông dân rất nghèo khổ, khó khăn nhiều thứ. Từ hai miền đất xa lạ, ''đôi người xa lạ'' nhưng cùng giống nhau ở cái ''nghèo'':</p> <p>''Anh với tôi đôi người xa lạTự phương trời chẳng hẹn quen nhau.''</p> <p>Từ ''đôi'' đã gợi lên một sự thân thiết, chung nhau nhưng chưa thể bộc bạch đấy thôi. Nói là ''chẳng hẹn''nhưng thật sự họ đã có hẹn với nhau. Bởi anh với tôi đều có chung lòng yêu nước, lòng căm thù giặc và ý chí chiến đấu để thoát khỏi sự nô lệ của thực dân Pháp, cùng nhau tự nguyện vào quân đội để rồi ''quen nhau''. Đó chẳng phải là đã có hẹn hay sao? Một cái hẹn không lời nhưng mà mang bao ý nghĩa cao cả từ trong sâu thẳm tâm hồn của những chiến sĩ.</p> <p>Tình đồng chí còn được nảy nở từ sự cùng chung nhiệm vụ, cùng chung lý tưởng sát cánh bên nhau trong hàng ngũ chiến đấu :</p> <p>''Súng bên súng, đầu sát bên đầu''</p> <p>Câu thơ là bức tranh tả thực tư thế sẵn sàng, sát cánh bên nhau của người lính khi thi hành nhiệm vụ. Vẫn là hình ảnh sóng đôi, nhịp nhàng trong cấu trúc ''Súng bên súng, đầu sát bên đầu''.''Súng'' biểu tượng cho sự chiến đấu, ''đầu'' biểu tượng cho lí trí, suy nghĩ của người lính. Phép điệp từ (súng, đầu, bên) tạo âm điệu khỏe, chắc, nhấn mạnh sự gắn kết, cùng chung nhiệm vụ, cùng chung chí hướng và lí tưởng. Và tình đồng chí, đồng đội càng trở nên bền chặt và nảy nở hơn khi họ cùng nhau chia sẽ mọi khó khăn, vất vả ở cuộc sống chiến trường :</p> <p>''Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ''</p> <p>Ở núi rừng Việt Bắc thì những cái lạnh giá buốt làm cho những chiến sĩ của chúng ta rất lạnh, đôi khi họ còn bị sốt rất cao do phải sống trong một môi trường khắc nghiệt như vậy. Nhưng vượt lên trên tất cả những khó khăn, thiếu thốn, khắc nghiệt của thời tiết thì họ đã chia sẻ chăn cho nhau để giữ ấm. Chăn không đủ thì những đêm rét buốt họ đắp chung nhau một chiếc chăn để giữ ấm. Chính cái ''chung chăn'' ấy đã trở thành niềm vui, thắt chặt tình cảm của những người đồng đội để rồi họ trở thành ''đôi tri kỷ''. ''Tri kỷ'' thân thiết, gắn bó, hiểu tâm tư tình cảm của nhau. Mà là ''đôi tri kỷ'' thì lại càng gắn bó, thân thiết với nhau hơn. Chính vì thế câu thơ nói đến sự khắc nghiệt của thời tiết, của chiến tranh nhưng sao ta vẫn cảm nhận được cái ấm của tình đồng chí, bởi cái rét đã tạo nên cái tình của hai anh lính chung chăn.</p> <p>Câu thơ cuối là một câu thơ đặc biệt chỉ với hai tiếng ''Đồng chí'' khi nghe ta cảm nhận được sự sâu lắng chỉ với hai chữ ''Đồng chí'' và dấu chấm cảm, tạo một nét nhấn như một điểm tựa, điểm chốt, như đòn gánh, gánh hai đầu là những câu thơ đồ sộ. Nó vang lên như một phát hiện, một lời khẳng định, một tiếng gọi trầm xúc động từ trong tim, lắng đọng trong lòng người về hai tiếng mới mẻ, thiêng liêng ấy. Câu thơ như một bản lề gắn kết hai phần bài thơ làm nổi rõ một kết luận : cùng hoàn cảnh xuất thân, cùng lí tưởng thì trở thành đồng chí của nhau.</p> <p>Tình đồng chí của những người lính cách mạng dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lí tưởng chiến đấu được thể hiện thật tự nhiên, bình dị mà sâu sắc trong mọi hoàn cảnh, nó góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần của những người lính cách mạng,</p> <p>Bài thơ ''Đồng chí'' của Chính Hữu thể hiện hình tượng người lính cách mạng và sự gắn bó keo sơn của họ thông qua những chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, chân thực, cô đọng, giàu sức biểu cảm.</p> <p>Bài thơ mở ra những suy nghĩ mới trong lòng người đọc. Bài thơ đã làm sống lại một thời khổ cực của cha anh ta, làm sống lại chiến tranh ác liệt. Bài thơ khơi gợi lại những kỉ niệm đẹp, những tình cảm tha thiết gắn bó yêu thương mà chỉ có những người đã từng là lính mới có thể hiểu và cảm nhận hết được.</p> <h3><strong>Phân tích bài thơ Đồng Chí - mẫu 2</strong></h3> <p>Đầu năm 1948 Chính Hữu viết bài thơ này. Bài thơ là kết quả của những trải nghiệm thực và những cảm xúc sâu xa của tác giả với đồng đội trong chiến dịch Việt Bắc. Bài thơ nói về tình đồng đội, đồng chí thắm thiết, sâu nặng của những người lính cách mạng mà phần lớn họ xuất thân từ nông dân. Đồng thời bài thơ cũng thể hiện lên hình ảnh chân thực, giản dị mà cao đẹp của anh bộ đội trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp còn rất khó khăn thiếu thốn.</p> <p>Bài thơ” Đồng Chí” viết theo thể thơ tự do, với hai mươi dòng thơ, chia làm ba đoạn. Cả bài thơ đều tập trung vào thể hiện chủ đề về tình”Đồng Chí”. Cái bắt gặp đầu tiên của những người lính là từ những ngày đầu gặp mặt. Họ đều có sự tương đồng về cảnh ngộ nghèo khó ”quê hương anh nước mặn đồng chua, làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”. Những người lính là những người của làng quê nghèo lam lũ, vất vả với cày cấy, ruộng đồng với những làng quê khác nhau. Họ từ các phương trời không hề quen nhau ”từ muôn phương về tụ hội trong hàng ngũ của những người lính cách mạng”. Đó chính là cơ sở của tình đồng chí sự đồng cảm giai cấp của những người lính cùng chung nhiệm vụ chiến đấu để giải phóng quê hương, đất nước. Diễn đạt ý nghĩa đó, tác giả đã diễn tả bằng hình ảnh:</p> <p>“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”.</p> <p>“Súng - đầu” sát bên nhau là tượng trưng cho ý chí và tình cảm, cùng chung lí tưởng, nhiệm vụ chiến đấu, sát cánh bên nhau. Tình đồng chí, đồng đội nảy nở và hình thành bền chặt trong sự chan hoà và chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui. Đó là mối tình tri kỉ của những người bạn chí cốt mà tác giả đã biểu hiện bằng một hình ảnh cụ thể, giản dị mà hết sức gợi cảm: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. Sau câu thơ này, nhà thơ hạ một câu, một dòng thơ, hai tiếng “Đồng chí” vang lên như một “nút nhấn”, là sự kết tinh của mọi cảm xúc, mọi tình cảm. Câu thơ “Đồng chí” vang lên như một phát hiện, một lời khẳng định, đồng thời lại như một cái bản lề gắn kết đoạn đầu với đoạn thứ hai của bài thơ. Dòng thơ hai tiếng “Đồng chí” như khép lại, như lắng sâu vào lòng người cái tình ý sáu câu thơ đầu của bài thơ, như một sự lí giải về cơ sở của tình đồng chí. Sáu câu thơ trước hai tiếng “Đồng chí” ấy là cội nguồn và sự hình thành của tình đồng chí keo sơn giữa những người đồng đội.</p> <p>Mạch cảm xúc và suy nghĩ trong bài thơ được triển khai trong đoạn thơ thứ hai là những biểu hiện cụ thể của tình đồng chí và sức mạnh của tình đồng chí. Sự biểu hiện của tình đồng chí và sức mạnh của nó được tác giả gợi bằng hình ảnh ở những câu thơ tiếp:</p> <p>“Ruộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không mặc kệ gió lung layGiếng nước, gốc đa nhớ người ra lính”</p> <p>“Đồng chí”- đó là sự cảm thông sâu xa những tâm tư, nỗi lòng của nhau. Ba câu thơ trên đưa người đọc trở lại với hoàn cảnh riêng của những người lính vốn là những người nông dân đó. Họ ra đi trở thành những người lính nhưng mỗi người có một tâm tư, một nỗi lòng về hoàn cảnh gia đình, người thân, công việc đồng quê. Họ gửi lại tất cả cho hậu phương, gửi bạn thân cày cấy ruộng nương của mình. Họ nhớ lại những gian nhà trống không “mặc kệ gió lung lay”. Nhưng đành để lại, đành gửi lại, họ phải ra đi vì nghĩa lớn “cứu nước, cứu nhà.”</p> <p>Giờ ở tiền tuyến, họ nhớ về hậu phương với một tình cảm lưu luyến khó quên. Hậu phương, tiền tuyến (người ở lại nơi giếng nước, gốc đa)không nguôi nhớ thương người thân của mình là những người lính nơi tiền tuyến. Tuy dứt khoát, mạnh mẽ ra đi nhưng những người lính không chút vô tình. Trong chiến đấu gian khổ, hay trên đường hành quân họ đều nhớ đến hậu phương- những người thân yêu nhất của mình:</p> <p>“ Ôi! Những đêm dài hành quân nung nấuBỗng bồi hồi nhớ mắt người yêu”</p> <p>(Nguyễn Đình Thi)</p> <p>“Đồng chí”-đó là cùng chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính với những hình ảnh chân thực, xúc động, gợi tả và gợi hình (từng cơn ốm lạnh sốt run người, vầng trán ướt mồ hôi,áo rách vai, quần vài mảnh vá, miệng cười buốt giá, chân không giày) những ngày tháng ở rừng.</p> <p>Để diễn tả được sự gắn bó, chia sẻ, sự giống nhau về cảnh ngộ người lính tác giả đã xây dựng những câu thơ sóng đôi, đối ứng với nhau trong từng cặp, từng câu:</p> <p>“Anh với tôi biết từng cơn ốm lạnh................Chân không giày”</p> <p>Sức mạnh nào đã giúp họ vượt qua tất cả?</p> <p>Hình ảnh” thương nhau tay nắm lấy bàn tay” biểu hiện thật giản đị và xúc động của tình cảm đồng chí, đồng đội thiêng liêng của những người lính. Tình cảm đó là nguồn sức mạnh và niềm vui để họ vượt qua. Cái “bắt tay”(như bàn tay biết nói) chính là tình cảm của người lính truyền cho nhau sức mạnh và niềm tin để họ vượt qua tất cả những gian lao, thiếu thốn, thử thách trong chiến đấu.</p> <p>Tình đồng chí, đồng đội còn biểu hiện ở sự thử thách. Đoạn thơ cuối thật cô đọng bằng hình ảnh khi nhà thơ viết:</p> <p>Đêm nay rừng hoang sương muối............Đầu súng trăng treo”.</p> <p>Đây là một bức tranh đẹp của tình đồng chí, đồng đội- một bức tranh đặc sắc và có ý nghĩa. Bức tranh trên là một cảnh thực trong một đêm phục kích “chờ giặc tới” tại một cảnh ”rừng hoang sương muối” hoang vắng lạnh lẽo nổi bập lên ba hình ảnh gắn kết với nhau ”vầng trăng khẩu súng và người lính” vầng trăng như treo khẩu súng của người lính. Người lính thì “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”.</p> <p>Câu thơ “đầu súng trăng treo” (chỉ có 4 chữ) gây cho người đọc một sự bất ngờ lí thú “ súng và trăng” sao lại hòa quyện vào nhau đẹp thế! Hình ảnh thơ nói lên ý nghĩa cao đẹp của cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của anh bộ đội cụ Hồ trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp.</p> <p>Bài thơ có ba khổ, ba tứ thơ, chủ yếu tạo thành ý chung xuyên suốt toàn bài thơ “Đồng chí”.“Đồng chí -thương nhau nắm lấy bàn tay - đầu súng trăng treo”. Bài thư hàm xúc, mộc mạc, chân thực trong sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, gợi tả, có sức khái quát cao, khắc hoạ được một trong những phẩm chất tốt đẹp của anh bộ đội cụ Hồ. Đó là mối tình đồng chí, đồng đội gắn bó, keo sơn, thắm đượm tình cảm, gian khổ có nhau, sống chết có nhau. Bài thơ có thực, có mơ tạo nên vẻ đẹp của bài thơ, gây cho người đọc những suy tư sâu sắc những cảm xúc sâu lắng. Bài thơ “Đồng chí” có những nét thành công trong việc khắc hoạ hình ảnh người lính cách mạng trong thơ ca kháng chiến.</p> <h3><strong>Phân tích bài thơ Đồng Chí - mẫu 3</strong></h3> <p>Trong bài thơ Đất nước Nguyễn Đình Thi đã viết:</p> <p>Ôm đất nước những người áo vảiĐã đứng lên thành những anh hùng</p> <p>Hình ảnh người chiến sĩ áo vải hiện lên vô cùng đẹp đẽ. Họ - những con người bình dị, mộc mạc, nhưng chính họ là người đã làm nên đất nước. Trong dòng chảy văn học kháng chiến chống Pháp, hình ảnh người lính không ngang tàng, hóm hỉnh như kháng chiến chống Mĩ, nhưng lại mang trong mình nét chất phác, giản dị và hơn hết là tình yêu đất nước tha thiết. Vẻ đẹp tâm hồn đó đã đã Chính Hữu khắc họa rõ nét trong bài thơ Đồng chí.</p> <p>Đồng chí vừa là những nét vẽ rất thực về cuộc sống, chiến đấu của những người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Nhưng đằng sau những nét vẽ chân thực đó lại là một tâm hồn vô cùng lãng mạn, dù cái lãng mạn chỉ mới phảng phất, nhưng cũng đủ để cho người đọc cảm nhận được đầy đủ vẻ đẹp tâm hồn của người lính.</p> <p>Cả tác phẩm như một câu chuyện kể về cuộc đời người lính, nhưng không phải bằng lời văn xuôi mà bằng chính những dòng thơ thấm đẫm cảm xúc. Lời thơ mộc mạc, giản dị và chân thành đã đưa người đọc khám phá cuộc sống chiến đấu, cũng như tâm hồn của họ. Mở đầu bài thơ là những hình ảnh rất chân thực về nguồn gốc xuất thân của người lính nông dân:</p> <p>Quê hương anh nước mặn đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.</p> <p>Họ vốn từ nhiều miền quê khác nhau, người nơi miền chiêm trũng “nước mặn đồng chua”, người lại từ miền đồi núi “đất cày lên sỏi đá” tụ hợp về chung một nơi. Điều gì đã khiến họ rời bỏ quê hương, để đến đây, đó chẳng phải là tình yêu làng, yêu nước nồng nàn đó sao. Thật tinh tế, Chính Hữu đã sử dụng từ “đôi” để nói lên sự gắn bó giữa hai con người xa lạ. Nếu là hai, thì có thể tách rời các thực thể, nhưng đôi thì không thể tách rời nữa. Mà giữa những người chiến sĩ có sự gắn bó, kết dính hài hòa với nhau. Từ đôi đến tri kỉ, rồi đến đồng chí là cả một quá trình thấu hiểu lẫn nhau. Kết lại bảy câu thơ đâu, hai tiếng vang lên đầy ám ảnh, ý nghĩa:</p> <p>Đồng chí!</p> <p>Đồng chí là một khái niệm mới, để nói về những con người cùng chung mục đích, lí tưởng. Và ở họ sau những tháng ngày chiến đấu gian khổ, cùng mang nỗi niềm, lí tưởng, đọng lại, kết tinh lại chính là tình đồng chí bền chặt, sâu sắc. Tình đồng chí ấy không chỉ được gây dựng trên cơ sở tình cảm mà còn được gây dựng trên cơ sở cùng chung giai cấp, mục đích, lí tưởng. Ngày họ ra đi, không màng gian nhà - nơi chốn thân thương đã sinh ra họ; giếng nước, gốc đa gắn bó với kỉ niệm tuổi thơ, nuôi họ khôn lớn. Hai chữ “mặc kệ” như một lời dứt khoát lên đường để thực hiện nhiệm vụ lớn lao hơn, cao cả hơn, đó là nhiệm vụ cứu nước.</p> <p>Không dừng lại ở đó, nét vẽ hiện thực của Chính Hữu tiếp tục xoáy sâu để thấy được cuộc sống vô vàn những khó khăn mà họ phải đương đầu:</p> <p>Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnhSốt run người vầng trán ướt mồ hôiÁo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giày</p> <p>Những cơn sốt rét rừng đã từng được nhà thơ Quang Dũng tái hiện trong bài thơ Tây Tiến: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc/ Quân xanh màu lá dữ oai hùm”. Người chiến sĩ không chỉ phải đương đầu với khói bom, lửa đạn chiến tranh mà họ còn phải đương đầu với rừng thiêng nước độc, với căn bệnh sốt rét rừng ám ảnh đến cả trong giấc ngủ. Căn bệnh này đã cướp đi sinh mạng biết bao người. Chính Hữu không che giấu, mà vẽ những nét rất chân thật, để ta có thể cảm nhận hết sự khắc nghiệt của chiến tranh. Không chỉ vậy họ còn phải đối mặt với sự thiếu thốn về vật chất, những chiếc quần rách tơi tả, chắp vá, cái lạnh của mùa đông thấm vào da thịt; hành quân dài ngày mà chân chẳng có lấy một đôi giày. Nhưng họ đã vượt qua tất cả bằng tình yêu thương, bằng cái nắm tay đầy nồng ấm. Cái nắm tay đó trao truyền sức mạnh, niềm tin và ý chí phấn đấu cho họ. Như vậy, khắc họa chân thực hiện thực cuộc sống của người lính, Chính Hữu không phải để nói lên gian nan, cực khổ mà người lính phải đương đầu mà trên hết là làm sáng lên vẻ đẹp của tình đồng chí, lòng yêu nước.</p> <p>Đằng sau chất hiện thực sống sít, là hình ảnh vô cùng lãng mạn về người lính:</p> <p>Đêm nay rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tớiĐầu súng trăng treo.</p> <p>Câu thơ vừa mang nghĩa thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng, đầy lãng mạn. Trong đêm phục kích chờ giặc, ông chỉ có những người bạn chiến đấu, khẩu súng và vầng trăng, Trời về khuya, có lúc nhìn lên, trăng như treo đầu ngọn súng. Từ thực tế đó, ông đã viết nên hình ảnh “đầu súng mảnh trăng treo”, sau này cắt bớt chữ “mảnh” thành “đầu súng trăng treo”. Nhưng đồng thời khổ thơ cũng đầy chất lãng mạn. Súng là hình ảnh của chiến tranh khói lửa, trăng là hình ảnh của thiên nhiên trong mát, cuộc sống thanh bình. Sự hòa hợp của trăng và súng toát lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính và tình đồng chí của họ, vừa nói lên ý nghĩa cao cả của cuộc chiến tranh yêu nước: Người lính cầm súng là để bảo vệ cho độc lập, tự do của đất nước. Trăng và súng là gần và xa, là chiến sĩ và thi sĩ, là hiện thực và lãng mạn. Tất cả hòa quyện tạo nên vẻ đẹp của người lính, đời lính.</p> <p>Bằng những vần thơ vừa giàu chất hiện thực, vừa thấm đẫm chất lãng mạn, Chính Hữu đã khắc họa thành công hình ảnh người lính vừa giản dị, mộc mạc vừa anh hùng, dũng cảm. Họ là những người chiến sĩ quả cảm, đem hết tuổi trẻ và sức lực để cống hiến cho tổ quốc, cho sự bình yên của quê hương, đất nước.</p> <h3><strong>Phân tích bài thơ Đồng Chí - mẫu 4</strong></h3> <p>Chính Hữu nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp, các tác phẩm của ông tập trung miêu tả về người lính và chiến tranh. Số lượng tác phẩm của ông để lại không nhiều, nhưng chỉ với bài thơ Đồng chí cũng đã đủ để khẳng định vai trò, vị trí của ông trong nền văn học dân tộc.</p> <p>Bài thơ Đồng chí được sáng tác vào đầu năm 1948, khi tác giả cùng những đồng đội của mình tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của Pháp. Trong tác phẩm hình ảnh người lính hiện lên vừa chân thực, vừa hết sức anh dũng.</p> <p>Bảy câu thơ đầu, tác giả nêu lên cơ sở của tình đồng chí. Trước hết họ có chung nhau hoàn cảnh xuất thân: “Quê hương anh nước mặn đồng chua/ Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”. Anh và tôi có cùng cảnh ngộ xuất thân, chúng ta đều đến từ những miền quê nghèo khó. Vì đất nước bị xâm lược, tôi và anh từ những người xa lạ cùng kề vai sát cánh bên nhau chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Chính Hữu cũng thật tinh tế, ông không dùng chữ “hai” mà dùng chữ “đôi”, chữ 2 gợi nên khoảng cách, sự xa lạ giữa hai con người, nhưng chữ đôi lại không như vậy. Đôi gợi lên sự gắn kết, hòa hợp với nhau, qua đó khẳng định sự gắn bó, bền chặt giữa những người đồng đội. Không chỉ chung về hoàn cảnh xuất thân, họ còn cùng chung nhiệm vụ, mục đích và lí tưởng chiến đấu :</p> <p>Súng bên súng đầu sát bên đầu</p> <p>Súng là tượng trưng cho quá trình đấu tranh bảo vệ tổ quốc, còn đầu tượng trưng cho mục đích, lí tưởng chiến đấu. Như vậy, những người lính dù có hoàn cảnh xuất thân khác nhau, nhưng ở họ đều ngời sáng tinh thần yêu nước. Họ chiến đấu để bảo vệ quê hương, chiến đấu để bảo vệ làng xóm thân thương của mình.</p> <p>Để làm sâu sắc hơn tình cảm gắn bó của họ, tác giả còn nhìn thấy ở những người lính ấy một điểm chung khác: Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ. Trải qua gian khổ, khó khăn trong những năm tháng chiến đấu gian lao họ đã trở thành tri kỉ. Hai tiếng tri kỉ thật thiêng liêng và đáng trân trọng. Tri kỉ là những người hiểu bạn như hiểu chính mình. Họ là những người như vậy, không chỉ hiểu mà còn cảm thông cho những nỗi niềm của nhau. Để rồi câu thơ “Đồng chí” chốt lại toàn bộ ý thơ khổ đầu. Câu thơ tách riêng thể hiện cảm xúc dồn nén, chân thành và cho thấy sự thiêng liêng, sâu nặng của tình đồng chí. Đoạn thơ không chỉ là sự lí giải về cơ sở hình thành tình đồng chí mà còn cho thấy quá trình biến đổi từ những người nông dân xa lạ, họ trở thành những người đồng đội sống chết vẫn bên nhau.</p> <p>Câu thơ “Đồng chí” có thể coi là bản lề khép mở giữa hai khổ thơ, khép lại cơ sở hình thành tình đồng chí và mở ra những biểu hiện cao đẹp của thứ tình cảm thiêng liêng ấy. Họ ra đi từ những miền quê khác nhau, nhưng họ đều hiểu về những tâm tư tình cảm của nhau, bởi đó cũng chính là tâm sự của họ: “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày/ Gian nhà không mặc kệ gió lung lay/ Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”. Vì sự độc lập của dân tộc, họ - những người lính gửi gắm lại ruộng nương, vườn tược cho người thân, từ mặc kệ thể hiện thái độ kiên quyết, dứt khoát. Nhưng sự mạnh mẽ đó không hề tỏ ra vô tâm, quyết liệt nhưng không hề lạnh lùng. Từng giây phút ở nơi chiến trường họ vẫn mong ngóng hướng về quê nhà, nhớ về “giếng nước, gốc đa”. Họ tự nén lại yêu thương, nén lại nỗi nhớ nhung khắc khoải để cống hiện trọn vẹn đời mình cho cuộc kháng chiến của toàn dân tộc.</p> <p>Trong chiến trường ác liệt, gian lao họ còn đồng cảm cộng khổ, cùng nhau vượt qua mọi khắc nghiệt của hoàn cảnh. Đó là những cơn sốt rét rừng đã cướp đi sinh mạng của biết bao người lính, đã từng được Quang Dũng tái hiện lại trong bài thơ Tây Tiến:“Anh bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời”. Trong những năm chiến tranh, sốt rét rừng là nỗi ám ảnh với tất cả binh lính, nhưng “anh với tôi” vẫn bên nhau để cùng vượt qua cái “sốt run người”. Họ còn cùng nhau vượt qua những thiếu thốn, khó khăn : áo rách vai, quần vài mảnh vá, chân không giày. Cuộc sống của họ thiếu thốn đủ đường, nhưng nhờ tình cảm đồng đội họ đã vượt qua tất cả những gian khổ đó để bảo vệ tổ quốc. Hình ảnh “tay nắm bàn tay” thật đẹp đẽ, chất chứa biết bao yêu thương, trìu mến, họ luôn bên nhau sẵn lòng chia sẻ mọi khó khăn, thiếu thốn. Tình cảm nồng đậm, ấm áp chân thành đó đã sưởi ấm tâm hồn họ, nâng bước họ trên con đường chiến đấu bảo vệ tổ quốc.</p> <p>Ba câu thơ cuối hoàn chỉnh bức tranh đẹp đẽ về tình cảm đồng chí, đồng đội :</p> <p>Đêm nay rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tớiĐầu súng trăng treo.</p> <p>Bức tranh được tác giả xây dựng trên một không gian vô cùng khắc nghiệt: đêm đã về khuya, sương ngày một xuống dày, cảnh vật trở nên hoang vu, lạnh lẽo. Trong khung cảnh ấy, họ đứng cạnh nhau chờ giặc tới, tư thế của họ thật hiên ngang, chủ động, sẵn sàng nghênh chiến bất cứ lúc nào với kẻ thù. Hình ảnh “đầu súng trăng treo” vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng. Đây trước hết là hình ảnh thực về những đêm canh gác ở rừng, trăng xuống thấp như treo trên đầu mũi súng. Nhưng ngoài ra, trắng là biểu tượng cho hòa bình, súng là biểu tượng cho chiến đấu. Khi kết hợp hai hình ảnh ấy với nhau ta có một biểu tượng thật đẹp đẽ: những người lính cầm súng chiến đấu để bảo vệ hòa bình, độc lập cho dân tộc. Bài thơ kết lại bằng hình ảnh đẹp, hoàn chỉnh bức tranh người chiến sĩ trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp.</p> <p>Tác phẩm được viết bằng thể thơ tự do, với kết cấu mạch lạc, có bản lề khép mở giữa hai phần thơ. Ngôn ngữ thơ giản dị, chân thành mà sâu sắc. Giọng điệu tha thiết, xúc động lòng người đọc. Những hình ảnh giản dị, hàm súc và giàu sức gợi.</p> <p>Bằng những lời thơ chân thành, tha thiết, Chính Hữu đã tái hiện thành công tình cảm đồng chí, đồng đội bình dị mà sâu sắc. Khắc họa vẻ đẹp của những người lính nông dân trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp : họ luôn kề vai sát cánh bên nhau, vượt qua mọi khó khăn, thử thách của hoàn cảnh để bảo vệ đất nước.</p> <h3><strong>Phân tích bài thơ Đồng Chí - mẫu 5</strong></h3> <p>Đề tài người lính là một trong các đề tài quen thuộc trong thơ ca kháng chiến, mỗi nhà thơ bằng sự trải nghiệm và sự nhìn nhận riêng của mình đã khám phá ra những vẻ đẹp khác nhau của anh bộ đội cụ Hồ. Nếu trong "Tây Tiến" (Quang Dũng) ta bắt gặp vẻ đẹp hào hùng mà hào hoa, thanh lịch của những chàng trai ra đi từ đất Hà thành; trong "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" (Phạm Tiến Duật) ta bắt gặp vẻ phong trần, tinh nghịch mà vô cùng mạnh mẽ của những người lính lái xe thì đến với "Đồng chí" của Chính Hữu, người đọc ấn tượng bởi những nét đẹp giản dị, đời thường, thấm đượm tình cảm đồng chí, đồng đội sâu sắc của những người lính chống Pháp từ những buổi đầu kháng chiến.</p> <p>Bài thơ được viết vào khoảng đầu năm 1948, sau khi tác giả cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt Bắc thu - đông. Qua bài thơ, người đọc thấy được tình cảm đồng chí, đồng đội keo sơn, gắn bó mặn nồng.</p> <p>Trước hết bảy câu thơ đầu là cơ sở hình thành nên tình đồng chí, đồng đội của những người lính chống Pháp. Có thể nói, đến với bảy câu thơ mở đầu này, ta bắt gặp một định nghĩa rất riêng của nhà thơ về hai chữ "đồng chí". Đầu tiên, với Chính Hữu, tình đồng chí bắt nguồn sâu xa từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân:</p> <p>Quê hương anh nước mặn đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá</p> <p>Lời thơ mộc mạc, giản dị, chân thành, đã cho thấy những người lính, họ đều xuất thân từ những người nông dân chân nấm tay bùn, vất vả và nghèo khó. Chắc vì thế mà cái mối quan tâm hàng đầu của họ chính là về đất đai khi họ giới thiệu về mình. Thành ngữ "nước mặn đồng chua", gợi lên một miền đất nắng gió ven biển, đất đai bị nhiễm phèn, nhiễm mặn, rất khó trồng trọt. Còn cụm từ “đất cày lên sỏi đá” lại gợi lên trong lòng người đọc về một vùng đồi núi, trung du đất đai cằn cỗi, khó canh tác. Đó là xuất phát điểm về hoàn cảnh xuất thân và cuộc sống của những chàng trai nông dân nghèo khó, lam lũ, cực nhọc. Và cũng nhờ có điểm chung gặp gỡ giống nhau ấy, là cơ sở ban đầu để hình thành trong họ tình đồng cảm, hữu ái giai cấp, tạo tiền để làm nên tình đồng chí, đồng đội, gắn bó keo sơn.</p> <p>Mặc dù, họ cách xa nhau về không gian địa lí, một người vùng biển, một người miền núi cao nhưng họ có cùng chung chí hướng, lí tưởng cách mạng cao đẹp:</p> <p>Anh với tôi đôi người xa lạTự phương trời chẳng hẹn quen nhau</p> <p>Đang quen tay cuốc, tay cày nhưng khi đất nước có giặc ngoại xâm, những người nông dân như vươn lên thành những tráng sĩ. Họ cùng nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, lời vẫy gọi thiết tha của đất nước thân thương đang lâm nguy, họ gác lại tất cả mà vác ba lô, vác súng ra chiến trường chiến đấu. Vì thế, họ lại gặp chung một lí tưởng cách mạng, một mục tiêu chiến đấu thiêng liêng: tình yêu tổ quốc và niềm khát khao đất nước được hòa bình, độc lập.</p> <p>Súng bên súng, đầu sát bên đầuĐêm rét chung chăn thành đôi tri kỉĐồng chí!</p> <p>Từ hai con người vốn chẳng hề thân quen, nay cùng chung lí tưởng cách mạng mà gặp gỡ, từ đó mà làm nên tình đồng chí. Một lí do rất đơn giản nhưng lại rất thiêng liêng và cao cả. Bởi tình cảm đồng chí ấy được chắp cánh bởi lí tưởng và khát vọng cao đẹp của tình yêu đất nước. Và cũng từ đó, tình đồng chí bắt đầu nảy nở và trở nên bền chặt, keo sơn trong chiến đấu và cuộc sống có chiến tranh. Hình ảnh thơ có sự sóng đôi, gợi nên tình gắn bó keo sơn của người lính cách mạng. Trong chiến tranh “súng bên súng”: họ cùng nhau kề vai sát cánh đi bên nhau trong chiến đấu; cùng chung mục tiêu, cùng chung nhiệm vụ. Trong cuộc sống nơi hòn tên, mũi đạn, họ “đầu sát bên đầu”, “đêm rét chung chăn”, gắn bó, sẻ chia, sẵn sàng chia ngọt, sẻ bùi những lúc thiếu thốn về vật chất (chung chăn) và sự khắc nghiệt, dữ dội của tiết trời, khí hậu (sương muối, mưa rừng). Chính sự sẻ chia, đồng cam cộng khổ ấy đã tạo nên hơi ấm để xua tan đi cái lạnh lẽo, cái khắc nghiệt, khó khăn của cuộc đời người lính, giúp họ gắn kết với nhau mà vượt lên gian khó, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà lịch sử đang giao phó:</p> <p>“Thương nhau chia củ sắn lùiBát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”</p> <p>(Việt Bắc - Tố Hữu)</p> <p>Tất cả những hành động và tình cảm chân thành ấy đã làm nên những người bạn “tri kỉ” tri âm mà cao hơn là tình đồng chí, đồng đội bền chặt, thiêng liêng.</p> <p>Trong bảy câu thơ mở đầu, người đọc nhận ra cách xưng hô “anh - tôi” trong mỗi dòng thơ có những sắc thái biểu cảm khác nhau, cho thấy quá trình phát triển về mặt tình cảm của tình đồng chí, đồng đội của người lính: Ban đầu với hai câu đầu, hai đại từ nhân xưng “anh - tôi” chỉ dùng để gọi, giao tiếp của hai con người ở hai thế giới hoàn toàn khác biệt (một người vùng biển; một người vùng cao); Tiếp đó, hai câu thơ tiếp, “anh - tôi” đã gặp gỡ mà quen biết nhau khi cùng chung lí tưởng và mục tiêu chiến đấu, nhưng vẫn chỉ là “đôi người xa lạ”. Cuối cùng, qua thời gian năm tháng đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, họ đã biến sự xa lạ thành thân quen, biến thân quen thành đôi bạn tri kỉ, tri âm. Từ một cá nhân riêng lẻ nhưng sau dần đã trở thành một khối thống nhất và đoàn kết mạnh mẽ không tách rời. Vì thế, hai tiếng “Đồng chí!” được gieo giữa bài thơ vừa có ý nghĩa khép lại đoạn thơ mở đầu, vừa có tính chất mở ra để kết nối đoạn thơ tiếp theo. Đồng thời nó như một lời hô gọi thiêng liêng, trầm hùng và xúc động của những người lính trong chiến tranh và trong tranh đấu. Đó là một câu thơ đặc biệt như là một lời kết luận cho những lí lẽ, cơ sở mà tác giả đưa ra để làm “minh chứng” cho quá trình phát triển hình thành của tình đồng chí. Từ đó, ta bắt gặp một cách định nghĩa bằng thơ rất riêng của Chính Hữu về “Đồng chí”. “Đồng chí” là cùng chung hoàn cảnh, cùng chung lí tưởng, mục tiêu cách mạng, cùng chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn, vất vả trong chiến đấu. Cách lập ý rõ ràng, tạo nên một kết cấu logic chính luận cho bài thơ trữ tình.</p> <p>Nếu như bảy câu thơ đầu, Chính Hữu chỉ ra cơ sở để hình thành nên tình đồng chí, đồng đội thì những câu thơ tiếp theo, tác giả tiếp tục chỉ ra những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí, đồng đội. Trước hết, đồng chí là sự cảm thông sâu xa những hoàn cảnh, tâm tư, nỗi niềm sâu kín của nhau:</p> <p>Ruộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra lính</p> <p>Chúng ta thấy, cả ba câu thơ chỉ xuất hiện đại từ xưng hô “anh” mà không phải “tôi”, điều đó cho thấy lời thơ là lời nói hộ, bộc lộ hộ những tâm tư tình cảm của người bạn mình. Đó là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ người thân yêu nơi hậu phương của người lính. Và qua cách nói hộ ấy, người đọc thấy được tình cảm đồng đội, đồng chí hiện lên thật sâu đậm, họ hiểu bạn mình cũng như hiểu chính mình vậy. Vì thế cho nên, lời thơ cũng chính là bộc bạch chân thành của chính nhân vật trữ tình “tôi” về nỗi nhớ quê hương sâu sắc.</p> <p>Ruộng nương, gian nhà, giếng nước, gốc đa… là những hình ảnh giản dị, quen thuộc ở mọi làng quê Việt Nam. Có lẽ lúc này người lính đang rất nhớ tới quê hương, nơi có gia đình, người thân, có ruộng nương, gian nhà, những tình cảm đẹp đẽ của họ từ thuở ấu thơ đến lúc trưởng thành. Nhưng từ “mặc kệ” đã cho thấy sự quyết tâm ra đi của những người lính; họ gửi lại quê hương, ruộng nương, gian nhà và cả những tình cảm buồn vui của thời thơ ấu cho người thân yêu để lên đường cầm súng đánh giặc cứu nước. Tinh thần hi sinh mạnh mẽ ấy đã được nhà thơ Thanh Thảo bộc bạch bằng lời thơ của mình:</p> <p>“Chúng tôi đã đi không tiếc đời mìnhNhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếcNhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi tổ quốc”</p> <p>Như vậy, câu thơ đã cho thấy được ý thức trách nhiệm công dân cao độ của người lính đối với dân tộc khi tổ quốc lâm nguy. Điều đó cho thấy lòng yêu nước mạnh mẽ, sâu sắc của họ. Hình ảnh “giếng nước gốc đa” là một hình ảnh rất giàu sức gợi, đây vừa là nhân hóa, lại vừa là hoán dụ biểu trưng cho quê hương, người thân nơi hậu phương luôn luôn dõi theo và nhớ nhung người lính da diết. Câu thơ nói quê hương nhớ người lính mà thực ra là người lính đang nhớ nhà. Nỗi nhớ hai chiều nên càng da diết, khôn nguôi. Nhưng chính nỗi nhớ quê hương ấy, lại là động lực mạnh mẽ, thôi thúc và tiếp bước cho họ vươn lên mà mạnh mẽ, trưởng thành, vì sự nghiệp chung lớn lao của đất nước, dân tộc.</p> <p>Không chỉ chia sẻ với nhau những chuyện riêng tư, nỗi nhớ nhung về quê hương, người thân, người lính còn sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau trong lúc hoạn nạn khó khăn:</p> <p>Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnhSốt run người vầng trán ướt mồ hôiÁo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giàyThương nhau tay nắm lấy bàn tay.</p> <p>Đầu tiên, người lính chia sẻ, đùm bọc lẫn nhau khi mắc phải bệnh tật quái ác - những cơn sốt rét ghê gớm. Hình ảnh: “ớn lạnh, sốt run người, ướt mồ hôi” là những biểu hiện cụ thể để nói về căn bệnh sốt rét rừng rất nguy hiểm khi mà trong chiến tranh không hề có đủ thuốc men để chạy chữa. Vì thế các anh phải cắn răng chịu đựng, tự lực, tự cường mà vượt qua. Đây là một hình ảnh xuất phát từ cái nhìn chân thực của người lính trong chiến tranh. Trong bài thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng, nhà thơ cũng đã nhắc tới căn bệnh này:</p> <p>Tây Tiến đoàn binh không mọc tócQuân xanh màu lá dữ oai hùm.</p> <p>Hay trong bài "Dấu chân qua trảng cỏ" của Thanh Thảo, ông cũng từng có câu thơ:</p> <p>Những người sốt rét đương cơnDấu chân bầm xuống đường trơn ướt nhòe.</p> <p>Nhưng khi mắc bệnh, những người lính lại nhận được sự chăm sóc tận tình, chu đáo của những người bạn, người đồng đội nên căn bệnh dù có quái ác nhưng vẫn không thể quật ngã được họ. Từ “với” trong cụm từ “anh với tôi” đã diễn tả sự sẻ chia của người lính đối với người bạn của mình khi bị ốm sốt rét. “Với” ở đây có nghĩa là có sự đồng cảm, sẻ chia, cộng hưởng của tình cảm. Chính sự giúp đỡ động viên chân tình ấy đã giúp họ cùng nhau vượt qua được những căn bệnh sốt rét nguy hiểm - một nỗi ám ảnh kinh hoàng của người lính trong chiến tranh.</p> <p>Người lính không chỉ chia sẻ với nhau về bệnh tật mà còn đồng cam, cộng khổ khi phải đối diện với sự thiếu thốn, khó khăn về vật chất. Hình ảnh: "áo rách vai, quần vài mảnh vá, chân không giày" là những hình ảnh thực có ý nghĩa diễn tả điều đó. Nhưng trong hoàn cảnh ấy, họ đã chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau bằng những hành động chân thành: “Miệng cười buốt giá”, “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Chính nụ cười đã xoá tan đi cái lạnh lẽo của đêm đông giá rét. Họ đùa vui trong gian khổ thiếu thốn. Cùng động viên nhau qua ánh mắt nụ cười. Dù đó chỉ là nụ cười gượng gạo trong “buốt giá” nhưng vẫn chứa chan tình cảm, cho thấy được sự lạc quan mạnh mẽ của họ trong cuộc sống chiến đấu. Còn hành động “tay nắm lấy bàn tay” là một cử chỉ rất cảm động và cần thiết vào lúc này. Họ đã truyền cho nhau hơi ấm của tình thương, cùng dắt tay nhau tiến lên phía trước, vì mục tiêu lí tưởng cách mạng lớn lao: vì hòa bình dân tộc. Và có lẽ, tình yêu thương nhau đã lấp đầy khoảng trống, làm dịu vơi đi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương. Tất cả những cử chỉ ánh mắt, nụ cười, nắm tay ấy đã giúp họ có thêm động lực để vượt qua khó khăn, thử thách. Điều ấy đã làm cho tình đồng chí thêm keo sơn, gắn bó và hóa thành sức mạnh đoàn kết trong suốt cuộc kháng chiến trường kì.</p> <p>Khép lại bài thơ, ba câu thơ cuối vừa giàu chất hiện thực, lại vừa đậm đà chất lãng mạn bay bổng, vừa gợi tả bức tranh không gian toàn cảnh của núi rừng, lại vừa đặc tả tình cảm ấm áp của những người lính trong chiến tranh. Đây là biểu hiện cao đẹp nhất của tình đồng chí, đồng đội. Đồng chí là cùng chung chiến hào:</p> <p>Đêm nay rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tớiĐầu súng trăng treo.</p> <p>Đó là khoảng thời gian “đêm nay” rất cụ thể với khung cảnh “rừng hoang - sương muối” hiu quạnh, lạnh lẽo và khắc nghiệt. Tuy nhiên, người lính vẫn đứng cạnh bên nhau để “chờ giặc tới”. Động từ “chờ” cho thấy được tư thế chủ động và hết sức đề cao cảnh giác của người lính trong khi làm nhiệm vụ. Nghệ thuật tương phản đối lập được tạo ra rất cân đối giữa một bên là không gian núi rừng lạnh lẽo, hoang vu, vắng lặng; với một bên là tư thế chủ động mạnh mẽ như lấn át cả không gian toàn cảnh của người lính. Chính sức mạnh của tình đồng chí đã làm cho người lính vượt lên trên hiện thực khắc nghiệt đó. Các từ gần nghĩa “cạnh - bên” cho thấy sức mạnh của tinh thần đoàn kết, gắn bó luôn có nhau của những người lính. Trên cao là ánh trăng treo lơ lửng trên bầu trời, dưới cái nhìn lãng mạn hóa của Chính Hữu, ánh trăng như đang treo ở đầu mũi súng. Và "trăng" theo đó như trở thành người bạn vừa chứng minh cho tình cảm đồng chí keo sơn của người lính, vừa soi sáng và sưởi ấm cho không gian của rừng đêm sương muối lạnh lẽo bên trên. Hình ảnh “súng - trăng” được đặt cạnh bên nhau khiến người đọc có nhiều liên tưởng: giữa thực tại - mơ mộng; chiến tranh - hòa bình; chiến sĩ - thi sĩ. Sự đan cài giữa hiện thực và lãng mạn ấy vừa cho thấy được hiện thực chiến tranh khó khăn, vất vả; lại vừa toát lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính: họ vừa là chiến sĩ lại vừa là thi sĩ, họ cầm súng chiến đấu để bảo vệ quê hương, đem lại nền độc lập, tự do cho Tổ quốc thân yêu. Có thể nói, ba câu thơ cuối một bức tranh đẹp, như một bức tượng đài sừng sững cho tình đồng chí thiêng liêng, cao cả.</p> <p>Tóm lại, với một ngôn ngữ thơ hàm súc, cô đọng, giàu sức biểu cảm, lời thơ giản dị mà giàu sức tạo hình; giọng điệu tâm tình, nhẹ nhàng, thiết tha, sử dụng sáng tạo bút pháp tả thực và lãng mạn, Chính Hữu đã khắc họa thành công vẻ đẹp chân chất, mộc mạc, bình dị của người lính cụ Hồ trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Bài thơ là một trong những thành công sớm nhất của thi ca cách mạng Việt Nam viết về bộ đội. Khép lại trang thơ, bức tượng đài người chiến sĩ với tình cảm đồng chí, đồng đội cứ dội lên trong tâm trí độc giả với lòng biết ơn sâu sắc sự hi sinh lớn lao vì hòa bình đất nước của các anh. Từ đó, ta mới thấy hết được trách nhiệm của bản thân trong việc bảo vệ và phát triển quê hương, dân tộc mình.</p> <h3><strong>Phân tích bài thơ Đồng Chí - mẫu 6</strong></h3> <p>Chính Hữu - một trong những ngòi bút xuất sắc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam, trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Trong số những tác phẩm tiêu biểu của ông, có một bài thơ đã gây nên tiếng vang hơn cả, khơi gợi tinh thần yêu nước của người dân Việt, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc đó là bài thơ Đồng Chí. Qua vần thơ, lời thơ bình dị, bài thơ đã phác họa lại tình cảm gắn bó, tình đồng đội giữa những người lính, qua đó ngợi ca tình cảm cao đẹp ấy.</p> <p>Những người lính vốn quen với việc đồng ruộng nên họ rất khỏe mạnh. Họ có xuất thân từ những vùng quê khác nhau, những vùng miền xa xôi, hẻo lánh. Vì cùng có trách nhiệm cao cả là bảo vệ Tổ quốc, quê hương của mình, cùng chung tình yêu nước, ý chí quyết tâm nên họ không hẹn mà gặp, quen nhau và gắn bó thắm thiết. Chính Hữu đã kể lại cuộc gặp gỡ ấy như một lời kỉ niệm, hồi tưởng đẹp, mộc mạc mà cảm động:</p> <p>Quê hương anh nước mặn đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.Anh với tôi đôi người xa lạTự phương trời chẳng hẹn quen nhau</p> <p>Thật kì lạ! Mối quen hệ của những người lính ấy thật tình cờ, họ không có hẹn trước gì mà tự nhiên quen. Họ đều chung ý chí chiến đấu vì bảo vệ Tổ quốc, quê hương, muốn thoát khỏi sự đô gộ của giặc Pháp, giúp người dân đất Việt không còn bị áp bức, bóc lột. Mảnh đất đã nuôi dưỡng họ lớn lên đều bị vây bởi những khó khăn; những nương rẫy nước mặn đồng chùa, vùng làng quê đất cày lên sỏi đá.</p> <p>Từ sự xa lạ ban đầu giữa những con người ấy, họ đã quen nhau, gắn bó mật thiết với nhau, gọi là đồng chí. Đôi người - hai con người, cách dùng từ của tác giả đã làm nổi bật lên cả đoạn thơ, tưởng chừng như số phận định mệnh, ngay từ lúc đầu đã báo trước một tình cảm sẽ nảy sinh vô cùng thắm thiết trong chiến đấu:</p> <p>Súng bên súng, đầu sát bên đầuĐêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.Đồng chí!</p> <p>Hình ảnh súng bên súng, đầu sát bên đầu vừa tả thực, vừa mang tính tượng trưng. Điều đó không chỉ làm nổi bật lên hình ảnh hai con người cùng kề vai sát cánh mà còn gợi ra trong lòng người đọc một lý tưởng cao đẹp: mục đích chung không của riêng cá nhân mà là khát vọng tự do, độc lập của toàn dân tộc. Từ việc cùng chung lý tưởng, qua gian khổ, thiết thốn, tình cảm đã nảy sinh giữa đôi người xa lạ ấy.</p> <p>Đêm rét chung chăn thành đôi chi kỉ là một hình ảnh vô cùng cảm động mà thú vị,...Đâu cần điều gì quá cao sang, phô trương, chỉ cần một sự thấu hiểu, đồng cảm qua những gian khổ nơi chiến đấu là họ cũng có thể trở thành tri kỉ bất kể đã bao nhiêu ngày tháng ở bên nhau. Giọng thơ đột ngột bị ngắt nhịp bởi hai tiếng gọi thân thương: Đồng chí ! Dường như đó là tiếng gọi xuất phát từ trái tim, từ xúc cảm thiết tha, thân thương giữa những người lính.</p> <p>Câu thơ đã làm nên một nút thắt đặc biệt, một điểm nhấn, một nét chấm phá riêng biệt cho bài thơ. Âm hưởng da diết của tiếng gọi đã làm rung động người đọc. Đồng chí. Từ việc cùng chung chí hướng - trong gian nan đã tạo nên niềm cảm kích, xúc động chân thành, trong giây láy, tiếng gọi Đồng chí vang lên - phải chăng đó là cung bậc cảm xúc cao quý nhất, thiêng liêng nhất sưởi ấm cho những trái tim buốt giá người lính nơi chiến trường:</p> <p>Ruộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà tranh mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ ra người lính</p> <p>Họ tâm tình, kể chuyện cho nhau nghe, về ruộng nơi anh, về gian nhà không, giếng nước, gốc đa. Hoài niệm hồi ức của quê hương ùa về trong tâm trí họ. Để cho ta hiểu rằng, họ rời xa quê hương cũng chỉ vì muốn tốt đẹp cho quê hương. Vì trách nhiệm cao cả họ đành phải dứt áo ra đi, mặc kệ tất cả những gì là quan trọng nhất đối với bản than ở lại. Không phải họ không lưu luyến, thiết tha những điều đó mà là vì đang hướng đến một mục đích cao cả hơn. Lạ lùng thay, cũng chính nơi đây, tưởng chừng như là nơi đầy căng thẳng, lạnh lẽo họ lại tìm được niềm vui, sự đồng cảm, sẻ chia và nó cũng chính là động lực giúp họ vượt qua biết bao nhiêu là gian nan, khó khăn, thử thách.</p> <p>Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnhSốt run người vừng trán ướt mồ hôi.</p> <p>Những trận sốt rét rừng thâm độc không thể làm nào suy giảm đi ý chí chiến đấu của một con người. Bởi bên họ, luôn có sự tương trợ, giúp đỡ, luôn có tình đồng chí thân thương. Và tất cả thiếu thốn trở thành vô nghĩa:</p> <p>Áo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giá Chân không giày</p> <p>Bằng những chi tiết rất chân thực, tác giả đã tạo nên hình ảnh hai người lính, tuy vất vả, thiếu thốn về vật chất, điều kiện : áo rách vai, quần có vài mảnh giá, chân không giày, nhưng vẫn cươi rất tươi trong cái giá lạnh nơi núi rừng. Và họ đã sưởi ấm cho nhau, họ chính là những hơi ấm cho nhau, bộc lộ tình cảm với nhau bằng những cử chỉ giản dị mà đầy xúc động:</p> <p>Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.</p> <p>Đâu cần vật chất của cải, đâu cần lời hay ý đẹp, những người lính đã bộ lộ tình cảm với nhau thật chân thành lặng lẽ nắm lấy bàn tay của nhau. Chính hơi ấm đôi bàn tay ấy đã làm nên sức mạnh chiến thắng những thực dân vô cùng mạnh.</p> <p>Kết thơ, Chính Hữu đã thể hiện tình đồng chí qua những câu thơ đầy thú vị:</p> <p>Đêm nay rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau, chờ giặc tớiĐầu súng trăng treo.</p> <p>Cảnh rừng núi âm u trời đêm trở nên lãng mạn, đầy chất thơ, khi mà ở đó có hơi ấm tình người. Đầu súng trăng treo - hình ảnh độc đáo và sáng tạo tuyệt vời. Hình ảnh trăng tròn vành vạnh lơ lửng giữa trời như treo trên đầu ngọn súng. Họ đứng bên nhau, nghiêm túc, căng thẳng bởi giặc có thể đến bất cứ lúc nào để chuẩn bị cho phương án tác chiến nhanh nhất. Tình đồng chí, đồng đội đang dần được tỏa sáng, rực rỡ trong giữa cái tối tăm của gian lao chiến đấu.</p> <p>Toàn bộ bài thơ cô đọng, hàm súc với hình ảnh chân thực, giản dị mà thấm thía. Chính Hữu đã thành công trong việc phác họa tình đồng chí cao đẹp. Đọc bài thơ, trong lòng độc giả đã không khỏi xúc động bởi những gì tình cảm chân thành của người lính, sự xót thương bởi những khó khăn mà người lính phải trải qua. Có thể chính vì lẽ đó, mà bài thơ luôn còn sống mãi với thời gian.</p> <h3><strong>Phân tích bài thơ Đồng Chí - mẫu 7</strong></h3> <p>Người lính là một trong những hình ảnh từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng sáng tác bất tận cho bao nhà thơ, nhà văn. Một trong số đó chúng ta phải nhắc đến chính là bài thơ Đồng Chí của tác giả Chính Hữu. Bài thơ đã khắc họa lên tình cảm đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn vô cùng đẹp.</p> <p>Mở đầu bài thơ là hoàn cảnh quen nhau của tình bạn tri kỷ:</p> <p>Quê hương anh nước mặn, đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đáAnh với tôi đôi người xa lạTự phương trời chẳng hẹn quen nhauSúng bên súng, đầu sát bên đầuĐêm rét chung chăn thành đôi tri kỷĐồng chí!</p> <p>Những người lính ở đây là những người nông dân nghèo khổ, cùng chung một nguồn gốc xuất thân từ nơi: "nước mặn đồng chua, đất cày lên sỏi đá" vô cùng chất phác, giản dị, mộc mạc. Chính chiến tranh đã đưa những người nông dân này trở thành chiến sĩ ra trận cùng nhau, thân quen nhau và trở thành đôi bạn thân thiết như người thân một nhà. Bởi ở họ đều có một điểm chung là lòng yêu nước, ghét giặc và ý chí chiến đấu quyết tâm để thoát khỏi sự đô hộ của thực dân Pháp, cùng nhau tự nguyện nhập ngũ để rồi quen biết nhau, cùng kề vai sát cánh, chiến đấu trên mọi mặt trận, mọi ngả đường, sống chết có nhau, chia sẻ với nhau từ những điều nhỏ nhặt nhất như chiếc chăn để cùng nhau trở thành đôi bạn tri kỉ. "Đồng chí!" hai tiếng đồng chí vang lên thật thiêng liêng làm sao để khẳng định cho tình bạn gắn bó keo sơn của hai người chiến sĩ từ sự thấy hiểu đến việc cùng chung lí tưởng. Hình ảnh người chiến sĩ được phác họa lại thực sự chất phác, một mạc, giản dị nhưng giàu tình cảm khiến người đọc không thể không động lòng.</p> <p>Những người lính này ra trận bỏ lại phía sau lưng là quê hương, gia đình, bạn bè, con cái, là cuộc sống thường nhật:</p> <p>Ruộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra línhAnh với tôi từng cơn ớn lạnhSốt run người, vừng trán ướt mồ hôi</p> <p>Giọng thơ thủ thỉ tâm tình cùng với những hình ảnh giản dị quen thuộc cho thấy những người lính vốn là những người nông dân quen chân lấm tay bùn, gắn bới với căn nhà cùng những thửa ruộng. Nhưng khi tổ quốc cần, họ sẵn sàng từ bỏ mọi thứ là những gì thân thuộc nhất để ra đi làm nhiệm vụ cao cả. Từ "Mặc kệ" cho thấy ý chí quyết tâm dứt áo ra đi của người lính. Nhưng sâu xa trong lòng, họ vẫn vô cùng da diết nhớ quê hương. Ở ngoài mặt trận, họ hình dung thấy căn nhà của mình không vững mà bị gió lung lay. Khi người chiến sĩ quay lại thực tại chiến đấu cũng là lúc mà họ phải đối diện với những dịch bệnh vô cùng nguy hiểm như sốt rét (từng cơn lớn lạnh, sốt run người, trán đẫm mồ hôi) trong hoàn cảnh chiến đấu khắc nghiệt, gian khổ, khó khăn.</p> <p>Không chỉ dừng lại ở những cơn sốt rét từng mà người lính còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức khác:</p> <p>Áo anh rách vaQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giàyThương nhau tay nắm lấy bàn tay!</p> <p>Vùng núi rừng Tây Bắc là một địa hình vô cùng hiểm trở, những người lính đã phải chịu rất nhiều khó khăn và gian khổ. Trong điều kiện mà thuốc men, lương thực vô cùng thiếu thốn. Người chiến sĩ khi ra trận chiến đấu đem lại hòa bình cho tổ quốc, một nhiệm vụ cao cả như thế mà còn không có lấy một manh áo lành lặn để mặc, chiến quần cũng chắp vá từ mảnh vải bỏ đi thành thế mà phải chống chọi với cái giá rét, cái đói bên cạnh chiến đấu với kẻ thù xâm lược. Sự lạc quan của người lính thể hiện trê nụ cười tươi rói giữa mùa đông buốt giá. Giữa nơi núi rừng hoang vu đầy chông gai, chưa kể đến bom đạn nguy hiểm, người chiến sĩ không có lấy một đôi giày hoàn chỉnh để bảo vệ đôi chân của mình. Chính vì điều kiện khó khăn như vậy mà họ phải dựa vào nhau hơn, đoàn kết hơn, trao cho nhau cái nắm tay tình thương, sự đồng cảm, thấu hiểu. </p> <p>Kết thơ là hình ảnh bức tranh nơi trú rừng hoang sơ nơi người lính can đảm đang canh giữ, sẵn sàng chiến đấu:</p> <p>Đêm nay rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tớiĐầu súng trăng treo.</p> <p>Không gian của bức tranh hiện lên là buổi ban đêm trong nơi rừng hoang sươn muối và hình ảnh những người lính gác cạnh nhau để chờ giặc tới. Hình ảnh "Đầu súng trăng treo" đã khiến ta liên tưởng đến nhiều hình ảnh thú vị, hiểu thêm về khung cảnh chiến đấu. Họ đã kề vai sát cánh dưới cái giá rét của núi rừng, giữa cái căng thẳng hồi hộp rằng giặc có thể đến bất cứ lúc nào. Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ, giúp họ vượt lên trên tất cả.</p> <p>Đồng Chí là bài thơ tiêu biểu trong phong trào chống thực dân pháp, ca ngợi sự dũng cảm, tinh thần chiến đấu của những người lính nơi chiến trường. Bài thơ đã mang đến cho bạn đọc những sự rung cảm nhất định, đồng cảm với họ và khơi gợi lòng yêu nước thông qua ngòi bút tài hoa của nhà thơ Chính Hữu.</p> <h3><strong>Phân tích bài thơ Đồng Chí - mẫu 8</strong></h3> <p>Nhà thơ Chính Hữu là "nhà thơ quân đội thực thụ", ông trưởng thành từ hai cuộc kháng chiến lớn của dân tộc. Chính Hữu đã có rất nhiều tác phẩm hay về những người lính. Dường như xuyên suốt cả cuộc đời và sự nghiệp của mình, ông chỉ dành trọn tình cảm cho những người lính áo xanh. Bài thơ "Đồng chí" là tác phẩm làm nên tên tuổi của Chính Hữu. Chính Hữu đã vận dụng những tài năng của mình để vẽ ra bức tranh người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp - vừa hào hùng vừa lãng mạn, thấm thía trong tình yêu nước và tinh thần đoàn kết thiết tha.</p> <p>Nhà thơ Chính Hữu sinh năm 1926. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1945, góp mặt trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc. Bài thơ "Đồng chí" được sáng tác năm 1948, lấy cảm hứng từ trải nghiệm của chính mình khi ông tham gia vào chiến dịch Việt Bắc cùng đồng đội. "Đồng Chí" là một trong những bài thơ suốt sắc của nền văn học Việt Nam và cũng là của chính bản thân Chính Hữu viết về người lính trong thời kỳ kháng chiến. </p> <p>Người lính trong bài thơ đã được phác họa qua hình ảnh vô cùng bình dị. Họ là những người xa lạ, có xuất thân từ nhiều vùng miền khác nhau nhưng tựu chung về đây, tụ họp và hình thành nên tình đồng chí.</p> <p>Quê hương anh nước mặn đồng chuaLàng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá</p> <p>Tác giả đã rất tinh tế khi sử dụng cặp từ xưng hô "anh-tôi". Gọi "anh" xưng "tôi" thể hiện sự tôn trọng, trân quý dành cho người đồng đội của mình. Một tiếng "anh" như kéo hai người xa lạ xích lại gần với nhau hơn. Họ đến từ nhiều vùng miền quê khác nhau, cùng nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, cùng mang trên mình trọng trách cao cả mà về đây tụ họp. Một nơi là miền "nước mặn đồng chua", một nơi là vùng "đất cày lên sỏi đá", hai địa phương tuy có khác nhau về tính chất địa lý nhưng đều nghèo, cái vất vả bao trùm cả đời sống. Có lẽ chính cảnh nghèo, sự thấu hiểu nỗi vất vả của nhau khiến các anh thấy phải đoàn kết, gần gũi với nhau hơn, tha thiết hơn, tạo nền tảng hình thành nên tình "đồng chí". Họ không hẹn trước mà quen, đều nghe theo tiếng gọi thiêng liêng nơi Tổ quốc mà lên đường trở thành người lính, chiến đấu mang lại hòa bình cho dân tộc.</p> <p>Anh với tôi đôi người xa lạTự phương trời chẳng hẹn quen nhau</p> <p>Họ không chỉ có chung hoàn cảnh xuất thân, lý tưởng bảo vệ Tổ quốc cao đẹp cũng đã đưa ra những trái tim hòa chung một nhịp đập.</p> <p>Súng bên súng đầu sát bên đầu</p> <p>Súng là đại diện cho nhiệm vụ chiến đấu, đầu là biểu tượng cho sự suy nghĩ, tâm tình, nhớ thương của người lính. Hai người lính đã kề vai sát cánh với nhau thực thi nhiệm vụ, vượt qua mọi hiểm nguy nơi chiến trường. Họ cùng chung lý tưởng, chung chí hướng, thất hiểu nỗi tâm tư của nhau. Tác giả đã khéo léo dùng biện pháp tiểu đối "súng bên súng, đầu sát bên đầu" và biện pháp hoán dụ "đầu sát bên đầu" để gợi lên sự sẻ chia, gắn bó như tri kỷ tâm giao, lúc nào cũng có nhau, lúc nào cũng hiểu nhau.</p> <p>Tình đồng chí như càng bền chặt hơn qua những lần sẻ chia khó khăn, ngọt bùi nơi chiến trường.</p> <p>Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ</p> <p>Sự gian khổ, thiếu thốn về điều kiện vật chất của bộ đội ta những năm đầu đánh Pháp đã được tác giả phác họa lại qua hình ảnh "đem rét chung chăn". Bộ đội đóng quân ở núi rừng, đêm xuống trời rét cắt da cắt thịt nhưng lại chỉ có một tấm chăn mỏng. Những người lính đã chia sẻ nhữn tấm chăn nhỏ nhưng đầy sắp sự yêu thương cho nhau. Tưởng như khó khăn sẽ làm cho người lính nản chí, chùn bước. Nhưng không, khó khăn thì ta chia sẻ, khắc phục, chính khó khăn đã trở thành động lực giúp tình đồng chí được bền chặt, thăng hoa hơn, trở thành tri kỷ của nhau. Người ta nói rằng tình bạn lúc khó khăn chính là tình bạn chân thành và bên lâu nhất.</p> <p>Tuổi thơ khép lại bằng hai tiếng "Đồng chí!". Không dài dòng, hoa mỹ, chỉ hai từ thôi mà đã chứa đựng biết bao ý nghĩa thiết tha. Tiếng gọi "đồng chí" rất trang nghiêm nhưng vô cùng thân thương. Chính Hữu không dùng nhiều từ, nhưng đã dùng từ thật "đắt". Hai từ "Đồng chí" như chiếc bản lề, khép lại sự hình thành đồng chí để mở ra trang thơ mới - trang thơ của tình cảm tha thiết, quý giá giữa những người lính với nhau.</p> <p>Tình đồng chí được gắn kết bằng sự thấy hiểu những tâm tư, suy nghĩ của nhau:</p> <p>Ruộng nương anh gửi bạn thân càyGian nhà không, mặc kệ gió lung layGiếng nước gốc đa nhớ người ra lính</p> <p>Những người lính mới hôm qua còn tay cầy, chân lấm tay bùn, nay nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc yêu thương mà lên đường ra trận. Ruộng nương - thứ quý giá nhất của người nông dân phải "gửi bạn thân cày", gian nhà cũng bị "gió lung lay". Trong tâm trí họ chắc chắn vẫn nặng nỗi nhớ quê hương. Thế nhưng tình yêu đất nước đã được đặt lên trên tất cả. Họ sẵn sàng gửi lại những giq úy giá thân thiết của cuộc sống để ra đi vì nghĩa lớn. Hai từ "mặc kệ" đã thể hiện được tinh thần lạc quan, dứt khoát của người lính. Nặng lòng với quê hương nhưng không quên việc nước, dứt khoát vì Tổ quốc nhưng vẫn không vơi đi nỗi nhớ quê hương. Hai dòng dảy yêu quê và yêu nước vẫn song hành trong tim người chiến sĩ, tiếp thêm sức mạnh để các anh lên đường. Tác gải đã tinh tế sử dụng hình ảnh "giếng nước gốc đa" - biểu tượng của làng quê hương Việt Nam để phác họa lên hình ảnh quê hương. Nghệ thuật hoán dụ và nhân hóa đã giúp bày tỏ nỗi niềm nhớ nhung của nơi hậu phương gửi người tiền tuyến. Bút pháp nhân hóa nỗi nhớ cũng gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc.</p> <p>Tình đồng chí không chỉ là sự chia sẻ tâm tư mà còn là lúc cùng nhau vượt qua gian khó</p> <p>Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnhSốt run người vừng trán ướt mồ hôi</p> <p>Bộ đội thường phải đóng quên trong rừng sâu, nơi rừng hoang nước độc, các anh không những khó khăn về điều kiện vật chất mà còn phải chống chọi với bệnh tật, trải qua những cơn sốt rét rừng nguy hiểm: "từng cơn ớn lạnh" "vừng trán ướt mồ hôi". Nhà thơ Quang Dũng cũng từng viết "Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc/ Quân xanh màu lá dữ oai hùm". Cái đói và bệnh sốt rét khiến tóc mọc không nổi, da xanh như màu lá. Thế mới biết được những khó khăn và thiếu thốn như nào mà bộ đội ta vẫn phải trải qua. Ta càng thêm biết ơn và tự hào về những người chiến sĩ đã hy sinh cuộc sống riêng vì nghĩa lớn dân tộc.</p> <p>Cuộc sống chiến đấu gian khổ cũng được tác giả miêu tả chân thực qua những câu thơ:</p> <p>Áo anh rách vaiQuần tôi có vài mảnh váMiệng cười buốt giáChân không giày</p> <p>Với những câu thơ gợi hình ảnh chân thực và xúc động cùng thủ pháp liệt kê, câu thơ đã diễn tả được nỗi vất vả, thiếu thốn của người lính thời chống Pháp. Nơi rừng sâu giá lạnh nhưng các anh cũng chỉ có trang phục mỏng manh "áo rách vai" "quần vá" "chân không giày". Dù thiếu thốn nhưng tinh thần chiến đấu của các anh vẫn không thể nào bị khuất phục, vẫn luôn lạc quan, yêu đời dẫu cho áo có rách, quần có vá, chân không có giày thì trên môi vẫn nở nụ cười.</p> <p>Kết thơ là hình ảnh tạo nên biểu tượng đẹp cho tình đồng đội</p> <p>Đêm nay rừng hoang sương muốiĐứng cạnh bên nhau chờ giặc tớiĐầu súng trăng treo</p> <p>Vượt lên trên tất cả những khó khăn, thử thách, trái tim người lính vẫn tràn đầy nhiệt huyết chiến đấu, đứng canh gác dù đêm khuya, sương rơi. Tâm thế "chờ giặc: thể hiện sự chủ đông, nghiêm túc trong khi làm việc, hiên ngang của người chiến sĩ. Họ lúc nào cũng sẵn sàng bảo vệ Tổ Quốc.</p> <p>Câu thơ cuối khép lại bài thơ thật đặc biệt. Câu thơ chỉ có 4 chữ ngắn gọn, súc tích, chứa đựng nhiều ý nghĩa. Khi ấy có lẽ đêm đã về khuya, ánh trăng từ từ hạ xuống như treo trên mũi súng. Một hình ảnh thật nên thơ! Trăng và súng là hình ảnh mang tính biểu tượng. Súng là đại diện cho chiến tranh, cho nhiệm vụ, trăng là hình ảnh thơ mộng, là cái đẹp của cuộc sống. Trong cuộc chiến đấu gian khổ, người lính vẫn yêu đời, thưởng thức vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên. Tận hưởng cái đẹp của thiên nhiên nhưng không thể nào quên nhiệm vụ. Cái hiện thực xen vào thơ mộng, chất thép hòa với chất thơ tạo nên biểu tượng kiên cường của những người lính thời xưa. Hào hùng nhưng vẫn rất đỗi lãng mạn, vừa là chiến sĩ vừa là thi sĩ. Hình ảnh ánh trăng cũng là biểu tượng yên bình, của độc lập, của ngày mai tươi sáng. Đây cũng chính là ước vọng và mục tiêu của những người chiến sĩ, mong cho Tổ quốc hòa bình.</p> <p>Với lời thơ mộc mạc, giản dị, chân thành, nhà thơ Chính Hữu đã mang đến một bài thơ thật đặc sắc cho kho tàng thơ ca chiến đấu. Chính Hữu viết về chiến tranh mà không có bom đạn, thế nhưng vẫn tạo được âm hưởng hào hùng, kiêu hãnh. Hình ảnh người chiến sĩ bình dị nhưng vẫn rất hào hùng cùng tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng sẽ luôn ghi dấu trong lòng độc giả, để thế hệ mai sau mãi nhớ và tự hào về một thời khói lửa anh hùng.</p> <p>Bài giảng: <b>Đồng chí - Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)</b></p> <p><b>Mục lục Văn mẫu | Văn hay 9 theo từng phần:</b></p> <ul> <li><b>Mục lục Văn thuyết minh</b></li> <li><b>Mục lục Văn tự sự</b></li> <li><b>Mục lục Văn nghị luận xã hội</b></li> <li><b>Mục lục Văn nghị luận văn học Tập 1</b></li> <li><b>Mục lục Văn nghị luận văn học Tập 2</b></li> </ul> <ul> <li><b>Hơn 20.000 câu trắc nghiệm Toán,Văn, Anh lớp 9 có đáp án</b></li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Fri, 10 Jul 2026 18:31:28 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">5+ Dàn ý bài thơ Đồng Chí (hay, ngắn gọn)</media:title>
                        <media:keywords>5+ Dàn ý bài thơ Đồng Chí (hay, ngắn gọn)</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Sáng tạo là sự phục hồi kí ức]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/tho-la-a110677.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/tho-la-a110677.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/tho-la-a110677.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>Người mà năng lượng cảm hứng lao động sáng tạo giàu có như Nguyễn Quang Thiều kể cũng không nhiều. Mỗi lần nhìn ông, nghe ông, đặc biệt là đọc ông, tôi như được kích hoạt tiếp truyền cái nguồn năng lượng cảm hứng ấy. Tư duy, suy tư, đắm si và/để lao động sáng tạo là cách ông hiện diện giữa cuộc đời, cũng là cách ông tạ ơn cuộc đời. Với ông, đời sống là một kho báu chứa đựng tất cả vẻ đẹp, bí ẩn và phép màu, chỉ đợi nhà văn bước đến mở ra. Ông ước mình một ngày có 48 tiếng để đọc, viết, vẽ…, với tham vọng có thể chạm được vào vẻ đẹp tối thượng của đời sống này.</strong> </p> <p><strong>- Tôi rất khó hình dung, rằng một ngày của ông mà nếu không tư duy không suy tư không lao động sáng tạo thì sẽ như thế nào…</strong></p><p>+ Tôi đã bị cuốn vào niềm đam mê sáng tạo và hình như không có khả năng thoát ra được. Tôi làm việc mọi thời gian mình có. Và khi làm việc nghĩa là tôi tư duy, suy tư. Ai cũng vậy. Tất cả những gì tôi nhìn thấy nơi đời sống này đều khiến trong tôi vang lên câu hỏi, rằng sự việc kia, hình ảnh kia, âm thanh kia… chứa đựng điều gì trong nó và nó đang nói với con người điều gì. Tôi tin, mọi câu chuyện kì vĩ, mọi tư tưởng lớn lao và mọi vẻ đẹp đều đã được sinh ra. </p><p>Nhưng những điều kì diệu đó không phải là một cái bánh, một cốc cà phê… đang bày trên bàn trước ta mà nó hòa vào đời sống đang tuôn chảy. Chúng ta phải bước vào và hòa cùng nhịp chảy đó mới cảm nhận được và mới khám phá được. Nếu tôi không tư duy không suy tư thì tôi sẽ trở nên bất động trong cảm xúc và trí tưởng tượng giống như một con sông mà nước không hề chảy, nó sẽ trở thành một con sông chết. </p><p>Tư duy tạo nên cảm hứng, tạo nên những biến động, tạo nên sự mới mẻ. Tư duy với tôi cũng chính là sự phản biện chính mình. Và đó là một trong những điều vô cùng cần thiết đối với một nhà văn. Tôi nhận thấy, tư duy là con đường duy nhất chống lại sự cũ mòn. Sự cũ mòn là kẻ thù nguy hiểm nhất của sáng tạo.</p><p>Tôi từng ao ước mỗi ngày có 48 tiếng để đọc, để suy tưởng, để viết và vẽ… Sau mỗi một tác phẩm tôi lại lao vào sáng tạo như gấp gáp hơn, như thúc bách hơn. Tôi bị một cảm giác đeo đuổi là cái mình vừa viết đã không chạm được vào cái mình cảm thấy, cái mình dự định. Thế là lại phải tiếp tục lao vào. </p><p>Một nhà thơ nước ngoài nói đại ý, thất bại chính là công việc của nhà thơ ở trong những bài thơ. Tôi thấy tôi đúng trong trường hợp này. Tôi đang viết phần cuối cùng tập thơ có tên Nhật kí người xem đồng hồ. Phần này tôi viết về tất cả những đồ vật có trong phòng làm việc của tôi: bàn, ghế, nhạc cụ, bình hoa, gạt tàn, máy chữ, lò sưởi, rượu vang, giá nến, ấm trà, cửa sổ, chìa khóa, ảnh cũ… </p><p>Đấy là những vật quá quen thuộc đối với tôi cũng như đối với mọi người. Tôi đặt câu hỏi: Những đồ vật kia ngoài ý nghĩa là đồ vật thì chúng còn mang ý nghĩa gì của mĩ học, của cái đẹp, của số phận không? Có. Tất cả đều chứa đựng một lịch sử và những câu chuyện của nó. </p><p>Nhà văn hãy quan sát nó, cảm nhận nó, hòa vào nó, gọi tên nó và biến nó thành một hình ảnh, thành một biểu tượng và đôi lúc thành một lịch sử. Nếu tôi không tư duy về những đồ vật đó, tôi sẽ chẳng bao giờ có khả năng viết về nó để bạn đọc phải đọc. Không ít nhà văn, nhà thơ nghĩ những thứ đó có gì mà viết vì chúng chỉ là những đồ vật. Chính quan niệm đó làm nhà văn trở nên nghèo nàn và hạn chế.</p><p><strong>- Vì là thi sĩ, không phải và không thể là chủ thể duy lí, nên quá khứ có vẻ như là một phần tất yếu đời sống hiện tại của ông. Thơ ông, những cái viết khác của ông, cả cái vẽ của ông nữa, cứ đầy lên tâm thức hồi tưởng…</strong></p><p>+ Quá khứ theo tôi là một hiện thực được xác lập và được kiểm định hơn mọi hiện thực khác. Quá khứ là một hiện thực đã được thời gian và suy tưởng của nhà văn chọn lựa như một lẽ tự nhiên. Thế gian này hình như chẳng có gì thay đổi về bản chất, nó chỉ mới mẻ khi hiện ra trong mắt của nghệ sĩ. Và những điều mới mẻ ấy ngay lập tức và đương nhiên chứa đựng những thông điệp của chính thời đại mà nhà văn đang sống thông qua những tác phẩm dù anh viết về quá khứ hay tương lai và bằng bất cứ hình thức nào. </p><p>Thực tế, quá khứ với nhiều người nghe có vẻ xa xôi như của vài chục, vài trăm năm trước. Nhưng thực ra nó mới mẻ như hiện tại và nó tồn tại ngay bên trong hiện tại. Nhà thơ giải Nobel người Mexico - Octavio Paz nói: “Khi tôi nói tôi đang sống thì ngay sau đó khoảnh khắc ấy đã trở thành quá khứ’’. </p><p>Với tôi, sáng tạo không phải là làm ra một thế giới chưa từng có trước đó mà chỉ là sự phục hồi kí ức mà thôi. Những tác phẩm văn học viễn tưởng nói về đại dương, về vũ trụ, về sự kì diệu của con người… trước kia chỉ được coi là sản phẩm trí tưởng tượng đậm chất hoang đường của nhà văn. </p><p>Nhưng rồi tất cả đã trở thành sự thật và hơn thế. Khi tôi viết về vẻ đẹp thiên nhiên của mấy chục năm trước thì nó lại trở thành hình ảnh của tương lai mà con người mơ tới vì con người đã đánh mất nó. Sự hồi tưởng luôn chứa đựng trong nó những vẻ đẹp mang tính văn hóa đồng thời chứa đựng những giấc mơ về những gì tốt đẹp.</p><p><strong>- Tôi nhiều lúc cứ lơ mơ nghĩ, rằng nếu mình ráo hoảnh cảm xúc cảm giác sống thì không biết khi ngủ có mơ không, nếu có thì mình có bận tâm ám ảnh về những giấc mơ không. Cũng vì thực tại của cá nhân nghèo nàn quá, mà giấc mơ nhiều khi lại thực hơn cả đời thực, nên tôi thường khi kí ức hoá giấc mơ, coi nó là trải nghiệm thực của mình, cho nó dự phần sinh động vào đời sống tinh thần tổng thể của mình…</strong></p><p>+ Tôi nghĩ ai cũng có trong giấc ngủ những biến động có hình ảnh. Nhưng có hai biến động. Một cái được gọi là giấc mơ (chỉ sự đẹp đẽ) và cái kia gọi là ác mộng (chỉ những điều tồi tệ). Và chúng ta đang nói về những hình ảnh, câu chuyện đẹp đẽ đã hiện ra trong giấc ngủ. Giấc mơ, theo tôi, là hiện thực hóa những phần sống mà mình chưa được sống và khát vọng về nó. Thậm chí, tôi luôn tin rằng, giấc mơ là một hình thức sống ở một không gian khác hay một cảnh giới khác. </p><p>Con người đôi khi vì thói thực dụng và đầy tính sở hữu luôn nghĩ rằng giấc mơ chỉ là một ảo ảnh, là cái không có thực. Bởi thế họ cần hiện thực. Chúng ta từng khóc trong giấc mơ và đau đớn tận cùng khi mơ thấy một người thân yêu rời bỏ đời sống. Cái chết của một người thân yêu trong giấc mơ có thể không thực nhưng nỗi đau đớn là có thực và làm chúng ta khóc rống lên trong giấc ngủ. Nhưng ai dám cam đoan rằng ở một không gian khác người thân yêu ấy của chúng ta không phải đã mất. </p><p>Chúng ta quá nhỏ bé và giới hạn vô cùng trước những bí ẩn vô tận của đời sống. Nói tận cùng thì tác phẩm văn học, đặc biệt là thơ, chính là một giấc mơ được văn bản hóa. Bởi hiện thực trong tác phẩm là một hiện thực của cảm xúc, của suy tưởng, của trí tưởng tượng và tính dự báo. Nó không thuộc về quá khứ hay hiện tại, nó chỉ lấy hiện thực của quá khứ và hiện tại để dựng nên một đời sống mà nhà văn mơ đến. Phục hồi kí ức là phục hồi những vẻ đẹp và làm nó sống lại với hơi thở rực nóng như đang sống trong hiện tại mà thôi.</p><p><strong>- Phải thế chăng mà thơ ông thường khi phi thường hoá cái bình thường, lễ nghi hoá cái đời thường. Đọc ông, tôi và chắc hẳn nhiều người cũng như tôi ý thức hơn trong việc mài giũa giác quan để cảm nhận đời sống, để thụ hưởng vẻ đẹp khuất lấp tàng ẩn của đời sống…</strong></p><p>+ Nhà thơ Mĩ Walt Whitman nói đại ý, thơ ở dưới chân bạn, hãy cúi xuống và nhặt lên. Cách nói của ông là để nói rằng, thơ ca nằm ở mọi nơi chốn trong đời sống. Thơ ca không chọn một không gian riêng biệt nào để trú ngụ và xuất hiện. Nó phụ thuộc vào sự nhận biết của nhà thơ. Thơ trú ngụ ở thiên đường đồng thời cũng trú ngụ nơi địa ngục. Thơ đợi nhà thơ trong sự sống và cũng đợi nhà thơ trong sự chết. </p><p>Chỉ sau khi chết, thơ của một phụ nữ trẻ người Mĩ tên Emily Dickinson mới được phát hiện và bà trở nên nổi tiếng toàn thế giới. Bà là một người độc thân, nhiều bệnh tật và hầu như chỉ sống trong căn phòng của mình. Đó là một không gian vô cùng hạn hẹp và cảm giác như chẳng có gì mới mẻ hay lớn lao ngoài nghĩa là một phòng ngủ của một người độc thân. Nhưng từ căn phòng đó bà đã nhìn thấu thế giới. </p><p>Vấn đề đối với nhà thơ là cái nhìn và sự trân trọng đời sống này đến tận cùng. Trong trường ca Lò mổ sắp xuất bản, tôi viết một đoạn thơ dài về những con nhặng bay trong không gian giữa ban mai ở làng quê trước kia. Khi đọc đoạn này (qua bản dịch tiếng Anh), một giáo sư văn học đồng thời là một nhà thơ danh tiếng ở Mĩ đã viết thư cho tôi nói rằng ông bị những con nhặng xanh thôi miên vì chúng đẹp lạ lùng và ông thay đổi quan niệm của mình về lũ ruồi. </p><p>Bạn đọc đừng nghĩ rằng tôi đang đánh tráo bản chất của loài ruồi. Tôi chỉ mang đến cái nhìn bằng đôi mắt và tâm hồn của một đứa trẻ thôn quê về những con nhặng xanh bay trong ban mai. Những nhà làm phim nước ngoài đã từng làm phim về chuột hay đến mức cả trẻ con và người lớn đều bị quyến rũ. Mọi thứ trên thế gian này đều bình đẳng và có giá trị riêng của nó, chỉ có sự ích kỉ và vô cảm của con người đã dẫn đến sự phân loại ngốc nghếch và ngạo mạn mà thôi.</p><p>Nhà thơ Charles Simic, giải Pulitzer Mĩ, viết: “Nhà thơ là người quan sát cuộc sống và bị cuộc sống làm cho kinh ngạc. Nhà thơ chỉ có nhiệm vụ giữ lại những khoảnh khắc đó của cuộc sống”. Bạn đọc ở mọi quốc gia đều biết đến cái làng Macondo trong Trăm năm cô đơn của nhà văn Gabriel Garcia Marquez. </p><p>Tôi thấy rằng, hầu hết các làng ở Việt Nam đều có những câu chuyện như của cái làng Macondo, chỉ có điều là ở cái làng đó có một ông Marquez hay không thôi. Đời sống là một kho báu chứa đựng tất cả vẻ đẹp, bí ẩn và phép màu, chỉ đợi nhà văn bước đến mở ra. </p><p>Trong mọi không gian đều chứa đựng thiên đường, trong mọi ngôn từ đều chứa đựng thi ca và trong mọi chuyển động đều chứa đựng nghi lễ. Danh họa Pablo Picasso nói: “Nếu ngày ngày thức dậy, bạn không nhìn đời sống này bằng đôi mắt trẻ thơ, bạn không thể vẽ được’’. </p><p>Văn học cũng vậy. Cái gì hiện ra trong mắt một đứa trẻ? Tất cả những gì hiện ra trong mắt một đứa trẻ đều hiện ra trong mắt một người lớn. Chỉ có một điều khác biệt là trong mắt một đứa trẻ mọi điều đều trở nên lạ lùng, bí ẩn, rực rỡ và kì vĩ. Hồi 5 tuổi, khi được mẹ đưa qua sông sang quê ngoại của mẹ, tôi kinh ngạc trước sự kì vĩ và quyền lực của con sông Đáy chảy qua làng tôi. </p><p>Nhưng khi tôi 50 tuổi, sự kì vĩ và quyền lực của dòng sông biến mất. Không phải dòng sông đánh mất những điều đó của nó mà tôi đã đánh mất cảm xúc và trí tưởng tượng của tôi. Chúng ta lao vào những sự kiện này nọ của xã hội và đôi khi choáng ngợp trước kích thước của nó nhưng lại quên đi sự mở cánh của một bông hoa. </p><p>Tôi đã từng quan sát một cái tổ kén xấu xí và đen đúa nằm bất động như chết trên một nhánh cây nhỏ. Nhưng rồi một ngày, từ sự bất động và đen đúa như một cái chết nở ra một cánh bướm lộng lẫy và kì vĩ. Và có buổi chiều, tôi ngồi rất lâu trong khu vườn ở thôn quê hình dung sự chuyển động của cánh bướm trong cái tổ kén đó. Đó là sự huyền diệu của sự sống. </p><p>Sự huyền diệu đó chỉ cho chúng ta một nguyên lí tối cao của đời sống và dạy chúng ta một bài học tuyệt đỉnh về triết học. Nếu cái tổ kén ấy to bằng tòa nhà trăm tầng thì sự chuyển động của cánh bướm bên trong nó sẽ dội vang những âm thanh và cánh bướm mở ra như một đám mây ngũ sắc khổng lồ che trên bầu trời thành phố. Lúc đó, bạn sẽ thấy nó kì vĩ đến nhường nào. </p><p>Nhà thơ giải Nobel người Ba Lan, Wisawa Szymborska, viết một bài thơ về những người rơi từ tòa tháp đôi xuống đất trong ngày 11/9/2001. Toàn bộ hiện thực của sự kiện ấy là cái chết. Nhưng bà chỉ viết về khoảng thời gian họ đang rơi trên bầu trời New York xanh thẳm và rực nắng. Họ rơi xuống nhưng lại như những con người đang bay trên bầu trời. Bà đã biến một cái chết thành một sự sống kì lạ.</p><p><strong>- Trách nhiệm xã hội (nếu có) của nhà thơ, như ông vừa nói, là dùng ngôn từ nghệ thuật để cử hành nghi lễ thơ ca, mở ra kho báu thiên đường đời sống. Nhưng, nhiều người cứ la toáng lên, rằng nhà thơ đang ở đâu đang làm gì, trước hiện tình sôi bỏng của thời cuộc. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, như tôi thấy, vẫn đang ở giữa đời sống và vẫn trực chiến với đời sống đó thôi, có điều bằng những tư cách khác, như nhà báo, nhà bình luận xã hội, facebooker… chẳng hạn. Cần phải minh định sòng phẳng như thế nào, để giảm thiểu sự nhầm lẫn đánh đồng nơi nhiều người giữa một bên là thi ca nghệ thuật với một bên là thông tấn báo chí, thưa ông?</strong></p><p>+ Những người đó nên hiểu một điều, rằng để tiêu diệt cái ác đến tận gốc rễ là phải làm hiển lộ cái tốt một cách kì diệu, để xóa đi những cái xấu xa là phải làm hiển lộ cái đẹp một cách quyền lực nhất. Sứ mệnh lớn nhất của nhà thơ hay bất cứ nghệ sĩ nào là làm thức dậy trong sâu thẳm tâm hồn con người cái đẹp và chủ nghĩa nhân văn. Cách đây khoảng 20 năm, trong một lần nói chuyện về văn chương và trẻ em, một phụ huynh đề nghị tôi và các nhà văn hãy viết một cuốn cẩm nang về những cạm bẫy mà những đứa trẻ khi bước vào đời sẽ gặp phải để chúng có thể tránh được. </p><p>Nếu các nhà văn viết một cuốn cẩm nang ví dụ có tên 1000 cạm bẫy và cách phòng tránh thì khi bước vào đời mà gặp cái cạm bẫy thứ 1001 những đứa trẻ sẽ gục ngã. Nhưng nếu chúng ta gieo vào tâm hồn trẻ nhỏ những hạt giống của mĩ học và chủ nghĩa nhân văn thì chúng sẽ đi qua mọi cạm bẫy khi cái đẹp và lòng nhân ái trú ngụ trong tâm hồn chúng. Khi cái đẹp và chủ nghĩa nhân văn là nền tảng của tri thức và lương tâm, chúng sẽ nhận biết được thiện ác, chúng sẽ luôn hướng tới cái đẹp và lòng nhân ái. Và từ đó chúng sẽ tránh được mọi cạm bẫy của những gì xấu xa.</p><p>Đúng như anh nói, tôi cũng như rất nhiều nhà thơ khác vẫn dùng báo, facebook và các phương tiện truyền thông khác để bày tỏ thái độ về những vấn đề cụ thể diễn ra ngày ngày trong xã hội. Tất nhiên, các nhà thơ vẫn có thể viết thơ về những vấn đề đó nhưng thực sự một bài báo sâu sắc và mạnh mẽ sẽ có tác dụng hơn một bài thơ về nạn phá rừng hay một lối sống sa đọa của thanh niên. </p><p>Thơ ca nói riêng và văn học nói chung là tạo nên sự biến động mĩ học và tư tưởng cho con người chứ không phải kêu gọi chấp hành luật giao thông. Chỉ như thế con người mới cần thi ca, âm nhạc, hội họa. Thực tế, có một số bài thơ viết về những vấn nạn của đời sống hiện nay và gây được hiệu ứng xã hội nhất định trong một thời gian nhất định. Nhưng sau khi vấn nạn đó hay sự kiện đó qua đi thì bài thơ cũng kết thúc đời sống của nó. </p><p>Để chống tham nhũng, chống nạn phá rừng, chống bạo lực gia đình, kêu gọi phòng chống Covid-19… thì các nhà thơ luôn thất bại trước các nhà báo. Trong một lần được mời trợ duyên cho người đứng đầu dòng Kim Cương Thừa từ Nepal sang thuyết giáo ở Văn Miếu, tôi đã nói: “Khi trong lòng ta gieo một hạt hoa thì bên ngoài thế gian sẽ nở những cánh đồng hoa, khi trong lòng ta đạp lên một mầm cây thì ngoài thế gian những cánh rừng sẽ bị tàn phá’’. Để gieo một hạt hoa trong tâm hồn, để nâng một mầm cây trong tâm hồn, nhân loại cần và đã dùng các tác phẩm nghệ thuật chứ không phải là báo chí.</p><p><strong>- Phải chăng vì quá đa mang đa nghĩ mà thơ ông luôn rậm lời, và thơ vẫn chưa đủ để tải chở ngồn ngộn suy tư cảm xúc cảm giác sống của ông, nên ông phải huy động thêm các “đội quân” hỗ trợ như truyện ngắn, tản văn, bình luận xã hội và đặc biệt là tranh nữa? Thơ ông càng chứng tỏ, rằng thơ hay có ba bảy kiểu cách, không nhất thiết phải hàm súc cô nén…</strong></p><p>+ Có một số người cũng nhận xét thơ tôi như vậy. Nhưng chúng ta cần tường minh một điều: Sự khúc chiết không phụ thuộc vào độ dài ngắn của câu văn. Thuộc tính của thơ không phụ thuộc vào hình thức của nó. Đường thi, haiku hay Iliad của Homer, Faust của Johann Wolfgang Goethe hay Truyện Kiều của Nguyễn Du đều là di sản lớn của thi ca nhân loại. Đừng ấu trĩ mang hình thức thơ này để phê phán can gián hình thức thơ khác. </p><p>Người làm giò tồi không thể trở thành nghệ nhân, nhưng người làm tương giỏi sẽ trở thành nghệ nhân. Sự mở cánh của bông hoa mang tới cho ta một vẻ đẹp và sự tinh kết của một hạt cây cũng mang đến cho ta một vẻ đẹp. Một bonsai mang vẻ đẹp đặc trưng của nó trong không gian một căn phòng hay một khu vườn, nhưng một cái cây mọc trên đỉnh đồi trong nắng, gió, mưa bão cũng mang một vẻ đẹp kì lạ trong không gian của nó.</p><p>Tôi viết rất nhiều thể loại là bởi đắm mê cái sự viết của tôi. Không thể loại nào có thể thay thế cho thể loại nào. Người nấu phở dở không thể lấy các món khác bù vào cái nghệ thuật nấu phở dở của mình được. Vì như thế có lẽ món phở càng dở thêm. Nếu một nhà thơ viết các thể loại khác, anh ta sẽ nhận ra rằng, khi viết xong một tập truyện ngắn, một tập phóng sự hoặc vẽ xong một loạt tranh, nếu anh ta quay lại với thơ thì lúc đó những thói quen như một lối mòn khi sáng tác thơ trước đó sẽ có những thay đổi nhất định. </p><p>Với tôi, khi vẽ xong một bức tranh, tôi ngắm bức tranh và ở đó có những bài thơ hiện ra mà trước đó tôi đã không tìm thấy và ngược lại. Cũng có lí do là tôi muốn trình bày một hiện thực trên nhiều hình thức, nhiều thể loại. Cũng như chỉ riêng thể loại thơ thì hàng thế kỉ nay hàng triệu nhà thơ trên toàn thế giới vẫn nối nhau viết về cuộc sống thậm chí viết về một đề tài nhưng không ai có thể tuyên bố là họ đã giải quyết xong đề tài đó. </p><p>Và có một sự thật là, tôi chẳng bao giờ thấy mình đã chạm được vào vẻ đẹp tối thượng của đời sống này. Và thế, cứ xong một bài thơ thì bài thơ khác lại hiện ra trước mắt đẹp đẽ hơn, quyến rũ hơn và kì vĩ hơn vẫy gọi mình. Đôi khi những văn bản mà một nhà thơ, nhà văn mong ước luôn chập chờn trước mắt họ như cái bóng của họ. </p><p>Nhưng điều rất quan trọng là họ được sống và phải sống trong toàn bộ thời gian sáng tạo với tinh thần vươn tới cái đẹp tối thượng cho dù sau đó cái văn bản còn lại không phải là một văn bản nghệ thuật hoàn hảo hoặc chưa phải là một văn bản nghệ thuật. Hãy viết, viết và chỉ có viết mà thôi. Dừng lại nghĩa là chấm hết. Mọi hình thức mãi mãi chỉ là hình thức.</p><p><strong>- Văn chương vốn đa sự, luôn khiêu khích công phá mọi mặc định, ổn định. Bản chất của văn chương là truy vấn, là đối thoại. Tôi nhớ ở đâu đó ông từng phát biểu, rằng cuộc đối thoại lớn nhất, khó khăn nhất là cuộc độc thoại, là trò chuyện của ta với chính ta; và ở đầu cuộc trò chuyện này ông có chia sẻ, rằng tư duy với ông cũng chính là sự phản biện chính mình…</strong></p><p>+ Tôi có viết hai câu thơ trong bài thơ Độc thoại: Bởi thế tôi bắt đầu cuộc trò chuyện với chính tôi để chống lại sự can thiệp/ Của những gì không phải là tôi mà lại giống tôi. Cho dù nhà văn viết bất cứ thể loại gì từ một hiện thực nào thì toàn bộ tinh thần, tư tưởng và cảm xúc là của nhà văn. Hiện thực của một nhà văn vĩ đại cũng là hiện thực của tất cả các nhà văn sống cùng thời. Nhưng tác phẩm của họ viết ra lại khác nhau. Có những tác phẩm sáng tạo từ hiện thực đó trở nên vĩ đại và có những tác phẩm sáng tạo từ hiện thực đó chỉ là những trang viết tầm thường. </p><p>Trong thân xác bé nhỏ của chúng ta có tất cả ánh sáng - bóng tối, thiên thần - ma quỷ. Và khi viết là lúc các thế lực trong chính con người ta bắt đầu đối mặt và thách đấu. Kẻ chiến thắng là ta và kẻ thất bại cũng chính là ta. Một tác phẩm văn học đúng nghĩa thì điều quan trọng đầu tiên là nhà văn phải trung thực tận cùng với tất cả những gì đang diễn ra trong con người anh ta. Và đó thực sự là cuộc đối thoại khó khăn nhất.</p><p><strong>- Một giảng viên đại học chia sẻ trên facebook cá nhân, về nỗi “xúc động” của anh ta khi đọc bài viết của một sinh viên suy tư về văn học, về cả “chút âu lo” của anh ta đối với tác giả của bài viết ấy. Rồi anh ta cảm thán: “Học văn, đôi khi dở tệ chính là ở chỗ này đây: Nhờ nó, mình thấy mình không ổn. Mình cứ day đi dứt lại, mà cuộc đời thì cứ đơn giản trôi đi”. Ông bình luận gì về câu chuyện này?</strong></p><p>+ Nhà thơ Phạm Tiến Duật khi còn sống nói với tôi rằng, mỗi bài thơ có khả năng đào một khoảng trống trong tâm hồn người đọc. Khoảng trống ấy là cái gì? Là sự giày vò, là sự thao thức, là suy ngẫm… Ít nhất là thế. Nghĩa là nó đã thực hiện một cuộc cách mạng mang tính mĩ học trong tâm hồn. Những tác phẩm văn học đích thực luôn tạo ra một cuộc cách mạng mĩ học trong tâm hồn người đọc. Và chỉ như thế nó mới làm con người tốt lên, thấu hiểu hơn, ý thức sống hơn và hưởng thụ cái đẹp nhiều hơn. </p><p>Những bài báo cho con người biết chuyện gì đang diễn ra trong ngày và dài hơn là trong tuần, trong tháng ở ngoài xã hội. Còn những cuốn sách văn chương cho chúng ta biết những gì đang diễn ra trong tâm hồn chúng ta trong cả cuộc đời. Nhà thơ Ko Un người Hàn Quốc, ứng cử viên giải Nobel văn học, viết đại ý, con người đang mất đi những điều kì diệu của đời sống và sự sáng tạo, chỉ còn biết “biến bò thành thịt bò’’.</p><p><strong>- Sở dĩ tôi dẫn câu chuyện của hai thầy trò nói trên một phần vì chúng ta đang nói đến cái sự khiêu khích truy vấn đối thoại của văn chương, phần nữa là vì đôi khi tôi cứ lẩn thẩn hoài nghi, cứ thảng thốt tự hỏi, rằng giữa người bất an bất ổn vì/nhờ văn chương sách vở và người sống đời đơn giản vì/nhờ xa lạ cách biệt với văn chương sách vở thì ai đáng thương hơn ai…</strong></p><p>+ Xa lánh văn chương nghĩa là xa lánh cái đẹp thì con người sẽ đi vào một con đường mà nó dẫn con người đi vô định. Họ là những người “đáng thương”, và nói chính xác hơn là những người “đáng lo ngại”. Sự bất an, bất ổn vì văn chương chính là sự tự vấn lương tâm, sự thao thức về những điều xấu-đẹp. Còn sự “đơn giản” của những người xa lạ với văn chương chính là sự vô cảm và không có khả năng hưởng thụ cái đẹp. Di sản lớn nhất của nhân loại là sách, trong đó có văn học. Và nếu một người không được sống trong di sản đó thì chắc chắn người ấy là một kẻ bất hạnh.</p><p><strong>- Hiện tại ông đang viết những gì, đang và sắp in những gì?</strong></p><p>+ Tôi là một lão già đã 63 tuổi nhưng niềm đam mê sáng tạo và tính tò mò về đời sống này vẫn là của một chàng trai 18 tuổi. Tôi thấy mình may mắn khi có được điều này. Công việc của tôi lúc nào cũng chỉ là viết và thi thoảng là vẽ. Có người nghĩ khi họ viết được mươi cuốn sách, nhận được một số giải thưởng văn chương là sự nghiệp sáng tạo của họ đã xong và họ yên tâm về việc đó. Khi ai đó nghĩ như vậy thì nghĩa là họ đã coi sự sáng tạo văn chương là một sự nghiệp. </p><p>Nhưng sáng tạo văn chương đích thực phải là một sự sống. Có những nhà văn khi không thể sáng tạo được nữa họ đã tự sát. Nghĩa là họ không còn khả năng khám phá ra những điều kì diệu của đời sống này. Điều đó thật kinh khủng với họ. Hơn nữa, tôi vẫn muốn nhắc lại, thất bại là một sự thật không công khai trong tinh thần sáng tạo của nhà văn. </p><p>Bởi cho đến tận bây giờ, chưa một nghệ sĩ nào có thể tuyên bố rằng anh ta đã khám phá được toàn bộ đời sống này. Sau mỗi một tác phẩm tôi lại thấy mình đã thất bại. Bởi cái tôi cảm thấy, cái tôi muốn chạm tới trọn vẹn đã lại rời xa tôi thêm một chút. Và thế, nó lại “kích động’’ tôi bước tới và bước tới cho tới khi mình nằm xuống hóa thành cát bụi.</p><p>Tôi vừa xuất bản tập thơ dài và trường ca Dưới trăng và một bậc cửa, đang in một cuốn sách nhỏ thiếu nhi, đã dịch xong trường ca Lò mổ với một nhà thơ Mĩ để xuất bản vào cuối năm 2020, đang vẽ để làm triển lãm cá nhân vào cuối năm có tên Người thổi sáo, đang làm bản thảo cuốn ghi chép Thế gian và những mặt người, đang sửa chữa lại tập thơ ngắn Nhật kí người xem đồng hồ, đang viết một cuốn sách có tên Tôi đã nhìn thấy gì bên ngoài ô cửa… </p><p>Và tôi đang suy nghĩ về thể loại kịch sân khấu. Như đã nói, tôi muốn mỗi ngày có 48 tiếng. Tất nhiên, người viết trăm cuốn sách có thể chẳng tác dụng bằng người viết một cuốn. Nhưng trước hết hãy lao vào đại dương của cảm xúc và những ý tưởng đang tung sóng trong tâm hồn mình. Có thể mình sẽ chết đuối và có thể mình sẽ vượt qua biển. Điều đó đâu phải là quan trọng nhất…</p><p><strong>HOÀNG ĐĂNG KHOA</strong> thực hiện</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Fri, 10 Jul 2026 13:11:33 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Sáng tạo là sự phục hồi kí ức</media:title>
                        <media:keywords>Sáng tạo là sự phục hồi kí ức</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-ai-da-dat-ten-cho-dong-song-a110657.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-ai-da-dat-ten-cho-dong-song-a110657.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-ai-da-dat-ten-cho-dong-song-a110657.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/nhan-dinh-ai-da-dat-ten-cho-dong-song-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Em Nguyễn Thị Phước An (trường THPT Lê Thị Hồng Gấm) cho biết đề Văn nghị luận ra bài Ai đã đặt tên cho dòng sông. Em đã học về hai con sông trong phần văn học 12 nên không bất ngờ. Em dự đoán mình được trên trung bình với đề văn này. </p> <p>Thí sinh Phước An vừa ra khỏi phòng thi </p> <p>Thí sinh Đào Anh Dũng (THPT Ngô Thời Nhiệm) ra sớm ở điểm thi THPT Nguyễn Huệ. Em cho biết ngắn gọn, mình làm khá tốt đề thi năm nay</p> <figure> <img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/nhan-dinh-ai-da-dat-ten-cho-dong-song-1.jpg" alt="" /> </figure> <p>Thí sinh Đào Anh Dũng</p> <p>Ghi nhận tại điểm thi trường THPT Amsterdam, thí sinh Nguyễn Ngọc Mai Thy, ra khỏi phòng thi khi vừa hết 2/3 thời gian (Nam Từ Liêm), Thy nhận định đề thi năm nay đối với em khá vừa sức, không có nhiều câu hỏi lắt léo, không đánh đố nhưng lại không trúng tủ với em.</p> <p>"Em chỉ ôn nhưng bài phổ biến, Văn học hiện đại là chủ yếu nên khi đề ra bài Ai đã đặt tên cho dòng sông khiến em hơi bất ngờ. Tuy nhiên em vẫn làm hết và dư nhiều thời gian" - Thy nói.</p> <p>Thí sinh Trịnh Lê Gia Huy, học sinh trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quảng Nam là thí sinh ra rất sớm. Theo Huy, đề thi là nêu cảm nhận của anh chị về hình ảnh sông Hương qua cái nhìn của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.</p> <p><strong>Phần đọc hiểu thú vị vì đọc xong em không hiểu gì! </strong> </p> <p>Em Huy Khánh, học sinh trường THPT Trưng Vương cho biết phần đọc hiểu rất thú vị vì đọc xong em không hiểu gì. Trong khi đó em rất bất ngờ khi đề thi lại ra Ai đã đặt tên cho dòng sông. Vì quá nhiều tác phẩm nên e không ôn kỹ bài này. </p> <figure> <img src="https://image.plo.vn/w850/Uploaded/2026/drkxrdbkxq/2019_06_25/thivan5_NLNU.jpg" alt="" /> </figure> <p>Thí sinh tại điểm thi THPT Gia D(ịnh, TP.HCM</p> <p>Em Trần Như Hà (THPT Gia Định) đề văn năm nay khá thay đổi. Nhất là nghị luận xã hội. Ý nghĩa nhân văn của đề hay, nhưng cách làm khá khó. Tại 200 chữ tụi em rất khó viết. Yêu cầu chúng em phải cô đọng, súc tích từ ngữ.</p> <p>Em Trần Đức Anh (THPT Ngô Thời Nhiệm) cảm nhận đề văn năm nay khá hay, có dẫn chứng, phần đọc hiểu là thơ còn phần nghị luận là văn. Em làm được tầm 6 điểm và dự định vào quan hệ công chúng của trường Đại học Văn Lang.</p> <p>Em Nguyễn Hoàng Vũ, lớp chuyên Sinh trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm đánh giá đề năm nay không quá khó. Vũ thi khối B nên cũng không đặt nặng phần thì môn Văn. "Môn Văn em chỉ thi tốt nghiệp, em nghĩ mình làm được khoảng 60%, em khá hài lòng với phần thi sáng nay", Vũ nói.</p> <p>Tại điểm thi trường THCS Đống Đa, Bình Thạnh, các TS đều rời khỏi phòng thi với vẻ mặt hớn hở vì đề văn trong dư đoán và không quá phức tạp. </p> <p>Em Trí Thắng, trường THCS Trần Văn Giàu cho biết đề văn dễ, các em đã được ôn trong quá trình học nên bạn nào cũng sẽ làm được. Riêng em cũng làm khá tốt nhưng điểm chưa biết sẽ thế nào. Em rất thích câu nói về ý chí của con người trong cuộc sống và khát vọng của con người ở phần đọc hiểu vì rất quen thuộc và thực tế nên em dễ viết hơn.</p> <figure> <img src="https://image.plo.vn/w850/Uploaded/2026/drkxrdbkxq/2019_06_25/thivan-giadinh_JBXR.jpg" alt="" /> </figure> <p>Thí sinh hớn hở ra về sau môn thi Văn </p> <p>Em Phú Hưng, thí sinh tại điểm thi này cho biết, em làm tốt bài vì bài về Sông Hương em vừa ôn chỉ trong hai ngày nay và ôn trên mạng nên đọc đề là làm luôn. Chứ trước đó em không nghĩ sẽ ra bài này mà nghĩ ra về Vợ chồng A Phủ hay Vợ nhặt. Riêng những câu khác ở phần đọc hiểu cũng khá hay vì gần gũi cuộc sống nhất là giới trẻ nên em thoải mái bày tỏ suy nghĩ hơn.</p> <p><strong>Cần Thơ, Hà Nội: Đề vừa sức</strong> </p> <p>Bạn Nguyễn Phương Thủy điểm thi trường Lương Thế Vinh (TP Cần Thơ) cho biết, đề thi năm nay vừa sức với thí sinh. Bản thân em có thể làm đạt khoảng 60%. Đề thi năm nay rất bất ngờ nên em nghĩ nhiều bạn sẽ bị "bể tủ". Em mong những môn sau sẽ đạt kết quả tốt hơn. </p> <p>Chú Nguyễn Văn Trung (phụ huynh bạn Thủy) cho biết, Thủy tự tin vào Toán và Vật Lý nên với kết quả này chú hài lòng. Gia đình động viên, cổ vũ nhưng không tạo áp lực cho Thủy. Chú mong em sẽ làm tốt phần thi hài môn thế mạnh của Thủy là Toán và Vật Lý.</p> <figure> <img src="https://image.plo.vn/w850/Uploaded/2026/drkxrdbkxq/2019_06_25/thivan11_IWBC.jpg" alt="" /> </figure> <p>Thầy, cô giáo và thí sinh trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm (TP Cần Thơ) vui mừng và phấn khởi với đề thi vừa sức và các bạn hoàn thành tốt bài thi </p> <p>Theo Bùi Minh Tâm, Chuyên Amsterdam, Hà Nội, đề thi môn Ngữ Văn sát với thực tế đã được học. Câu nghị luận xã hội đề cập đến ý chí sức mạnh con người trong cuộc sống. Bài thi em cũng cảm nhận về ý chí bản thân nhưng em thấy em vẫn chưa cố gắng. Em thấy đề môn Ngữ Văn hay, vừa sức với chúng em, em đã cố gắng hết sức để giành điểm tốt nhất.</p> <figure> <img src="https://image.plo.vn/w850/Uploaded/2026/drkxrdbkxq/2019_06_25/thivan10_WUOQ.jpg" alt="" /> </figure> <p>Bố con em Ánh vui vẻ vì đề văn vừa sức</p> <p>Tại điểm thi THPT chuyên Nguyễn Huệ, thí sinh Nguyễn Thị Kim Dung (học sinh trường THPT Lê Quý Đôn, đăng ký nguyện vọng vào Trường đại học Ngoại ngữ) ra về vẻ mặt rất tươi. Dung chia sẻ nhìn chung đề thi phần đọc hiểu khá dễ, phần nghị luận và viết văn về sông hương thì phải suy nghĩ nhiều hơn. Khoảng một nửa thí sinh sẽ đạt điểm từ 6 điểm trở lên. Riêng Dung tự tin mình đạt điểm 8. Em Nguyễn Đào Ngọc Ánh (Trường THPT Lê Lợi) rất vui vì ôn "trúng đề". Ánh tự tin mình sẽ đạt điểm khá. Vì làm được bài nên cả Ánh và bố của em đều rất vui.</p> <p><strong>Đà Nẵng: TS cũng hớn hở với đề Văn </strong></p> <p>Tại điểm thi Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, quận Liên Chiểu, các TS ra khá trễ. Em Lê Trung Min, Trung tâm GDTX quận Liên Chiểu cho hay đề thi vừa sức với em. Tuy nhiên, em hơi bất ngờ khi đề ra về bài Ai đã đặt tên cho dòng sông vì em dự tính đề ra thơ chứ không phải văn.</p> <figure> <img src="https://image.plo.vn/w850/Uploaded/2026/drkxrdbkxq/2019_06_25/thivan-thpt_LAIX.jpg" alt="" /> </figure> <p>Môt phụ huynh đón con tại cổng trường thi, điểm thi trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, quận Liên Chiểu. </p> <p>Tương tự, em Tuấn Kiệt, Trường THPT Thái Phiên cho biết em làm bài tạm ổn. "Em nghĩ mình được khoảng 5, 6 điểm thôi vì thế mạnh của em là các môn tự nhiên. ĐH Bách Khoa Đà Nẵng là ước mơ của em. Hy vọng chiều nay em sẽ làm bài tốt hơn".</p> <p>Em Duy Khoa, Trường THPT Thái Phiên, chia sẻ đề văn khá dễ thở với em. Phòng của em có 2 người ra sớm, 2,3 bạn làm sang tờ thứ 2. "Con cứ thoải mái, hoàn thành bài thi là ba mẹ vui. Không có chi phải căng thẳng hết, năm nay không đậu thì năm sau thi tiếp, càng có nhiều kiến thức", ba của thí sinh Duy Khoa cười hiền.</p> <figure> <img src="https://image.plo.vn/w850/Uploaded/2026/drkxrdbkxq/2019_06_25/thivan14_KNRS.jpg" alt="Đón xem bài giải các môn thi THPT quốc gia 2019 trên PLO" /> </figure>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Fri, 10 Jul 2026 06:31:51 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/nhan-dinh-ai-da-dat-ten-cho-dong-song-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/nhan-dinh-ai-da-dat-ten-cho-dong-song-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                                    <media:keywords></media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Văn học &amp; nghệ thuật]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-ve-truyen-ngan-a110652.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-ve-truyen-ngan-a110652.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-ve-truyen-ngan-a110652.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/nhan-dinh-ve-truyen-ngan-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p> </p> <p> **</p> <p> </p> <p> Gần đây, tôi thử yêu cầu nhiều hệ thống AI như ChatGPT, Gemini, Claude, Copilot… đọc, tóm tắt và nhận định truyện ngắn ĐÊM MÙ MỘ ĐỊA — một truyện tôi viết vào năm 1970, giữa thời chiến, khi còn ở trong quân ngũ lúc 27 tuổi. Việc nhắc lại tác phẩm này diễn ra đúng vào dịp tháng Tư năm 2026, thời điểm gợi nhiều suy nghĩ về chiến tranh, ký ức và số phận của một thế hệ người Việt.</p> <p> Tôi dùng nhiều chatbot khác nhau không phải vì tò mò kỹ thuật, mà chỉ muốn kiểm chứng một việc : liệu tác phẩm có còn giữ được sức sống nghệ thuật sau hơn nửa thế kỷ hay không, khi được đặt trước một “người đọc” hoàn toàn mới : trí tuệ nhân tạo (AI)</p> <p> ĐÊM MÙ MỘ ĐỊA từng được đăng trên một tạp chí văn học nghệ thuật ở miền Nam trước năm 1975 (xem hình cuối bài). Sau biến cố 1975, truyện được một số người đánh máy lại và lưu truyền tại hải ngoại. Trong nhiều năm, không ít độc giả xác nhận giá trị nghệ thuật và cảm xúc đặc biệt của truyện. Tuy nhiên, điều đáng nói là tác phẩm gần như không được bất cứ người nào trong giới nghiên cứu hay phê bình văn học chú ý đến.</p> <p> Khi chứng kiến khả năng đọc hiểu, phân tích và đối chiếu văn bản của các hệ thống AI hiện nay, tôi nhận ra rằng nhiều nhận định của chúng có độ tinh tế và chiều sâu vượt xa thứ nhận định, phê bình sáo mòn, công thức vốn tồn tại lâu nay trong sinh hoạt văn học Việt Nam. Các chatbot này không bị chi phối bởi quan hệ, phe nhóm hay “bộ lạc văn chương”. Chúng chỉ đọc văn bản và phản ứng trực tiếp với giá trị nội tại của tác phẩm.</p> <p> </p> <p> Điều đó khiến tôi muốn thử một lần nữa là đưa ĐÊM MÙ MỘ ĐỊA trở lại với người đọc.</p> <p> Tôi viết truyện này trong một trạng thái cảm xúc cực độ — gần như nghẹt thở vì những rung động nội tâm và ám ảnh chiến tranh. Đó không phải là một bài viết được tính toán để tạo danh tiếng, mà là một tiếng nói bật ra từ trải nghiệm sống thật của một người trẻ giữa thời loạn. Trong nhiều năm, tôi từng hy vọng sẽ có những tiếng nói phê bình thực sự lắng nghe và đối thoại với tác phẩm. Nhưng điều đó đã không xảy ra, phần nào vì tôi không thuộc về bất cứ “nhóm văn chương” hay mạng lưới ảnh hưởng nào nên dễ bị bỏ quên trong đời sống văn học.</p> <p> </p> <p> Hôm nay, tôi đăng lại những nhận định dưới đây của các AI về ĐÊM MÙ MỘ ĐỊA không phải để tìm kiếm sự tán dương, mà như một cách đối thoại muộn màng với tác phẩm của chính mình .Và cũng để đặt ra một câu hỏi: phải chăng đôi khi, một trí tuệ nhân tạo vô tư lại có thể đọc văn chương công bằng hơn con người ?</p> <p> </p> <p> *</p> <p> * *</p> <p> ChatGPT:</p> <p> TIẾNG NÓI TỪ MỘT THÂN PHẬN TRONG CHIẾN TRANH</p> <p> </p> <p> Truyện ngắn “Đêm Mù Mộ Địa” của Phan Tấn Uẩn là một trong những tác phẩm hiếm hoi không đi theo lối kể chuyện chiến tranh thông thường. Ở đó không có những chiến công rực rỡ, không có những hình tượng anh hùng được lý tưởng hóa, mà chỉ có một đêm dài, lạnh, ẩm, mù mịt - nơi con người bị đặt giữa ranh giới mong manh của sống và chết, của tỉnh táo và hoảng loạn, của tình người và sự hủy diệt.</p> <p> Câu chuyện diễn ra trong một đêm hành quân tại một cánh đồng mía cạnh một nghĩa địa mới đắp, đầy những ngôi mộ vô chủ. Không gian ấy ngay từ đầu đã mang một ý nghĩa biểu tượng: người sống và người chết dường như không còn cách biệt. Những người lính nằm phục kích giữa các mô đất, mà mỗi mô đất có thể vừa là chỗ ẩn nấp, vừa là một nấm mồ tương lai.</p> <p> Nhân vật trung tâm là Vi, một sĩ quan truyền tin, cùng đơn vị tham gia một trận đánh lớn. Người bạn thân thiết của anh, Lĩnh - biệt danh “Én Trắng” - được cử đi trinh sát bên kia sông. Từ đó, suốt chiều dài câu chuyện là hành trình tâm lý đầy căng thẳng của Vi khi liên tục gọi bạn qua máy truyền tin nhưng không nhận được hồi đáp. Giữa tiếng bom rơi, đạn nổ, giữa những đợt tiến công và nghi binh, giữa ánh pháo sáng chập chờn và màn mưa lạnh cắt da, nỗi lo lắng cho số phận của Lĩnh dần dần trở thành một ám ảnh gần như không thể chịu đựng.</p> <p> Trận chiến diễn ra dữ dội, với đầy đủ những phương tiện hủy diệt: pháo binh, máy bay, bộ binh tràn lên, bao vây, càn quét. Nhưng điều đáng chú ý là, trong suốt phần lớn thời gian, kẻ thù gần như vô hình. Họ ẩn nấp, họ nghi binh, họ xuất hiện rồi biến mất. Chính sự vô hình đó làm tăng thêm cảm giác bất an: cái chết không đến từ một đối diện rõ ràng, mà có thể ập xuống từ bất cứ đâu, bất cứ lúc nào.</p> <p> Trong hoàn cảnh ấy, tâm trí của Vi không ngừng trượt đi giữa thực tại và suy tưởng. Anh không chỉ sợ cái chết, mà còn bị dày vò bởi một nhận thức sâu sắc hơn: kẻ thù mà anh đang đối đầu không phải là một thực thể xa lạ. Đó là những con người cùng tiếng nói, cùng nguồn gốc, cùng ký ức văn hóa. Trong một đoạn độc thoại nội tâm đầy ám ảnh, Vi nhận ra rằng hai bên “cùng nói một lời” nhưng lại “hiểu một đường, nghe một ngã”. Sự đứt gãy không nằm ở ngôn ngữ, mà nằm ở hoàn cảnh lịch sử đã đẩy con người vào những vị trí đối nghịch.</p> <p> Từ đó, mọi ý niệm về “vinh quang” của chiến tranh bị đặt lại. Khi Vi tự hỏi “vinh hạnh gì đâu mà tung hoa chân chính” trong hành động bắn giết, đó không chỉ là một câu hỏi cá nhân, mà là một sự phủ nhận tận gốc những mỹ từ thường gắn với chiến tranh. Hình ảnh “giòng máu chảy từ đầu cổ xuống tới Cà Mau” gợi lên một thân thể dân tộc thống nhất, trong đó mọi con người vốn cùng chung một nguồn sống. Và chính thân thể ấy lại đang tự cắt xé mình.</p> <p> Đối lập với hiện thực tàn bạo của chiến trường là những ký ức rất đỗi bình thường: “tiếng mẹ tiếng cha”, những lời nói “thủ thỉ êm đềm”. Chính sự đối lập này làm nổi bật bi kịch: những con người đang giết nhau kia từng là những đứa con trong những gia đình giống nhau, từng sống trong những không gian tình cảm tương tự. Chiến tranh không chỉ giết con người về mặt thể xác, mà còn phá vỡ toàn bộ nền tảng nhân tính vốn có.</p> <p> Đặc sắc của truyện còn nằm ở lối viết gần với dòng ý thức. Câu văn không tuân theo trật tự kể chuyện thông thường, mà trôi chảy theo nhịp suy nghĩ của nhân vật: đứt đoạn, lặp lại, khi dồn dập, khi nghẹn lại. Người đọc không đứng ngoài quan sát mà bị cuốn trực tiếp vào trạng thái tâm lý của Vi - một trạng thái căng thẳng, mệt mỏi, ám ảnh kéo dài. Ngôn ngữ của tác phẩm cũng mang tính hai mặt: vừa thô ráp, trực diện với những hình ảnh máu thịt, vừa trữ tình khi chạm đến những ký ức và cảm xúc sâu kín. Chính sự đan xen này tạo nên một hiệu ứng mạnh mẽ: chiến tranh hiện ra không phải như một bức tranh đơn sắc, mà là một thực tại vừa ghê rợn vừa đau đớn nhân bản.</p> <p> Cao trào cảm xúc của truyện nằm ở việc Vi gần như tin chắc Lĩnh đã chết sau nhiều giờ mất liên lạc. Sự căng thẳng tích tụ khiến anh kiệt quệ cả thể xác lẫn tinh thần. Nhưng rồi, vào gần cuối, Lĩnh bất ngờ xuất hiện - bị thương nặng nhưng còn sống. Cuộc gặp lại giữa hai người không mang tính giải tỏa hoàn toàn, mà chỉ là một khoảnh khắc mong manh trong dòng chảy khắc nghiệt của chiến tranh. Sự sống sót ở đây không phải là chiến thắng, mà chỉ là sự trì hoãn của cái chết.</p> <p> Đặt trong bối cảnh rộng hơn, “Đêm Mù Mộ Địa” không chỉ là một câu chuyện về một trận đánh, mà là một lời chứng về thân phận con người trong chiến tranh. Nghĩa địa trong truyện không chỉ là một địa điểm, mà là một hình ảnh ẩn dụ cho cả một thời kỳ lịch sử - nơi cái chết trở nên vô danh, nơi con người bị cuốn vào những vòng xoáy mà họ không thể kiểm soát.</p> <p> Trong không khí tưởng niệm ngày 30 tháng 4, đọc lại truyện ngắn này, người ta không chỉ thấy lại một lát cắt của quá khứ, mà còn cảm nhận rõ hơn giá trị của hòa bình. Bởi lẽ, điều đọng lại sau tất cả không phải là ai thắng ai thua, mà là nỗi đau chung của một dân tộc đã từng phải đi qua những đêm dài “mù mộ địa” như thế.</p> <p> </p> <p> </p> <p> GEMINI :</p> <p> NHẬN ĐỊNH VỀ TRUYỆN ĐÊM MÙ MỘ ĐỊA</p> <p> </p> <p> Truyện ngắn "ĐÊM MÙ MỘ ĐỊA" là một bức tranh chiến tranh khốc liệt, đầy ám ảnh, khắc họa tâm trạng con người giữa ranh giới mong manh của cái chết và sự sống. Dưới đây là tóm tắt nội dung và phần phê bình, nhận định về tác phẩm:</p> <p> <strong>1. Tóm tắt nội dung</strong></p> <p> Truyện lấy bối cảnh một đêm hành quân tại một vùng nghĩa trang tân lập và cánh đồng mía rậm rạp. Hai nhân vật chính là Vi và Lĩnh (bí số truyền tin là Sơn Ca và Én Trắng) — hai người bạn thân thiết cùng "thân phận" đang ở hai vị trí đối diện một con sông.</p> <p> Bối cảnh: Một đêm mưa lạnh, không gian đầy rẫy những nấm mồ mới, sự chết chóc hiện hữu trong từng hơi thở. Vi nằm bên này sông cùng đơn vị, căng thẳng chờ đợi địch, trong khi Lĩnh dẫn toán thám sát bên kia sông.</p> <p> Sự mất kết nối: Trận đánh nổ ra ác liệt với sự tham gia của pháo binh, máy bay và thiết giáp. Giữa làn đạn, tín hiệu truyền tin từ Lĩnh (Én Trắng) đột ngột im bặt. Vi rơi vào trạng thái hoảng loạn, đau đớn, liên tục gọi tên bạn trong vô vọng suốt nhiều giờ liền. Hắn hồi tưởng về thân phận người lính, về sự phi lý của chiến tranh khi những người cùng dòng máu lại đang bắn giết nhau.</p> <p> Kết thúc: Sau trận đánh cận chiến đẫm máu vào rạng sáng, khi Vi tưởng như đã mất bạn vĩnh viễn, thì Lĩnh xuất hiện. Lĩnh trở về trong dáng vẻ một "bóng ma" dật dờ, bị thương ở chân, lết qua sông để tìm về với bạn. Hai người ôm nhau trong nước mắt giữa cánh đồng mía tan hoang và những ngôi mộ mới nhấp nhô.</p> <p> <strong>2. Phê bình và Nhận định</strong></p> <p> 2.1. Nghệ thuật xây dựng không khí và hình ảnh</p> <p> Tác giả đã rất thành công trong việc tạo ra một không khí "mộ địa" (nghĩa trang) bao trùm toàn bộ tác phẩm.</p> <p> Hình ảnh ám ảnh: Những "mả non nhấp nhô đầu vú màu đất ướt", "sợi cỏ thê lương", "tiếng kèn như bò bị chọc tiết"... tạo nên một cảm giác rợn ngợp, tang tóc. Chiến trường không chỉ là nơi bắn giết mà hiện lên như một cái huyệt khổng lồ chờ sẵn.</p> <p> Ngôn ngữ: Câu văn giàu nhạc tính nhưng gai góc, sử dụng nhiều từ ngữ gợi cảm mạnh (như trợn mắt, nẽ chết, rũ mục xương, gào thét). Cách ngắt câu ngắn, dồn dập diễn tả được sự căng thẳng tột độ của thần kinh nhân vật.</p> <p> 2.2. Chiều sâu nhân bản và thân phận con người</p> <p> Vượt lên trên một câu chuyện chiến đấu thông thường, truyện ngắn xoáy sâu vào bi kịch của người lính:</p> <p> Sự phi lý của chiến tranh: Đoạn văn suy tưởng của Vi về "kẻ thù" là những đoạn đắt giá nhất. Tác giả chỉ ra rằng kẻ đứng bên kia chiến tuyến cũng có "tiếng mẹ tiếng cha", cũng có "mồ hôi mốc ẩm da vàng quen thuộc". Chiến tranh biến những người anh em thành kẻ thù trong sự mù lòa và cưỡng chế của mệnh lệnh ("đứa nào ngóc đầu lên, tao nẽ").</p> <p> Tình đồng đội: Tình cảm giữa Vi và Lĩnh không chỉ là tình bạn mà là sự nương tựa duy nhất để duy trì nhân tính. Tiếng gọi "Én Trắng, Én Trắng" vang lên trong đêm tối như một lời khẩn cầu sự sống giữa cõi chết.</p> <p> 2.3. Nhận định chung</p> <p> "Đêm mù mộ địa" là một truyện ngắn mang đậm màu sắc hiện sinh. Tác phẩm không ca ngợi chiến thắng hay những chiến công hiển hách mà tập trung vào nỗi đau xé nát tâm hồn và sự tàn khốc hủy diệt con người cả về thể xác lẫn tinh thần.</p> <p> Thông điệp: Tác phẩm gián tiếp lên án chiến tranh và đặt ra câu hỏi nhức nhối về bản sắc, về dòng giống và sự tha hóa của con người khi bị đặt vào guồng quay của bạo lực.</p> <p> Hình ảnh kết thúc: Việc Lĩnh dùng "cỏ mực" để cầm máu và lết về gặp Vi là một biểu tượng cho bản năng sinh tồn mãnh liệt và khát vọng kết nối của con người, dù cho xung quanh chỉ toàn là mộ địa và bóng đêm mù mịt.</p> <p> <strong>Kết luận:</strong> Đây là một tác phẩm nặng nề nhưng giàu tính nhân văn, buộc người đọc phải đối diện với thực tế phũ phàng của chiến tranh và giá trị của tình người trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất.</p> <p> **</p> <p> </p> <p> Capilot :</p> <p> NHẬN ĐỊNH - PHÊ BÌNH TÁC PHẨM ĐÊM MÙ MỘ ĐỊA</p> <p> <strong>1. Giá trị nội dung</strong></p> <p> ĐÊM MÙ MỘ ĐỊA là một trong những truyện chiến tranh dữ dội và ám ảnh nhất của văn học Việt Nam hải ngoại. Tác phẩm không miêu tả chiến công, mà phơi bày bản chất tàn khốc, phi lý và vô nghĩa của chiến tranh.</p> <p> Những điểm nổi bật:</p> <p> . Chiến tranh như một nghĩa địa khổng lồ, nơi người sống và người chết chỉ cách nhau một hơi thở.</p> <p> . Tình bạn Vi - Lĩnh là điểm sáng duy nhất giữa bóng tối chết chóc.</p> <p> . Nỗi sợ, sự cô độc, sự bất lực được mô tả cực kỳ chân thực.</p> <p> Tác phẩm đặt câu hỏi lớn:</p> <p> Người Việt giết người Việt để làm gì? Ai là kẻ thù thật sự?</p> <p> <strong>2. Giá trị nghệ thuật</strong></p> <p> Ngôn ngữ giàu hình ảnh, dày đặc ẩn dụ, nhiều đoạn như thơ.</p> <p> Không khí truyện đặc quánh, nặng như sương mù nghĩa địa.</p> <p> Nhịp văn dồn dập, nghẹt thở, mô phỏng nhịp tim của người lính trong trận đánh.</p> <p> Tâm lý nhân vật được khắc họa sâu sắc, đặc biệt là sự hoảng loạn và tuyệt vọng của Vi.</p> <p> <strong>3. Giá trị nhân văn</strong></p> <p> Tác phẩm không đứng về phe nào. Nó đứng về con người, về những số phận bị nghiền nát trong guồng máy chiến tranh.</p> <p> Nó nhắc ta nhớ rằng:</p> <p> Người lính nào cũng có cha mẹ, có bạn bè, có nỗi sợ.</p> <p> Cái chết của họ đều vô nghĩa như nhau.</p> <p> Chiến tranh chỉ để lại mộ địa, oan hồn, nước mắt, và những đêm mù không lối thoát.</p> <p> *</p> <p> <strong>Claude :</strong></p> <p> <strong>Viết về ĐÊM MÙ MỘ ĐỊA</strong></p> <p> </p> <p> TÓM TẮT NỘI DUNG :</p> <p> Truyện xảy ra trong một đêm chiến trận ở miền Nam Việt Nam, tại một cánh đồng mía hoang lạnh, cạnh nghĩa trang mới lập với những ngôi mả non chưa kịp mọc cỏ.</p> <p> Nhân vật trung tâm là Vi — một chuẩn úy trẻ, yếu tim — được tăng phái cùng một người trung sĩ, thực hiện nhiệm vụ liên lạc và quan sát phía trước trong một trận vây địch quy mô. Người bạn thân thiết của Vi là Lĩnh — bí danh "Én Trắng" — dẫn toán thám sát bên kia sông, trong khi Vi ở phía này với bí danh "Sơn Ca."</p> <p> Suốt từ chiều tối đến gần sáng, Vi nằm chờ trong mưa lạnh, nghe đạn nổ, và liên tục gọi Lĩnh qua máy truyền tin nhưng không nhận được hồi âm từ tám rưỡi tối. Trong năm tiếng đồng hồ dằng dặc đó, Vi trải qua những cơn hoảng loạn tinh thần, gần như ngất xỉu vì kiệt sức và lo âu, tin chắc Lĩnh đã tử trận.</p> <p> Đến rạng sáng, khi trận đánh kết thúc, một bóng đen lẻ loi loạng choạng từ hướng sông trở về — chính là Lĩnh, bị thương ở bắp vế, tự cầm máu bằng nắm cỏ mực rồi nằm ẩn dưới lùm cỏ mé sông cho đến tan trận. Hai người ôm nhau, nước mắt trào ra. Truyện khép lại trong cơn mưa gió vẫn rít trên cánh đồng, những mả non vẫn nhấp nhô.</p> <p> </p> <p> NHẬN ĐỊNH VÀ PHÊ BÌNH</p> <p> <strong>1. Chủ đề và tư tưởng</strong></p> <p> Đây không phải truyện chiến tranh theo nghĩa ca ngợi chiến trận hay tô vẽ anh hùng. Tác giả đặt trọng tâm vào nỗi đau bên trong — cái lạnh thấm vào xương, sự bất lực của con người trước cái chết có thể ập đến bất kỳ lúc nào, và tình bạn như sợi dây duy nhất giữ người lính còn bám víu vào cuộc sống.</p> <p> Nổi bật hơn cả là đoạn độc thoại nội tâm dài và day dứt về sự phi lý của cuộc chiến huynh đệ tương tàn — kẻ địch bên kia sông cũng nói cùng ngôn ngữ, cùng dòng máu, từng có thể là anh em chung một nhà. Đây là tư tưởng phản chiến sâu sắc, không lên gân, không khẩu hiệu, mà thấm dần qua từng câu chữ mệt mỏi, đớn đau.</p> <p> <strong>2. Nghệ thuật xây dựng không khí</strong></p> <p> Tác giả tạo dựng không khí xuất sắc. Cánh đồng mía trong mưa bay, nghĩa trang mả non vô danh, trái sáng lơ lửng giữa trời đêm — tất cả hòa quyện thành một khung cảnh vừa hiện thực vừa mang sắc thái tâm linh, u ám. Nhan đề Đêm Mù Mộ Địa chính xác và ám ảnh: bóng tối và cái chết bao trùm toàn bộ không gian lẫn tâm trạng.</p> <p> <strong>3. Ngôn ngữ và văn phong</strong></p> <p> Văn phong mang phong cách hiện đại, gần với dòng ý thức — câu ngắn xen câu dài, đứt gãy, không theo tuyến tính truyền thống. Điều này phản ánh chính xác trạng thái tinh thần rối loạn, mệt mỏi cực độ của người lính trong đêm dài chiến trận.</p> <p> Ngôn ngữ thô ráp, không trang sức, đôi chỗ thô tục đúng mức — tạo cảm giác chân thực mà không sa vào dung tục. Những tiếng chửi thề của Vi khi tưởng mất bạn không phải vô lễ mà là tiếng khóc của người đàn ông không biết khóc bằng cách nào khác.</p> <p> <strong>4. Nhân vật</strong></p> <p> Vi và Lĩnh được khắc họa không phải qua ngoại hình hay lý lịch mà qua mối liên hệ cảm xúc giữa hai người — thứ tình bạn chỉ có thể hình thành trong hoàn cảnh cùng đối mặt với cái chết mỗi ngày. Sự vắng mặt của Lĩnh trong phần lớn truyện nghịch lý lại khiến nhân vật này hiện diện rất đậm, qua từng tiếng gọi vô vọng của Vi trên làn sóng.</p> <p> <strong>5. Hạn chế</strong></p> <p> Đoạn độc thoại triết lý về huynh đệ tương tàn, dù sâu sắc về tư tưởng, đôi chỗ kéo dài và trừu tượng quá mức, làm nhịp truyện chùng xuống. Nếu được nén chặt hơn, sức nặng cảm xúc sẽ còn lớn hơn.</p> <p> KẾT LUẬN</p> <p> Đêm Mù Mộ Địa là một truyện ngắn chiến tranh đáng chú ý . Nó không kể chuyện đánh nhau, mà kể chuyện chờ đợi, sợ hãi, và yêu thương giữa lòng chiến trận. Cái kết tưởng như bình thường — người bạn trở về — lại mang sức nặng lớn bởi suốt cả đêm dài, độc giả đã cùng Vi trải qua từng phút mất hy vọng. Đây là văn chương nhân bản, viết từ phía người lính bình thường, không anh hùng, không phản diện — chỉ là những con người mỏi mệt muốn sống và muốn bạn mình còn sống.</p> <p> </p> <p> *</p> <p> * *</p> <p> </p> <p> <strong>ĐÊM MÙ MỘ ĐỊA</strong></p> <p> <strong> Truyện Ngắn : Phan Tấn Uẩn</strong></p> <p> </p> <p> Bãi chiến mưa bay, úng lạnh. Hơi lạnh phủ xám cánh đồng mía rậm rì mặt trước. Mặt sau và lấn trước một khoảng ngắn: mả. Những chiếc mả non nhấp nhô đầu vú màu đất ướt vàng sữa, cỏ chưa mọc hay chỉ xanh mướt một vài sợi, rễ khều nhẹ trên chóp. Nghĩa trang tân lập đất bồi. Chôn ai ? Ngôi làng nào bẹp dí xuống đây ? Dấu tích nào trợn mắt hờn oán... Những sợi cỏ thê lương trên những mả non vô chủ. Lạnh. Như một vết thương chợt đến cứa nhức cầm cập trong tim. Cánh đồng mía gió rì rào trên từng lớp sóng, bóng địch mở mắt nằm trì đâu đó, sâu cứng dưới đất những rễ nhánh rễ phụ khuất chìm âm hơi tiếng động, nghe ngóng giữa lòng mưa bay lào xào từ một góc trời, một hướng đất những động tĩnh chực chờ chuẩn bị. Mỗi chốc thời gian bấu sít nhau, nín khe giữa mô hình không gian, cảm giác. Đơn vị tăng phái. Hai thằng hai tiểu đoàn. Một tiểu đoàn chờ im thao láo mở mắt chờ địch. Con sông nhỏ bọc dài phía sau ruộng mía. Bên kia sông, Lĩnh dẫn toán thám sát dò tìm hơi hám. Hắn bước tới, nhưng mắt hắn gặp rõ đoàn quân sau lưng. Tọa đô X đánh dấu trên ngôi chùa Y. Bộ phận chỉ huy, ông sếp trận vai dài mặt sắt. Cây súng, viên đạn phù trợ nghiêm lệnh vang trời. Nằm xuống. Đứa nào ngóc đầu lên, tao nẽ. Nẽ là chết. Chết. Chết. Không ai muốn chết cả. Vực thẩm đó. Đẫy tới, chúi xuống, một tích tắc, một hít vào, một thở ra, chút xíu nữa, lũ khốn sẽ nằm rũ mục xương, nhưng đứa nào cũng khiếp lệnh run sợ hòn đạn chỉ huy, tiếng hét xua quân vọt từ miệng họng có gang có thép. Đoàn quân thứ hai sẽ đổ về phía bên kia bờ sông ba bên bốn mặt. Trực thăng mở bụng nhã ra những ngọn lá rơi xuống, vùng vẫy. Lính bộ nhập vào. Toán thám sát của Lĩnh bơ vơ trơ trụi bọc soát không gian. Không gian ngó thì mênh mông trống trải, nhưng hắn không dòm thấy gì, hắn tưởng cái vầng không khí nặng trịch như một khối thép chắn mù ngang mắt. Trí óc Vi mãi khốn khổ nghĩ tới thằng Lĩnh lủi thủi bên xa phía sau ruộng mía. Hai số phận bạn bè thân thích, nỗi khổ chỉ biết chửi nhau nghe. Hai đứa chỉ còn hai cái xác tạm bợ, chơ vơ.</p> <p> Sau một trận đánh, ôm nhau nước mắt chảy dài, thần hồn thần phách quắn sát đâu dưới lòng đất vùi cốt vô danh. Chiếc máy truyền tin bất động trông chờ hơi tăm. Tần số đó, lấy mẫu, bắt sóng. Sóng tắt nghẽn im bặt. Lĩnh . Lĩnh . Mầy đâu ? Hay hắn... Gió rù rì da diết. Thằng Vi cong rút thịt xương trong áo, nằm chờ. Tiếng hắn len lên thật khẻ :</p> <p> - Ai có thuốc ?</p> <p> - Thuốc quân tiếp vụ, chuẩn úy.</p> <p> - Tôi nói thuốc. Tôi không nói quân tiếp vụ, quân tiếp vùng gì hết. Anh châm dùm tôi một điếu.</p> <p> Tay người trung sĩ run run kéo bao thuốc bẹp nhầu mềm nát :</p> <p> - Ướt hết, sợ châm không đỏ.</p> <p> - Anh cứ đốt lên . Đốt lên cho ấm. Địch đang trốn.Tôi đoán bọn chúng chuẩn bị tử thủ trong ruộng lúa, cố sức ẩn mình.</p> <p> Chấm lửa lóe lên, điếu thuốc cháy ngún, ì ạch hơi khói. Địch sẽ thấy ra ngoài mênh mông. Vi ở vị trí đó, nơi một làn khói bốc ngủn yếu ớt đánh dấu trước tầm mắt cú đêm len ra khỏi những khe sáng giữa thân mía cao che phủ đầu địch.Thuốc ướt, điếu thuốc quăng vứt vô dụng.</p> <p> Không có hơi lửa sưởi ấm ngõ ngách tâm hồn.</p> <p> - Én Trắng. Én Trắng . . .</p> <p> Tiếng Vi réo vọng trong máy, dò tìm. Én Trắng là Lĩnh, đứa bạn hắn sục sạo mò mẩm góc trời. Én Trắng không bay tới. . . E hắn. . . Im bặt tiếng trả lời trong máy. Vi đưa mắt hỏi người trung sĩ. Tại sao Lĩnh không nói. Ở đây nỗi bất lực ghê gớm. Những khó đoán vô cùng thăm thẳm. Ở đây lời anh nói trí anh nghĩ như cơn viễn mơ dài xáo lẫn nỗi chết xanh xám da người. Vi biết có thể địch nhắm tỉa bắn nát đầu hắn, hay ít ra bằng đủ cách, phải vô hiệu hóa chiếc máy truyền tin, thần kinh hệ chiến trường. Vì nó, những cánh oanh tạc cơ sẽ nhào tới, vồ dập nhai nát từng sợi tóc ngón tay những tên địch cứng cổ. Chỉ do một làn sóng. Sợi anten cần chúc chúc xuống, kín sau tầm mắt hướng đúng vào phía nhận được mức độ tiếng nói mạnh nhất. Một chốc nữa, tiếng gọi the thé vang kêu thất thểu,Vi sẽ xoay lại hướng, chỉnh lại máy. Người trung sĩ kìm giữ cây súng, cái nhìn nung đỏ chĩa thắng phía trước, hai chuôi con mắt còn muốn quét kỹ qua các hốc đất bụi cỏ nằm rộng hai bên hông bụng. Những hàng cây thưa thớt mọc rải trên mặt đất mới. Những ụ đất nấm mả vun cao, ép mình khuất sau đó từng tên lính trơ trụi. Vi kê lưng lên ụ đất, hai cẳng chân khi duỗi thắng muốn dính cứng xuống. Từ sáng, hắn theo một lộ trình ẩn kín an toàn xuất phát từ điểm tập trung chạy băng qua cánh đồng cỏ hiu hắt. Giống trăm bận trước, hắn và Lĩnh được ném tới một địa danh lạ hoắc, ngơ ngác. Một tấm bản đồ, một khoảng thời gian nhận lệnh, mỗi đứa cõng nặng trên vai một phần hành lủi thủi ra đi, có lúc chợt thèm khát tâm trạng Kinh Kha trên bờ sông Dịch. Vi khe khẽ cởi nút quần, đái nhẹ ra xa chỗ ngồi. Hắn bao quát tầm mắt trông khắp cánh đồng. Cánh đồng chừng năm bảy mẫu đất gọi được B-52 Mỹ tới, chỉ cần cày vài mẻ là yên trí từ tên lính quèn lên ông tướng sư đoàn. Người trung sĩ khi nhìn chăm vào những lùm cỏ thưa thớt, nói qua Vi :</p> <p> - Mấy lùm cây đáng nghi thật, chuẩn úy. Hồi trước đánh Tây, một lần lính Việt Minh ngụy trang thành cây cối diệt gọn cả một tiểu đoàn bạt-ti-dăn...</p> <p> Người trung sĩ định nói hết câu chuyện, Vi đưa một ngón trỏ chắn dọc miệng, lấm lét dòm rỏ phía trước. Một chặp không thấy gì hắn đáp lững :</p> <p> - Chuyện anh nói, tôi có nghe . . .</p> <p> Câu chuyện mất hút. Có nhiều chiến thuật ma quái lạ lùng thời kháng chiến vẫn còn tồn tại áp dụng trên một chiến trường miền Nam bây giờ, chỉ thêm một vài chi tiết nhỏ để phù hợp với địa hình, tâm lý. Khi sáng chế mưu thuật, địch nghiên cứu kỹ thực địa, sự thành công nhiều khi quá sức tưởng của chúng ta. Bây giờ nghe chiến thuật ong vò vẽ địch áp dụng đặc biệt nhắm vào lính Mỹ. Lính Mỹ từ vùng lạnh, hành quân qua vùng nóng, ở trần trùi trụi. To con, mỗi chiếc thân phúng phính đầy đà mở thịt như miếng ngon đặt trước đàn ong. Một mũi chích, trăm ngàn mũi chích, cánh tay mặt mũi sưng vù nhức nhối tán loạn hàng ngũ, còn trí óc nào định tỉnh trong cơn chạm loạn súng đạn đầy trời cắc cùm bối rối. Trên đường hành quân vào các làng mạc xa xôi, rừng rú cỏ rậm, mỗi ngõ vào lù lù vắt kín trên hốc cây cành lá che phủ những tổ ong nọc độc, lay động ngọn cành, lũ ong ào ra, bố xuống. . . Chuyện anh nói, tôi có nghe. Ngày trước một đơn vị Partisan dừng quân hạ trại ngơi nghỉ khi trời sập tối trên một bãi đất cỏ lúp xúp nhiều lùm cây trãi rộng xa xa bao quanh khu vực đóng quân. Lính gác giặc đã canh kỹ hơi hám du kích, động tĩnh tình hình. Lính VM nằm sẳn sâu dưới mỗi hầm cá nhân, nín thở co rút chờ chực đâu trước đó. Có thể lúc đổ trưa đứng nắng hay vào một thời khắc im rợn hiu hắt nào đó trên bãi đất trống. Che giấu kỹ tông tích, bãi đất chỉ còn cây cỏ quen thuộc thiên nhiên. Lũ đánh thuê không đánh hơi tìm kiếm gì được. Ra tay . . . Trời đen mù phủ tối, những lùm cây im lìm chuyển dịch xâm thực mặt cỏ, dưới mỗi lùm cây một lính VM cầm cứng những cành cây nhẹ đưa lần tới trước. Ép vào. Ép sát vào... Tiếng hô lệnh xung phong, quăng xuống hết những chướng ngại ngụy trang. Xung phong . Khu đóng quân hổn loạn. Những nhát mã tấu. Những chiếc đầu rơi. . . Câu chuyện chiến trường cũ Vi còn nhớ mỗi bận hành quân chong chanh mạng số. Những lùm cây: người trung sĩ ngẩu nhiên ngại ngập. Nỗi lay lắc rập rình chiến trận tự dưng cùng sống mạnh trong cõi lòng Vi, trong người trung sĩ. Vi đưa mắt rà khắp khoảng vắng. Một ngôi làng. Một thôn bản hay một nhóm di dân tơi tả sau cơn đại nạn đứt lìa mạng sống? Mảng tro xám đen nhòa lẫn trên một nền đất, vài cột tre mục rã chơ vơ đợi chờ. Một dãy nhà qụy xuống tan nát, mất tăm bóng người. Những người nằm trong lòng lũ mộ non, bịt bùng tức tưởi oan khiên. Cắm cho nắm nhang, thắp cho ngọn khói. Hà xuống hơi thở phủ xuống những tháng ngày lạnh lẽo. Ai nghe chi không? Nghe chi không tiếng nức nở gọi đò. Một đời sau chập chờn hú thét, trả oán tới ai, cháu chắc kéo đàn xập xõa kinh mõ rụng rời tìm dấu cha ông. Chết trụi cả cành cây cho hồn oan vất vưởng, hai tay bưng đầu gọi mẹ kêu cha, mắng người chửi vật. Hết. Hết rồi... Sao còn nghẹt thở? Khối tháp nào đè cứng xuống đây. Hãy ngó quay vòng khác những hận thù man rợ thú rừng. Ngó lơ đi, nới rộng ra vòng thắt oan trái, ôi những vòng thắc ôm nhau ứa lệ ngàn hàng. Đi rồi một đứa. Trăm ngàn đứa đi rồi. Vuốt mặt tiễn nhau vĩnh biệt sau cùng. Cho xin giấc ngủ bình an trong gió buồn mộ địa heo hút đêm sương. Vi quặn thắt trong cơn gió tru réo ma tinh. Rồi hắn cũng chết nhăn răng nhập bè méo họng trợn mắt lờn vờn quỹ sứ. Kéo nhau tới nữa đi, dàn ra, giết nhau tới nữa đi. Lòng đất chưa thắm máu đỏ giòng rập ràng tuôn biến. Chưa chi hết...</p> <p> Máy bay cỏ nâu lính thú gầm thét bỗ về. Một con chuồn chuồn lợn vòng chao cánh lò dò trên đầu ruộng mía. Đàn cá sấu xẹt ngang một chớp khỏi vùng trời tử thủ rồi quay lui rẽ rạch nhiều đường bay đan dày thành tấm lưới chụp xuống đầu địch. Bom... Bom là những khúc sắt từ bụng cá sấu rơi dần dần. Rớt xuống. Nổ. Tiếng nổ bung đất bung đai. Khói đen đặc quánh cuốn nùi. Những khúc sắt rãi đều gieo xuống chết chóc - chết ai trong đó ? Mấy đứa nghịch tặc cứng cổ. Một đơn vị rầm rộ tràn tới. Xe bọc sắt hai chiếc đâm chĩa về hai góc ruộng mía. Đại liên năm mươi chúi xuống. Quét. Quét tơi bời lá liễu. Đạn mấy thùng. Hai khẩu đại bác nằm ngóng phía sau. Rót. Rót tới yểm trợ tưng bừng. Hai người lính loăn quăn gánh đạn : lạ vô cùng hình ảnh những dân công yểm trợ chiến trường thời Tây, bây giờ xuất hiện trước mắt Vi. Một khúc cây đòn gánh gác ngang hai vai. Sợi dây bó ba thuổng trái dạn, rị xuống. Buông thõng. Bước chân thúc tới vô vập.Bỏ đống đó, trở lui tiếp đạn - những khúc đạn độc hiểm. Mau lên. Một tràng phóng ra, ba bốn quả nhào tới, tiêu ma óc thịt xương vôi đất nhão. Có thằng nào toét bụng sứt môi rên la thảm thiết. Gió chém mạnh như lưỡi dao cứa ngọt, cứa sâu động tim rúng óc. Đừng khóc. Tiếng khóc là thù địch chiến tranh, con sói hổn mang nuốt trửng tình nghĩa hình hài lớp lớp. Mấy giờ rồi ? Bảy . Bảy giờ tối mập mờ è ạch giết chóc.</p> <p> - Én Trắng . Én Trắng . . .</p> <p> - Sơn Ca. Sơn Ca. Tao đây Vi.</p> <p> - Lĩnh. Lĩnh. ĐM mày. Tao đang rầu rĩ, cứ tưởng... ĐM chạy đâu hồi trưa tới giờ ? chờ mày một lần tao đái trong quần ...</p> <p> - Vi. Im đi. Tao vừa sống lại. Mày nghe chưa ? Tao vừa hụt chết ...</p> <p> Im rợn cánh đồng. Bộ binh thả lưới tràn tới nữa. Từng đợt chạy tháo một hồi, tìm hốc tìm mả nằm xuống thao láo đỏ kè con mắt, nhắm súng giữ cò. Lớp sóng đó nhổm dậy, ùa tới hàng ngang. Một chặng tiếp tới, nằm xuống hồi hộp. Một còn một tiêu ma, biết tiêu là hết nhưng muốn bắn. Khói thuốc súng sẽ xông lên mê vùi điên say. Quên hết.</p> <p> Nằm đợi những giây khắc căng phồng trí óc, dằng dặc rụng rời như hơi thở ngoi ngóp. Khối den của đêm rơi bịch xuống, đồng lõa tối ám. Những trái sáng phụt lên không, vạch rõ mặt mày. Một trái tắt ngủn, trái khác nở bông rực rỡ. Mờ sau ngọn sáng lơ lững, bầu trời xám đặc đông cứng, những tảng mây chồng khít lên nhau như da đá chì bọc ngọn núi trọc. Mưa rớt nhỏ hạt, cuốn lùa trong gió âm u buồn thảm. Như trong đó có tiếng kèn đưa ma áo não dựng dậy hay hình thù con đò đưa xác lùa về trong trí, da thịt sượng sùng nổi cao gai ốc. Vi đã hốt hoảng lần đầu khi nghe tiếng kèn xung phong dữ dằn phía địch rống lên, tiếng rống ộc ộc ghê hồn như một con bò bị chọc tiết. Tiếng kèn tác dụng ngược trái hai chiều vào tinh thần lính chiến hai phía.Một phía đã làm chủ chiến trường, chuẩn bị tinh thần, tiếng động nào cũng có thể thôi thúc chiến đấu. Những cuộn phim dựng lại cảnh tấn công của đế quốc La Mã thời cổ đại, ta nghe nhịp trống dội động giục giã nhào tới, nhịp trống lùa tắp lôi ta nhõm dít đứng lên, giật tay thúc cùi. Thêm vào, tiếng lính trận reo hò lúc nào nghe cũng lạnh gáy xôn xao cảm động ngậm ngùi bởi trong đó hàm chứa nỗi chết, hét lên cho hả giận, sau đó, không còn nữa, những tiếng kêu bi thảm sau cùng của đời sống không trăn trối dặn dò . . .</p> <p> Tám rưỡi tối. Én Trắng, Sơn Ca ơi ới gọi nhau, hôn nhau trên làn sóng. Sóng điện chuyển mang tiếng nói, thương yêu bạn bè. Lời Vi, lời Lĩnh nghẹn ngào trao nhau cõi lòng xoáy hút tâm tư.</p> <p> - Én Trắng…Tao cầu nguyện cho mầy đêm nay.</p> <p> - Sơn Ca. Mầy đợi tao. Bọn hắn đang vượt sông mở đường máu...</p> <p> Tiếng Lĩnh ngưng bặt. Nước mắt dồn nén trào ra, cổ họng ấm ức. E hắn... Gió rít vi vu. Mới chừng năm phút Vi réo tên Lĩnh trong máy thất thanh. Hắn muốn gởi dòng nước mắt thương tiếc trên lưng làn sóng. Lĩnh. Trả lời tao... Làn sóng yếu ớt không mang nổi nước mắt tiếng khóc Vi.</p> <p> Đạn năm mươi trên hai con cua khạc đều từng loạt vào mấy lùm mía. Lúc nầy lũ cá sấu cũng đã chà nát cánh đồng. Cánh đồng mía như một mái tóc con gái ngọt lịm chấm vai, giờ đã xài xạc tan hoang. Những thân mía sạp ngã chông chênh, những lỗ đất lăn lóc ngáp thở. Không biết gì tình hình bên kia sông. Vi nghĩ tiểu đoàn đi sau anh đã tới dàn quân bọc chận đường địch tháo lui. Mặt trước, bộ phận Vi tăng phái ép địch lùi sâu xuống sông, mặt sau hờm sẳn một lớp vây chờ chực nhai tươi nuốt sống, trên đầu máy bay mưa bom xối xả từng hồi, địch không nổi chịu thấu. Tuy nhiên , trong chiến thuật, phải cho địch một lối thoát.</p> <p> Phía bên hông ruộng mía nối qua một vùng cây cối lưa thưa chạy dài tới ngút tầm mắt, thênh thang nhi nhúc ngó thấy có thể là khe hở để địch tháo chạy khi cùng đường. Máy bay sẽ chặn đánh phủ đầu nát vụn xương da. Ý nghĩ về trận đánh chen lẫn những lo tìm đứa bạn quanh co trong đầu. Chiếc bẫy. Mỗi phía giăng sẳn những chiếc bẫy chờ đối phương, ngay cả khi thế cùng lực tận. Bọn hắn đang vượt sông mở đường máu, tiếng Lĩnh báo tin chiều hướng chiến trường đang đi ngược chiều Vi nghĩ. Mười giờ khuya. Gió lạnh cứng trên môi khô cổ đắng, chân tay co run lẩy bẩy. Những trái "phụp" soi sáng liên hồi như những ngọn đèn treo chi chít lưng chừng trời. Từ khoảng trưa đặt chân tới bãi, phía Vi hoàn toàn chưa chạm trán, bóng địch mãi lẩn sâu né tránh. Vi và đồng đội nằm cứng một bề, tư thế sẳn sàng đợi lệnh, đồ ăn khô lôi ra ăn ngấu nghiến. Xác thân hình nộm mệt lừ, nhừ nhuyễn như một xác mắm dã lã buông xuôi. Góc trời phía trước ngã bên bờ sông, những tia đạn lửa bẻ cong vọt từ dưới đất tạt qua hướng Vi. Đạn nổ nghe thật gần, những viên đạn hạ xuống quanh quất đây đó. Cứ khép mắt quên vùng chiến trận, âm thanh rần rần của những loạt pháo cũng náo nức như đêm giao thừa bập bùng tia lửa. Người trung sĩ vẻ mệt mỏi :</p> <p> - Chắc cả hai đang thọc huyết nhau bên kia...</p> <p> - Tôi cũng nghĩ thế , Vi nói.</p> <p> Xáp lá cà ôm nhau vật. Những thế võ. Chém treo ngành ... Máu ròng ròng tung vọt, đầu rơi mắt còn trợn ngược, tiếng chửi cuối cùng vừa khép. Vuốt mắt đi thôi, một ngàn mãi năm sau nhắm tít ngủ vùi đất đen. Những đường dao múa xiên múa xẹo, tiếng reo la gầm thét dọa nạt.</p> <p> Nằm sạp xuống những cây khô đốn ngã. Ai say máu người ?. Chưa ôm nhau thịt, thịt nhau là hết đời thằng Vi, thằng Lĩnh, người trung sĩ theo chân sưởi nóng tâm hồn. Hai người còn đây ngóng mắt thương theo. Thằng Lĩnh chao ôi, một đời bây giờ hắn mới ôm xoát hình nhân đối địch loanh quanh vẫy vùng. Hắn nghĩ gì mùi hôi ẩm mốc trên đó. Hắn nghe không tiếng động ì ầm giục xé trong hai nắm tim tử thù ! Hắn biết chi kẻ địch đầu óc tư tưởng trái xoáy cuồng điên. Hắn thấy không bàn chân những ngón co quắp giao chỉ xa vời tổ tiên. Còn gì nữa. Biết rồi. Kẻ thù chỉ sáng lửa ở đây, trên xương trên thịt. Mồ hôi mốc ẩm da vàng quen quen ruột thịt, giòng máu chảy từ đầu cổ xuống tới cà-mâu trong cơn nạn nhỏ chếch lạc hướng nguồn. Vừa mới đây tiếng mẹ tiếng cha, lời lời bắc-trung-nam thủ thỉ êm đềm, tay chân ấm áp. Vừa mới đây, anh nói tôi nghe, tôi la rầy anh nhịn nhục, niềm thương như biển sông đầy, nhục nô lệ ôm nhau cùng khóc. Cùng bốc lửa căm hờn, chun rừng lội suối khổ ải vô song, tôi đốt lửa anh ngồi một bên, hơ tay hơ chần xuýt xoa nhìn nhau cảm khái mắt lệ rưng rưng đát trời lên tiếng khen thầm, hồn sông núi tổ tông linh thiêng phù trợ, anh vung tay thề, tôi quỳ gối lạy, những lời nguyền có thánh trên tay, có Chúa trên vai, có Phật trên đầu, thời gian thoảng chốc như bóng nắng nghiêng qua, thoảng chốc như mịt mù vô tận, sương núi lênh đênh biết ngày nào dòm ngang thế giới không hổ thẹn mặt mày. Tôi với anh như đò như sông chở đầy thương yêu nhớ tiếc tình người , bài hịch sát đát lanh lãnh còn đây.Bây giờ. cùng nói một lời, anh hiểu một đường tôi nghe một ngã. Khi anh chửi rủa ngông cuồng có thể là lòng anh đau cắt nhớ vợ thương con nơi vùng tôi lui tới cửa nhà, có thể là anh chẳng ghét nhơ chi tôi tội lỗi nửa đời theo bầy xiểm nịnh vong bản vô lương. Khi tôi cầm súng bắn nát đầu anh, vinh hạnh gì đâu mà tung hoa chân chính, có thể tôi nhắm mắt bắn càn bắn khốn, lịm chìm say khói súng mê man. Có thể anh nghĩ gì tôi cũng biết. anh nói gì tôi cũng hiểu, nhưng lòng trời cột miệng bẻ răng, bỏ tù bỏ bót, tôi mù lòa mang hèn đớn trong tâm. Còn biết trăm năm những điều phải nói...</p> <p> Gần mười hai giờ khuya. Cơn lạnh băng cứng chai lì. Súng lốp đốp xé thêm một góc trời về hướng đám cây nối hông ruộng mía. Chừng như một số nhỏ lính địch ló đầu qua đó. Phía bộ phận Vi sôi động dậy mình. Một lệnh mới âm thầm len nhỏ. Từng cái bóng đen mò mẫm bò tới. Kín cẩn dè chừng, những con bò sát lê chân lết tay kéo súng kéo dây chuyển dịch lần hồi. Bò. Bò cho máu nóng rần rần chảy cuồng tim óc. Những cõi sống lềnh bềnh gió vập tai ương. Vài cánh tay thủ lệnh, khêu mờ trong đêm. Nhào phắt dậy ! Rút cổ chạy ! Người chỉ huy xông lên đâm bổ dẫn đầu, qua một khoảng, rạp mình xuống sau một mô mả.Những đứa con quấn quít nằm vội xuống, hàng ngang. Bò, chạy, nằm, xốc lên, xốc xuống, đến một giờ sáng, bố trí bên bờ ruộng mía. Súng lớn súng nhỏ vẫn báo động đều đều bên xa bờ sông. Bắt từ lúc tối trời, địch đã tung nhiều đợt tấn công có tính cách nghi binh hơn là quyết định. Lực lượng phía Lĩnh với pháo binh thiết giáp yểm trợ chưa giải quyết nhanh được chiến trường. Theo cường độ tập nã quy mô như vậy, địch luôn tìm cách chứng minh sự có mặt không hề nao núng của họ. Lĩnh vẫn bặt tin từ tám rưỡi tối.</p> <p> Năm tiếng đồng hồ dằng dặc thổn thức, lì lợm trôi qua trong Vi. Dễ chừng cách khoảng năm phút, tiếng gọi the thé Én Trắng, Én Trắng nổi lên vô vọng buồn thảm. Vi nóng ruột nóng gan tin nẫm thằng Lĩnh đi rồi. Cơn đau xoáy tròn nhức nhối. Một đời Lĩnh là Vi . Một cặp đứa ăn chung ngủ chung, bơ vơ một nỗi chết không còn ai hiểu. Hai đứa như thân cù lao nhỏ, ngoi đầu lên thở giữa trùng dương sóng dữ. Ra khỏi từng hang cọp, mỗi đứa che giấu những ra-đi-không-trở-về, bởi mẹ biết sẽ bưng mặt khóc tủi, còn cha thì đứt ruột cào gan không ngờ tinh anh huyết thống mình lại phiêu hoang lạ chợ ác đức như thế. Ngày ngày mỗi đứa lớn lên chỉ ròng có súng đạn vô tri mới có quyền trên thân trên xác, mẹ cha chỉ còn chới với trông theo.Những lúc Vi ngó thật sâu vào tâm tư Lĩnh , hắn nom rõ những hình thù lông lá dị kỳ của nỗi ám ảnh bất trắc nhảy múa. Sự thật chưng bày rõ mồn một, che lấp bích chương biểu ngữ, nhận chìm ảo ảnh khói sương. Mặt trời mỗi ngày xoi sâu ám tối, những gian manh càng lươn lẹo chường ra. Còn chi đâu ? Những đứa con lạc đạn trôi sông, phách hồn tán lạc . . .</p> <p> - Én Trắng. Én Trắng...</p> <p> Vi gọi nữa. Lần thứ mấy trăm hắn dai dẵng kêu ca. Mấy trăm lần kêu than. Lĩnh vẫn im lìm. Mày bỏ tao đi, tao sống với ai ? Sao mày không nói, dù một lời thoi thóp cũng cho tao được tiễn mấy lần cuối đi đời nhà ma . . .Không. Mày phải sống, còn con mắt nhìn tao, còn miệng họng hả to hả nhỏ trăn trối bùi ngùi. . .</p> <p> Vi nắm combiné đập xuống giận dữ. . . Đ M . . không trả lời. Người trung sĩ khẻ nhẹ ôm theo chiếc máy soi dưới bóng chiếu của những trái sáng, đổi qua tần số khác bắt sóng từ một máy phát nào đó. Thử tốt. Khi tin Vi biết điều nầy, hắn vẫn hung dữ :</p> <p> - Thằng Lĩnh chết rồi . Con c.</p> <p> Người trung sĩ lí nhí một câu gì đó an ủi Vi trong lúc Vi đã nằm duỗi xuống ngất xỉu . Trí óc hắn căng thẳng quá độ qua hơn năm tiếng đồng hồ. Một tháng trước đi bệnh viện, bác sĩ cho nghỉ một tuần, cảnh cáo hắn đừng để bị xúc động mạnh, hắn đang yếu tim. Đơn vị trưởng thương tình cho hắn nghỉ dưỡng luôn hai tuần. Chuyến nầy trở lại nghiệp dĩ,nếu như thằng Lĩnh nhập chung toán hắn chắc hắn vẫn bình thường khệnh khạng súng bom. Hình như có mấy đứa con lạc đạn chết bên phía hắn.. nhưng hắn không để ý.Hình bóng Lĩnh cao lớn dềnh dàng chiếm đầy trí óc hắn.</p> <p> Những loạt súng nổi lên từng hồi, chốc chốc lại nín thinh.Người trung sĩ xòe lớn bàn tay vuốt dài ngực Vi. Hai đồng đội hắn men lần trong tối đỡ nhẹ Vi lùi sau ranh tuyến. Làn mưa bay lệch theo chiều cơn gió khuya trải lớp trên đầu mênh mang. Những đứa con khốn khổ ngáp mỏ, sụt sùi. Không đánh đấm, mà nằm trơ xuống đó tới suốt sáng lũ con chắc sẽ chết cứng đành đoạn. Tình hình bên kia, hai bên hầm hè tiến thối nhai nghiến cầm chừng. Địch bám sát lợi dụng hệ thống địa đạo chằng chịt trong khu ruộng mía.Những bận tung quân nghi binh, địch xuất phát theo nhiều hướng khác nhau. Suốt dài theo vòng vây, địch gầm gừ như có ý chọc thủng một lượt hết luôn cả phòng tuyến. Dưới ngọn sáng mù mờ, từng toán địch năm bảy tên lần mò vượt sông khuấy phá, đồng bọn đua nhau khạc đạn yểm trợ, trời đất rung chuyển tưởng như cả đại bộ phận nằm chờ dọc mé sông. Từng tên địch thí, gặp đại liên đốn ngã, chết quay…Phòng tuyến kéo dãn dài ra, quân rãi thêm ,chẽ mỏng. Vùng cây thưa nối hông cánh đồng mía, địch thường xuyên khuấy động, nhữ hướng. Hai giờ sáng, phía bộ phận Vi được tung vào ruộng lục soát, quậy nát hầm hố. Khi Vi tỉnh hơi, hắn trở lại hàng ngũ nghe ngóng tin tức Lĩnh .Không thấy gì hết. Bảy tiếng đồng hồ dai dẳng ưu phiền, trôi đi mệt nhọc. Lục soát...Khu ruộng mía nát hoảnh, những hố đất vất vả theo từng gốc mía đổ nát tan hoang. Vài tên địch banh thây, xác nằm im vô tình. Tìm sâu nữa. Vài loạt súng địch bắn lẻ tẻ quá gần. Lệnh ngừng, bố trí, chờ. Một lúc sau, chiến trường đột nhiên im lặng khó hiểu. Bóng tối chờn vờn quái dị rợn người.</p> <p> Bốn giờ sáng : trận đánh kết thúc hầm hè cút bắt. Đạn nổ liên tu bất tận. Không hiểu bằng cách nào địch đã vượt sông âm thầm tập trung toàn lực rồi tung ra một mũi dùi nặng, chỉa thẳng vào bộ chỉ huy. Trận đánh cận chiến nổ bùng, trái với xẩm tối Vi từng đoán phỏng ở bên nầy sông. Rổn rảng giết nhau chừng một giờ, trận chiến tan. Tan luôn không còn một bóng dáng địch thấp thoáng trong cánh đồng, bên kia sông. Vi rầu rĩ liên tưởng đến vuông mặt cô hồn tội nghiệp của đứa bạn, chắc một đời hắn thương nhớ khôn nguôi. Vài cái bóng đen khập khểnh từ hướng con sông len về ruộng, những cái xác vô hồn lạc chợ trong nhóm tàn quân tìm về anh em. Những vòng tay mở rộng ôm xoát nghẹn ngào. Những giòng nước mắt kinh khiếp trào ra. Những hơi thở hào hển, từng tiếng nói đứt cụt diễn tả trận chiến thảm khốc sau cùng. Một cái bóng lẻ loi mờ nhạt gập ghềnh từng bước đi yếu đuối như thằng uống rượu say khướt quên đời. Cái bóng run run bám víu trời đất, lủi thủi mò đi. Trong ấm ức nhớ tiếc của Vi, một trăm phần trăm thằng Lĩnh đã thật sự tiêu ma. Hắn dớn dác tìm anh em trong nhóm quay về, không thấy Lĩnh. Hắn đưa mắt hướng theo bóng đen lẻ loi lờ mờ trong ruộng thưa, len tới phía đó. Chừng dòm mặt bóng đen, Vi. khàn cổ la thất thanh :</p> <p> - Lĩnh... Lĩnh...</p> <p> Thằng Lĩnh thất thểu bước, mặt thất thần với dòng nước tang thương ứa ra. Lĩnh nhào đầu vào ngực Vi, buông thả thân xác phó mặc bạn hắn. Một vết thương chẽ ngót bắp vế. Lĩnh lết xuống mé sông giấu mình sau lùm cỏ rậm . Máu chảy nhiều, khuôn mặt nhợt tái thất sắc. Hắn quơ đại một nắm cỏ đắp vết thương, máu ngừng chảy, rõ ra mới hay hắn nhổ đúng thứ cỏ mực mọc nhiều trong vùng nầy.Nằm xuống đó tới tan trận, hắn chới với bơi qua sông, lết về ...</p> <p> Cơn mưa luồn theo gió réo vi vu còn quạt mạnh trên đầu cánh đồng, những mả non nhấp nhô. Hình ảnh đám tàn quân Phi châu sau đại nạn Điện Biên thất thểu xơ xác trở về hóa điên hóa dại vụt qua trí nhớ Vi. Tiếng than ấm ức, sụt sùi, nhễu bọt.../.</p> <p> <strong> (Y Thức số 11 ngày 15-3-71. Chất liệu từ Đ. ở một đại đội trinh sát Y”) </strong></p> <p> <strong>**</strong></p> <p> Hình ảnh : (1) ĐÊM MÙ MỘ ĐỊA trên báo trước 75 ; (2) Hình minh họa (GEMINI chatbot)</p> <p> <img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/nhan-dinh-ve-truyen-ngan-1.jpg" alt="" /></p> <p> </p> <p> </p> <p> </p> <p> Bức tranh minh họa này tái hiện chân thực không khí và nội dung tác phẩm.</p> <p> Bức tranh tập trung vào nhân vật Vi trong bối cảnh đêm tối mưa bay nơi nghĩa trang dã chiến. Hình ảnh những ngôi mộ đất vàng nhấp nhô bên cạnh cánh đồng mía rậm rạp được khắc họa rõ nét, đúng như mô tả trong truyện. Tâm điểm của bức tranh là nhân vật chính đang ôm máy truyền tin với gương mặt đầy lo âu và đau xót, liên tục cất tiếng gọi "Én Trắng" (Lĩnh). Ở phía xa, dòng sông và tiếng súng đạn, bom nổ tạo nên sự kịch tính và tàn khốc của chiến trận.</p> <p> Hy vọng bức tranh này đã truyền tải được cảm xúc và bối cảnh mà truyện ngắn muốn gửi gắm.</p> <p> </p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Fri, 10 Jul 2026 05:41:38 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/nhan-dinh-ve-truyen-ngan-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/nhan-dinh-ve-truyen-ngan-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Văn học &amp; nghệ thuật</media:title>
                        <media:keywords>Văn học &amp; nghệ thuật</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Tổng hợp các cách mở bài, kết bài cho bài thơ Nói với con]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/ket-bai-noi-voi-con-a110645.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/ket-bai-noi-voi-con-a110645.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/ket-bai-noi-voi-con-a110645.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong> Mở bài</strong></p> <p><strong>MB 1</strong></p> <p> Y Phương là nhà thơ mang một tiếng nói riêng, rất đặc trưng cho dân tộc Tày. Thơ ông là tiếng lòng chân thật, gần gũi, bình dị nhưng tràn đầy tình yêu thương. Bài thơ "Nói với con" tiêu biểu cho phong cách sáng tác ấy của ông. Bài thơ đi vào lòng người đọc một thứ tình cảm gần gũi nhưng thiêng liêng và cao quý: Tình cha con. Đó là tâm sự của một người cha dành cho con, là những điều mà cha muốn thổ lộ cho con nghe, con hiểu.</p> <p><strong>MB 2</strong></p> <p> Tình cảm gia đình là một nguồn cảm hứng bất tận đối với các thi sĩ, thế nhưng hầu hết các bài thơ khi viết về đề tài tình cảm gia đình đều nói về tình mẫu tử. Các tác phẩm về tình cha con thì có lẽ khá ít. Bài thơ "Nói với con" của Y Phương là 1 trong những tác phẩm đó. Với giọng điệu thổ cẩm ngọt ngào, bài thơ mượn lời người cha nói với con về tình yêu thương của cha mẹ ,sự đùm bọc của quê hương với con để ngợi ca truyền thống nghĩa tình, sức sống mạnh mẽ của người dân tộc miền núi.</p> <p><strong>MB 3</strong></p> <p> Tình cảm gia đình, tình phụ tử, tình mẫu tử thiêng liêng vốn không phải là một đề tài quá mới mẻ trong nền văn học Việt Nam, đã có rất nhiều những sáng tác hay và độc đáo về đề tài này. Điều này cũng ít nhiều gây ra những áp lực cho những nhà văn, nhà thơ thế hệ sau khi muốn chắp bút viết về gia đình,về tình phụ mẫu...</p> <p><strong>MB 4</strong></p> <p> Nhà thơ Y Phương tên thật là Hứa Vinh Sước, dân tộc Tày, sinh năm 1948; quê ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Ông nhập ngũ năm 1968, phục vụ trong quân đội cho đến năm 1981 thì chuyển về công tác tại Sở Văn hóa- Thông tin Cao Bằng. Từ năm 1993, ông được bầu làm Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng. Thơ ông phản ánh tâm hồn chân thật, mạnh mẽ, trong sáng cùng cách tư duy giàu hình ảnh của con người miền núi.</p> <p><strong>MB 5</strong></p> <p> Y Phương, người con của dân tộc Tày, là tác giả bài thơ Nói với con. Nhan đề bài thơ rất bình dị, lời thơ và chất thơ rất hồn nhiên. Hai mươi tám câu thơ tự do, câu ngắn nhất chỉ có hai chữ, câu thơ dài nhất là mười chữ, phần nhiều là những câu thơ bốn chữ năm chữ; lại có câu thơ cất lên như một khẩu ngữ, nhưng rất gợi rất đậm đà vì thấm đẫm tình cha, vì cách biểu cảm chân tình, mộc mạc.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Fri, 10 Jul 2026 03:18:19 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Tổng hợp các cách mở bài, kết bài cho bài thơ Nói với con</media:title>
                        <media:keywords>Tổng hợp các cách mở bài, kết bài cho bài thơ Nói với con</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Những câu trích dẫn hay về sự cầu nguyện]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/nhung-cau-trich-dan-hay-a110640.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/nhung-cau-trich-dan-hay-a110640.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/nhung-cau-trich-dan-hay-a110640.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p> Đã là tín đồ của Chúa, hầu như ai cũng biết mình phải cầu nguyện, nhưng không phải ai cũng có đời sống cầu nguyện tốt. <strong>Loisusong.net</strong> xin trân trọng giới thiệu với anh chị em một số câu trích dẫn hay về sự cầu nguyện, với hy vọng thêm động lực cho anh chị em bước vào “nơi kín nhiệm”.</p> <p>Nhiều người cầu nguyện cứ như Chúa là viên thuốc Aspirin khổng lồ, chỉ lúc đau thì họ mới chạy đến. (B. Graham Dienert)</p> <p>Chừng nào còn bài kiểm tra, trong các trường học còn có lời cầu nguyện. (Vô danh.)</p> <p>“Quyền năng của sự cầu nguyện chưa bao giờ được dùng hết công suất. Nếu chúng ta muốn nhìn thấy những điều kỳ diệu lớn lao của quyền năng và ân điển thiên thượng được thể hiện tại nơi yếu đuối, thất bại và thất vọng, thì chúng ta phải đáp lại sự thách thức rõ ràng của Chúa: Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho; ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết. (Hudson Taylor, 1832-1905,<strong> </strong> giáo sỹ người Anh, người thành lập Hội truyền giáo nội địa Trung hoa).</p> <p> “Không có lòng sốt sắng, sự chăm chỉ, học hành hay dâng hiến nào có thể bù lại sự thiếu cầu nguyện. Bằng chứng của việc chúng ta đánh giá thấp sự cầu nguyện được thấy trong số lượng thời gian ít ỏi mà chúng ta dành cho nó.” (E.M. Bounds, 1835 -1913, Tác giả 11 cuốn sách, trong đó 9 cuốn tập trung vào sự cầu nguyện).</p> <p> “Tôi thà dạy một người cầu nguyện hơn là dạy mười người giảng đạo.” (Charles Spurgeon, 1834-1892, nhà giảng đạo Baptist Anh, được nhiều người coi là “ông hoàng của những nhà giảng đạo).</p> <p> “Cầu nguyện là phép thử a-xít cho lòng tận hiến với Chúa.” (Samuel Chadwick)</p> <p> “Không phải cầu nguyện trang bị cho chúng ta làm những việc vĩ đại. Bản thân cầu nguyện là công việc vĩ đại.” (Oswald Chambers, 1874-1917, mục sư người Scotland, tác giả sách tĩnh nguyện nổi tiếng “Tất cả của tôi cho sự cao cả của Ngài”.)</p> <p><strong> </strong>“Kể từ lễ Ngũ tuần xa xưa, đã bao giờ toàn thể hội thánh gạt sang một bên mọi công việc khác và chờ đợi Ngài trong mười ngày liền, để quyền năng của Thánh Linh Ngài được thể hiện? Chúng ta chú ý quá nhiều vào phương pháp, phương tiện và nguồn lực, nhưng lại để ý quá ít đến Đấng là Nguồn của sức mạnh.” (Hudson Taylor)</p> <p>“Cầu nguyện là bươn theo cái không thấy được; kiêng ăn là buông tay cái thấy được và tạm thời. Kiêng ăn làm bộc lộ, làm sâu sắc và xác nhận cho sự quyết tâm của chúng ta, đến mức chúng ta sẵn sàng hy sinh bất kỳ điều gì, thậm chí chính mình, để giành được điều mà chúng ta tìm kiếm cho Nước Trời.” (Andrew Murray, 1828 -1917, mục sư Nam Phi, tác giả Cơ đốc, người coi truyền giáo là “mục tiêu chủ yếu của hội thánh.”)</p> <p>Cầu nguyện là bánh lái hay là bánh xe dự phòng đối với bạn? (Corrie Ten Boom, 1892-1983, nữ Cơ đốc nhân Hà lan, người đã cứu giúp rất nhiều nạn nhân người Do thái vào thời kỳ thế chiến lần 2.)</p> <p>Hội thánh tìm những phương pháp tốt hơn trong khi Chúa đang tìm những con người tốt hơn. Đức Thánh Linh không tuôn chảy qua những phương pháp, mà qua những con người. Ngài không giáng trên bộ máy, mà trên những con người. Ngài không xức dầu cho những kế hoạch, mà cho những con người… những con người cầu nguyện.” (E. M. Bounds)</p> <p>Đừng chỉ cầu nguyện khi bạn cảm thấy thích cầu nguyện. Hãy có cuộc hẹn với Chúa và giữ lời hẹn ấy. Con người mạnh mẽ khi quỳ gối. (Corrie ten Boom)</p> <p> “Chúng ta cần cầu nguyện với đôi mắt nhìn vào Chúa, không phải nhìn vào những khó khăn của chúng ta. Trong trận chiến cho sự cầu nguyện chúng ta phải chống lại hai điều thuộc về đất này: những tư tưởng lang thang và thiếu sự gần gũi với tính cách của Chúa như được bày tỏ trong Lời Ngài. Cả hai đều không thể được chữa ngay, nhưng có thể chữa được nhờ sự kỷ luật.” (Oswald Chambers)</p> <p> “Bắt đầu cầu nguyện thôi chưa đủ, cầu nguyện đúng cũng chưa đủ, cầu nguyện trong một thời gian cũng chưa đủ; chúng ta phải cầu nguyện kiên trì, trong đức tin, và tiếp tục cầu nguyện cho đến khi được đáp lời.” (George Müller)</p> <p> “Vấn đề mà gần như mọi người đều mắc phải khi cầu nguyện là nói “Amen” và vội chạy đi trước khi Chúa có cơ hội trả lời. Lắng nghe Chúa quan trọng hơn nhiều việc trình bày những ý tưởng của chúng ta với Ngài.” (Frank Laubach 1884 - 1970 - giáo sỹ - nhà hoạt động xã hội, được biết đến như “Sứ đồ cho những người mù chữ.”)</p> <p> “… Sự cầu nguyện thật được đo bằng sức nặng, không phải bằng độ dài. Một tiếng thở than trước Chúa có thể là một lời cầu nguyện đầy đủ hơn một bài diễn thuyết hay ho và dài dòng.” (C. H. Spurgeon)</p> <p>“Nếu bạn muốn sức mạnh huy hoàng ấy của sự cầu nguyện, bạn phải ở trong sự hiệp nhất yêu thương, sống động, liên tục, có ý thức, thực tiễn và lâu dài với Chúa Jê-sus Christ.” (C. H. Spurgeon)</p> <p>“Lời Chúa là lương thực nhờ đó mà đời sống cầu nguyện được nuôi dưỡng và mạnh mẽ.” (E. M. Bounds) </p> <p>“Sự cầu nguyện được học không phải tại giảng đường mà tại nơi kín nhiệm.” (E. M. Bounds)</p> <p>“Tôi phải cầu nguyện trước khi gặp bất kỳ con người nào… Đấng Christ đã dạy từ tờ mờ sáng và đi đến nơi vắng vẻ. Đa-vít nói: “Vừa sáng tôi tìm cầu Chúa…” Tôi cảm thấy bắt đầu một ngày mới bằng việc ở với Chúa, nhìn thấy mặt Ngài trước thì tốt hơn nhiều, để tâm hồn tôi gần Ngài trước khi gần người khác… “ (Robert Murray M’Cheyne, 1813 -184, mục sư Scotland, nổi tiếng về lòng tin kính và đời sống cầu nguyện.)</p> <p>Khi cầu nguyện, thà có lòng mà không có lời, còn hơn là có lời mà không có lòng. (John Bunyan)</p> <p>Khi cầu nguyện, hãy cẩn thận, đừng hạn chế Chúa, không chỉ bởi sự vô tín, mà còn bởi sự nhầm tưởng rằng bạn biết điều Ngài có thể làm. Hãy chờ đợi điều bất ngờ, “vượt quá mọi điều chúng ta cầu xin hoặc suy tưởng.” (Andrew Murray)</p> <p>Hãy đóng cửa lại với thế gian, hãy khép mình trước mọi tư tưởng và bận rộn của thế gian, và ở riêng với Chúa, cầu nguyện với Ngài tại nơi kín nhiệm. Hãy coi mục tiêu chính của bạn khi cầu nguyện là ý thức sự hiện diện của Cha thiên thượng.” (Andrew Murray)</p> <p> Để sự hiện diện của Chúa được bày tỏ trong sự tương giao nơi kín nhiệm cần có thời gian. Thật dại dột khi nói rằng “tôi có nhiều việc phải làm quá nên không còn thời gian.” Bạn phải tìm ra thời gian, nếu không bạn sẽ đánh mất phước hạnh. Chúa biết cách tiết kiệm giúp bạn khoảng thời gian mà bạn kính cẩn dành riêng để tương giao với Ngài. (A. T. Pierson, 1837 -1911, mục sư, tác giả Cơ đốc người Mỹ, cũng là người tiên phong thúc đẩy truyền giáo đức tin nhằm nhìn thấy thế giới được truyền giáo trong thế hệ của mình.)</p> <p>Cầu nguyện mà chung chung thì kém hiệu quả vì thiếu chính xác, cũng giống như lệnh cho quân lính bắn mà không nói rõ bắn vào đâu. Có thể cũng giết được vài người, nhưng đa số kẻ thù bị bắn trượt. (Charles Haddon Spurgeon)</p> <p>Đức Chúa Trời không làm gì ngoại trừ đáp lời cầu nguyện với đức tin. (John Wesley, Người sáng lập phong trào Giám lý, mỗi ngày ông dành 2 giờ để cầu nguyện) </p> <p>Cầu nguyện không thay đổi mục đích của Chúa, nhưng cầu nguyện thật có thay đổi hành động của Chúa. (Chuck Smith - mục sư, người thành lập phong trào Calvary Chapel.)</p> <p>Chúa luôn trả lời sự cầu nguyện của chúng ta, nhưng đôi khi câu trả lời là không. (Vô danh.)</p> <p>Có những lúc tôi không còn gì để nói với Chúa. Nếu tiếp tục phải nói, tôi sẽ lặp lại những gì mình đã nói mất. Vào những lúc như vậy, thật tuyệt vời khi nói với Chúa: “Cho con ở trong sự hiện diện của Ngài, được không Chúa? Con không còn gì để nói với Chúa nữa, nhưng con yêu thích ở trong sự hiện diện của Ngài. (O. Hallesby, 1879 - 1961, giáo sư thần học người Na uy, công khai chống lại tư tưởng phát-xít và đã bị vào tù vì điều đó)</p> <p> Nhiều lần tôi quỳ gối vì biết chắc chắn rằng mình không còn nơi nào khác để đến. (Abraham Lincoln, 1809 - 1865, tổng thống thứ 16 của Mỹ).</p> <p> Cầu nguyện sẽ làm con người ngừng phạm tội, hoặc tội lỗi sẽ dụ dỗ con người ngừng cầu nguyện. (John Bunyon, 1628 -1688, nhà văn và giảng đạo người Anh, tác giả cuốn Thiên lộ lịch trình).</p> <p><strong> </strong>Nếu tôi không dành 2 giờ để cầu nguyện mỗi sáng, ma quỷ sẽ chiến thắng trong ngày đó. Tôi có quá nhiều việc phải làm đến mức không thể làm xong được nếu không dành 3 tiếng buổi sáng để cầu nguyện. (Martin Luther - người khởi xướng phong trào cải chánh).</p> <p>Trên thế gian này chẳng có sự sống nào ngọt ngào và vui thỏa hơn là sự trò chuyện liên tục với Đức Chúa Trời. (Brother Lawrence, 1614 -1691, tu sỹ Công giáo, nổi tiếng vì mối quan hệ gần gũi với Chúa, tác giả cuốn kinh điển Thực hành sự hiện diện của Đức Chúa Trời - The practice of the Presence of God)</p> <p>“Kinh Thánh tự thân nó chưa phải là một sự kết thúc, mà là một phương tiện để mang con người đến sự nhận biết Chúa cách gần gũi và vui thỏa, để người ta có thể vào trong Ngài, vui thích trong sự hiện diện của Ngài, để người ta có thể nếm trải và nhận biết sự ngọt ngào bên trong của Chính Chúa, ở trong sâu thẳm và trung tâm của trái tim họ. (A.W. Tozer, 1897 - 1963 mục sư, tác giả người Mỹ - nổi tiếng về đời sống và sự dạy dỗ tin kính.)</p> <p><strong> </strong>Tôi đã thấy nhiều người làm việc mà không cầu nguyện, và tôi thấy họ chẳng kết quả mấy, nhưng tôi chưa bao giờ thấy một người cầu nguyện mà lại không làm việc. (Hudson Taylor)</p> <p><strong> </strong>Những trận chiến quan trọng nhất của đời sống thắng hay bại là tại chiến trường cầu nguyện. Chúng ta phải chiến thắng mọi hoàn cảnh tại đó. Trước hết chúng ta phải mang chúng đến đó. Chúng ta phải xem xét chúng tại đó. Trong sự cầu nguyện chúng ta mang kẻ thù thuộc linh của mình vào trong Sự Hiện Diện của Chúa và chúng ta chiến đấu với chúng tại đó. Bạn đã thử làm điều đó chưa? Hay bạn thỏa mãn với việc gặp mặt và chiến đấu với kẻ thù của mình tại không gian mở của thế gian này? (John Henry Jowett, 1864-1923, mục sư người Anh)</p> <p><strong> </strong>Đừng cầu xin một cuộc sống dễ dàng, hãy cầu xin để thành người mạnh mẽ. Đừng cầu xin những sứ mệnh tương xứng với sức mạnh của bạn, hãy cầu xin sức mạnh tương xứng với sứ mệnh của bạn. (Phillips Brooks, 1835 -1893, Giám mục giáo hội Anh giáo tại Massachusettes, Mỹ, tác giả bài thánh ca nổi tiếng Ô, Bê-lem ấp nhỏ - O Little Town of Bethlehem)</p> <p><strong> </strong>Tại sao ở với Chúa và chỉ với Chúa thôi trên núi ấy lại quan trọng đến thế? Quan trọng là vì đó là nơi mà bạn có thể nghe tiếng của Đấng gọi bạn là “yêu dấu”. Cầu nguyện là lắng nghe Đấng gọi bạn là “con yêu dấu của Ta”. Cầu nguyện là để tiếng nói ấy nói với tâm khảm, với cõi lòng của bạn, và để tiếng nói ấy vang vọng khắp con người bạn. (Henri Nouwen, 1932-1996, Linh mục Công giáo Mỹ gốc Hà lan, tác giả của nhiều sách về đời sống tâm linh được cả người Công giáo lẫn Tin lành yêu thích.)</p> <p>Hãy cầu nguyện như là mọi sự phụ thuộc vào Chúa, và hãy làm việc như là mọi sự phụ thuộc vào chính bạn. (Thánh Augustine, 354-430, Giám mục thành Hippo)</p> <p>Và hãy giúp chúng con, hôm nay cũng như mọi ngày, sống gần được như những gì chúng con cầu nguyện. (John Keble 1792 - 1866, nhà thơ người Anh, một trong những người lãnh đạo phong trào Oxford, phong trào muốn phục hồi lại giáo lý truyền thống trong giáo hội Anh giáo).</p> <p><strong> </strong>Satan run rẩy khi nó nhìn thấy một Cơ đốc nhân yếu ớt đang quỳ gối. (William Cowper, 1731 -1800, nhà thơ và sáng tác thánh ca người Anh.)</p> <p> Một điều quan tâm chủ yếu của ma quỷ là ngăn cản các Cơ đốc nhân cầu nguyện. Nó chẳng sợ gì sự học hành mà không cầu nguyện, làm việc mà không cầu nguyện hoặc sùng đạo mà không cầu nguyện. Nó nhạo cười những nhọc nhằn của chúng ta, nó khinh bỉ sự khôn ngoan của chúng ta, nhưng nó run rẩy khi chúng ta cầu nguyện. (Samuel Chadwick, 1860-1932, mục sư Giám lý Anh.)</p> <p>Hãy biết rằng nếu bạn nhất quyết cầu nguyện thì ma quỷ sẽ không để mặc bạn đâu. Nó sẽ quấy rầy, trêu ngươi, ngăn chặn bạn, và chắc chắn nó sẽ tìm ra một vài cách, lớn hoặc nhỏ, hoặc cả hai, để cản trở bạn. Đôi khi chúng ta thua cuộc vì không biết những mưu chước của nó…. Tôi không nghĩ là nó cản bạn cầu nguyện cho điều gì đó nếu bạn chỉ cầu nguyện qua loa. Cái mà nó lo ngại, và chống đối kịch liệt, là sự cầu nguyện và tiếp tục cầu nguyện, cầu nguyện xong mới thôi, cầu nguyện cho tới khi chắc chắn đã được nhậm lời. (Mary Warburton Booth, nói khi phong trào Cứu Thế Quân bị suy yếu.)</p> <p>Không có ai tin vào sức mạnh của sự cầu nguyện bằng ma quỷ, không phải vì nó cầu nguyện, mà vì nó đã bị tổn hại khi người ta cầu nguyện. (Guy H. King)</p> <p>Khi Cơ đốc nhân ngừng giao tiếp với những Cơ đốc nhân khác, ma quỷ mỉm cười. Khi Cơ đốc nhân ngừng học hỏi Kinh Thánh, ma quỷ cười thành tiếng. Nhưng khi Cơ đốc nhân ngừng cầu nguyện thì ma quỷ hét lên vì sung sướng. (Corrie Ten Boom)</p> <p>Người ta có thể hắt hủi lời mời gọi, khước từ sứ điệp, chống lại lý lẽ và khinh bỉ con người của chúng ta, nhưng họ bất lực trước những lời cầu nguyện của chúng ta. (Sidlow Baxter, 1903-1999, mục sư, nhà thần học người Úc.)</p> <p>Nếu muốn có một ông mục sư tốt hơn thì hội thánh chỉ cần cầu nguyện cho ông mà họ đang có. (Vô danh)</p> <p>Tôi vẫn nhớ những lời cầu nguyện của mẹ. Những lời cầu nguyện ấy đã luôn theo đuổi tôi, chúng bám theo tôi suốt cuộc đời. (Abraham Lincoln - )</p> <p>Một ngày nọ, năm Hudson Taylor 18 tuổi, ông lang thang trong thư viện của bố và đọc được một cuốn truyền đạo đơn. Ông không thể làm ngơ với sứ điệp của nó. Cuối cùng, ông đã quỳ gối và tiếp nhận Chúa. Thời gian ấy mẹ ông có việc đi xa nhà. Khi bà về nhà, Hudson báo với mẹ tin vui ấy. Mẹ của Hudson trả lời: “Mẹ biết trước điều đó rồi. Mười ngày trước, đúng ngày mà con kể với mẹ là con đọc chứng đạo đơn ấy, mẹ đã dành cả chiều cầu nguyện cho con cho đến khi Chúa bảo đảm với mẹ là đứa con lạc lối của mẹ đã về lại với bầy.”</p> <p>Lời cầu nguyện của chúng ta không nên chỉ tập trung vào bản thân. Chúng ta cầu nguyện không phải chỉ bởi vì chúng ta cảm thấy nhu cầu của mình như một gánh nặng cần trao cho Chúa, nhưng còn bởi vì chúng ta bị rằng buộc trong tình yêu với người đồng loại, đến mức chúng ta cảm thấy nhu cầu của họ cũng nhức nhối như của chính chúng ta. Cầu thay cho người khác là một cách quyền năng và thực tế nhất mà chúng ta có thể bày tỏ tình yêu của mình cho họ. (John Calvin, 1509-1564, người Thụy sỹ,<strong> </strong>nhà thần học hàng đầu trong thời kỳ Cải chánh, tác giả cuốn Nguyên Lý Cơ Đốc Giáo - Institutes of the Christian Religion).</p> <p>Chúa cho chúng ta khả năng phân biệt chẳng phải để chúng ta chỉ trích mà để chúng ta cầu thay. (Oswald Chambers)</p> <p> Mỗi khi cầu thay, trước hết hãy yên lặng, rồi thờ phượng Chúa trong vinh quang của Ngài. Hãy nghĩ về những gì Ngài có thể làm, và nghĩ về việc Ngài vui lòng nghe lời cầu nguyện của những kẻ được chuộc đến mức nào. Hãy nghĩ về vị trí và quyền lợi của bạn trong Đấng Christ, và hãy chờ đợi những điều vĩ đại. (Andrew Murray)</p> <p>Chưa bao giờ có sự thức tỉnh thuộc linh, tại bất cứ quốc gia hoặc địa phương nào, mà lại không bắt đầu trong sự cầu nguyện hiệp nhất. (A.T. Pierson)</p> <p>Cầu thay thật là một công việc toàn cầu cho Cơ đốc nhân. Không có bất kỳ nơi nào bị đóng cửa đối với lời cầu thay. Không có lục địa - quốc gia - tổ chức - thành phố hay văn phòng nào làm được điều đó. Chẳng có thế lực nào trên đất có thể đóng cửa với sự cầu thay. (Richard Halverson, 1916- 1995, mục sư, tác giả người Mỹ.)</p> <p>Để các dân đứng dậy, trước hết (các Cơ đốc nhân) chúng ta phải quỳ gối. (Billy Graham, 1918- , nhà truyền đạo trứ danh người Mỹ.)</p> <p>Mong ước phấn hưng nhưng lại bỏ qua sự cầu nguyện thì có nghĩa là muốn một đằng mà làm một nẻo. (A.W. Tozer)</p> <p>Ước muốn cầu nguyện chẳng bao giờ thay thế cho sự cầu nguyện thật. (Ed Cole, 1922- 2002, người sáng lập mạng lưới đàn ông Cơ đốc, giảng dạy và viết nhiều sách về nam giới.)</p> <p>Nguồn:</p> <p>http://www.brainyquote.com/</p> <p>http://www.tentmaker.org</p> <p>http://www.christian-prayer-quotes.christian-attorney.net/</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Fri, 10 Jul 2026 00:40:51 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Những câu trích dẫn hay về sự cầu nguyện</media:title>
                        <media:keywords>Những câu trích dẫn hay về sự cầu nguyện</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Văn mẫu lớp 9: Cảm nhận khổ 2 bài Nói với con của Y Phương (Sơ đồ tư duy)                                4 Dàn ý &amp; 10 bài văn mẫu lớp 9 hay nhất]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phan-tich-noi-voi-con-kho-2-a110628.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phan-tich-noi-voi-con-kho-2-a110628.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phan-tich-noi-voi-con-kho-2-a110628.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-noi-voi-con-kho-2-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>Cảm nhận khổ 2 bài thơ Nói với con tuyển chọn 10 mẫu hay nhất, kèm theo 4 dàn ý chi tiết và sơ đồ tư duy, </strong>giúp các em học sinh lớp 9 thấy rõ tinh thần gắn bó, thủy chung với mảnh đất quê hương của người đồng mình.</p> <p><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-noi-voi-con-kho-2-1.jpg" alt="Nói với con" /></p> <p>Qua khổ thơ thứ hai Nói với con, tác giả đã mượn lời người cha nói với con, khéo léo ca ngợi những phẩm chất cao quý của người đồng mình, những truyền thống quý báu của quê hương cùng lời dặn dò tha thiết. Vậy mời các em cùng theo dõi bài viết dưới đây của Download.vn để ngày càng học tốt môn Văn 9. </p> <h2>Cảm nhận đoạn 2 bài thơ Nói với con của Y Phương</h2> <ul> <li>Sơ đồ tư duy Cảm nhận khổ 2 bài Nói với con</li> <li>Dàn ý cảm nhận đoạn 2 bài Nói với con (4 mẫu)</li> <li>Cảm nhận khổ 2 Nói với con ngắn gọn</li> <li>Cảm nhận khổ 2 Nói với con hay nhất</li> <li>Cảm nhận khổ 2 bài thơ Nói với con (5 mẫu)</li> <li>Cảm nhận ý nghĩa đoạn 2 bài thơ Nói với con</li> <li>Phân tích khổ 2 bài Nói với con</li> <li>Phân tích khổ 2 bài thơ Nói với con</li> </ul> <h2>Sơ đồ tư duy Cảm nhận khổ 2 bài Nói với con</h2> <p><img src="https://st.download.vn/data/image/2024/02/24/Kho-2.jpg" alt="Sơ đồ tư duy Cảm nhận khổ 2 bài Nói với con" /></p> <h2>Dàn ý cảm nhận đoạn 2 bài Nói với con</h2> <p><strong>a. Mở bài</strong>:</p> <p>Giới thiệu khái quát về tác giả Y Phương, bài thơ Nói với con và dẫn dắt vào khổ thơ thứ hai</p> <p><strong>b. Thân bài:</strong></p> <p>* Lời ca ngợi về đức tính cao đẹp của “người đồng mình”</p> <p>- Người đồng mình tuy sống trong vất vả nhưng mạnh mẽ, kiên cường bền bỉ, luôn gắn bó với quê hương dù có phải cực nhọc, nghèo đói:</p> <ul> <li>“Người đồng mình”: tiếng gọi thân thương, gần gũi chỉ những người sống cùng một vùng, rộng hơn là người trong một dân tộc, một đất nước.</li> <li>“Cao” và “xa” gợi ra những khó khăn, thách thức mà con người phải trải qua.</li> <li>“Sống như sông, suối” nghĩa là sống thủy chung với quê hương, biết chấp nhận khó khăn và vượt qua khó khăn bằng chính niềm tin, thực lực của mình.</li> </ul> <p>- Người đồng mình mộc mạc nhưng giàu ý chí và niềm tin, nhỏ bé về con người nhưng không nhỏ bé về tâm hồn và ước muốn xây dựng quê hương đất nước.</p> <ul> <li>Hình ảnh “Thô sơ da thịt” ẩn dụ cho phẩm chất mộc mạc, giản dị và chất phác thật thà của người đồng mình nhưng cốt cách không hề “nhỏ bé”.</li> <li>“Đục đá kê cao quê hương” là ý chí xây dựng quê hương của người đồng mình.</li> </ul> <p>* Mong ước của người cha qua lời tâm tình với con</p> <ul> <li>Tiếng gọi “con ơi” tha thiết, tâm tình, nhắn nhủ với con điều lớn lao nhất đó là lòng tự hào dân tộc và niềm tự tin bước vào đời.</li> <li>“Nghe con” lời nhắn chứa chan tình yêu thương, nồi niềm và sự kỳ vọng của cha đối với con.</li> </ul> <p>* Đặc sắc nghệ thuật</p> <ul> <li>Giọng điệu thơ thiết tha, trìu mến: lời gọi cảm thán “người đồng mình yêu lắm con ơi”</li> <li>Hình ảnh mộc mạc, gần gũi giàu chất thơ, vừa cụ thể lại vừa khái quát</li> </ul> <p><strong>c. Kết bài:</strong></p> <p>Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của khổ thơ, nêu cảm nhận của em về khổ thơ thứ hai.</p> <p>....</p> <h2>Cảm nhận khổ 2 Nói với con ngắn gọn</h2> <p>Bài thơ "Nói với con" của nhà thơ Y Phương là bài thơ tiêu biểu cho tình phụ tử thắm thiết cũng lời ca ngợi truyền thống của quê hương, vẻ đẹp tâm hồn của những người dân tộc miền núi. Khổ thơ thứ hai của bài thơ đã cho chúng ta thấy được những phẩm chất cao đẹp của những người đồng mình cùng lời dặn dò tha thiết của một người cha với con của mình. Trong đoạn thơ, phẩm chất đầu tiên ta thấy được ở những người đồng mình là ý chí, nghị lực kiên cường:</p> <p>"Người đồng mình thương lắm con ơiCao đo nỗi buồnXa nuôi chí lớn"</p> <p>Những người đồng mình phải sống trong gian khổ, vất vả, thế nhưng ai cũng mang trong mình một ý chí, một nghị lực "nuôi chí lớn" để bay cao bay xa trong tương lai. Phẩm chất cao đẹp thứ hai của họ là tình nghĩa thuỷ chung, gắn bó với quê hương:</p> <p>"Sống trên đã không chê đá gập ghềnhSống trong thung không chê thung nghèo khóSống như sông như suốiLên thác xuống ghềnhKhông lo cực nhọc"</p> <p>Hai điệp ngữ "sống" và "không chê" đã khẳng định sự thuỷ chung một lòng của những người đồng mình với quê hương của họ. Dù quê hương của họ còn nghèo khó với "đá gập ghềnh", với "thung nghèo khó" nhưng họ vẫn luôn gắn bó với quê hương thân yêu của mình. Phẩm chất thứ ba của người đồng mình là tinh thần tự lập, tự cường, xây dựng quê hương:</p> <p>"Người đồng mình tuy thô sơ da thịtChẳng mấy ai nhỏ bé đâu conNgười đồng mình tự đục đá kê cao quê hươngCòn quê hương thì làm phong tục"</p> <p>Hình ảnh "tự đúc đá kê cao quê hương" là hình ảnh ẩn dụ cho tinh thần tự lập tự cường, quyết tâm xây dựng nên quê hương giàu đẹp của những người đồng mình. Cuối cùng của đoạn thơ là lời dặn tha thiết của cha dành cho con:</p> <p>"Con ơi tuy thô sơ da thịtLên đườngKhông bao giờ nhỏ bé đượcNghe con"</p> <p>Con đã lớn khôn, đã đến lúc lên đường bước vào một trang mới của cuộc đời. Người cha hi vọng đứa con sẽ vững vàng trên đường đời, tiếp nối, kế thừa những truyền thống vẻ vang của cha ông. Về nghệ thuật, đoạn thơ được viết bằng thể thơ tự do và lối tư duy khoáng đạt của người dân miền núi, giọng điệu thơ linh hoạt, hình ảnh thơ mộc mạc đã làm nên thành công cho khổ 2 bài thơ Nói với con. Khổ thơ đã cho ta thấy được những phẩm chất cao quý của người đồng mình cùng tình cảm gia đình sâu sắc.</p> <h2>Cảm nhận khổ 2 Nói với con hay nhất</h2> <p>"Nói với con" là một thi phẩm rất tiêu biểu của nhà thơ Y Phương. Qua khổ thơ thứ hai của tác phẩm, mượn lời người cha nói với con, tác giả đã khéo léo ca ngợi những phẩm chất cao quý của người đồng mình, những truyền thống quý báu của quê hương cùng lời dặn dò tha thiết - hành trang để đứa con bước vào đời. Người đồng mình là những người có ý chí, nghị lực mạnh mẽ "Cao đo nỗi buồn/ Xa nuôi chí lớn". Người đồng mình còn đang phải chịu cực khổ, gian nan thế nhưng ai ai cũng mang trong mình chí lớn và nghị lực để "nuôi chí lớn" đó. Hai tính từ "cao, xa" đã được nhà thơ sử dụng để so sánh, miêu tả được chí khí của những người đồng mình. Cuộc sống tuy còn nhiều gian lao, nghèo khó nhưng họ luôn gắn bó, thuỷ chung với quê hương của mình. Hai hình ảnh ẩn dụ "đá gập ghềnh", "thung nghèo đói" đã diễn tả sự thiếu thốn, vất vả cực nhọc của những người đồng mình trên quê hương. Nhưng dù có thế nào, họ vẫn bám trụ nơi quê hương ấy, gắn bó, ân nghĩa, thuỷ chung. Hai điệp từ "sống", "không chê" lặp lại hai lần liên tiếp để khẳng định sự thuỷ chung đó. Không chỉ gắn bó, thủy chung mà người đồng mình còn mang trong mình tinh thần tự lập, tự cường, xây dựng quê hương. Hình ảnh "tự đục đá kê cao quê hương" là hình ảnh ẩn dụ cho ta thấy được ý chí tự lập, tự cường của những người đồng mình. Tự tay họ xây dựng lên quê hương của mình với mong muốn quê hương sẽ ngày thêm vững bền và giàu mạnh. Khép lại bài thơ là lời dặn dò con của cha:</p> <p>"Con ơi tuy thô sơ da thịtLên đườngKhông bao giờ nhỏ bé đượcNghe con"</p> <p>Con đã đến tuổi trưởng thành, phải ra đi tìm lấy sự nghiệp cho riêng mình, thế nhưng dù có đi đâu vẫn phải luôn nhớ về quê hương, gia đình, với những phẩm chất cao quý, hãy sống để xứng đáng với những đồng mình trên quê hương. Bằng lối thơ tự do mang sự khoáng đạt của người dân tộc miền núi cùng với những hình ảnh thơ đẹp, giàu sức gợi, các biện pháp tu từ ẩn dụ, điệp ngữ, ... qua khổ thơ thứ 2 trong tác phẩm Nói với con, nhà thơ Y Phương đã cho chúng ta thấy được những phẩm chất đáng quý của người đồng mình cùng lời dặn dò tha thiết dành cho con. Khổ thơ thứ hai là khổ thơ mang những giá trị biểu tượng của cả thi phẩm Nói với con.</p> <h2>Cảm nhận khổ 2 bài thơ Nói với con</h2> <h3>Cảm nhận khổ 2 bài Nói với con - Mẫu 1</h3> <p>“Nói với con” là bài thơ tiêu biểu nhất của Y Phương. Qua khổ thơ 2, mượn lời nhắc nhở con về cội nguồn sinh thành, người cha khéo léo ca ngợi những vẻ đẹp trong phẩm chất cao quý của “người đồng mình”, ngợi ca bản sắc văn hóa của quê hương xứ sở. Những phẩm chất ấy không có gì lớn lao nhưng hết sức đáng tự hào và gìn giữ, là hành trang mà con cần phải mang theo khi bước vào cuộc đời lớn.</p> <p>Phẩm chất cao quý của “người đồng mình” cứ hiện dần qua lời tâm tình của người cha. Đó là một cuộc sống tràn đầy niềm vui và lòng lạc quan:</p> <p>“Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn”.</p> <p>Cách đảo ngữ đầy thú vị khiến cho ý thơ cao vời, thanh thoát. Người miền núi lấy núi, lấy suối, lấy sông làm đơn vị đo. Tập quán ấy đi vào lời thơ Y phương trở nên hết sức ấn tượng. Người đồng mình cũng lắm suy tư (nỗi buồn). Người đồng mình tuy nghèo khó nhưng lúc nào cũng biết “nuôi chí lớn”. Họ mạnh mẽ, kiêu hãnh sinh tồn giữa đại tự nhiên đầy khắc nghiệt và bí ẩn. Chưa bao giờ họ bị khuất phục. Đó chính là phẩm chất đáng tự hào mà Y Phương muốn nói đến.</p> <p>Đó còn là tấm lòng thuỷ chung của “người đồng mình” với nơi chôn rau cắt rốn:</p> <p>“Sống trên đá không chê đá gập ghềnhSống trong thung không chê thung nghèo đói”</p> <p>Bằng những điệp từ, điệp ngữ, cách so sánh cụ thể, kết hợp với kiểu câu ngắn dài khác nhau, lời tâm tình của người cha đã góp phần khẳng định người miền núi tuy cuộc sống hôm nay còn vất vả, khó nhọc, “lên thác xuống ghềnh” nhưng họ vẫn sống mạnh mẽ, khoáng đạt “như sông như suối”, bền bỉ, gắn bó và tha thiết với quê hương. Từ đó người cha mong muốn con phải có nghĩa tình chung thuỷ với quê hương. Biết chấp nhận và vượt qua những khó khăn, thử thách bằng ý chí, nghị lực và niềm tin của mình.</p> <p>“Người đồng mình” mộc mạc, dung di, giàu ý chí và niềm tin. Họ tuy “thô sơ da thịt” nhưng không hề nhỏ bé về tâm hồn và ý chí. Họ biết lo toan và mong ước. Họ biết tự lực, tự cường xây dựng quê hương, duy trì truyền thống với những tập quán tốt đẹp của “người đồng mình”:</p> <p>“Người đồng mình đục đá kê cao quê hươngCòn quê hương thì làm phong tục”</p> <p>Câu thơ có 2 lớp nghĩa. Về nghĩa tả thực: Đục đá kê cao quê hương là hành động có thật thường thấy ở miền núi. “Quê hương” vốn là khái niệm trừu tượng, chỉ nơi chốn sinh thành của một người nào đó. Họ thường xây dựng nhà cửa trên những miền đất cao đầy sỏi đá để có cơ ngơi vững chắc, chống chọi lại với thiên nhiên khắc nghiệt. Từ ngàn năm xưa họ sống với đá, sống trên đá. Đá núi trở thành một phần quen thuộc trong cuộc sống của họ, biểu trưng cho ý chí kiên cường, rắn rỏi, không bao giờ bị khuất phục.</p> <p>Nghĩa ẩn dụ: Nói đục đá kê cao quê hương. Hình ảnh thơ khái quát về tinh thần tự tôn, ý thức bảo tồn cội nguồn. Tình yêu và niềm tự hào của con và tất cả “người đồng mình” cũng vững bền như đá núi vậy. Đó là một niềm tin vĩnh cửu, không gì thay đổi được. người cha muốn ca nằm lòng điều đó dẫu cuộc sống sau này có thay đổi như thế nào.</p> <p>Kết thúc bài thơ là lời nhắn nhủ, dặn dò và hi vọng của người cha mong muốn con mình phải tự hào về truyền thống tốt đẹp của quê hương mình. Hãy lấy những tình cảm đó làm hành trang để vững bước trên đường đời rộng lớn”</p> <p>“Con ơi tuy thô sơ da thịtLên đườngKhông bao giờ nhỏ bé đượcNghe con”.</p> <p>Hình ảnh người đồng mình “thô sơ da thịt” lặp lại hai lần như muốn con ghi nhớ sâu sắc về hình ảnh con người và quê hương mình. “Người đồng mình” tuy mộc mạc, chân chất nhưng có lẽ sống cao đẹp. Trên đường đời con phải sống cao thượng, tự trọng để xứng đáng với “người đồng mình” đã từng sống, từng yêu như thế. Con là đại diện của người đồng mình, con mang theo những phẩm chất của người đồng mình thế nên “bao giờ nhỏ bé được”, dù con đường phía trước còn đầy chông gai. Con hãy tự tin bước đi, bởi sau lưng con có gia đình, có quê hương, bởi trong tim con sẵn ẩn chứa những phẩm tốt đẹp và quý báu của “người đồng mình” rồi.</p> <p>Hai tiếng “nghe con” chứa đựng tấm lòng yêu thương và niềm tin sâu nặng cha đặt nơi con. Hai tiếng ấy khép lại bài thơ để lại một dư âm nhẹ nhàng mà âm vang xao xuyến.</p> <p>Với thể thơ tự do, mạch cảm xúc tự nhiên, cách nói giàu hình ảnh vừa mộc mạc mà vẫn giàu chất thơ, cụ thể mà giàu sức khái quát, bài thơ thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ, những phẩm chất cao quý của “người đồng mình”, của quê hương nguồn cội. Khổ thơ 2 của bài thơ giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một dân tộc miền núi, gợi nhắc tình cảm gắn bó với truyền thống, với quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống.</p> <h3>Cảm nhận khổ 2 bài Nói với con - Mẫu 2</h3> <p>Ai đã đọc qua bài thơ “Nói với con” của Y Phương hẳn sẽ xuất hiện không ít cảm xúc, nỗi xúc động về tình cảm gia đình cũng như tình quê hương thắm thiết. Nổi bật trên nền cảnh núi rừng Tây Bắc là vẻ đẹp đời sống và phẩm chất của “người đồng mình” cần cù nhẫn nại, gắn kết muôn đời với quê hương, với cội rễ sinh thành khiến ta thêm trân trọng và mến yêu được thể hiện rõ nét qua đoạn 2 bài thơ.</p> <p>Ở đoạn 2 bài thơ “Nói với con”, Nhà thơ Y Phương đã dùng những lời thơ mộc mạc, chân thành để khắc họa hình ảnh “người đồng mình” trong mối liên hệ giữa con người và nguồn cội sinh thành. Tuy cuộc sống khó khăn, gian khổ, nhưng lúc nào họ cũng ngời sáng ý chí vươn lên:</p> <p>“Người đồng mình thương lắm con ơiCao đo nỗi buồnXa nuôi chí lớn”.</p> <p>Từ “thương lắm” xuất phát từ tấm lòng đồng cảm, tri ân những con người đã bao đời làm nên bản sắc của cuộc sống “người đồng mình”. Giữ đại ngàn bao la, “người đồng mình” muôn đời vẫn không thôi ước vọng vươn cao, vươn xa. Cách dùng đảo ngữ tinh tế khiến cho lời thơ thanh thoát lạ thường. Dù biết là khó khăn, nhưng ước mơ không bao giờ vơi cạn. Đó chính là nguồn cội sức mạnh giúp họ sinh tồn và vươn tới cuộc sống tươi đẹp. Y Phương thấu hiểu, trân trọng và lấy điều đó làm bài học dạy con. Một lần nữa, vẻ đẹp đời sống và phẩm chất của “người đồng mình” hiện lên thật cao đẹp:</p> <p>“Dẫu làm sao thì cha vẫn muốnSống trên đá không chê đá gập ghềnhSống trong thung không chê thung nghèo đói”.</p> <p>Biện pháp điệp cấu trúc “sống - không chê” và nghệ thuật so sánh vẽ ra hình ảnh cuộc sống của người đồng mình đầy khó nhọc nhưng hào hùng, mạnh mẽ. Cuộc sống có thể gian khổ nhưng tâm hồn lúc nào cũng thanh cao, lạc quan, yêu đời. Họ biết chấp nhận và trân trọng cuộc sống vốn có; biết cải tạo nó theo chiều hướng tốt đẹp và gìn giữ cho muôn đời sau. Càng khó khăn, gian khổ, họ càng biết nương tựa vò nhau, dựng xây một lối sống bao dung, hài hòa với thiên nhiên:</p> <p>“Sống như sông như suốiLên thác xuống ghềnhKhông lo cực nhọc”.</p> <p>Với giọng điệu dịu dàng, yêu thương và trìu mến, cùng cách diễn tả mộc mạc, chất phác đúng chuẩn chất giọng dân tộc Tày - quê hương tác giả, ở vùng Cao Bằng cùng với lối ví von, so sánh thường thấy trong trong các bài thơ dịu nhẹ, Y Phương đã chỉ ra được nét đặc sắc qua lời tâm tình của người cha đối với con. Con thường được lớn lên trong sự chở che, nuôi dưỡng của cha mẹ. Với cách tư duy riêng, tác giả đã nói lên sự vất vả ở các vùng quê miền núi khó khăn, “gập ghềnh”, “nghèo đói”. Đó cũng là niềm tự hào, lời ca ngợi vẻ đẹp đời sống và phẩm chất của “người đồng mình” mà nhà thơ đã dành tặng cho quê hương, dân tộc mình.</p> <p>Tính cách người miền núi lại vô tư, không toan tính hay ích kỉ, keo kiệt, giữ của cho riêng mình cho riêng mình. Họ có gì họ cho nấy. Phép so sánh “Sống như sông như suối” gợi lên vẻ đẹp tâm hồn và ý chí của người đồng mình: đó là sức sống mạnh mẽ, bền bỉ. Tuy gian nan và cực nhọc, họ vẫn ngập tràn khí phách, tâm hồn lãng mạn, khoáng đạt như hình ảnh bạt ngàn của sông núi. Tuy mộc mạc và giản dị nhưng lại giàu có về ý chí, tâm hồn. Tình cảm của họ trong trẻo, dạt dào như dòng suối không bao giờ cạn, niềm tin yêu cuộc sống, con người.</p> <p>“Người đồng mình thô sơ da thịtChẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”</p> <p>Một lần nữa, “người đồng mình” được lặp lại với biết bao trìu mến. Người đồng mình “tuy thô sơ da thịt” nhưng “chẳng mấy ai nhỏ bé”. Dù trong bất kì hoàn cảnh nào, “người đồng mình” cũng luôn đề cao danh dự, nhân phẩm và biết gìn giữ, bảo vệ lấy như chính sinh mệnh của mình. Họ không vì đời sống vật chất mà đánh đổi lương tâm, phản bội núi rừng, phản bội quê hương. Từng hoạt động sống khắc ghi vào đá núi, khắc ghi vào sông suối, khắc ghi vào trí nhớ mỗi con người và biến thành phong tục, cách sống, cách ứng xử của cả cộng đồng:</p> <p>“Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hươngCòn quê hương thì làm phong tục”.</p> <p>Niềm tự hào về sức mạnh sinh tồn và vẻ đẹp văn hóa “người đồng mình” khiến cho lời thơ càng thêm tha thiết. Tuy đó chưa hẳn là những giá trị lớn lao khi so sánh với những giá trị tương đồng nhưng sẽ là lớn nhất, quý nhất đối với “người đồng mình”. Họ tự hào và kiêu hãnh khi đã dựng nên quê hương trên núi đá, sinh tồn ngay giữa vùng đất dữ dội và chinh phục thế giới xung quanh bằng chính sức mạnh của văn hóa cộng đồng. Họ hiểu rõ, nếu không gìn giữ và phát huy sức mạnh ấy, một ngày nào đó, quê hương của họ sẽ sớm tàn lụi, mọi công sức của cha ông đều tiêu tan trước sức mạnh của tự nhiên vĩ đại. Họ cũng hiểu rõ, ở ngoài kia luôn có những điều tốt đẹp hơn nhưng họ mong muốn mọi thế hệ mai sau không vì sự hẹp hòi, ích kỉ của bản thân mà thay đổi mình:</p> <p>“Con ơi tuy thô sơ da thịtLên đườngKhông bao giờ nhỏ bé đượcNghe con”.</p> <p>Cách diễn đạt của tác giả kèm với biện pháp nghệ thuật đã góp phần khiến bài văn trở nên sinh động và giàu tính nhạc hơn. Việc điệp cấu trúc đã tạo nên nét riêng cho bài thơ giúp độc giả có những ấn tượng sâu sắc hơn mà ít bài thơ khác có thể đi sâu vào lòng người đến vậy. Y Phương dùng cả hai biện pháp trên chủ yếu để nhấn mạnh, nhắc nhở, “khắc cốt ghi tâm” người con rằng tuy có vất vả, gian lao thế nào thì cũng không chê bai, trách móc mà hãy hòa mình vào nó. Có gì ăn nấy, sống thanh thản thoải mái, không chạy đua với cuộc sống thành thị, đua đòi. Nhà thơ đã một phần thay lời cha dặn con phải chịu khó, chung thủy với đất rừng, quê hương, tổ tiên mà mỗi ai cũng cần phải giữ lấy nhưng ít ai làm được.</p> <p>Lời thơ tha thiết, thủ thỉ, tâm tình, dặn dò. Lời cha gửi gắm đến con về bổn phận phải biết tự hào, yêu thương, tôn trọng và gìn giữ truyền thống quê hương cũng là lời nhắc nhở chúng ta phải sống có trách nhiệm với quê hương, đất nước.</p> <p>Người ta chỉ có thể tách con người ra khỏi quê hương chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người. Qua vẻ đẹp đời sống và phẩm chất của “người đồng mình” cùng tình cảm thiết tha của nhà thơ Y Phương, đoạn thơ 2 bài thơ “Nói với con” đã giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một người miền núi. Đồng thời gợi nhắc tình cảm gắn bó với truyền thống, quê hương mà bấy lâu nay ta đã chôn vùi.</p> <h3>Cảm nhận khổ 2 bài Nói với con - Mẫu 3</h3> <p>Y Phương là nhà thơ dân tộc Tày. Quê anh ở Trùng Khánh thuộc tỉnh Cao Bằng. Từ người lính thời chống Mĩ, anh trở thành nhà thơ.</p> <p>Thơ của Y Phương mang một vẻ đẹp riêng, "thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của người miền núi".</p> <p>Nói với con của Y Phương là một bài thơ hay, một bông hoa nghệ thuật đầy sắc hương của núi rừng biên giới phía Bắc. Đây là phần thứ hai của bài thơ:</p> <p>Người đồng mình thương lắm con ơiCao đo nỗi buồnXa nuôi chí lớnDẫu làm sao thì cha vẫn muốnSống trên đá không chê đá gập ghềnhSống trong thung không chê thung nghèo đóiSống như sông như suốiLên thác xuống ghềnhKhông lo cực nhọcNgười đồng mình thô sơ da thịtChẳng mấy ai nhỏ bé đâu conNgười đồng mình tự đục đá kê cao quê hươngCòn quê hương thì làm phong tụcCon ơi tuy thô sơ da thịt Lên đườngKhông bao giờ nhỏ bé đượcNghe con.</p> <p>Ở phần đầu, Y Phương đã viết: "Người đồng mình yêu lắm con ơi", thì ở phần hai, mở đầu đoạn thơ ông lại nhân giọng. Lời cha nói với con nghe thật ngọt ngào thiết tha: "Người đồng mình thương lắm con ơi". "Người đồng mình" là đồng bào quê hương mình, là bà con dân tộc Tày, dân tộc Nùng, nơi "nước non Cao Bằng", nơi "gạo trắng nước trong". Phải yêu, phải thương "người đồng mình" rất đẹp, rất đáng tự hào. Không bao giờ lùi bước trước mọi thử thách khó khăn. Tâm càng sáng, chí càng cao càng bền, tầm nhìn càng xa càng rộng:</p> <p>Cao đo nỗi buồnXa nuôi chí lớn</p> <p>Cha nói với con, dạy bảo con về đạo lí làm người. Trong bất cứ thời gian nào, hoàn cảnh nào "cha vẫn muốn", cha vẫn mong con biết ngẩng cao đầu và sống đẹp. Quê hương sau những năm dài chiến tranh còn nhiều khó khăn chưa đẹp, chưa giàu. Đường đến các bản còn ''gập ghềnh", còn nhà sàn vách nứa, thung còn "nghèo đói" thiếu thốn khó khăn. Con nhớ là "không chê không chê...":</p> <p>Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói.Con phải biết sống mạnh mẽ, kiên cường "như sông như suối". Con phải giàu chí khí và có bản lĩnh, dù phải "lên thác xuống ghềnh" vẫn "không lo cực nhọc".</p> <p>Các điệp ngữ: "không chê... không chê", "sống trên... sống trong... sống như..." đã làm cho vần thơ phong phú âm điệu nhạc điệu, lời cha dặn con vô cùng thiết tha. Cách ví von, cách vận dụng thành ngữ làm cho lời cha dặn vừa cụ thể mộc mạc, vừa hàm nghĩa, sâu lắng, ân tình:</p> <p>Sống như sông như suốiLên thác xuống ghềnhKhông lo cực nhọc.</p> <p>Các từ ngữ, hình ảnh: "thô sơ da thịt", "nhỏ bé", "tự đục đá kê cao quê hương" đã thể hiện bản chất, bản lĩnh sống của đồng bào mình, bà con quê hương mình. Ba tiếng "người đồng mình" được nhắc đi nhắc lại nhiều lần đã hiểu lộ niềm yêu mến tự hào quê hương không thể kể xiết. "Người đồng mình" sống giản dị mộc mạc "thô sơ da thịt", chịu khó chịu khổ, kiên nhẫn trong lao động làm ăn. Chẳng bao giờ "nhỏ bé", chẳng bao giờ sống tầm thường trong cuộc đời và trước thiên hạ. Cha nói với con là nói về đạo lí làm người, cha nhắc con phải biết sống đẹp, sống mạnh mẽ, sống có nhân cách. Con phải biết nêu cao lòng tự hào, biết giữ lấy và phát huy truyền thống cao đẹp của "người đồng mình", của quê hương mình:</p> <p>Người đồng mình thô sơ da thịtChẳng mấy ai nhỏ bé đâu conNgười đồng mình tự đục đá kê cao quê hươngCòn quê hương thì làm phong tục.</p> <p>Con chuẩn bị lên đường, như cánh chim bay tới chân trời xa (đi học, đi bộ đội, đi làm ăn?). Cha dặn con, cha khích lệ con, "tuy thô sơ du thịt", nhưng không thể, không được sống tầm thường, sông "nhỏ bé" trước thiên hạ. Bài học làm người mà cha dạy con tuy ngắn gọn mà thấm thía và lay động biết bao:</p> <p>Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đườngKhông bao giờ nhỏ bé đượcNghe con.</p> <p>Y Phương đã có một cách nói cụ thể, nói bằng hình ảnh mang phong cách dân tộc mình, "người đồng mình". Lời thơ bình dị, tình cảm chân thành, giọng thơ tha thiết. Cha nói với con, cha dạy con bài học làm người, biết giữ gìn phẩm giá và đạo lí: yêu mến tự hào quê hương, sống có chí khí, sống đẹp như "người đồng mình" đã bao đời nay.</p> <p>Nói với con là một bài thơ hay thể hiện tình thương con, niềm tin của người cha đối với đứa con yêu quý. Kết thúc bài thơ là tiếng cha khích lệ con lên đường.</p> <p>Đọc thơ của Y Phương, chúng ta bồi hồi nhớ lại lời ru của mẹ hiền thời thơ ấu:</p> <p>Con ơi muốn nên thân người,Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha.</p> <p>.....</p> <h2>Cảm nhận ý nghĩa đoạn 2 bài thơ Nói với con</h2> <p>Y Phương quê ở Cao Bằng, người dân tộc Tày, thơ ông thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của con người miền núi. Tác phẩm được viết năm 1980, in trong tập Thơ Nam 1945, là lời tâm sự của tác giả với đứa con gái đầu lòng và với chính bản thân. Đặc biệt đoạn 2 của bài thơ: “Người đồng mình thương lắm con ơi… Nghe con” không chỉ là lời dặn dò đơn giản mà còn là tất cả tình cảm trân trọng, ngợi ca, tự hào về con người, về đất nước quê hương.</p> <p>Bằng những hình ảnh thơ đẹp, giản dị bằng cách nói cụ thể, độc đáo mà gần gũi của người miền núi, người cha muốn nói với con rằng:vòng tay yêu thương của cha mẹ, gia đình, nghĩa tình sâu nặng của quê hương làng bản. Đó là cái nôi đã nuôi con khôn lớn, là cội nguồn sinh dưỡng của con. Con hãy khắc ghi điều đó.</p> <p>Trong cái ngọt ngào của kỉ niệm về gia đình và quê hương,người cha đã tha thiết nói với con về những phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình. Điệp ngữ “người đồng mình” có thể nói là điểm nhấn khá quan trọng của thi phẩm này. “Người đồng mình” là cha mẹ, là đồng bào, những người cùng quê hương, dân tộc Tày, Nùng.</p> <p>Với lời nói mộc mạc, giản dị, hình ảnh cụ thể, những điệp ngữ, điệp từ, cách sử dụng cụ thể, kết hợp với nhiều kiểu câu ngắn, dài khác nhau, tác giả gợi bao tình yêu thương về người đồng mình. “Người đồng mình” sống vất vả, nghèo đói, cực nhọc, lam lũ nhưng lạc quan, chân chất, yêu đời, mạnh mẽ, khoáng đạt với chí lớn, luôn yêu quý, tự hào và gắn bó với quê hương. Người đồng mình không chỉ là những con người giản dị, tài hoa trong cuộc sống lao động mà còn là những con người biết lo toan và giàu mơ ước: Người cha muốn giáo dục cho con sống phải có nghĩa tình, chung thủy với quê hương, biết chấp nhận và vượt qua gian nan thử thách bằng ý chí và niềm tin của mình:</p> <p>“Người đồng mình thương lắm con ơiCao đo nỗi buồnXa nuôi chí lớn”</p> <p>Người đồng mình sống vất vả mà mạnh mẽ, khoáng đạt, bền bỉ, gắn bó với quê hương, thủy chung với nơi chôn nhau cắt rốn cho dù quê hương còn cực nhọc, đói nghèo. Biết lấy chiều “cao” (để) đo nỗi khoảng cách “xa” (để) “nuôi chí lớn”, không bao giờ lùi bước trước mọi thử thách, khó khăn, tâm càng sáng, chí càng cao, tầm nhìn càng xa rộng, tràn đầy niềm vui và lòng lạc quan.</p> <p>Người đồng mình mộc mạc, dung dị, giàu ý chí, niềm tin. Họ có thể “thô sơ da thịt” - mộc mạc thô sơ trong dáng hình, cử chỉ; trong cách ăn mặc giản dị, cuộc sống thiếu thốn nhưng không hề nhỏ bé về tâm hồn và ý chí. Họ biết lo toan và mong ước: “Cao đo nỗi buồn, xa nuôi chí lớn”. Họ biết tự lực, tự cường xây dựng quê hương duy trì truyền thống với những tập quán tốt đẹp của người đồng mình. Lấy cái cao, cái xa của đất trời để làm thước đo kích cỡ của nỗi buồn và chí hướng. Những nỗi niềm và khát vọng của họ mang tầm vóc của núi cao sông dài:</p> <p>“Sống trên đá không chê đá gập ghềnhSống trong thung không chê thung nghèo đóiSống như sông như suốiLên thác xuống ghềnhKhông lo cực nhọc”.</p> <p>Người đồng mình là thế đấy. Tuy không giàu có nhưng chẳng mấy ai nhỏ bé, chẳng mấy ai cúi đầu khuất phục trước khó khăn, thử thách. Từ đó, người cha mong muốn con phải có nghĩa tình chung thủy với quê hương, biết chấp nhận và vượt qua khó khăn, thử thách bằng ý chí, nghị lực và niềm tin của mình. Người cha muốn con hiểu và giữ được bản sắc của “người đồng mình” dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nhà thơ cũng gợi ra những đức tính, phẩm chất đáng quý của “người đồng mình” như chấp nhận khó khăn, thử thách, hồn nhiên, mạnh mẽ, bền bỉ và phóng khoáng:</p> <p>“Sống như sông như suốiLên thác xuống ghềnhKhông lo cực nhọc”.</p> <p>Phép so sánh “Sống như sông như suối” gợi vẻ đẹp tâm hồn và ý chí của người đồng mình. Gian khó là thế, họ vẫn tràn đầy sinh lực, tâm hồn lãng mạn, khoáng đạt như hình ảnh đại ngàn của sông núi. Tình cảm của họ trong trẻo, dạt dào như dòng suối, con sống trước niềm tin yêu cuộc sống, tin yêu con người.</p> <p>Đoạn thơ rất dồi dào nhạc điệu, tạo nên bởi điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc câu và nhịp thơ rất linh hoạt, lúc vươn dài, khi rút ngắn, lời thơ giản dị, chắc nịch mà lay động, thấm thía, có tính truyền cảm mạnh mẽ, thái độ rất đỗi tự hào. Để nhắc nhở giáo dục con, người cha nhấn mạnh truyền thống người đồng mình:</p> <p>“Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hươngCòn quê hương thì làm phong tục”.</p> <p>Câu thơ có hai lớp nghĩa: nghĩa tả thực: “Đục đá kê cao là hoạt động cố thực thường thấy ở miền núi. Quê hương vốn là khái niệm trừu tượng, chỉ nơi chốn sinh thành của một người nào đó; nghĩa ẩn dụ: nói “đập đá kê cao quê hương” là muốn khái quát về tinh thần tự tôn, ý thức xây dựng bảo tồn quê hương, văn hóa, cội nguồn, góp phần tạo nên phong tục, truyền thống đẹp đẽ của quê hương.</p> <p>Một loạt các hình ảnh rất quen thuộc trong cuộc sống của con người vùng cao: đá, thung, ghềnh, thác, suối, sông. Đó là không gian gần gũi của họ, đó cũng là những hình ảnh diễn tả những khó khăn chồng chất, là cái nghèo cái khó trong cuộc sống lam lũ của con người quê hương. Những câu thơ với nhiều âm tiết khép, nhiều thanh trắc, cách ngắt nhịp dài ngắn không đều nhau, làm cho giọng thơ khi vươn dài đầy gắng gỏi, khi rút ngắn một cách chắc nịch, vừa gợi lên cải nhọc nhằn gian khó của cuộc sống, lại vừa thể hiện sự cứng cỏi, vững vàng đầy mạnh mẽ của con người quê hương.</p> <p>Bên cạnh những hình ảnh diễn tả sự khó khăn chồng chất, điệp từ “sống” đặt lên đầu mỗi câu thơ đã thể hiện cái tư thế kiêu hãnh hiên ngang của con người quê hương. Họ dám chấp nhận tất cả, dám đương đầu với mọi khó khăn thử thách. Họ luôn sống mạnh mẽ, cứng cỏi, khoáng đạt như sông như suối, luôn gắn bó bền bỉ, thủy chung với quê hương cho dù đó. còn là một quê hương nghèo khó, vất vả.</p> <p>“Đá” xuất hiện trong thơ Y Phương như một hình tượng đầy sức ám ảnh. Gập ghềnh gian khó là đá, cứng cỏi hiên ngang cũng là đá. Câu thơ là một cách nói mang đậm dấu ấn tư duy của người vùng cao. Lời thơ gân guốc, hình ảnh thơ vừa cụ thể vừa giàu tính khái quát, làm rạng ngời lên vẻ đẹp của con người quê hương: vẻ đẹp của sự cần cù nhẫn nại, ý chí bền bỉ, nghị lực phi thường vẻ đẹp của sức mạnh tự cường, tinh thần tự chủ, bằng bàn tay khối óc, bằng ý chí, niềm tin và khát vọng, họ đã làm nên một quê hương với những truyền thống tốt đẹp, đáng tự hào.</p> <p>Ca ngợi những đức tính tốt đẹp của người đồng mình, cha mong con sống có tình nghĩa với quê hương, phải giữ đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của cha ông từ bao đời để lại. Hơn nữa, con phải biết chấp nhận gian khó và vươn lên bằng ý chí của mình. Người cha muốn con hiểu và cảm thông với cuộc sống khó khăn của quê hương, tự hào về truyền thống quê hương, tự hào về dân tộc để vững bước trên con đường đời, để tự tin trong cuộc sống.</p> <p>Hãy tự hào về quê hương, hãy sống có ý chí và khát vọng, hãy luôn ngẩng cao đầu và bước đi bằng niềm tin, nghị lực của chính mình. Đó là cách để con sống xứng đáng với quê hương, vẫn giọng thơ tha thiết nhưng có cả sự nghiêm nghị, rắn rỏi. Đó là những lời dặn dò ân cần tha thiết, nhưng cũng là một mệnh lệnh: hãy tự tin vững bước trên đường đời dài rộng bằng chí khí mạnh mẽ ‘và tâm hồn lớn lao. Hãy sống xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của quê hương.</p> <p>Kết thúc bài thơ là lời nhắn nhủ, dặn dò của người cha mong muốn con mình phải tự hào về truyền thống tốt đẹp của quê hương, hãy lấy những tình cảm đó làm hành trang để “lên đường”, vững bước trên đường đời:</p> <p>“Con ơi tuy thô sơ da thịtLên đườngKhông bao giờ nhỏ bé đượcNghe con”.</p> <p>Nếu phần một của bài thơ là một khúc hát nhẹ nhàng, tươi vui với hoa ngan ngát, với những tiếng ríu rít tiếng nói cười, với bao nghĩa tình thơm thảo, thi phần hai là một bản hành khúc vừa tha thiết vừa mạnh mẽ, mang âm hưởng của thác ghềnh, sông suối, mang theo cả hơi thở, cả chí khí, niềm tin, sức mạnh của con người quê hương. Qua đó, người cha muốn trao gửi cho con niềm tin yêu, khát vọng.</p> <p>Hình ảnh “thô sơ da thịt” lặp lại hai lần như muốn con khắc ghi người đồng mình tuy mộc mạc, chân chất nhưng có lẽ sống cao đẹp. Trên đường đời con phải sống cao thượng, tự trọng để xứng đáng với họ. Con “bao giờ nhỏ bé được” dù con đường phía trước còn nhiều chông gai. Con hãy tự tin bước đi, bởi sau lưng con có gia đinh, quê hương, bởi trong tim con sẵn ẩn chứa những phẩm chất quý báu của người đồng minh.</p> <p>Hai tiếng “Nghe con” chứa đựng tấm lòng yêu thương, kì vọng và niềm tin sâu nặng cha đặt nơi con: mong con biết sống sao cho tốt, cho xứng đáng với tình cảm của cha. Hai tiếng ấy khép lại bài thơ để lại một dư âm nhẹ nhàng mà âm vang xao xuyến: mong con sống có tình nghĩa, biết chấp nhận gian khó, vươn lên bằng ý chí của mình, vững vàng trên đường đời. Điều lớn lao nhất mà người cha muốn truyền cho con chính là lòng tự hào với quê hương và niềm tự tin khi bước vào đời. Nói với con mà chính là cha đã trao tặng cho con. Cha đã vun đắp cho con những tình cảm tốt đẹp, cho con một hành trang quý và đã sẵn sàng tung cánh cho con bay đi khắp mọi nơi.</p> <p>Bày tỏ tình cảm trân trọng, ngợi ca, tự hào về con người, về đất nước quê hương không chỉ có tác phẩm Nói với con của Y Phương. Đoạn thơ “Mùa xuân người cầm súng.,. Cứ đi lên phía trước” trích trong bài Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải đã thể hiện những cảm xúc đầy ấn tượng.</p> <p>Đoạn thơ thể hiện sự liên tưởng của tác giả đến mùa xuân đất nước với một niềm tự hào, xúc động thiêng liêng về lịch sử bốn nghìn năm dẫu “vất vả và gian lao nhưng vẫn lấp lánh, trường tồn, bất diệt. Hình ảnh đất nước nổi bật với không khí náo nức, khẩn trương khi bước vào mùa xuân mới vừa bảo vệ vừa dựng xây Tổ quốc. Hai nhiệm vụ ấy đặt nặng lên vai của “người cầm súng” và “người ra đồng”, những người đã gieo mùa xuân, bảo vệ mùa xuân, tạo nên sức sống mùa xuân trên mọi miền đất nước.</p> <p>Khát vọng cống hiến mùa xuân, tuổi trẻ cho đất nước được biểu hiện bằng thể thơ năm chữ nhẹ nhàng, tha thiết, hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát, ngôn ngữ thơ trong sáng, gợi tả, gợi cảm, phát huy triệt để giá trị các hình thức điệp và biện pháp tu từ khác như ẩn dụ, hoán dụ… Hai đoạn thơ đều bày tỏ tình cảm trân trọng, ngợi ca, tự hào về con người, về đất nước quê hương. Cả hai đoạn thơ đều giúp người đọc nhận thức sâu sắc hơn về giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm, cũng như thấm thía hơn tình cảm của tác giả thể hiện trong bài thơ.</p> <p>Đoạn 2 bài thơ “Nói với con” mang giọng điệu thủ thỉ, tâm tình tha thiết, trìu mến hay có sự biến đổi phù hợp với nội dung từng đoạn, dù thể hiện tình yêu thương sâu sắc của cha mẹ dành cho con cái hay những rung cảm tinh tế của nhà thơ trước vẻ đẹp của mùa xuân và khát vọng được cống hiến cho đất nước, cuộc đời; cả hai bài thơ đều đã bộc lộ được niềm tự hào về quê hương đất nước và lời nhắn gửi cũng như lòng tín mãnh liệt vào những giá trị tích cực vĩnh cửu của dân tộc. Điều đó đã khiến hai thi phẩm sau bao nhiêu năm vẫn quyến luyến được thêm nhiều tâm hồn đồng điệu với thi nhân.</p> <h2>Phân tích khổ 2 bài Nói với con</h2> <p>Y Phương là một trong những nhà thơ dân tộc Tày nổi tiếng. Những bài thơ của ông thường thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ, lời thơ hay, giàu hình ảnh về những con người miền núi. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông phải kể đến bài thơ “Nói với con”, đây là bài thơ về tình cảm gia đình, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của con người, quê hương đất nước. Một trong những đoạn trích ấn tượng nhất là khổ thứ 2 của bài thơ. Đây là khổ thơ thể hiện lòng tự hào về sức sống mãnh liệt, bền bỉ, những truyền thống tốt đẹp cao cả của quê hương.</p> <p>“Người đồng mình thương lắm con ơiCao đo nỗi buồnXa nuôi chí lớn"</p> <p>Tác giả sử dụng cụm từ “Người đồng mình” cho thấy sự gắn bó, yêu thương cội nguồn của người dân nơi đây. Người đồng mình chính là người vùng mình, đây là tiếng địa phương của dân tộc miền núi, tiếng mẹ đẻ hay nói đúng hơn là tiếng của cội nguồn. Lời nói của cha dành cho con mới chân thành, tha thiết và tình cảm làm sao. Với cách gọi thân mật “người đồng mình” cha đang truyền cho con tình cảm, sự yêu thương và nhớ về cội nguồn dân tộc. Người cha cung mong con hãy biết trân trọng, giữ gìn những đức tính tốt đẹp, phẩm chất cao quý của dân tộc mình. Đặc biệt cụm từ “thương lắm con ơi” nghe tha thiết, tình cảm mà chân thành biết bao nhiêu. Khi đọc xong câu thơ này chúng ta có cảm giác như đang được nhìn thấy hình ảnh ánh mắt trìu mến của cha kể về con người, quê hương đất nước. Cảm giác cha dành cho quê hương, người quê mình là tình yêu nồng nàn, tất cả đều đáng yêu và đáng thương, đáng trân trọng. Câu nói “thương lắm con ơi”, tuy mộc mạc mà chân thành, đi vào lòng người.</p> <p>Tình yêu của cha dành cho “người đồng mình” còn thể hiện qua sự thấu hiểu thương cảm với những vất vả khó khăn mà mọi người đang phải chịu. Đó là “cao đo nỗi buồn” - nỗi buồn quanh năm của người dân tộc nằm giữa mây đá, núi rừng. Họ thường xuyên phải xa bản làng, bước chân trải dài trên đỉnh non cao nguy hiểm, trắc trở vô cùng để có thể sống và tồn tại. Đó là nỗi vất vả, cái nghèo, cái đói vẫn còn đang bám lấy dân tộc mình. Để rồi, cha lại tự hào “xa nuôi chí lớn” khi nói với con. Người vùng mình tuy vất vả nhưng ai cũng mang trong mình một chí hướng lớn lao, nghị lực muốn bay cao bay xa hơn trong tương lai.</p> <p>Chỉ hai câu thơ ngắn đã khẳng định niềm tự hào về phẩm chất tốt đẹp của dân tộc, tự hào về nghị lực sống của người dân nơi đây.</p> <p>"Dẫu làm sao thì cha vẫn muốnSống trên đá không chê đá gập ghềnhSống trong thung không chê thung nghèo đói”</p> <p>Một lời chia sẻ chân thành tự tận đáy lòng người cha, đó là dù hoàn cảnh có khó khăn vất vả thế nào cha vẫn không “chê” quê hương, cha vẫn sẽ vượt qua. Đây chính là lời khẳng định về sự gắn bó nghĩa tình, thủy chung sâu nặng của “người đồng mình” với quê hương, dân tộc. Ba câu thơ sử từ ngữ rất giàu hình ảnh, gợi lên cho chúng ta một không gian sống đơn sơ, giản dị, nghèo đói. Đặc biệt, điệp từ “sống” và “không chê” cho ta thấy tấm lòng người cha son sắc biết bao nhiêu. Hoàn cảnh dù có nghèo đói, có khó khăn, có gập ghềnh thế nào cha cũng mong con hãy vượt lên tất cả bằng tất cả tình yêu và nghị lực của con.</p> <p>“Sống như sông như suốiLên thác xuống ghềnhKhông lo cực nhọc”</p> <p>Phân tích khổ 2 bài nói với con - Đây chính là lời nhắn nhủ, động viên con hãy sống mạnh mẽ như dòng sông, dòng suối, dù cho lên thác xuống ghềnh con cũng sẽ vượt qua mọi gian nan phía trước. Tác giả thật tài tình khi sử dụng những ngôn từ giàu hình ảnh và gắn liền với người dân tộc. Sông, suối, thác ghềnh đều là những hình ảnh quá đỗi quen thuộc đối với người dân tộc miền núi. Sử dụng những hình ảnh này để nói lên sự gian khó, vất vả đồng thời cũng ca ngợi sự kiên trì, nghị lực phi thường của người dân nơi đây. Cuộc sống không hề yên ả như mặt hồ thu, mà nó là “lên thác xuống ghềnh”, nhưng người dân nơi đây vẫn không sợ, họ sẵn sàng đương đầu với mọi thử thách phía trước. Đây chính là tâm ý mà người cha muốn truyền lại cho con.</p> <p>"Người đồng mình thô sơ da thịtChẳng mấy ai nhỏ bé đâu conNgười đồng mình tự đục đá kê cao quê hươngCòn quê hương thì làm phong tục.”</p> <p>Sang đoạn thơ này chúng ta càng thấy được lời khẳng định chắc nịch về người đồng mình. Hình ảnh người đồng mình hiện lên “thô sơ da thịt”, một vẻ đẹp bình dị, rắn rỏi, khỏe khoắn. Hình ảnh của người lao động, băng rừng vượt suối. Ngôn từ mộc mạc, giản dị lột tả đầy đủ vẻ đẹp bên ngoài của người dân tộc. Đặc biệt, hình ảnh bên ngoài đối lập hoàn toàn với bên trong “chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”. Nếu vẻ đẹp bên ngoài thô sơ, không hoàn mỹ thì ngược lại, vẻ đẹp tâm hồn lại được đề cao và lớn lao vô cùng. Người đồng mình ai cũng đều nuôi chí lớn, khát vọng sống một cuộc đời tươi đẹp và đủ nghị lực để thực hiện khát vọng đó. Không có ai là “nhỏ bé” - đó là sự nhỏ bé trong tâm hồn chứ không phải vẻ ngoài. Hai câu thơ được đặt cạnh nhau, đối lập nhau, càng tôn lên vẻ đẹp tâm hồn của người dân tộc miền núi. Họ sống giữa núi rừng bạt ngạt nên trái tim, tâm hồn và khát vọng cũng lớn lao như núi rừng vậy. Để rồi:</p> <p>"Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hươngCòn quê hương thì làm phong tục.”</p> <p>Họ xây dựng quê hương đất nước bằng chính hai bàn tay của mình. Hình ảnh “đục đá” là một hình ảnh cho thấy một công việc vô cùng nặng nhọc vất vả, đòi hỏi sự kiên trì, nhẫn nại. Đây là hình ảnh ẩn dụ thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc, ý thức bảo vệ quê hương. Hình ảnh “đục đá” vừa mộc mạc chân thành mà giàu hình ảnh. Qua ý thơ, chúng ta có thể hình dung người dân lao động miền núi với khát vọng “đục đá kê cao quê hương” để tôn tạo lên vẻ đẹp văn hóa dân tộc, vượt qua bao thiên tai bão lũ, bom đạn hung tàn để giữ gìn và bảo vệ dân tộc. Và “Còn quê hương thì làm phong tục” càng khẳng định rằng, khi ta làm giàu cho quê hương, quê hương sẽ sẽ đem đến sự phát triển cho con người về đời sống, tinh thần và vật chất. Đây là hai câu thơ có sự gắn kết qua lại với nhau. Chúng ta xây dựng quê hương tốt đẹp chính là xây dựng cho mình một đời sống tinh thần, vật chất tốt hơn.</p> <p>“Con ơi tuy thô sơ da thịtLên đườngKhông bao giờ nhỏ bé đượcNghe con.”</p> <p>Nhịp thơ chậm rãi chân thành, nghe như lời nhắn nhủ tha thiết từ trái tim người cha. Một lần nữa người cha khẳng định người đồng mình “thô sơ da thịt”, đó là hình ảnh đáng trân quý và tự hào. Hình ảnh của sự vất vả, lam lũ nơi núi rừng bạt ngàn. Hình ảnh khỏe khoắn, rắn rỏi của người dân lao động miền núi. Vẻ ngoài tuy không đẹp, tuy thô s, chân chất mộc mạc nhưng người cha nhắn con hãy nhớ, dù đi đâu, con cũng không bao giờ ngừng nuôi chí lớn, hãy luôn tự hào về quê hương dân tộc, hãy sống với khát vọng và đam mê. Người dân quê ta có thể nhỏ bé về vóc dáng, thô sơ về vóc dáng nhưng khí phách, tinh thần thì thật lớn lao. Sự đối lập giữa hình thể và tâm hồn càng khẳng định niềm tự hào về những con người dân tộc miền núi, càng cho thấy được tình yêu thương, tự hào của người cha dành cho quê hương.</p> <p>Câu cuối “nghe con” nghe vừa nhẹ nhàng mà vừa dứt khoát như lời nhắn nhủ và khẳng định. Trên đường đời, dù con có đi đâu làm gì cũng hãy tự hào về dân tộc, về những con người của núi rừng, luôn mang trong mình khát khao, nghị lực, khí phách lớn lao.</p> <p>Chỉ qua khổ 2 của bài thơ Nói với con chúng ta đã thấu hiểu phần nào những khát vọng lớn lao của người dân tộc miền núi. Bằng biện pháp miêu tả, ẩn dụ, đối lập tác giả đã vẽ lên một bức tranh về cuộc sống của người dân miền núi, khí phách, hiên ngang. Lời thơ giản dị, chân thành nhưng chạm đến trái tim bạn đọc, cảm nhận được tình yêu to lớn của người cha dành cho con hay chính xác hơn là dành cho quê hương đất nước.</p> <h2>Phân tích khổ 2 bài thơ Nói với con</h2> <p>Quê hương là đề tài quen thuộc và trở thành nguồn cảm hứng bất tận để người nghệ sĩ thể hiện tình yêu sâu sắc, thấm thía. Nếu nhà thơ Đỗ Trung Quân bày tỏ tình cảm đó bằng những vần thơ tha thiết cùng giai điệu êm dịu "Quê hương là chùm khế ngọt - Cho con trèo hái mỗi ngày..." thì tác giả Y Phương lại giãi bày tình yêu thiêng liêng đó thông qua những lời tâm tình của người cha dành cho người con. Tình cảm cha con, gia đình đã được khái quát thành tình cảm quê hương hết sức tự nhiên. Điều này đã được thể hiện rõ qua khổ thơ thứ hai của bài thơ. Tác giả đã ngợi ca sức sống, những phẩm chất cao đẹp của người miền núi cùng mong ước thế hệ sau nối tiếp, phát huy những truyền thống của dân tộc, quê hương.</p> <p>"Người đồng mình thương lắm con ơiCao đo nỗi buồnXa nuôi chí lớnDẫu làm sao thì cha vẫn muốnSống trên đá không chê đá gập ghềnhSống trong thung không chê thung nghèo đóiSống như sông như suốiLên thác xuống ghềnhKhông lo cực nhọc"</p> <p>Tác giả vẫn sử dụng lối nói giàu hình ảnh "người đồng mình" - cách xưng hô quen thuộc, trìu mến của người vùng cao để gợi lên sự thân thương, gần gũi nhưng cùng chung một gia đình. Hệ thống từ ngữ chọn lọc, đặc biệt là động từ "thương" kết hợp với từ chỉ mức độ "lắm" để thể hiện sự đồng cảm, sẻ chia về tinh thần đối với những những khó khăn, vất vả, sóng gió. Để vượt qua những điều đó, con người quê hương đã đo nỗi buồn bằng độ cao của bầu trời vời vợi, lấy xa của đất để làm thước đo đong đếm ý chí con người. "Cao" và "xa" trong không gian đất trời đều là những khoảng không hữu hạn không điểm dừng, gợi liên tưởng đến những dãy núi cao, trùng điệp cùng sự rộng lớn, xa xăm. Sự chọn lọc ngôn ngữ tài tình, điêu luyện của nhà thơ đã thể hiện sự tăng tiến của ý chí con người: khó khăn, thử thách càng lớn thì bản lĩnh "người đồng mình" càng trở nên mạnh mẽ hơn, vượt qua cuộc sống đói nghèo, cơ cực của "đá gập ghềnh", "thung nghèo đói". Trải qua mọi thiếu thốn, họ vẫn lạc quan, mạnh mẽ "sống" với tâm hồn phóng khoáng như thiên nhiên: "Sống như sông như suối". Tác giả đã sử dụng thủ pháp đối lập "lên thác" - "xuống ghềnh" để thể hiện một cuộc sống lam lũ, vất vả chốn núi rừng. Từ đó, nhà thơ đã khái quát những vẻ đẹp truyền thống của người vùng cao:</p> <p>"Người đồng mình thô sơ da thịtChẳng mấy ai nhỏ bé đâu conNgười đồng mình tự đục đá kê cao quê hươngCòn quê hương thì làm phong tục"</p> <p>Cách gọi thân thương "Người đồng mình thô sơ da thịt" ẩn chứa niềm tự hào về những con người giản dị, chất phác, thật thà, đồng thời là lời ngợi ca ý chí, cốt cách không hề "nhỏ bé" của họ. Phẩm chất tốt đẹp của người dân miền cao đã được phác họa trong một tầm vóc kì vĩ, lớn lao hoàn toàn đối lập với vẻ ngoài "thô sơ da thịt". Đặc biệt, cách nói hình ảnh "Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương" tạo nên một lối nói độc đáo, vừa diễn tả quá trình dựng nhà, dựng cửa làm nên truyền thống của người miền núi, vừa là hình ảnh ẩn dụ diễn tả ý thức tự tôn, tinh thần đề cao, nâng tầm, làm giàu đẹp mảnh đất quê hương. Những phong tục tập quán, truyền thống văn hóa của quê hương chính là điểm tựa tinh thần nâng đỡ và tạo động lực cho con người vượt qua mọi gian nan, thử thách.</p> <p>Sau khi nêu bật những phẩm chất của "người đồng mình" bằng giọng điệu ngợi ca, tự hào, tác giả Y Phương đã khép lại bài thơ bằng những lời dặn dò ân cần, trìu mến:</p> <p>"Con ơi tuy thô sơ da thịtLên đườngKhông bao giờ nhỏ bé đượcNghe con."</p> <p>Trong những câu thơ chan chứa tình yêu thương, chúng ta có thấy được niềm tin yêu, hi vọng mà người cha đã gửi gắm. Đó là mong ước khi khôn lớn, trưởng thành, tự tin "Lên đường" sải bước trên đường đời, người con vẫn khắc sâu những phẩm chất của "người đồng mình" và "không bao giờ được nhỏ bé" để bản lĩnh, kiên cường mạnh mẽ bước qua những gian khó, thử thách của cuộc đời. Lời dặn dò vì thế trở thành một bài học quý giá và có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với thế hệ trẻ trong mọi thời đại.</p> <p>Như vậy, bằng tài năng trong việc sử dụng ngôn từ, hình ảnh, tác giả Y Phương đã làm nổi bật những vẻ đẹp, phẩm chất cao quý của "người đồng mình". Tất cả đã được thể hiện thông qua thể thơ tự do phù hợp với lối nói, tư duy khoáng đạt của người miền núi cùng giọng điệu thơ linh hoạt cùng sự kết hợp nhuần nhuyễn các biện pháp nghệ thuật.</p> <p>...</p> <p><strong>&gt;&gt; Tải file để tham khảo các mẫu còn lại!</strong></p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Thu, 09 Jul 2026 21:45:37 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-noi-voi-con-kho-2-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-noi-voi-con-kho-2-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Văn mẫu lớp 9: Cảm nhận khổ 2 bài Nói với con của Y Phương (Sơ đồ tư duy)                                4 Dàn ý &amp; 10 bài văn mẫu lớp 9 hay nhất</media:title>
                        <media:keywords>Văn mẫu lớp 9: Cảm nhận khổ 2 bài Nói với con của Y Phương (Sơ đồ tư duy)                                4 Dàn ý &amp; 10 bài văn mẫu lớp 9 hay nhất</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Chuyên viên Phân tích, Lập kế hoạch, Giám sát và Đánh giá - NO-B]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phan-tich-va-danh-gia-a110593.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phan-tich-va-danh-gia-a110593.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phan-tich-va-danh-gia-a110593.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<h2>Mô tả công việc</h2> <p><strong>LƯU Ý: VỊ TRÍ NÀY CHỈ DÀNH RIÊNG CHO CÔNG DÂN VIỆT NAM</strong></p> <p><strong>THAT THIS VACANCY IS OPEN ONLY TO NATIONALS OF VIET NAM.</strong></p> <p><b>Về vị trí: </b></p> <p>Chuyên viên Phân tích, Lập kế hoạch, Giám sát và Đánh giá sẽ đóng góp vào hiệu quả công việc, bao gồm lý thuyết về sự thay đổi, cung cấp thông tin đầu vào cho việc giám sát và theo dõi kết quả đối với các mục tiêu đã đề ra và Kế hoạch chiến lược của UNFPA; thúc đẩy, đóng góp vào việc báo cáo kết quả, quản trị tri thức và đảm bảo kết quả đầu ra; rút kinh nghiệm từ kết quả thu thập được để cải thiện và thay đổi quy trình làm việc phù hợp; điều phối việc phát triển, triển khai kế hoạch định giá chi phí; quản lý đánh giá và đảm bảo chất lượng của quy trình và sản phẩm đánh giá đạt Tiêu chuẩn chất lượng đánh giá của UNFPA.</p> <p>Chuyên viên sẽ báo cáo trực tiếp với Trưởng các dự án về danh mục lập kế hoạch và giám sát, và báo cáo Trưởng Đại diện về danh mục đánh giá, đồng thời báo cáo về các vấn đề đánh giá cho cố vấn giám sát và đánh giá khu vực.</p> <p> Cùng UNFPA tạo ra sự khác biệt:</p> <p>UNFPA là cơ quan của Liên Hợp Quốc chuyên trách xây dựng một thế giới mà nơi việc mang thai được mong muốn, mọi ca sinh nở đều an toàn và tiềm năng của mỗi người trẻ tuổi đều được phát huy. Kế hoạch Chiến lược của UNFPA (giai đoạn 2022-2025) tái khẳng định tính phù hợp của định hướng chiến lược hiện tại của UNFPA, tập trung vào ba kết quả mang tính chuyển đổi: (1) Không có ca tử vong mẹ khi có thể ngăn ngừa, (2) Không có nhu cầu kế hoạch hóa gia đình nào không được đáp ứng, (3) Không bạo lực dựa trên cơ sở giới và không có bất cứ thực hành nào có hại. Ba kết quả này thể hiện cam kết chiến lược của UNFPA trong việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện ICPD và SDG trong Thập kỷ Hành động hướng đến năm 2030. Kế hoạch Chiến lược của chúng tôi kêu gọi các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, các tổ chức và cá nhân "hướng đến sự phát triển tốt hơn", đồng thời giải quyết những tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 đối với quyền tiếp cận sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản, cũng như quyền sinh sản của phụ nữ và trẻ em gái, khôi phục lại những kết quả đã mất và hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra.</p> <p>Trong một thế giới mà các quyền cơ bản của con người đang bị đe dọa, chúng tôi cần những nhân viên có nguyên tắc và đạo đức, những người mang các chuẩn mực và tiêu chuẩn quốc tế, những người sẽ bảo vệ chúng một cách dũng cảm với niềm tin tuyệt đối.</p> <p>UNFPA đang tìm kiếm những ứng viên có khả năng chuyển đổi, truyền cảm hứng và mang lại kết quả có tác động lớn và bền vững; những người có khả năng quản lý các nguồn lực được giao phó một cách minh bạch và xuất sắc, những người cam kết mang lại kết quả xuất sắc cho chương trình.</p> <p><strong>Mục đích công việc:</strong> Chuyên viên Phân tích, Lập kế hoạch, Giám sát và Đánh giá sẽ đóng góp vào việc lập kế hoạch, giám sát, báo cáo và đánh giá hiệu quả của các chương trình và dự án.</p> <p><strong>Trách nhiệm chính</strong></p> <p><strong>A. Lên kế hoạch để đạt kết quả dự tính </strong></p> <p> </p> <p>Thúc đẩy và đóng góp vào quá trình xác định kết quả</p> <p>Cung cấp thông tin đầu vào về chuyên môn để phát triển các lý thuyết về sự thay đổi của các chương trình và dự án trong quá khứ, hiện tại và tương lai.</p> <ul> <li>Hỗ trợ và thúc đẩy việc phát triển các khuôn khổ giám sát và chất lượng, bao gồm kế hoạch giám sát và đánh giá hiệu quả về quá trình thực hiện và chi tiêu cho chương trình quốc gia.</li> <li>Cung cấp thông tin đầu vào liên quan đến việc xây dựng Khung Hợp tác Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc và chính phủ Việt Nam, cụ thể là phân tích chung về quốc gia, các ưu tiên chiến lược, lý thuyết thay đổi, khuôn khổ về kết quả và kế hoạch làm việc chung.</li> <li>Cung cấp thông tin đầu vào để phát triển các kế hoạch hướng đến kết quả dự tính hàng năm và nhiều năm.</li> <li>Hỗ trợ phát triển các kế hoạch làm việc để đưa kết quả đã đúc rút được vào hoạt động.</li> <li>Thúc đẩy, đóng góp vào việc phát triển các kế hoạch giám sát thực địa và các quy trình đảm bảo chất lượng</li> <li>Thúc đẩy việc sử dụng kết quả đánh giá để lập kế hoạch và thiết kế chương trình dựa trên dữ kiện đã có</li> </ul> <p><strong>B. Giám sát</strong></p> <p> </p> <p>Cung cấp thông tin đầu vào cho việc giám sát và theo dõi kết quả của các mục tiêu cấp chương trình/quốc gia/khu vực và Kế hoạch Chiến lược của UNFPA</p> <ul> <li>Cung cấp thông tin đầu vào để thực hiện đánh giá hàng năm đối với các dự án và chương trình của UNFPA</li> <li>Cung cấp thông tin đầu vào để thực hiện đánh giá giữa kỳ đối với các dự án và chương trình của UNFPA</li> <li>Phối hợp với nhân viên thực hiện chương trình để cung cấp thông tin đầu vào nhằm giám sát thực hiện công việc theo kế hoạch</li> <li>Hỗ trợ giám sát thực địa và phối hợp với đội ngũ thực hiện chương trình, tăng cường sử dụng các đề xuất về giám sát các chuyến thăm thực địa</li> <li>Hỗ trợ thu thập và phân tích dữ liệu, bao gồm các chỉ số cấp cao và giám sát, kiểm tra chất lượng dữ liệu định kỳ</li> <li>Tích cực tham gia cung cấp thông tin đầu vào phù hợp cho các nhóm kết quả chung của Liên Hợp Quốc và các cơ chế giám sát chung khác</li> <li>Cung cấp đầu vào để triển khai các biện pháp giám sát thích ứng và đổi mới như giám sát từ xa, giám sát trong thời gian thực</li> <li>Góp phần thực hiện các kế hoạch đảm bảo chất lượng công việc, ví dụ như kiểm tra tại chỗ</li> </ul> <p><strong>C. Báo cáo và trao đổi kết quả </strong></p> <p>Đóng góp vào việc báo cáo kết quả nội bộ (báo cáo cho Quản lý cấp cao) và các đơn vị bên ngoài (báo cáo cho Ban điều hành, nhà tài trợ)</p> <ul> <li>Thu thập dữ liệu định tính và định lượng</li> <li>Biên soạn, phân tích dữ liệu cho các dự án, đồng thời trình bày các báo cáo phân tích để cung cấp thông tin cho việc báo cáo và ra quyết định</li> <li>Xây dựng các báo cáo kết quả đạt chất lượng</li> <li>Phối hợp với đội ngũ truyền thông để thông tin về kết quả thực hiện tới cả đơn vị nội bộ và bên ngoài</li> <li>Cung cấp các kết quả và dữ liệu cần thiết để viết các báo cáo chung như Khung Hợp tác Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc </li> <li>Hỗ trợ xây dựng và phổ biến báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch chiến lược và chương trình khu vực của UNFPA</li> </ul> <p><strong>D. Đánh giá</strong></p> <p>Hỗ trợ về chuyên môn cho Văn phòng UNFPA Việt Nam trong triển khai Chính sách Đánh giá của UNFPA</p> <ul> <li>Điều phối việc xây dựng và thực hiện kế hoạch định giá chi phí tại văn phòng quốc gia, bao gồm cập nhật báo cáo hàng năm và giám sát thường xuyên việc thực hiện các đánh giá theo kế hoạch</li> <li>Quản lý các quy trình đánh giá riêng lẻ, đảm bảo chất lượng của quy trình đánh giá và sản phẩm sao cho phù hợp với Tiêu chuẩn về Chất lượng Đánh giá của UNFPA </li> <li>Đảm bảo mối liên hệ giữa văn phòng UNFPA Việt Nam và Văn phòng UNFPA trong khu vực về đánh giá chất lượng</li> <li>Tham gia các công việc liên cơ quan, thực hiện điều phối về giám sát và đánh giá ở cấp quốc gia, bao gồm hỗ trợ đánh giá Khung Chiến lược Hợp tác Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc</li> <li>Tham gia với tư cách là thành viên của mạng lưới Giám sát và đánh giá của UNFPA và các Cộng đồng Thực hành liên quan (Communities of Practices - CoP) tại các khu vực khác</li> <li>Thúc đẩy ứng dụng các kết quả đánh giá và khuyến nghị vào việc xây dựng chương trình và quá trình ra quyết định của tổ chức</li> <li>Tăng cường năng lực giám sát và đánh giá của UNFPA ở cấp quốc gia và nội bộ</li> <li>Thực hiện một số nhiệm vụ khác liên quan đến đánh giá theo yêu cầu</li> </ul> <p><strong>E. Quản trị tri thức và văn hóa làm việc dựa vào kết quả</strong></p> <p>Góp phần vào quản trị tri thức và duy trì văn hóa làm việc dựa vào kết quả</p> <ul> <li> </li> <li>Đảm bảo thực hiện các nguyên tắc và tiêu chuẩn quản lý dựa trên kết quả (RBM)</li> <li>Hỗ trợ về chuyên môn cho các cho các đối tác làm việc nhằm tăng cường năng lực quản lý dựa trên kết quả</li> <li>Thúc đẩy việc ứng dụng kết quả và các biện pháp quản lý thích ứng</li> <li>Xác định, phổ biến và ứng dụng các thực hành tích cực, bài học và tri thức</li> <li>Trao đổi về kết quả với các nhân viên liên quan</li> <li>Hỗ trợ quản lý cấp cao trong xây dựng phản hồi về quản lý đối với tất cả các đánh giá trong vòng sáu tuần kể từ khi khi hoàn thành, bao gồm cập nhật hàng quý về thực hiện kế hoạch hành động đúc rút từ phản hồi của ban quản lý về việc đánh giá </li> <li>Thực hiện nhiệm vụ khác theo yêu cầu của lãnh đạo UNFPA</li> </ul> <p><strong>Chỉ số đo lường công việc</strong></p> <p>Hỗ trợ kịp thời, chất lượng về chuyên môn cho nhóm thực hiện chương trình và các đối tác thực hiện theo kế hoạch công việc</p> <ul> <li>Xây dựng hệ thống giám sát/theo dõi một cách hiệu quả, kịp thời</li> <li>Nộp các báo cáo chính xác, hiệu quả</li> <li>Hỗ trợ quá trình đánh giá, bao gồm việc kịp thời hoàn thành các đánh giá có chất lượng</li> <li>Hoàn thành (1) “Chứng chỉ khóa học điện tử: Cách quản lý đánh giá chương trình quốc gia; và (2) Quản lý dựa trên kết quả trong UNFPA</li> </ul> <p> <strong>Chứng chỉ và Kinh nghiệm</strong></p> <p><strong>Học vấn: </strong>Bằng thạc sĩ (hoặc tương đương) về thống kê, kinh tế y tế, nhân khẩu học và dân số và/hoặc bất kỳ chuyên ngành khoa học xã hội liên quan nào khác. </p> <p> </p> <p><strong>Kiến thức và kinh nghiệm:</strong></p> <ul> <li>Có ít nhất 2 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực giám sát và báo cáo</li> <li>Kinh nghiệm về quản lý, đánh giá và lập chương trình dựa trên kết quả là một lợi thế</li> <li>Ưu tiên ứng viên có kinh nghiệm làm việc tại Liên Hợp Quốc, UNFPA và/hoặc các tổ chức đa phương khác, kinh nghiệm làm việc tại thực địa là một lợi thế.</li> <li>Kinh nghiệm làm việc ở một trong những lĩnh vực chuyển đổi của UNFPA là một lợi thế</li> <li>Kiến thức về xây dựng và thực hiện chương trình quản lý dựa trên kết quả </li> <li>Kiến thức về giám sát và đánh giá, thiết kế đánh giá, thu thập, phân tích dữ liệu và báo cáo </li> <li>Kiến thức về hệ thống quản lý chương trình của Liên Hợp Quốc</li> <li>Kỹ năng tư vấn về chính sách và hỗ trợ cho các đối tác thực hiện</li> <li>Kỹ năng tương tác với các nhà tài trợ</li> <li>Kỹ năng tổng hợp dữ liệu đánh giá hiệu quả chương trình và viết báo cáo phân tích </li> <li>Kỹ năng phân tích và viết báo cáo tốt</li> <li>Kỹ năng lập kế hoạch, thiết lập mục tiêu, ưu tiên và tổ chức</li> </ul> <p><b>Ngôn ngữ:</b></p> <p> Thành thạo tiếng Anh và tiếng Việt (kỹ năng nghe, nói). Có kiến thức về các ngôn ngữ chính thức khác của Liên Hợp Quốc (đặc biệt là tiếng Pháp và/hoặc tiếng Tây Ban Nha), là một lợi thế. </p> <p><strong>Năng lực cần có:</strong></p> <p><strong>Giá trị:</strong></p> <ul> <li>Chính trực</li> <li>Cam kết với UNFPA và hệ thống Liên Hợp Quốc nói chung</li> <li>Chấp nhận sự đa dạng văn hóa </li> <li>Sẵn sàng đón nhận sự thay đổi</li> </ul> <p><strong>Năng lực cốt lõi</strong></p> <ul> <li>Đảm bảo kết quả công việc</li> <li>Có trách nhiệm</li> <li>Phát triển và ứng dụng các kỹ năng/ khả năng đánh giá tốt về chuyên môn hoặc kinh doanh</li> <li>Tư duy phân tích và chiến lược</li> <li>Làm việc nhóm, khả năng quản lý bản thân và các mối quan hệ</li> <li>Giao tiếp hiệu quả để đảm bảo tác động</li> </ul> <p><strong>Năng lực chuyên môn:</strong></p> <ul> <li>Vận động/Thúc đẩy chương trình nghị sự theo định hướng chính sách</li> <li>Tận dụng các nguồn lực của chính phủ và đối tác quốc gia, xây dựng các liên minh và quan hệ đối tác chiến lược</li> <li>Thực hiện các chương trình dựa trên kết quả</li> <li>Truyền thông, vận động nội bộ và bên ngoài để huy động nguồn lực</li> </ul> <p><strong>Năng lực quản lý (nếu có)</strong></p> <ul> <li>Cung cấp trọng tâm chiến lược</li> <li>Đảm bảo sự tham gia của nhân viên và đối tác</li> <li>Lãnh đạo, phát triển và trao quyền cho nhân viên, tạo văn hóa làm việc</li> <li>Ra quyết định và phán đoán </li> </ul> <p><strong>Lương và Phúc lợi:</strong></p> <p> Vị trí đưa ra mức lương hấp dẫn, cùng với bảo hiểm y tế và các phúc lợi khác.</p> <p> <strong>Môi trường làm việc tại UNFPA</strong></p> <p> Môi trường làm việc tại UNFPA phản ánh các giá trị về bình đẳng giới, tính đa dạng, tính chính trực và sự cân bằng lành mạnh giữa công việc và cuộc sống. Chúng tôi cam kết đảm bảo bình đẳng giới trong tổ chức và do đó, khuyến khích các ứng viên nữ nộp đơn ứng tuyển. Cộng đồng LGBTQIA+, nhóm dân tộc thiểu số, người dân bản địa, người khuyết tật và các nhóm thiểu số khác cũng được khuyến khích ứng tuyển. UNFPA thúc đẩy bình đẳng trong cơ hội được bổ nhiệm, đào tạo, đãi ngộ và tuyển chọn cho tất cả mọi người, bất kể tính cách cá nhân và thành phần xã hội đa dạng. Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập là trọng tâm của đội ngũ của UNFPA - tìm hiểu thêm tại đây.</p> <p><strong>Lưu ý:</strong></p> <p>Việc tuyển dụng cho vị trí có thể đòi hỏi kiểm tra lý lịch, giấy chứng nhận sức khỏe, thị thực và một số yêu cầu hành chính khác. </p> <p>UNFPA không thu nhận bất kỳ phí nộp đơn, xử lý, đào tạo, phỏng vấn, kiểm tra hoặc phí nào khác liên quan đến quá trình nộp đơn hoặc tuyển dụng, đồng thời không yêu cầu bất cứ thông tin tài khoản ngân hàng của người nộp đơn. </p> <p>Ứng viên cho vị trí Chuyên viên quốc tế và các vị trí cao hơn, hiện đang thường trú tại một quốc gia không phải trên quốc tịch có thể được yêu cầu di chuyển khỏi nơi thường trú đó khi được bổ nhiệm.</p> <p> </p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Thu, 09 Jul 2026 10:20:36 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Chuyên viên Phân tích, Lập kế hoạch, Giám sát và Đánh giá - NO-B</media:title>
                        <media:keywords>Chuyên viên Phân tích, Lập kế hoạch, Giám sát và Đánh giá - NO-B</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Người lái đò Sông Đà – vẻ đẹp của một dòng sông chữ]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/dep-vay-thay-tieng-hat-tren-dong-song-a110585.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/dep-vay-thay-tieng-hat-tren-dong-song-a110585.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/dep-vay-thay-tieng-hat-tren-dong-song-a110585.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>Tác giả bài viết : Đỗ Kim Hồi</strong></p> <p>“Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông”</p> <p> Wladyslaw Broniewski (Ba Lan)</p> <p> Nguyễn Tuân chắc hẳn đã tâm đắc lắm với những vần thơ sông của nhà thơ Ba Lan nọ. Chẳng vậy mà sông nước xứ mình đã chảy trên không biết bao nhiêu trang văn đẹp của ông, trong đó có sông Đà, con sông đã trao tên cho một công trình văn xuôi tuyệt tác. Tôi đoán chắc rằng không thể chỉ có nhu cầu săn tìm cảm giác hay cái máu phiêu lãng giang hồ đã xui khiến bước chân Nguyễn Tuân tìm đến dòng chảy vĩ đại này của núi rừng Tây Bắc. Nhất định phải có một tiên cảm, tiên giác nghệ thuật sáng suốt nào mách cho người nghệ sĩ tài hoa về nguồn cảm hứng sông Đà hàng chục năm trước khi “dòng sông ánh sáng” đó thực sự trở thành một địa chỉ lớn của nhạc, hoạ, sân khấu, thơ, văn. Và từ ấy đến nay, cho dù đã có biết bao người khắc, vẽ và kể chuyện về sông Đà, làm thơ và ca hát với sông Đà thì có lẽ vẫn chưa ai vượt hơn được Nguyễn Tuân trong việc biến vùng sông nước ấy thành nghệ thuật, thành một gợi cảm mênh mông. Song để làm nên một niềm gợi cảm sông Đà có tầm cỡ, vóc dáng như của Nguyễn Tuân thì cảm xúc và tài quan sát vẫn còn chưa đủ. Nhớ lại, Xuân Diệu từng thiết tha nói đến sự rất cần thiết phải uyên bác ngay trong một lĩnh vực trữ tình nhất là thơ. Tôi nghĩ Nguyễn Tuân cũng có thẩm quyền như thế, có khi còn hơn thế - dĩ nhiên trong phạm vi lãnh thổ của ông là kí, là tuỳ bút - để chỉ ra rằng sự uyên bác ấy có thể nâng đỡ đến thế nào cho đôi cánh của hào hoa. Càng đọc Nguyễn, lại càng nghiệm ra rằng, nhà văn độc đáo ấy luôn luôn độc đáo trong sự uyên bác, rằng con người tài hoa, tài tình hiếm ai bì kịp ấy cũng đồng thời là con người luôn luôn có những hiểu biết khôn lường, khôn sánh về những gì được nói tới ở văn minh. Trường hợp sông Đà là vậy. Phải là Nguyễn Tuân và có lẽ chỉ có Nguyễn Tuân mới không ngại nhọc công dò đến ngọn nguồn lạch sông, truy tìm đến tận nơi gốc tích khai sinh của sông Đà, để biết chỗ phát nguyên của nó thuộc huyện Cảnh Đông và thoạt kì thuỷ, dòng sông mang những cái tên Trung Hoa mà âm thanh dẫu sao cũng gợi ra khá nhiều thơ mộng: Li Tiên, Bả Biên Giang. Và cũng không dễ có người như Nguyễn, để có thê hạ bút viết đúng ba câu về sắc nước Đà giang đã phải mấy lần bay ngang trên miền sông ấy. Để rồi sau đó, mới nói chắc như đinh đóng cột rằng nước sông Đà không hề đen; trái lại, nó xanh màu ngọc bích dưới trời xuân, khác với sông Gấm sông Lô nước “xanh canh hến” (tác giả mới kì công làm sao trong quan sát và chọn tìm từ!), còn mỗi độ thu về, nước sông Đà lại “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa”. Cứ theo đây thì ai dám bảo các đấng tài hoa viết văn không khó nhọc? Ai dám bảo rằng cái cốt cách phong lưu tài tử như của Nguyễn Tuân cho phép nhà văn cứ việc thả sức rong chơi, chờ khi thần hứng đến với mình thì chỉ cần một lần phất bút là đã đủ làm nên tấm lụa ngôn ngữ đẹp mê hồn? Nhưng chớ nên quên Nguyễn còn là một bản ngã vãn chương không hề giống với một ai, và cũng không thể có một ai mong bắt chước. Những trang viết trong Người lái đò Sông Đà đẹp còn vì tác giả đã in cái bản ngã độc đáo ấy vào sông nước Đà giang, đã thêm cái vẻ đẹp rất chủ quan của tâm hồn và tưởng tượng vào cái vẻ đẹp rất khách quan của dòng sông, để dần dần làm cho dưới ngòi bút, tuôn chảy một con sông Đà mang dấu ấn thật riêng của nhà văn, một con sông Đà đã được chinh phục và chi phố bởi thứ quyền năng riêng của người cầm bút mà Nguyễn Tuân vốn có nhiêu hơn ai hết - tôi muốn nói đến thứ quyền năng của ngôn từ.</p> <h3><strong>Con sông Đà hung bạo dưới ngòi bút Nguyễn Tuân</strong></h3> <p> Hãy thử lấy ra đây một trong rất nhiều ví dụ. Ở đầu trích đoạn Người lái đò Sông Đà trong sách Văn học 12 có đoạn tả “cảnh đá bờ sông đựng vách thành” và những bức thành vách đá cao chẹt chật lấy lòng sông hẹp. Cái hẹp ấy của lòng sông, tác giả đã tả nó ra theo đủ cách: Nào là ” Mặt sông lúc ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt giời”. Nào là con hổ con nai có thể vọt qua sông, và chỉ cần nhẹ tay thôi cũng có thể ném hòn đá từ bờ này sang bên kia vách. Những ý văn như thế kể cũng đã thú lắm. nhưng vấn còn chưa khiến ta phải thán phục, phải ghê gớm cho tài nghệ của Nguyễn Tuân như trong câu cuối đoạn này: “Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, dang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tất phụt đèn điện”. Một sức bút bình thường làm sao có nổi một cái so sánh vừa chính xác, tinh tế, lại vừa bất ngờ và lạ lùng đến thế. Bên cạnh những câu viết thế này, tôi chắc nhiều người sẽ nhận ra mình nghèo nàn biết bao nhiêu cả vể từ ngữ và ý tưởng. Có cảm giác cái bậc văn nhân hằng biết sợ cái cảnh “mình bỗng chốc trở thành người cùng đường bên dòng sông chữ quạnh trắng thê lương” ấy luôn luôn lục lọi đến tận kiệt cùng cái kho ấn tượng đầy ăn ắp để tìm cho bằng ra một cách nói có sức kinh động hồn trí con người. <strong> Nguyễn Tuân đang nói với ta về một sông Đà hung bạo.</strong> Một nhận xét nhu thế sẽ không có nhiều khả năng gây sự ngạc nhiên, nếu chúng ta không tận mất thấy nhà văn dã hao tổn công phu đến thế nào đề bát sự hung bạo kia phải nổi hẳn lên thành hình khối và gào thét lên trong muôn vạn âm thanh. Người đọc đã như được tác giả đặt cưỡi lên con thuyền đang vun vút phăng phăng xuống thác để cảm thấy quanh mình nước thác hò reo bốn mặt và những hòn đá ngỗ ngược phía trước kia như nhất tẽ “nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền”. Không khó khăn gì để thấy trong đoạn này, nhà văn đã sử dụng rất nhiều nhân hoá, để nhờ đó, đọc ra từng sắc diện người trong những hình thù đá vô tri. Ống đã cổ dùng thật hết sức mạnh điêu khắc của ngôn từ để truyền hồn sống vào từng thớ đá. Dễ mấy ai nhìn ra những khuôn mặt đá kiểu thế này: “Một hòn ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phai xưng tên tuổi trước khi giao chiến. Một hòn khác lùi lại một chút và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào”. Tồi chắc những chữ như “hất hàm”, được viết tài đến thế, thì hoặc phải xoẹt đến trong óc nhà văn như một ánh chớp thiêng của luồng cảm hứng và lập tức định vị ngay trong câu viết, nếu không thì phải gò lấy nó bằng cả một “từ công phu”. Cái dáng đá hất hàm ấy trông nó xấc xược, hỗn hào, du côn một cách rất là hiện đại. Nhưng đọc cả đoạn văn, vẫn cảm tưởng thấy tác giả Người lái đò Sông Đà cứ như muốn vừa tìm sự hoà ứng vừa như muốn tranh đua với ca khúc thứ XII của Ôđixê bất hủ, đoạn tả chiếc thuyền của Uylixơ vượt qua khoảng giữa hai con quái thạch Karip và Xila. Hãy nghe lại âm vang hào tráng của Hômerơ từ bao nhiêu nghìn năm trước: “Chúng tôi… chèo thuyền tiến thẳng vào eo biển hiểm nghèo một bên là Xila, một bên là Karip ùng ục ngốn nước biển. Mỗi lần nó nhả nước ra, cả biển khơi đều chuyển động, sôi lên như nước trong chảo đặt trên một bếp lửa hồng… Rồi khi nó lại nuốt nước mặn vào thì làm biển sùng sục cuộn lên; vách đá xung quanh kêu réo ghê sợ, và đáy biển lộ ra với mặt cát đen thẫm… Có phải là ta đã gặp lại trong cái hung bạo của sông Đà hôm nay rất nhiều thần thái cái hung bạo của chốn eo biển nào rất xa xôi tận thời cổ đại? Người ta bảo trong các nhà văn thật lớn thường vẫn còn một đứa trẻ thơ, và đứa trẻ ấy giúp nhà văn giữ được cái nhìn cảm tính trong trẻo hồn nhiên mà người lớn vẫn để cằn cỗi héo tàn đi trên đường đời khó nhọc. Trường hợp Người lái đò Sông Đà có lẽ cho phép ta được nghĩ thêm: trong đôi mắt của nhà văn lớn hôm nay hình như vẫn lấp lánh tia mắt không chỉ của tuổi thơ đời người mà còn của cả thòi ấu thơ nhân loại. Và của cả những giai đoạn vẫn cổ xưa nhưng có gần gũi chúng ta hơn. Đọc những dòng viết về thạch trận Đà giang, tôi cứ cảm thấy nó phảng phất những trận đổ trường xà, bát quái cũng có đủ cửa tử cửa sinh trong truyện cũ. Rồi lại chợt nhớ ra Gia Cát Khổng Minh cũng đã có lần lấy đá làm binh. Cứ thế, sự dữ dội của sông Đà được nhân mãi lên trong trùng trùng liên tưởng. Nhưng đoạn văn tả đá thác sông Đà bủa vây, chận bắt một chiếc thuyền xuôi đơn độc tôi thấy không chỉ có một màu hung tợn. Còn có thể cảm nhận ở đây bóng dáng của Nguyễn Tuân như một nhạc trưởng đang điều khiển một dàn giao hưởng chơi thật hùng tráng bài ca của gió thác xô sóng đá. Ban đầu, tác giả mới để cất lên khúc dạo đầu với những cung bậc nỉ non của một dòng nước thác “nghe như là oán trách gì, rói lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích”. Thế rổi bất ngờ âm thanh được phóng to hết cỡ ,các nhạc khí bừng bừng thét lên khúc nhạc của một thiên nhiên đang ở đỉnh điểm của một cơn phấn khích mạnh mẽ và man dại, trong đó âm vang cuồng loạn của núi rừng được đưa vào để thanh viện cho sự diễn tả con thác giận dữ âm ầm va đập vào bờ đá. Tiếng sóng thác - nhà văn viết - “nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Dám lấy lửa để tả cái vốn đối lập với lửa là dòng nước, dám lấy rừng để tả sông. Nguyễn Tuân quả đã chơi ngông lắm trong nghệ thuật. Nhưng ông chơi ngông mà ta thì được: ta được một cái nhìn tổng quan hơn và thú vị hơn về sự tương giao sức mạnh giữa các lực lượng tự nhiên. Cũng vậy, tôi cho rằng rất nên chiêm ngưỡng vẻ đẹp kì vĩ của tạo hoá trong những câu viết thế này: “Ngoặt khúc sông lượn thấy sóng bọt đã trắng xoá cả một chân giời đá”. Và tôi nghĩ lòng Nguyễn Tuân chắc cũng sảng khoái hào hứng lắm khi nó rung lên với “trận nước vang trời thanh la não bạt”.</p> <p> Trên đây là hình ảnh của một thiên nhiên mà Nguyễn Tuân từng đã muốn “trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một”. Nhưng cũng rất đúng nếu nói rằng thiên nhiên ấy cũng chính là kẻ tôn vinh số một giá trị của con người. Thật thế, người lái đò sông Đà kia sẽ là ai, nếu con thuyền của ông không phải vật lộn với “dòng thác hùm beo đang hồng hộc thế mạnh trên sông đá”? Có thể người ấy sẽ mang một vẻ đẹp nào đó của một loại ông ngư, ông chài, ông lái… nhưng sẽ không thể trở thành đối tượng của một khúc hùng ca. Trái lại, chính cái hùng vĩ của sóng của thác, của sông nước Đà giang sẽ đưa con người dám đương đầu và chiến thắng thần đá thần sông lên hàng oai linh tối thượng. Người xưa vẫn coi “cưỡi cơn gió mạnh, đạp đầu sóng dữ” là biểu trưng cho một lí tưởng sống anh hùng. Thì ông lái đò sông Đà này, dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân cũng chính là con người cưỡi gió đạp sóng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng đấy còn gì! Nhà văn đã dụng tâm diễn tả cuộc chiến giữa ông lái với dòng sông theo hướng: thoạt đầu tưởng như hai bên rất không cân sức. Nào là, quanh con người đơn độc, “mặt nước hò la vang dậy…ùa vào mà bẻ gãy cán chèo”. Nào là “sóng nước như thế quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng vào hông thuyển”, để đội thuyền lên, để lật ngửa mình thuyền giữa vang trời thác réo. Các luồng sóng thì thi nhau “đánh hổi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm” vào chỗ dễ tổn thương nhất của con người… Sẽ tốn khá giấy mực đấy, nếu muốn kể hết ra đấy cái khối lượng hùng hậu các từ ngữ mà Nguyễn Tuân đã chở về từ bên nhà võ để hào phóng vốc tung ra trên các trang văn! Vậy mà đối địch lại, ông đò có những gì? Một chiếc thuyền mỏng manh, trên đó, con người thật nhỏ bé biết bao giữa luồng thác đang giận dữ, hai tay ghì níu lấy mái chèo, đôi chân kẹp chật vào cuống lái, mặt méo bệch hẳn đi do “cố nén vết thương” (Xin được lưu ý rằng Nguyễn Tuân không viết “méo xệch” mà viết là “méo bệch”. Ra cái đau đớn tàn bạo của dòng nước nó còn làm cho bợt bạt cả sắc mặt người). Thế nhưng ba lớp trùng vi của một thạch trận đầy cửa tử đã không ăn chết được một con thuyền đơn độc hết chỗ lùi. Các dũng tướng phá trận ngày xưa, nếu vào đúng cửa sinh và đánh thốc ra đúng cửa sinh là đối phương tan tành thế trận. Ông đò của Nguyễn Tuân cũng thế. Nhà vàn như muốn, qua trường hợp ông đò, cùng mỗi chúng ta nghiền ngẩm điều triết lí: giữa cái thế giới của độc dữ và nham hiểm, cái thế giới đầy sức mạnh mạn dại và lập lờ cạm bẫy, con người vẫn đủ khả năng tìm thấy luồng sinh. Người lái đò của Nguyễn Tuân không có phép màu. Ông đâu có đôi cánh tay Hec-quyn nào để sánh được với sức lực của Thuỷ Tinh. Nhưng ông “đã nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá”. Và cái kinh nghiệm đò giang sông nước, lên thác xuống ghềnh, không, phải nói là cái trí tuệ của người lao động ấy đã khiến cho ông lái, dù trong tay chỉ có cây chèo (cái que nhỏ giữa nguy nga sóng thác!) vẫn có thể phá thành vượt ải như một chiến tướng bách thắng trong sự nghiệp đấu tranh chống thiên nhiên. Một cảm hứng hào hùng đã khiến ngòi bút Nguyễn Tuân tả một cuộc vượt thác sông Đà vẫn diễn ra thường nhật thành một trận đánh biến ảo, hấp dẫn, một khúc hát ca ngợi chiến công của một bậc anh hùng. Có quá lời, có đáng ngạc nhiên chăng, nhất là ở một nhà văn văn có tiếng là kiêu bạc? Tôi không cho là như thế. Theo tôi, đừng nghĩ Nguyễn Tuân chỉ ca ngợi một người. Ông ca ngợi Lao Động, ca ngợi Con Người, ông theo cách của mình làm cho “hai tiếng Con Người vang lên kiêu hãnh biết bao!”. Người lái đò sông Đà - nhà văn muốn vậy - thể hiện cái tư thế ngự trị của Con Người trước Thiên Nhiên thần thánh.</p> <p><strong>Sông Đà trữ tình thơ mộng</strong></p> <p> Và khi trong thiên tùy bút của Nguyễn Tuân mái chèo của ông đò vừa ngừng chống nhau cùng thác đá thì dòng sông Đà bỗng nhiên đổi vẻ. Lời văn của Nguyễn bây giờ cũng bềnh bồng với bầu trời mùa xuân mùa thu, nơi tác giả từ trên tàu bay mà nhìn xuống “từng nét sông tãi ra trên đại dương đá lờ lờ bóng mây dưới chân mình”. Để từ đó, bậc du tử tài hoa đã vẫy bút vẽ ra cả một bức tranh thuỷ mặc chỉ trong một câu văn, cái câu sẽ còn vương vấn mãi trong hồn bao bạn đọc: “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở họa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Nếu được phép tỏ bày ý thích riêng, thì quả thực, cảm tình của tôi có phần được đặt nhiều hơn vào đoạn tả con sông Đà trữ tình này. Làm sao có thể không yêu lối viết của Nguyễn trong cái khúc nói về cái lần nhà văn “nhìn Sông Đà như một cố nhân”. Lúc đầu, chỉ là cảm giác còn mơ hồ về một sự “thèm chỗ thoáng”, do “ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu”, thậm chí còn “quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà”. Rồi con sông hiện ra, nhưng chỉ một chút thôi, loang loáng như nghịch ngợm, đúng là cảm giác về cái nhìn con sông thấp thoáng, xa xa của con người còn phải bộ hành trong rừng cây, trên đèo dốc. Chợt kịp khi nhận ra được dòng sông - người bạn cũ thì sao mà nó sâu xa, ngơ ngẩn thế, trong cái ánh “yên hoa tam nguyệt” đọng sắc hoe hoe vàng tự thuở Đường thi. ít nhiều còn hiểu được vì sao cái vui gặp lại sông Đà cố nhân nó giống như “nối lại chiêm bao đứt quãng”. Nhưng thật khổng biết tại làm sao tác giả lại cảm giác được “nắng giòn tan… ”? Chỉ biết khi ba chữ ấy đã viết ra rồi thì rõ là không thể nào đúng hơn, hay hơn, không thể nào đổi khác. Và cứ thế, cái “đằm đằm âm ấm” của nắng mùa xuân trên dòng sông xuân lâu ngày gặp lại nó dư sức làm thấm thía thêm niềm hạnh phúc được sống trên mặt đất này. Nhưng kì diệu hơn nữa, theo tôi, là đoạn văn bắt đầu từ câu viết: “thuyền tôi trôi trên Sông Đà”. Câu văn viết toàn thanh bằng, đẹp như một lời thơ. Mà đoạn văn xuôi ấy, sao tôi thấy nó thơ hơn nhiều lắm so với bao nhiêu bài thơ tôi đã đọc. Chắc phải có người thơ nào thèm muốn tạo được sự lặng lẽ đầy mơ mộng của một mũi đò lừ lừ trôi giữa đôi bờ hoang dại, cái lặng lẽ tuyệt đối để ru hồn người vào cái ảo giác về bờ sổng tiền sử, vể một nỗi niềm cổ tích hay hoài niệm về thời Lí thời Lê… Và là cái lặng lẽ mơ màng đến độ con người chờ mong một sự giật mình để rũ mình ra khỏi giấc mơ xưa mà không được. Mùa xuân dòng Đà giang được nhà văn cho e ấp tỏ mình qua mấy lá non nhú lên trên một nương ngô và những nõn búp cỏ gianh đồi núi. Rồi con hươu, mới tuyệt làm sao hình ảnh “con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương”. Nhẩm lại lúc viết Sông Đà, Nguyễn Tuân đã đến bờ tuổi ngũ tuần, và kể thì hồn văn ấy đã già từ Vang bóng một thời, từ Một chuyến đi. Nghĩ thế lại càng thấy quý cái bờ ngỡ non tơ đến tuổi năm mươi lại nảy lộc trong nhà văn bên một dòng sông, một cuộc đời mới mẻ. Và cảm xúc đáng quý ấy cứ du dương mãi trong tôi vói những âm thanh văn xuôi rất đáng gọi là “nên câu tuyệt diệu”: “Hỡi ông khách Sông Đà có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. “Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi… Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc”… Tôi cảm thấy chiếc bè thơ kết bằng những câu văn xuôi ấy đem lại cho mình một thứ nhã thú văn chương mà phải nói rằng cũng còn hiếm gặp ở trong đời.</p> <p> Nhưng tác giả Người lái đò Sông Đà cũng không phải con người duy mĩ. Ta trọng sự tinh tế của ông trong cảm thức vể cái đẹp. Nhưng qua thiên tuỳ bút, ta hiểu ràng cái còn đáng trọng hơn nữa của ông vẫn là tình yêu thiết tha thiên nhiên đất nước, là sự tôn kính công sức Lao Động của Con Người.</p> <h2><strong>Tác giả bài viết : Đỗ Kim Hồi</strong></h2>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Thu, 09 Jul 2026 07:49:35 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Người lái đò Sông Đà – vẻ đẹp của một dòng sông chữ</media:title>
                        <media:keywords>Người lái đò Sông Đà – vẻ đẹp của một dòng sông chữ</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[THUY KHUE]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-hay-ve-nguyen-tuan-a110572.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-hay-ve-nguyen-tuan-a110572.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-hay-ve-nguyen-tuan-a110572.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><b> Nói chuyện với giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh</b></p> <p> </p> <p> Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh là một trong những nhà phê bình, nhà giáo không ngừng hoạt động trên hai lãnh vực đào tạo sinh viên và nghiên cứu văn học trong hơn nửa thế kỷ qua. Ngay từ những năm 87-90, trong thời kỳ đổi mới văn học, ông đã đưa ra những biện pháp giáo dục và nghiên cứu mới, tách rời chính trị ra khỏi văn học, về Hồ Chí Minh, về Nguyễn Tuân, v.v..., đồng thời ông cũng nhấn mạnh đến việc cần phải nhận định lại các giai đoạn văn học sử, định vị lại giá trị tác phẩm theo tiêu chuẩn văn học chứ không theo đòi hỏi chính trị nữa. Những công trình nghiên cứu của ông về Hồ Chí Minh, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, v.v... nói lên phong cách phê bình độc đáo của Nguyễn Đăng Mạnh. Một đời sống với văn học và thế giới nhà văn như thế, đã được ông ghi lại trên những trang hồi ký. Hôm nay, giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh nói chuyện với chúng ta về quan niệm viết hồi ký, về quan niệm phê bình của ông, đồng thời ông cũng lên tiếng về hiện tượng hồi ký của ông bị đưa lên mạng trái với ý định của tác giả. Chúng tôi xin thành thật cám ơn giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã có nhã ý dành cho thính giả RFI buổi nói chuyện hôm nay.</p> <p> </p> <p> </p> <p> </p> <p><b> Thụy Khuê</b>:<i> Thưa anh, gần đây thấy xuất hiện trên mạng Internet, một số bài trích từ hồi ký của anh, ngoài ra, trong câu chuyện riêng với anh, có lúc anh cũng cho biết là anh có ý định viết hồi ký. Vậy thưa anh, anh đã viết xong chưa và anh có ý định công bố hay không?</i></p> <p><b> Nguyễn Đăng Mạnh</b>: Chị Thụy Khuê ạ, hiện tượng hồi ký của tôi được tung lên mạng là ngoài ý muốn của tôi, tôi không có ý định công bố đâu. Tôi quan niệm viết hồi ký để giải tỏa cho bản thân mình thôi, như một hình thức giải trí cho bản thân mình và cũng có thể là cho một số người thân, thế thôi, hoàn toàn không có ý định công bố bằng bất cứ phương tiện thông tin nào. Vậy mà có ai đó, bằng một cách nào đó, khui ra được và đưa lên mạng. Tôi rất bất ngờ và cũng rất bất bình về chuyện này. Tôi là người không thạo gì về Internet cả. Anh Hoàng Dũng, người bạn của tôi trong Thành phố Hồ Chí Minh, giúp tôi mail cho một số người đã đưa lên mạng và nói rõ sự bất bình của tôi và họ đã xóa bỏ đi rồi. Nhưng chị biết đấy, một khi đã đưa lên mạng rồi thì không thể nào ngăn cấm người ta khai thác được. Tôi nói rõ với chị như vậy và cũng nói rõ với công chúng Internet như thế, tôi không có ý định công bố mà đấy là do ai đó công bố ngoài ý muốn của tôi</p> <p> </p> <p><b> T.K</b>.:<i> Thưa anh, dĩ nhiên là một người viết hồi ký và một người đã gắn liền cuộc đời mình với văn học như anh phải có một quan niệm riêng về hồi ký, vậy thưa anh, quan niệm về hồi ký của anh là như thế nào?</i></p> <p><b> N.Đ.M</b>.: Tôi quan niệm viết hồi ký là một cách để giải tỏa cho mình. Mình có những hiểu biết, ý nghĩ với những trải nghiệm trong cả một đời, chứa chất trong lòng, đến một lúc nào đấy cũng muốn trút ra, tôi cho đấy là nhu cầu tự thân mình và cũng là một khoái thú. Tôi cho rằng mọi khoái thú trên đời, xét đến cùng đều là trút ra khỏi con người mình một gánh nặng nào đó. Viết hồi ký tôi muốn nói thẳng, nói thật, thành thật với mình, thành thật với người, có gì nói thế, không làm văn chương gì cả, không tô vẽ hoa lá cành và nói luôn bằng ngôn ngữ của sự thật. Vì thế trong tình hình hiện nay tôi không hề có ý định công bố. Hồi ký là chuyện của cá nhân. Mỗi cá nhân đều là một chứng nhân của lịch sử ở một mức độ nào đấy, do quan hệ riêng của mỗi người đối với hiện thực, đối với xã hội, đối với đất nước, với lịch sử. Vì thế, hồi ký tuy là của một cá nhân nhưng cũng có ích với người đọc về nhận thức xã hội, lịch sử của đất nước. Tôi là người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, nghiên cứu phê bình văn học và tôi đã từng chứng kiến nhiều cuộc tranh luận tư tưởng trong văn học suốt trong mấy chục năm, tôi cũng trực tiếp tiếp xúc với hàng loạt nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại cho nên cũng biết nhiều chuyện. Những tư liệu ấy có thể phản ánh được nhiều phương diện của nền văn học Việt Nam hiện đại. Nhưng thực sự thì tôi cũng chưa có ý định công bố những điều ấy bởi vì nhiều chuyện cũng chưa tiện nói, vì nói về sự thật thì nhiều khi cũng đụng chạm chuyện này, chuyện khác.</p> <p> </p> <p><b> T.K</b>.:<i> Thưa anh, trong hồi ký anh không thể không nhắc đến hành trình viết phê bình của anh trong hơn nửa thế kỷ qua, vậy xin anh cho biết anh quan niệm thế nào về vấn đề phê bình văn học?</i></p> <p><b> N.Đ.M</b>.: Trước kia tôi nghiên cứu về lịch sử văn học, từ năm 1968 tôi mới bắt đầu viết phê bình là bài <i>Con đường Nguyễn Tuân đi đến bút ký chống Mỹ</i>. Bài vừa viết xong đã có chuyện này chuyện khác rồi. Cho nên viết phê bình hay gắn với công chúng một cách trực tiếp, gắn liền với thời sự. Trước hết tôi muốn nêu vấn đề: Phê bình khó hay sáng tác khó? Theo tôi, phê bình hay sáng tác có giá trị đều khó cả, còn viết dở thì phê bình hay sáng tác đều dễ thôi; nhưng có hiện tượng này rất phổ biến ở các nền văn học trên thế giới, là nhà phê bình lớn, thật sự tài năng, bao giờ cũng rất hiếm so với những nhà sáng tác lớn; đây là tôi chỉ nói những người có tài năng thật sự thôi. Lịch sử văn học các nước đề có bằng chứng như vậy, văn học Pháp, Nga, Việt Nam đều thế cả. Vì sao như vậy, thì tôi nghĩ là phê bình có hai yêu cầu, một là phải có năng lực cảm thụ nghệ thuật rất tốt, hai là phải có trình độ văn hóa rộng rãi. Sáng tác có thể có thần đồng, một đứa trẻ tám, chín tuổi như Trần Đăng Khoa chẳng hạn, có thể làm thơ rất hay, nhưng phê bình thì không có chuyện ấy.</p> <p> </p> <p><b> T.K</b>.:<i> Thưa anh, sau nửa thế kỷ viết phê bình, anh có thể rút ra kinh nghiệm gì về phương pháp phê bình cho những người sắp bước hay sẽ bước vào địa hạt này?</i></p> <p><b> N.Đ.M</b>.: Một người viết lịch sử phê bình Pháp, Roger Fayol, nói, tôi cho là rất đúng, phê bình ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của báo chí và ngành đại học, tức là nhà phê bình phải đọc, đọc nhiều, phải có tư duy khoa học tốt. Nhà thơ Xuân Diệu có nói là muốn hiểu được thơ là gì thì phải đọc nhiều thơ hay. Hoài Thanh cũng nói là dù phê bình theo impressionisme, ấn tượng chủ nghĩa, vẫn phải có tin tức, vẫn phải có văn hóa. Còn khả năng cảm thụ văn chương nghĩa là có phản ứng nhậy bén và chính xác về tình cảm, cảm xúc trước cái đẹp của văn chương thì tôi gọi là một khâu phi phương pháp luận, nghĩa là không thể học được một phương pháp nào đấy rồi sau đó có thể có năng lực. Đấy là chuyện năng khiếu. Tôi không cho đây là chuyện thần bí gì cả, nhưng đòi hỏi tích lũy được một trường liên tưởng thẩm mỹ tốt, phong phú và muốn thế phải sống sâu sắc với những điều mình được thấy, được nghe, được đọc, được sống. Sống hời hợt thì dù có đi nhiều, đọc nhiều, thì sống đến trăm tuổi cũng không có được một trường liên tưởng thẩm mỹ tử tế. Khi ta đọc một tác phẩm nghệ thuật, thì những yếu tố nào đó ở trong cái tác phẩm ấy, nó gợi lên, nó có liên tưởng một cách rất tự nhiên đến những ấn tượng nào đó trong trường liên tưởng thẩm mỹ của mỗi người và vì thế nên có xúc động, có rung cảm. Viết phê bình là sự gặp gỡ giữa tư tưởng người viết phê bình và tư tưởng của tác phẩm văn học và điều đó tạo nên cảm hứng cho nhà phê bình. Tôi cho phê bình cũng phải có cảm hứng mới viết hay được. Phê bình thật sự là người bạn tốt của sáng tác, là người hiểu biết sâu sắc về sáng tác.</p> <p> </p> <p><b> T.K</b>.:<i> Thưa anh, theo anh thì các nhà phê bình phải có hay nên có một thái độ thế nào đối với các nhà sáng tác?</i></p> <p><b> N.Đ.M</b>.: Có một thời gian ở Việt Nam, chắc chị cũng biết có một thời kỳ các nhà sáng tác rất ghét những nhà phê bình, nhà phê bình chính thống. Ông Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân nói nhiều câu chế giễu các nhà phê bình đó, vì hồi ấy các nhà phê bình cứ muốn dậy dỗ các nhà sáng tác, cứ như là người lãnh đạo sáng tác mà thực ra xuất phát từ những lý thuyết giáo điều không ăn nhập gì đến sáng tác cả. Ông Xuân Diệu ông ấy gọi những nhà phê bình ấy là cái xe tăng mù húc bừa bãi chẳng biết gì về văn học nghệ thuật. Ông Nguyễn Đình Thi gọi một người phê bình là bà dì ghẻ cay nghiệt v.v... Tôi cho nhà phê bình phải là người bạn thực sự, người bạn tốt của sáng tác, hiểu biết sáng tác, không nên đặt mình lên trên sáng tác.</p> <p> </p> <p><b> T.K</b>.:<i> Thưa anh, xin hỏi anh là một giáo sư, một văn bản phê bình văn học, theo anh, cần phải có những yếu tố gì để có thể trở thành một bài phê bình có giá trị?</i></p> <p><b> N.Đ.M</b>.: Viết phê bình cũng cần phải có văn, nhiều người viết phê bình hiện nay, theo tôi, chưa có văn. Nhưng không nên quan niệm văn phê bình chỉ là chuyện hình thức, hoa lá cành, văn phê bình phải đẻ ra được chính nội dung của phê bình, yêu cầu nội dung của phê bình. Vì muốn chuyển tải tình cảm thẩm mỹ thì phải có văn, nều cần phải dùng cả hình tượng nữa.</p> <p> Nhưng hình tượng của bài phê bình khác với hình tượng của người sáng tác vì phải thực hiện một lúc hai nhiệm vụ: một là phải chuyển tải tình cảm, cảm xúc thẩm mỹ, hai là phải làm sáng tỏ được những khái niệm, quy luật của văn chương. Nhà phê bình phải tạo ra một văn bản văn chương để làm sáng tỏ văn bản văn chương của người sáng tác. Trong hiểu biết và kinh nghiệm của tôi, tôi cho là có ba dạng bài phê bình. Có loại bài phê bình chỉ gắn với một tác phẩm là đối tượng phê bình mà thôi. Có bài phê bình đi từ tác phẩm phê bình rồi bàn rộng ra về các vấn đề văn học nói chung của một thời kỳ lịch sử hay một thời đại. Thứ ba là từ phê bình một tác phẩm cụ thể, xoay ra nói chuyện đời. Tôi thấy nhà phê bình lớn đều hay viết như thế và tôi rất thích những cách viết như vậy. Thánh Thán phê bình Tây Sương ký mà xoay ra nói đủ thứ chuyện trên đời rất thú vị. Muốn như thế thì dù dưới hình thức nào, phê bình cũng phải có tư tưởng. Tôi cho là phê bình hay sáng tác đều phải có tư tưởng. Tư tưởng ở đây là tư tưởng thấm nhuần tình cảm thẩm mỹ, thể hiện yêu ghét, khinh trọng, chân thật và sâu sắc của người viết sáng tác cũng như phê bình. Sáng tác cũng như phê bình, không có tư tưởng, tôi cho là chẳng có giá trị gì hết.</p> <p> </p> <p><b> T.K</b>.:<i> Thưa anh, anh nghĩ thế nào về mối tương giao giữa lý luận và phê bình?</i></p> <p><b> N.Đ.M</b>.: Tôi quan niệm một nhà lý luận giỏi, uyên bác, sâu sắc, không hẳn có thể viết được phê bình, nhưng một nhà phê bình thì bao giờ cũng phải có lý luận. Lý luận giáo điều là sự trói buộc rất tai hại cho phê bình. Một thời các nhà phê bình ở nước ta đã bị trói buộc bởi nhiều lý thuyết giáo điều. Lý luận của nhà phê bình phải như thế nào? Theo tôi, phải đi từ thực tế văn học, kinh nghiệm của đời sống văn học mà tiếp nhận lý luận. Lý luận phải gắn liền với cây đời, theo kinh nghiệm của tôi, tôi vẫn tiếp nhận lý luận như thế tức là xuất phát từ những kinh nghiệm của mình, những suy nghĩ của mình về thực tế sáng tác và mình tìm lý thuyết để tìm những lý thuyết, khái niệm nào đấy giúp mình diễn tả, phân tích được những thực tế mà mình cảm nhận được trong đầu. Tức là từ thực tế sáng tác mà mình cảm nhận được, mà suy nghĩ, tiếp nhận lý luận. Đó là cách làm việc, cách tìm hiểu lý luận của tôi. Do tư tưởng và năng lực cảm thụ của nhà phê bình, bao giờ cũng gắn với một thời đại nhất định, vì thế nên nhà phê bình nào, dù lớn đến đâu, tài năng đến đâu, cũng chỉ có một thời thôi. Tôi nghĩ thế. Ông Hoài Thanh, ông Vũ Ngọc Phan cũng chỉ tiêu biểu cho một thời. Tất nhiên tôi cũng thế thôi.</p> <p> </p> <p><b> T.K</b>.:<i> Thưa anh, qua một số chân dung văn học mà người ta đã đưa lên mạng Internet ngoài ý muốn của anh, người đọc thấy rõ là anh có một lối viết chân dung văn học rất độc đáo, vậy xin anh cho biết quan niệm của anh về chân dung văn học.</i></p> <p><b> N.Đ.M</b>.: Nói thật với chị là tôi rất thích viết chân dung văn học, nhưng mãi gần đây thôi tức là từ khoảng những năm 2000, tôi thích viết chân dung văn học; vì có lẽ phải đến một lúc nào đó, do mình am hiểu sâu sắc các nhà văn, am hiểu đời sống riêng của họ, tiếp xúc nhiều với họ mới có thể viết được chân dung văn học. Chân dung văn học là một dạng bút ký về người thật, việc thật; người thật ở đây là nhà văn, một tài năng văn học mà người tài, người đẹp bao giờ cũng rất hấp dẫn. Đọc một bài chân dung văn học là được tiếp xúc trực tiếp, tiếp xúc cận cảnh với người tài mà lại tiếp xúc trong sinh hoạt đời thường, con người ta rất thích được tiếp xúc với người tài, những danh nhân trong những sinh hoạt đời thường, trong sinh hoạt gần gũi. Có nhiều người đặt tên cho bài viết của mình là chân dung văn học nhưng theo tôi không phải là chân dung văn học đích thực. Có bài chỉ là một tiểu luận nghiên cứu về một nhà văn, có bài chỉ là chép lại một cuộc phỏng vấn nhà văn, có bài nói nhiều chi tiết về con người nhà văn nhưng không nói gì được về cái văn của nhà văn ấy.</p> <p> </p> <p><b> T.K</b>.:<i> Thưa anh, thế nào là một bức chân dung văn học thành công, có thể gọi là đạt?</i></p> <p><b> N.Đ.M</b>.: Theo tôi, chân dung văn học là một dạng của phê bình văn học. Qua chân dung, người đọc hiểu được văn của nhà văn, chỗ khó nhất là ở đó. Nhưng làm thế nào cho độc giả hiểu được văn của nhà văn ấy, thông qua những chi tiết đời thường mới là chân dung văn học. Vì thế cho nên viết chân dung, phải hiểu được sự thống nhất văn và người của người cầm bút, thống nhất ở chiều sâu, ở bản chất chứ không phải ở bề ngoài, ở bề nổi. Nguyễn Công Hoan có nói văn là người mà cũng không phải là người. Tức là nhìn bề ngoài có vẻ chả gắn bó gì với người, không thống nhất gì cả, nhưng nếu nhìn ở bản chất thì đúng văn là người. Thí dụ nhìn bề ngoài, bề mặt thì thấy Vũ Trọng Phụng rất khác giữa con người và văn chương của ông. Trong đời, ông sống rất mực thước, đạo đức; trong văn thì viết rất giỏi bọn vô đạo đức, cờ bạc, đĩ điếm, lưu manh, con người sống sành sỏi với thế giới vô đạo đức như thế. Trong cuộc đời sinh hoạt rất nghèo khổ nhưng viết rất giỏi về cuộc sống xa hoa của những bọn giàu có, những tay đại phú. Có vẻ không thống nhất gì cả, nhưng xét về bản chất con người Vũ Trọng Phụng thì tôi thấy rất thống nhất giữa văn và người. Đó là niềm phẫn uất mãnh liệt với xã hội vô nghĩa lý, chó đểu như ông vẫn nói, đó là chất nam châm rất nhậy khiến ông có thể bắt lấy rất mau lẹ những chuyện chó đểu của xã hội cũ, cho nên người ta gọi tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là những quả bom ném vào xã hội thực dân tư sản. Theo tôi đấy là thiên tài của sự phẫn nộ. Viết chân dung khó nhất là phát hiện được sự thống nhất này giữa văn và người, giữa con người và hồn cốt của văn chương. Có phát hiện ra được chỗ thống nhất như thế mới biết chọn chi tiết trong đời sống của nhà văn để dựng chân dung văn học. Viết chân dung cũng gần sáng tác, văn sáng tác; vì thế người viết phải giàu tưởng tượng, phải có chất nghệ sĩ thì mới có thể viết chân dung tốt được.</p> <p> </p> <p><b> T.K</b>.:<i> Trước khi từ giã, xin hỏi anh câu hỏi ngắn, bao giờ anh sẽ cho công bố tập hồi ký của anh?</i></p> <p><b> N.Đ.M</b>.: Tập hồi ký hiện nay vẫn còn nhiều chỗ tôi chưa ưng ý và vẫn còn đang ra công sửa chữa. Nhưng khi đã hoàn chỉnh rồi, thì hiện nay tôi không có ý định công bố vì có những chuyện phiền phức, tình hình hiện nay chưa có điều kiện. Thế còn bao giờ công bố thì chính tôi cũng chưa biết được, chính tôi cũng không xác định được.</p> <p> </p> <p><b> T.K</b>.:<i> Xin thành thật cảm ơn giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh.</i></p> <p> Thụy Khuê thực hiện</p> <p> RFI 13/9/2008</p> <p> </p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Thu, 09 Jul 2026 02:45:29 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">THUY KHUE</media:title>
                        <media:keywords>THUY KHUE</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Phân tích nét tính cách hung bạo của con sông Đà]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/cam-nhan-ve-con-song-da-hung-bao-a110554.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/cam-nhan-ve-con-song-da-hung-bao-a110554.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/cam-nhan-ve-con-song-da-hung-bao-a110554.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong> Bài mẫu</strong></p> <p><strong>BÀI LÀM</strong></p> <p> Ta đã được chiêm ngưỡng một dòng sông mênh mông, hoang vắng, buồn man mác, thấm đẫm nỗi nhớ nhà trong “Tràng Giang” của Huy Cận; hay một khung cảnh đìu hiu, cách biệt của thiên nhiên sông nước Kinh Bắc trong “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm. Nếu những bài thơ trên chỉ là điều kiện, là khách thể để các nhà thơ bày tỏ lòng mình thì đến với Người lái đò sông Đà, người đọc mới cảm nhận được rõ nét về một tác phẩm viết về một dòng sông thực sự. Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, hình ảnh dòng sông “độc bắc lưu” hiện lên với những vẻ đẹp độc đáo. Trên cái nền thiên nhiên kì vĩ ấy, Nguyễn Tuân cũng đã làm nổi bật lên vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ trong những người lao động bình thường mà ông luôn gọi là “chất vàng mười đã qua thử lửa” bấy lâu mình vẫn khao khát, kiếm tìm.</p> <p> Người lái đò sông Đà là một trong những tùy bút xuất sắc nhất trong tập tùy bút “Sông Đà” của Nguyễn Tuân, tập tuỳ bút cũng đánh dấu sự chuyển biến trong tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Tuân so với giai đoạn trước cách mạng. Trong Người lái đò sông Đà không chỉ nổi bật hình ảnh của người lao động kiên cường dũng cảm mà còn nổi bật một thiên nhiên đẹp đẽ </p> <p> Sông Đà được nhà văn xây dựng thành một “nhân vật” có mặt suốt từ đầu đến cuối thiên tùy bút, tạo nên giá trị độc đáo của tác phẩm này. Dưới ngòi bút tài hoa và uyên bác của Nguyễn Tuân, Sông Đà không còn là một con sông vô tri, vô giác, mà là một “nhân vật” có cá tính, có tâm trạng, có hoạt động: thật phong phú và phức tạp. Tác giả đã nhận xét khái quát: đây chính là con sông Tây Bắc hung bạo và trữ tình. Hai đặc điểm hung bạo và trữ tình này được nhà văn triển khai trong suốt cả bài tùy bút.</p> <p> Cái hung bạo của con Sông Đà không chỉ ở những con thác, mà còn ở quang cảnh hùng vĩ với vẻ huyền bí, hoang sơ của dòng sông chảy giữa điệp trùng rừng núi Tây Bắc. Như một nhà quay phim là lão luyện, vừa cho người xem thấy bao quát khung cảnh Sông Đà, thỉnh thoảng tác giả lại dừng lại, cho khán giả những pha “cận cảnh” thật tiêu biểu về sự hung dữ của sông này.</p> <p> Đấy là những cảnh thật hiếm thấy như cảnh đá bờ sông dựng vách thành chỉ khi nào đến giữa trưa, mặt trời rọi đúng đỉnh đầu, chỗ ấy mới có nắng. Cách so sánh trên tạo được ấn tượng khá đậm nét về vách đá dựng đứng với độ cao hun hút khôn cùng. Có chỗ vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu. Vì thế, dòng chảy của con sông bị thu lại rất hẹp: hẹp đến mức đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách, hẹp đến mức quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia. Ấn tượng về độ và thẳng của vách đá bờ sông và dòng chảy nhỏ hẹp càng được tô đậm thêm qua một chi tiết tiêu biểu và lôi liên tưởng bất ngờ - thiên nhiên hoang sơ : với đời sống hiện đại của con người: Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào từ cái tầng nhà thứ mấy nào vừa phụt đèn điện. Nhà văn chẳng những sử dụng thị giác mà còn kết hợp sừ dụng cả giác quan khác với những so sánh thật mới mẻ, táo bạo. Vách thành dựng đứng gợi lên sự hiểm trờ, hùng vĩ, lòng sông hẹp lại gián tiếp gợi được sức chảy ghê gớm, dữ dằn của thác lũ.</p> <p> Tính chất hung bạo còn thể hiện qua cái dữ dằn của ghềnh sông với hợp sức của gió, của sóng và của đá. Dường như chúng phôi hợp với nhau một cách chặt chẽ để tăng thêm sức mạnh uy hiếp, đe dọa con người: quãng một ghềnh Hát Loong, dài hàng cây số, nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, em cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Dà nào tóm được qua đấy. Ở đây, một phần câu văn như bị chặt đứt ra thành nhiều khúc ngắn, gọn, diễn đạt bằng điệp từ, điệp cấu trúc và tăng tiến, tạo nhịp điệu khẩn trương, dồn dập, gấp gáp như sự chuyển động của gió to và sóng lớn.</p> <p> Hung bạo hơn nữa là những cái hút nước khủng khiếp: trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống xông để chuẩn bị làm móng cầu. Vì nước bị hút quá mạnh nên phát ra những âm thanh được nhân cách hóa như nước thở và kêu như cửa cống cái bị sặc do nước bên trong và ngoài cống chênh nhau quá nhiều, phát ra tiếng kêu ặc ặc ghê sợ. Để tô đậm thêm sự nguy hiểm của cái hút nước, nhà văn đã phối hợp giữa "tả” và “kể”. Ở đây, yếu tố tự sự góp phần quan trọng kích thích trí tưởng của người đọc. Nếu câu văn nêu trên thiên về tả thì hai câu dưới thiên về kể: Nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý... ở khuỳnh sông dưới.</p> <p> Sông Đà còn hung bạo ở những thác nước. Nhiều thác nước như bày sẵn thế trận, sẵn sàng chặn đánh, tiêu diệt người lái đò, lái mảng, đặc biệt đối với những ai xuôi dòng, ở những nơi này, Sông Đà được mô tả như có cả một bầy thủy quái vừa hung hăng, bạo ngược, vừa nham hiểm, xảo quyệt. Lúc thì thác nước khiêu khích, chế nhạo, khi thì hò la, gầm thét, như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu tre nứa nổ lứa, đang phá luống rừng lứa, rừng lứa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Thác nước càng được nhân thêm sức mạnh, sức công phá, tăng thêm mối nguv hiểm đối với nhà đò vì sự góp mặt của hàng ngàn tảng đá to, nhỏ. Mỗi hòn đá được khắc họa như một quái vật từ ngàn năm vẫn kiên trì mai phục nơi đây để bày thạch trận trong lòng sông. Mỗi lần thấy một con thuyền nào nhô vào đường ngoặt sóng là chúng lập tức nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Tác giả để dựng dậy và thổi sự sống vào cho những hòn đá vô tri giác, khiến người đọc hình dung chúng cũng táo tợn, hung bạo như một lũ giặc điên cuồng.</p> <p> Dưới ngòi bút của người nghệ sĩ ngôn từ, vẻ đẹp man dại, sức mạnh huyền bí của Sông Đà đã hiện ra ở nhiều góc độ khác nhau. Đây chính là tiềm năng to lớn của Đà giang được con người chinh phục. Đây là “vàng trắng” quý báu của đất nước chúng ta. Chính vì vậy, Nguyễn Tuân nói tới hình ảnh của những tuốc bin thủy điện. Điều đó cũng có nghĩa là nhà văn nghĩ tới vai trò, vị trí của Sông Đà trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước.</p> <p><strong>Loigiaihay.com</strong></p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Wed, 08 Jul 2026 17:22:28 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Phân tích nét tính cách hung bạo của con sông Đà</media:title>
                        <media:keywords>Phân tích nét tính cách hung bạo của con sông Đà</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Tổng hợp mở bài bằng lí luận văn học hay nhất                                Mở bài hay bằng lí luận văn học]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/mo-bai-bang-li-luan-van-hoc-ve-truyen-ngan-a110538.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/mo-bai-bang-li-luan-van-hoc-ve-truyen-ngan-a110538.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/mo-bai-bang-li-luan-van-hoc-ve-truyen-ngan-a110538.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>TOP 10 mở bài bằng lí luận văn học hay nhất</strong> là tài liệu vô cùng hữu ích mà Download.vn muốn giới thiệu đến quý thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo.</p> <p>Mở bài hay là giới thiệu vấn đề sẽ được bàn luận trong bài văn, đồng thời khêu gợi, lôi cuốn sự chú ý của người đọc đối với vấn đề đó. Một mở bài được đánh gia cao là gọi tên đúng vấn đề đặt ra trong đề bài, chỉ được nêu ý khái quát, không lấn sang phần thân bài, không giảng giải hay minh hoạ cho vấn đề được đề cập. Vậy dưới đây là TOP 10 mở bài lí luận văn học hay nhất, mời các bạn cùng tải tại đây.</p> <h3>Mở bài 1</h3> <p>Không phải ngẫu nhiên mà Rasul Gamzatov đã từng tâm niệm rằng: “Thơ ca bắt nguồn từ những âm vang của tâm hồn”.Thật vậy, thi ca muôn đời là nơi bộc lộ những trở trăn, những nghĩ suy những thổn thức của trái tim người nghệ sĩ trước cuộc đời. Và thơ …(Tác giả)... cũng chính là những nỗi niềm chân thành của thi nhân. Đến với thế giới nghệ thuật của nhà thơ này, người đọc sẽ bắt gặp những xúc cảm đầy xúc động, để lại nhiều dư âm, dư ba qua thi phẩm mang tên “…..”.</p> <h3>Mở bài 2</h3> <p>Đã bao lần tôi băn khoăn tự hỏi: Điều gì khiến mỗi tác phẩm mang hình hài một chiếc lá, thả mình theo dòng chảy miên viễn của thời gian? Một cốt truyện li kì hấp dẫn? Một vần thơ sâu thẳm tự tâm hồn? Văn học bật ra từ những cơn mê tỉnh của người nghệ sĩ, từ cõi lòng tinh tế đến nhạy cảm mong manh, để rồi nhìn thấu nỗi đau thực tại, để rồi một đời trăn trở, một đời băn khoăn. Văn học vốn dĩ nặng nợ thế gian, cũng như nỗi niềm muôn đời của người nghệ sĩ đối với văn chương, để rồi từ đó anh cất lên những vấn thơ, những câu chữ say đắm lòng người. Đến với thế giới nghệ thuật của ...(Tác giả)..., ta sẽ được đắm mình trong thế giới nghệ thuật thấm đẫm suy tư qua tác phẩm mang tên "..."</p> <h3>Mở bài 3</h3> <p>Xantưkôp Sêđrin đã từng nói: “Nghệ thuật nằm ngoài quy luật của sự băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”. Vậy điều gì đã khiến các tác phẩm nghệ thuật bất tử? ở tài năng hay ở tấm lòng của người cầm bút? Phải chăng, văn chương muôn đời là nơi mà người nghệ sĩ đã mang hiện thực vào trang viết của mình bằng tất cả tấm chân tình mà ẩn sâu trong đó là những tư tưởng, thông điệp quý báu trong đời để gửi gắm đến độc giả. Điều đó đã khiến cho những tác phẩm văn chương mãi sống hoài, sống lâu trong lòng những người yêu nghệ thuật mãi tận về sau. Và ta không thể không nhắc đến …(Tác phẩm)…. của …(Tác giả)…. đã để lại trong ta nhiều dư âm, dư vang, dư ba, dư vị xúc cảm khôn nguôi.</p> <h3>Mở bài 4</h3> <p>Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn I.X Tuốc- ghê- nhép cho rằng: "Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của mình, là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì một người nào khác". Thật vậy, không một nhà văn, nhà thơ nào mà không muốn khắc chạm dấu ấn riêng của mình vào tấm bia của thời gian. Và..(Tác giả)... với sự tài hoa, tài trí và tận tâm với cuộc đời đã đem đến cho độc giả những trải nghiệm thẩm mĩ tuyệt vời thông qua ...(Tác phẩm)... đã để lại trong ta nhiều trăn trở, nghĩ suy.</p> <h3>Mở bài 5</h3> <p>Trong bài thơ “Nghĩ lại về Pau-xtốp-xki” - nhà thơ Bằng Việt từng viết: “Những trang sách suốt đời đi vẫn nhớ. Như đám mây ngũ sắc ngủ trên đầu”. Có những tác phẩm ra đời để rồi lãng quên ngay sau đó, nhưng có những tác phẩm lại như những dòng sông đỏ nặng phù sa in dấu ấn chạm khắc trong tâm khảm. Những tác phẩm ấy đã trở thành “ những bài ca đi cùng năm tháng” và để lại trong tâm hồn bạn đọc những ấn tượng không bao giờ quên. Một trong số đó phải kể tới...</p> <h3>Mở bài 6</h3> <p>“Văn chương có loại đáng thờ và loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương, loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người" .(Nguyễn Văn Siêu). Văn chương muôn đời luôn phải phục vụ con người, hướng con người tới những giá trị cao cả của cuộc sống. Và “ ...(Tác phẩm)...” của ...(Tác giả)... chính là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nền văn học nước nhà.</p> <h3>Mở bài 7</h3> <p>“Nhà văn tồn tại ở bên đời trước hết để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho con người bị cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường. Những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đoạ đày ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời. Nhà văn tồn tại ở trên đời để bên vực cho những con người không có cái để bênh vực”</p> <p>(Nguyễn Minh Châu). Bằng ngòi bút đậm tính nhân đạo cao cả, nhà văn… đã thay cho những số kiếp lầm than lên tiếng bênh vực cho những con người bị xã hội tha hoá, đẩy đến bước đường cùng thông qua tác phẩm mang tên "..."</p> <h3>Mở bài 8</h3> <p>Văn chương là người bạn chân thành, đằm thắm suốt đời đi theo bên con người, là cái thần của ngôn ngữ. Nó được chắp nhặt từ những “giọt rớt, giọt rơi của cung đàn người nghệ sĩ”. Từ những tí tách lắng đọng trong đôi mắt trong vắt tình người và là một nốt lặng giữa cuộc sống đầy xô bồ ngoài kia. Bắt nguồn từ những gì hết sức giản đơn nhưng ít ai biết rằng, để làm nên những áng văn chương chân chính, những truyện ngắn xúc tích và lắng sâu, người nghệ sĩ phải lăn lộn với cuộc đời, chắp nhặt từng hạt bụi quý giữa đất mẹ bao la. Và tác phẩm… của …(Tác giả)… chính là một truyện ngắn như thế.</p> <h3>Mở bài 9</h3> <p>Có ai yêu một loài hoa không sắc không hương? Có ai quyến luyến những vần thơ khô khan không cảm xúc? Văn chương phản ánh hiện thực nhưng nó không phải là một tấm hình khô cứng và vô hồn, mà đó là tiếng lòng thổn thức từ những câu chuyện của cuộc đời - câu chuyện được ngân vang trên ngọn đồi tuyết phủ trắng trời, thấp thoáng những đóa sơn trà e ấp trong làn sương giăng mờ ảo. Chính hiện thực cuộc sống luôn là cảm hứng cho sáng tác văn học, là cội nguồn gọi thức con chữ, là cầu nối tâm hồn đồng điệu của người nghệ sĩ với độc giả. Điều ấy đặc biệt được kết tinh rõ nét, đủ đầy qua ..(Tác phẩm).... của người nghệ sĩ tài hoa .. (Tác giả)...</p> <h3>Mở bài 10</h3> <p>Như con ong hút ngàn vạn nhụy hoa mới tạo thành được một giọt mật. Con trai chịu bao đau đớn ,xót lòng vì “bụi rậm biển khơi” để tạo nên viên ngọc ánh ngời. Sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ cũng là một công việc cực nhọc và vô cùng gian khổ. Một người nghệ nhân điêu khắc không thể cứ nhìn nguyên mẫu rồi mô phỏng lại trên chất liệu mình đã chọn hay họa sĩ cũng không chỉ quan sát đời sống đi rồi tái hiện lại bằng những đường nét màu sắc vô cảm, vô hồn và đặc biệt nhà văn càng không thể chỉ dùng những vốn ngôn ngữ của mình như một trò chơi “du hí” ghi lại những cảnh “mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông,…” mà họ phải là “người thư ký trung thành của thời đại”. Chính vì vậy,...(Tác giả).... Đã đem đến cho chúng ta một cảm nhận thẩm mĩ tuyệt vời thông qua ... (Tác phẩm)...</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Wed, 08 Jul 2026 11:47:29 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Tổng hợp mở bài bằng lí luận văn học hay nhất                                Mở bài hay bằng lí luận văn học</media:title>
                        <media:keywords>Tổng hợp mở bài bằng lí luận văn học hay nhất                                Mở bài hay bằng lí luận văn học</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Tổng hợp các tác giả văn học trung đại Việt Nam]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/cac-tac-pham-van-hoc-trung-dai-a110520.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/cac-tac-pham-van-hoc-trung-dai-a110520.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/cac-tac-pham-van-hoc-trung-dai-a110520.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Văn học trung đại Việt Nam đã trả qua một giai đoạn hình thành và phát triển rất dài. Nó kéo dài gần 10 thế kỉ. Trong khoảng thời gian ấy, lĩnh vực thơ ca Việt Nam đã xuất hiện rất nhiều danh sĩ. Họ vừa là nhà văn, nhà thơ và hoạt động trên triều chính. Nhờ đó, kho tàng văn học của chúng ta thật đồ sộ và được nhiều quốc gia trên thế giới ngưỡng mộ.</p> <p>Ngay bây giờ, các bạn hãy cùng mình tìm hiểu khái quát về tiểu sử, cuộc đời và các tác phẩm tiêu biểu được lưu lại của các <strong>tác giả văn học trung đại Việt Nam</strong> nhé.</p> <p>1. <strong>Đồng Kiên Cương</strong> (7.5.1284 - 3.3.1330): Đạo hiệu là Pháp Loa, thiền sư, nhà thơ, quê châu Nam Sách, lộ Lạng Giang, nay là huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, là ông Tổ thứ hai dòng Thiền Trúc Lâm. Đồng Kiên Cương được nhận định là người có phong thái siêu thoát, ông xứng đáng được gọi là người không lường. Ông biên soạn và chú giải nhiều tác phẩm Phật học như Tham thiền chỉ yếu; Phát nguyện văn; Thượng sĩ ngữ lục; Thạch thất mị ngữ; hiện còn lại hai bài thơ Nhập tục luyến thanh và Thị đệ tử.</p> <p>2. <strong>Nguyễn Miên Trinh</strong> (03.02.1820 - 18.11.1897): Nhà thơ, con thứ 11 của vua Minh Mạng, tước Tuy Lý vương. Miên Trinh không chỉ là nhà trí thức uyên bác mà còn là một người mang tâm hồn phóng khoáng, giản phát, biết sống chân thật, biết đối nhân xử thế…Thơ ông có rất nhiều bài, nhưng có lẽ đặc sắc nhất vẫn là những bài phản ảnh thực trạng xã hội, tuy số lượng không nhiều.Tác phẩm chính: Vỹ Dã hợp tập; Nữ phạm diễn nghĩa từ . Ông cùng Miên Thẩm tổ chức Tùng Vân thi xã.</p> <p>3. <strong>Nguyễn Miên Thẩm</strong> (11.12.1819 - 30.3.1870): Nhà thơ, quê kinh đô Huế, con thứ 10 vua Minh Mạng, tước Tùng Thiện Vương.Ông đến với mọi người đều bằng tấm lòng chân thực, khiêm tốn, phóng khoáng; không hề phân biệt địa vị, tuổi tác hay sang hèn. Tác phẩm: Thương Sơn thi tập; Thương Sơn từ tập; Thương Sơn thi thoại; Thương Sơn văn di; Thương Sơn ngoại tập; Nạp bị văn tập; Học giá chí; Thức cốc thiên; Nam cầm phổ; Lịch đại thi nhân tiểu sử; Nữ phạm diễn nghĩa từ v.v.</p> <p>4. <strong>Trần Anh Tông</strong> (25.10.1276 - 21.4.1320): Tên thật Trần Thuyên, là nhà vua thứ tư của nhà Trần 21 năm (1293-1314) và làm Thái thượng hoàng 6 năm. Trần Anh Tông là vị vua “sáng suốt, thận trọng về hình phạt” và ” tính tình khiêm tốn hòa nhã, hòa mục với người trong họ, mọi việc của triều đình đều tự mình quyết đoán.” Tác phẩm: Thuỷ vân tuỳ bút ngự tập; Hiệu đính công văn cách thức; Pháp sự tân văn; 5 bài thơ chép trong Trần triều thế phả hành trạng; 12 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục; Dược thạch châm.</p> <p>5. <strong>Trí Bảo Thiền Sư</strong> (? - 19.5.1190): Họ Nguyễn, không rõ tên, là cậu ruột danh nhân Tô Hiến Thành, người Ô Diên, đất Vĩnh Khang, nay thuộc huyện Đan Phượng, Hà Nội, ông ngộ đạo, giảng kinh sách cho nhiều đệ tử.Mới đầu chuyên tâm tu hành khổ hạnh nhưng không nắm được giáo lý Thiền học. Về sau nhờ có người dìu dắt, mới giác ngộ, trở thành một nhà lý luận xuất sắc của đạo Thiền, “nói ngang nói dọc như lửa toé trong đá. Tác phẩm còn lại: Bài kệ về tri thức, in trong tập Thiền uyển tập anh ngữ lục</p> <p>6. <strong>Phan Huy Chú</strong> (1782 - 28.5 - 1840): Nhà thơ, nhà sử học Việt Nam.Tác động của dòng dõi tài danh, hiếu học và những quan hệ trí tuệ đã ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần, tính cách của Phan Huy Chú. Phan Huy Chú là một nhà bác học, danh nhân văn hóa Việt Nam, với tài danh lỗi lạc về bách khoa thư. Công trình nổi tiếng nhất của ông là Lịch triều hiến chương loại chí gồm 49 quyển chia làm 10 chí như Dư địa chí, Hình luật chí, Văn học chí…, có thể coi như bộ Bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam. Ngoài ra, ông còn có Hoàng Việt địa dư chí và các tập thơ văn là Hoa thiều ngâm lục; Dương trình kí kiến.</p> <p>7. <strong>Nguyễn Miên Bửu</strong> (30.5.1820 - 08.3.1854): Nhà thơ, con thứ 12 vua Minh Mạng, tước Tương An Quận vương. Cùng với 2 anh Miên Thẩm, Miên Trinh lập Tùng Vân thi xã. Ông nổi tiếng về thơ, rất sở trường về quốc âm, đặt ra điền từ, thường có nhiều bài hay, sánh ngang với Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương. Các tác phẩm chính: Khiêm Trai thi tập (14 quyển); Khiêm Trai văn tập (2 quyển), ông còn viết nhiều thơ Nôm nhưng thất lạc hầu hết.</p> <p>8. <strong>Phan Văn Trị </strong>(1830 - 22.6.1910): Nhà thơ, chí sĩ, quê huyện Bảo An, tỉnh Gia Định, nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Đậu Cử nhân nhưng không chịu ra làm quan, mà mở trường dạy học. Trước khi thực dân Pháp đến, Phan Văn Trị thường vịnh cảnh, vịnh vật để bày tỏ chí hướng, ước muốn giúp đời, cứu dân hoặc để phê phán những người bất tài, hám danh. Đến khi quân Pháp chiếm đóng Nam Kỳ, ông làm thơ yêu nước.Tác phẩm: Thơ tự thuật (Nôm), và còn gần 100 bài thơ khác như Con mèo; Cái cối xay; Hột lúa; Con rận, nổi tiếng với chùm họa lại 10 bài thơ của Tôn Thọ Tường.</p> <p>9. <strong>Hoàng Kế Viêm</strong> (21.7.1820 (Âl.) - 1909): Còn có tên là Hoàng Tá Viêm, tự Nhật Trường, hiệu Tùng An, nhà văn, danh thần triều Nguyễn, quê phủ (nay là huyện) Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Ông làm quan đến chức Thượng thư bộ Công, Thái tử Thiếu bảo sung đại thần viện Cơ mật. Hoàng Kế Viêm bản chất rất bao dung, vốn có tài lâm cơ đoán định, lay chuyển chẳng dời, được xem là một tay đảm đương vậy.. Tác phẩm: Phê thi trần hoàn; Tiên công sự tích biệt lục; Khôn y lục; …..</p> <p>10. <strong>Lý Thái Tông</strong> (29.7.1000 - 1054): Tên thực là Lý Phật Mã, sau đổi là Lý Đức Chính, con Thái Tổ Lý Công Uẩn, nối ngôi 27 năm, miếu hiệu là Thái Tông. Ông là vị hoàng đế sáng suốt, tinh thông Phật học. Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc Tác phẩm còn lại: Hình thư (sử, 3 quyển), một bài kệ chép trong Thiền uyển tập anh ngữ lục.</p> <p>11. <strong>Hưng Đạo Đại Vương</strong> (1226? - 03.9 (20.8 âl).1300): Tên thật là Trần Quốc Tuấn, danh tướng trong lịch sử Việt Nam, nhà văn chính luận với áng Hịch tướng sĩ bất hủ, quê ở phủ Thiên Trường (nay là tỉnh Nam Định. Ông là một tấm lòng tận tụy đối với đất nước, là ý muốn đoàn kết mọi tầng lớp trong dân tộc thành một lực lượng thống nhất, là tinh thần yêu thương dân. Ông cũng là tác giả bộ Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư (đã thất lạc).</p> <p>12. <strong>Trần Minh Tông</strong> (04.9.1300 - 10.3.1357): Nhà thơ, vua thứ 5 nhà Trần, miếu hiệu là Minh Tông, sinh tại Thăng Long, quê phủ Thiên Trường, Nam Định. Ông ở ngôi 15 năm, làm Thái thượng hoàng 28 năm. Vua đem văn minh sửa sang đạo trị nước, làm rạng rỡ công nghiệp của người xưa, giữ lòng trung hậu, lo nghĩ sâu xa, trong yên ngoài phục, kỷ cương đủ bày. Tác phẩm: Minh Tông thi tập, bị thất lạc nhiều, nay chỉ còn lại khoảng 25 bài, được chép trong Việt âm thi tập.</p> <p>13. <strong>Trần Tế Xương</strong> (10.8.1870 - 29.01.1907): Tên khai sinh là Trần Duy Uyên, sau đổi thành Trần Cao Xương, rồi Trần Tế Xương, nhà thơ trào phúng xuất sắc, nổi tiếng với tên gọi Tú Xương, quê ở làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Những sáng tác của ông là sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố hiện thực, trào phúng và trữ tình, trong đó trữ tình là gốc. Với Tú Xương, vẫn chưa thấy chắc chắn có bài thơ chữ Hán nào, chỉ thấy thơ Nôm viết bằng các thể loại cổ điển. Thơ ông in rải rác trên các báo, sau này được tập hợp trong Thơ Trần Tế Xương.</p> <p>14. <strong>Nguyễn Du</strong> (03.01.1766-(1765?) (16?)18.9.1820): Nhà thơ. Năm 1965, ông được UNESCO tôn vinh là Danh nhân Văn hóa thế giới. Qua các tác phẩm của Nguyễn Du, nét nổi bật chính là sự đề cao xúc cảm. Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ của Trung Quốc như: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật, ca, hành,… nên ở thể thơ nào, ông cũng có bài xuất sắc. Tác phẩm chữ Nôm và chữ Hán Truyện Kiều; Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu; Văn tế thập loại chúng sinh; Thanh Hiên thi tập; Bắc hành tạp lục….</p> <p>15. <strong>Trần Thánh Tông</strong> (25.9.1240 - ?.6.1290): Tên thật là Trần Hoảng, Ông sinh ra tại đất Thăng Long - Đại Việt, nay là Hà Nội - Việt Nam. Ông làm vua 21 năm, có công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông. Thơ của Trần Thánh Tông “giàu chất trữ tình, kết hợp nhuần nhị giữa tinh thần tự hào về đất nước, về dân tộc của người chiến thắng, với tình yêu cuộc sống yên vui, thanh bình và phong độ ung dung, phóng khoáng của một người biết tự tin, lạc quan.” Tác phẩm: Cơ cừu lục; Di hậu lục; Hoàng tông ngọc điệp; Trần Thánh - tông thi tập.</p> <p>16. <strong>Chân Không Thiền Sư</strong> (? - 05.10.1100): Tên thật là Vương Hải Thiềm, quê làng Phù Đổng huyện Tiên Du, Bắc Ninh, nay thuộc Hà Nội. Xuất thân trong một gia đình quý tộc, nhưng mồ côi từ thuở nhỏ, nhờ khổ công học tập, nên 15 tuổi đã hiểu nhiều sách vở. Ông làu thông sử sách, nghiên cứu đạo Phật một cách uyên thâm, giảng kinh Pháp hoa trong cung vua Lý Nhân Tông. Tác phẩm còn lại: một bài kệ Diệu bản.</p> <p>17. <strong>Ngô Thì Sĩ</strong> (15.7.1726 - 22.10.1780): Nhà thơ, nhà sử học, tự Thế Lộc, hiệu Ngọ Phong, quê huyện Thanh Oai nay thuộc Thanh Trì, Hà Nội. Ông là cha của Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí, Ngô Thì Trí, Ngô Thì Hương đều là những danh sĩ, nhà thơ, nhà văn. Là một chính khách, một quan chức, nhưng bên cạnh đó, ở Ngô Thì Sĩ còn nổi bật lên một tư chất khác, đó là một tâm hồn nghệ sĩ, một con người đa cảm. Ở ông, mọi rung động đều mãnh liệt, sâu sắc. Ông luôn nhìn thấu tâm tư con người và cảm thông cùng họ, từ những bâng khuâng vì một duyên cớ mơ hồ đến những trăn trở, day dứt về số phận, cuộc sống…Tác phẩm: Việt sử tiêu án; Anh ngôn thi tập; Quan lan thi tập; Thanh động tập; Khuê ai lục; Cách tệ sách…</p> <p>18. <strong>Mạc Thiên Tích</strong>(19.4.1706 - 01.11.1780): Tên của ông là Mạc Thiên Tứ, tự là Sĩ Lân. Ông là một nhà thơ, đại quan thời chúa Nguyễn, tước Tông Đức hầu. Là người học rộng, có tài văn thơ, ông đã lập thi xã Chiêu Anh các. Tác phẩm: Hà Tiên thập vịnh; Thụ Đức hiên tứ cảnh; Hà Tiên quốc âm thập vịnh; Lư Khê nhàn điếu.</p> <p>19. <strong>Lê Hữu Trác </strong>(12.11.1720(*) - 1791): Còn có tên là Lê Hữu Huân, hiệu Hải Thượng Lãn Ông, danh Nho và danh y, quê ở Đường Hào, tỉnh Hải Dương (nay là huyện Yên Mỹ, Hưng Yên), nhưng phần lớn cuộc đời sống ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Ông đã xây dựng được một nền y học dân tộc toàn diện về lý luận, phương pháp điều trị, cách dùng dược vật Việt Nam. Ông để lại nhiều tác phẩm lớn như Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 28 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, được đánh giá là công trình y học xuất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam và các cuốn Lĩnh Nam bản thảo, Thượng kinh kí sự không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học.</p> <p>20. <strong>Đặng Xuân Bảng</strong> (18.7.1828 - 07.12.1910): Nhà văn, dịch giả, nhà sử học, quê phủ Xuân Trường, nay là huyện Xuân Thuỷ, tỉnh Nam Định.Đặng Xuân Bảng có quan niệm nhìn nhận về công nghiệp, thủ công nghiệp, nêu cao vai trò của công nghiệp thủ công, buôn bán là điểm tiến bộ. Ông có khối lượng trước tác khá lớn: về sử học: Sử học di khảo; Việt sử cương mục tiết yếu,… về văn học: Tuyên Quang tỉnh phú; Nam Phương danh vật dị khảo; Như Tuyên thi tập; Thiện Đình Khiêm Trai văn tập…</p> <p>21. <strong>Phạm Qúy Thích</strong> (25.12.1760 - 16.5.1825): Tự Dữ Đạo, hiệu Lập Trai, biệt hiệu Thảo Đường Cư sĩ, nhà thơ, nhà giáo, danh sĩ cuối đời Hậu Lê đầu đời Nguyễn. Quê huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, nay thuộc tỉnh Hải Dương, có làm quan một thời gian, tước Thích An hầu. Thơ của ông thường rất buồn. Thiên nhiên trong thơ thường là những cảnh chiều hôm, đêm tối. Chùa chiền trong thơ ông thường mang những nét tàn tạ…Nhìn chung, khuynh hướng hoài cổ là nét chủ đạo trong toàn bộ sáng tác của Phạm Quý Thích… .Tác phẩm: Thảo Đường thi nguyên tập; Lập Trai văn tập; Thiên Nam long thủ liệt truyện; Chu dịch vấn đáp toát yếu…</p> <p>22. <strong>Chu Văn An</strong> (25.8.1292 - 12.1370): Nhà văn, nhà giáo dục Việt Nam thời Trần. Chu Văn An luôn hướng học trò của mình đến những giá trị nhân văn, lễ nghĩa. Ông truyền đạo Nho gia cho các học trò theo học. Hành đạo theo con đường chân chính, thanh liêm, trái tim không pha màu u tối, đó là những chân lý dạy các trò của mình. Ông nổi tiếng cương trực, tiết tháo, thể hiện rõ nhất trong Thất trảm sớ. Các tác phẩm khác: Tiều ẩn thi tập; Tiều ẩn quốc ngữ thi tập; Tứ thư thuyết ước; Giang đình tác; Nguyệt tịch bộ Tiên Du sơn tùng kính; Thứ vận tặng Thủy Vân đạo nhân; Xuân đán…</p> <p>23. <strong>Đỗ Pháp Thuận</strong> (915 - 990): Thiền sư và nhà thơ, chưa rõ quê quán. Ông có kiến thức uyên bác và tài văn thơ, đã tích cực khuông phò triều Tiền Lê nên được phong Pháp sư. Ðang vào lúc nhà Tiền Lê dựng nghiệp, trù kế hoạch định sách lược, sư tham dự đắc lực. Ðến khi thiên hạ thái bình, sư không nhận phong thưởng. Bài Quốc tộ (Vận nước) của ông là bài thơ sớm nhất mở đầu cho văn học viết Việt Nam thời kì tự chủ. Chiếu dời đô (1010: 1000 năm ra đời): Văn bản chiếu chỉ do vua Lý Thái Tổ tự tay viết và ban hành để chuyển kinh đô của nước Đại Cồ Việt từ Hoa Lư ra thành Đại La (Hà Nội ngày nay). Bài văn 214 chữ nổi tiếng bởi ý nghĩa và tác dụng đặc biệt của nó.</p> <p>24. <strong>Nguyễn Nguyên Ức</strong> (1080 - 07.6.1151): Nhà văn, thiền sư, pháp danh Viên Thông, người hương Cổ Hiền nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, sau chuyển về thành Thăng Long. Ông xuất gia thọ giới với sư Viên Học, rồi trụ trì ở chùa Quốc Ân, nối truyền tâm ấn, đứng hàng thế hệ thứ 18 dòng thiền Nam Phương. Ông là người tài giỏi, được vua nhà Lý phong đến chức Hộ quốc sư. Tương truyền, ông có hơn 1000 bài thơ phú, tập hợp trong Viên Thông thi tập, nhưng hầu hết bị thất truyền.</p> <p>25. <strong>Tín Học Thiền Sư</strong> (? - 1190): Họ Tô, không rõ tên, Tín Học là pháp hiệu, người làng Chu Minh, phủ Thiên Đức; trụ trì chùa Quang Đính trên núi Không Lộ (Sơn Tây), nay thuộc Hà Nội. Tác phẩm còn lại: Bài kệ Sơn lâm hổ báo, chép trong tập Thiền uyển tập anh ngữ lục.</p> <p>26. <strong>Trần Tung</strong> (1230 - 1291): Còn gọi là Tuệ Trung Thượng sĩ, nhà thiền học, nhà thơ, con cả Trần Liễu, anh Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, có công lớn trong cả ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Ông được phong tước Hưng Ninh vương. Do sinh ra trong một gia đình có nhiều nghịch cảnh, sớm được theo học thiền sư Tiêu Dao và lại trực tiếp tham dự vào những thời khắc quyết định vận mệnh đất nước nên ông nhận rõ chân tính cuộc đời và chọn lối sống hòa ái, tự tại. Tư tưởng chính của Tuệ Trung Thượng sĩ thể hiện qua lời đáp dành cho câu hỏi tông chỉ thiền là gì của vua Trần Nhân Tông: “Hãy quay về tự thân mà tìm lấy tông chỉ ấy, không thể đạt được từ ai khác” Thơ ông viết bằng tiếng Hán, được tập hợp lại trong Thượng Sĩ ngữ lục.</p> <p>27. <strong>Lê Văn Hưu</strong> (1230 - 09.4.1322): Sử gia, nhà văn, danh sĩ đời Trần Thái Tông, quê Đông Sơn, trấn Thanh Hoá, nay là huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Ông đỗ Bảng nhãn năm 1247, làm quan đến chức Thượng thư bộ Binh, tước Nhân Uyên hầu. Lê Văn Hưu vừa có tài, vừa có hạnh, làm thầy Chiêu-Minh-Vương, đổi làm Kiểm-Pháp-Quan, sửa sách Việt chí. Văn Hưu là người chép sử giỏi đời Trần, Phu Tiên là bậc cổ lão của thánh triều, đều vâng chiếu biên soạn lịch sử nước nhà, tìm khắp các tài liệu còn sót lại, tập hợp thành sách. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông: Đại Việt sử ký.</p> <p>28. <strong>Phạm Ngũ Lão</strong> (1255 - 1320): Nhà thơ, danh tướng thời Trần, văn võ toàn tài, quê huyện Đường Hào (sau gọi Mỹ Hào), nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Ngay từ thuở nhỏ, cậu bé Ngũ Lão đã tỏ ra khác thường, tính tình khẳng khái. Phạm Ngũ Lão cũng là một trang nam nhi hết lòng vì nước, cả công lao và danh tiếng đều vang xa. Tác phẩm có Thuật hoài (Tỏ lòng, chép trong Toàn Việt thi lục); Khóc Hưng Đạo vương (chép trong Thần tích xã Phù Ủng).</p> <p>29.<strong> Đỗ Khắc Chung</strong> (1247 - 1330): Còn gọi là Trần Khắc Chung, nhà thơ, danh thần đời Trần, quê ở Giáp Sơn, nay là huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, được ban họ vua, làm tới chức Thiếu sư. Sách Đại Việt sử ký toàn thư nhận xét Trần Khắc Chung là người hay tỏ vẻ, làm chuyện khác thường để gây sự chú ý từ các chị em công chúa, hoàng phi. Tác phẩm: 2 bài thơ Vịnh cúc I và II.</p> <p>30.<strong> Đoàn Nhữ Hài </strong>(1280 - 1335): Nhà văn, danh thần đời Trần, quê huyện Trường Tân, nay thuộc huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương, làm quan đến Hành khiển Khu mật viện, khi mất được truy phong Thượng đẳng Phúc thần. Ông là người có năng lực hoạt động về ngoại giao và nội trị, lần lượt nắm giữ các chức vụ Ngự sử trung tán, Tham tri chính sự, Hành khiển, Thiên tử chiêu dụ sứ, Kinh lược Nghệ An. Tác phẩm còn lại: Nghĩ Anh Tông Hoàng đế tạ Thượng hoàng biểu.</p> <p>31. <strong>Nguyễn Trung Ngạn</strong> (1289(1) - 1370): Tự là Bang Trực, hiệu Giới Hiên, làm quan đến chức Đại học sĩ Trụ quốc Khai huyện bá, tước Thân Quốc công…Lúc nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, được đương thời tôn vinh là “thần đồng”. Ông làm quan trải qua 5 triều vua Trần, xuất sắc trên mọi phương diện chính trị, quân sự, ngoại giao, luật pháp, sử học… Tác phẩm: Giới Hiên thi tập; Hình luật thư; Hoàng triều đại điển; Ma nhai kỹ công bi.</p> <p>32.<strong> Trần Nghệ Tông</strong> (1321 - 1394): Tên thật là Trần Phủ, con thứ ba vua Trần Minh Tông, sau loạn Dương Nhật Lễ lên làm vua ba năm rồi nhường ngôi cho em. Nghệ Tông tính trời hòa nhã, giữ lòng kính cẩn, lo sợ. Nhưng uy vũ không đủ để đánh lui giặc ngoài, sáng suốt không đủ để phân biệt lời gièm. Tác phẩm: Bảo hoà điện dư bút; Trần Nghệ Tông thi tập (chép trong Toàn Việt thi tập).</p> <p>33. <strong>Nguyễn Bá Tĩnh</strong> (1330 -?): Pháp hiệu Tuệ Tĩnh, nhà thơ, danh y đời Trần, quê huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Ông đỗ Hoàng giáp nhưng không ra làm quan mà đi tu.Ông được cử đi sứ Trung Quốc, vua Minh phong ông hiệu Đại y thiền sư. Tuệ Tĩnh đã không dừng lại ở vị trí một thầy thuốc chữa bệnh, ông còn tự mình truyền bá phương pháp vệ sinh, tổ chức cơ sở chữa bệnh trong nhà chùa và trong làng xóm. Tuệ Tĩnh xót thương cho số phận của mình và luôn đau đáu nỗi niềm một ngày được quay lại quê hương, thoát khỏi cảnh đất khách quê người thể hiện qua việc ông đã khóc trong lễ nhậm chức của mình tại triều đình nhà Minh và cho tới ngày nay, trên bia mộ của ông vẫn còn dòng chữ “Ai về nước Nam cho tôi về với”. Tác phẩm: Hồng nghĩa giác tư y thư; Nam dược thần hiệu; Thiền tông khoá hư lục.</p> <p>34. <strong>Thái Thuận</strong> (1440 - ?): Tự là Nghĩa Hoà, hiệu Lục Khê, biệt hiệu Lã Đường, quê huyện Siêu Loại, nay là Thuận Thành, Bắc Giang. Ông được Lê Thánh Tông ban cho là Tao Đàn Phó Nguyên soái. Thơ Thái Thuận có phong cách độc đáo, ít khi rơi vào khuôn sáo, thù tạc như thơ ca của nhiều tác giả cùng thời, nhất là những tác giả cung đình. Thơ ông ít có những nét bút hoành tráng, khí phách, tình cảm mạnh mẽ, sắc màu thắm rực như thơ Nguyễn Trãi, cũng ít có giọng khoa trương, tự đắc thường thấy trong thơ Lê Thánh Tông. Thơ ông thanh thoát, bình dị, không màu mè, hoa mỹ, tứ thơ mới mẻ, độc đáo, phóng khoáng giàu chất hiện thực, đậm đà ý vị trữ tình..Tác phẩm: Lã Đường thi cảo (gồm 4 quyển) và còn có 157 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục.</p> <p>35. <strong>Nguyễn Nhân Bồng</strong> (1450 - ?): Còn có tên là Nguyễn Trọng Ý, người huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh, nhà thơ, có chân trong hội Tao Đàn, được Lê Thánh Tông cho đổi quốc tính thành Lê Trọng Ý, làm quan tới chức Lễ bộ Tả thị lang. Theo Toàn Việt thị lục của Lê Qúy Đôn thì ông là người giỏi thơ Nôm. Di tác của Nguyễn Nhân Bồng khá nhiều, nhưng được chép tản mát trong nhiều thư tịch, hiện không thống kê được số lượng và cũng chưa thể tập hợp được hoàn chỉnh. Tác phẩm: Vịnh Tiêu Tương bát cảnh phú (quốc âm); 19 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục.</p> <p>36. <strong>Hoàng Diệu</strong> (10.02.1828 - 08.3.1882): Nhà thơ, nhà chí sĩ yêu nước, tự Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trãi, quê Diên Phước, Quảng Nam; đậu Phó bảng năm 1853, được bổ làm Tri huyện Tuy Phước, Bình Định, sau được thăng Tri phủ Lạng Giang (Bắc Giang), Án sát Nam Định, rồi Bố chính Bắc Ninh. Hoàng Diệu quan tâm ổn định chăm lo đời sống của dân chúng trong công bằng và trật tự. Bên cạnh việc triều chính, ông còn sáng tác thơ. Những tác phẩm của ông độc đáo và mang âm hưởng đặc sắc.Tác phẩm chính: Di biểu (tờ biểu để lại trước lúc chết) còn gọi là Trần tình biểu.</p> <p>37. <strong>Dương Khuê</strong> (1839 - 06.3.1902): Nhà thơ, hiệu Vân Trì, quê Sơn Minh, phủ Ứng Hòa, nay thuộc Hà Nội), đỗ Tiến sĩ năm 1868, làm quan đến chức Thượng thư. Là một viên chức buổi giao thời, đường làm quan không mấy suôn sẻ…, vì thế các sáng tác của ông, chính là một phương tiện giúp ông giải tỏa những bất mãn đối với hiện thực…Tuy có làm thơ chữ Hán, nhưng ông nổi tiếng nhờ những bài ca trù. Với sự tinh luyện về ngôn ngữ và sự hài hòa trong thanh điệu của ông, khiến những bài ấy luôn cuốn hút người nghe. Ông sáng tác nhiều bài thơ chữ Nôm làm lời cho các bài hát ca trù nổi tiếng. Tác phẩm chính: Hồng hồng, Tuyết tuyết; Vân Trì thi thảo; Động Hương Tích; Gặp cô đào cũ; Thăm cô đào ốm; Tặng cô đào Ngọ; Tặng cô đào Cúc; Chơi hát ngẫu hứng; …</p> <p>38. <strong>Phan Huy Ích</strong> (9.01.1751 - 12.3.1822): Nhà văn, tên thật là Phan Công Huệ, tự là Khiêm Thụ Phủ, hiệu Dụ Am, quê làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, nay là huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh; năm 1775 đỗ đồng Tiến sĩ, làm quan đến Thượng thư bộ Lễ. Phan Huy Ích thực sự là người có tài năng không những về chính trị, văn chương và có tâm huyết với thời cuộc. Những chính tích của Phan Huy Ích, nhất là trong công việc ngoại giao là đóng góp quan trọng, là chiến công của ông đối với triều đại Tây Sơn. Ngoài ra, ông còn là nhà trước tác lớn, có công lao đối với nền văn học và văn hóa dân tộc. Ông sáng tác nhiều bằng cả chữ Hán và chữ Nôm. Tác phẩm chính: Dụ Am ngâm lục tập; Dụ Am văn tập; Cúc Đường bách vịnh thi tập; bản dịch Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn.</p> <p>39. <strong>Nguyễn Đình Chiểu</strong> (01.7.1822 - 03.7.1888): Nhà thơ, nhà văn hóa, một nhân cách điển hình yêu nước thương dân. Ông quê Tân Bình, Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh; đỗ Tú tài, mở trường dạy học và bốc thuốc. Ông là nhà thơ có quan niệm văn chương nhất quán. Ông chủ trương dùng văn chương biểu hiện đạo lý và chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa. Nói khác hơn, ông làm thơ là để “chở đạo, sửa đời và dạy người”. Vì vậy, mỗi vần thơ của ông đều ngụ ý khen chê công bằng, rạch ròi, và đều bộc lộ một tấm lòng thương dân yêu nước của ông. Ông thường dùng chữ Nôm, và bằng ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, giàu sức gợi cảm khiến cho tác phẩm của ông có sức thu hút mạnh mẽ người đọc, nhất là đối với nhân dân miền Nam. Tác phẩm chính: Lục Vân Tiên (truyện thơ); Dương Từ - Hà Mậu (truyện thơ); Chạy Tây (1859); Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (văn tế, 1861); Ngư tiều y thuật vấn đáp (truyện thơ); Mười hai bài thơ và bài văn tế Trương Định (1864); Mười bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh (1874); …</p> <p>40. <strong>Phan Chu Trinh</strong> (09.9.1872 - 24.3.1927): Nhà văn, nhà chí sĩ cách mạng, tự Tử Cán, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã, quê Tiên Phước, Quảng Nam. Ông đỗ Phó bảng, được bổ làm thừa biện bộ Lễ, sau từ quan để hoạt động cách mạng, chủ trương đấu tranh ôn hoà; bị bắt và đày ra Côn Đảo rồi đưa sang Pháp; năm 1925 về nước hoạt động và mất ở Sài Gòn. Phan Chu Trinh luôn có ý thức dùng văn chương để làm Cách mạng. Những sáng tác của ông nổi tiếng với áng văn chính luận đầy tính hùng biện, có lập luận đanh thép. Ông còn sáng tác thơ, tất cả đều thấm nhuần tư tưởng yêu nước. Tác phẩm chính: Đầu Pháp chính phủ thư (bản điều trần, 1906)); Tỉnh quốc hồn ca (1907 - 1922); Giai nhân kỳ ngộ diễn ca (1912-1913) Santé thi tập (thơ, 1925); Tây Hồ thi tập (thập thơ); …</p> <p>41. <strong>Nguyễn Trãi</strong> (1380 - 19.9.1442): Nhà văn, nhà chính trị, nhà tư tưởng kiệt xuất, hiệu Ức Trai, quê huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang, nay thuộc tỉnh Hải Dương. Nguyễn Trãi được coi là một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam, tư tưởng của ông là sản phẩm văn hóa Việt Nam thời đại Hậu Lê. Nguyễn Trãi là nhà văn chính luận kiệt xuất, những tác phẩm văn chính luận của ông có luận điểm vững chắc, lập luận chặt chẽ với giọng điệu linh hoạt. Ông còn là nhà thơ trữ tình xuất sắc.Tác phẩm chính: Quân trung từ mệnh tập; Bình Ngô đại cáo; Ức trai thi tập; Dư địa chí; Chí Linh sơn phú; Quốc âm thi tập; … Ức trai thi tập (1480)</p> <p>42. <strong>Ngô Thì Đạo</strong> (1732 - 9.1802): Nhà văn, dòng Ngô Gia văn phái; quê huyện Thanh Oai, nay là huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông từng giữ các chức Đại lý tự thừa, Tri phủ, , Hiến sát phó sứ kiêm ủy phủ sứ Kinh Bắc… Ngô Thì Đạo sáng tác nhiều, nhưng theo con ông là Ngô Thì Du thì các tác phẩm ấy đã “tản mát quá nửa, nay chỉ còn lại một tập bản thảo làm lúc cuối đời”. Tác phẩm của ông được tập hợp thành Hoành từ Hiến sát Văn Túc công di thảo; …</p> <p>43. <strong>Mạc Đĩnh Chi</strong> (1272 - 1386): Nhà văn, nhà thơ, danh sĩ, tự là Tiết Phu; quê huyện Bình Hà, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang (nay thuộc Hải Dương). Ông đỗ trạng nguyên, làm quan đến chức Nhập nội hành khiển, Thượng thư tả bộc xạ kiêm Trung thư, hai lần đi sứ Trung Quốc, được tôn làm “Lưỡng quốc Trạng nguyên”. Trong số các nhân vật nổi tiếng thời xưa, Mạc Đĩnh Chi có lẽ là một người có nhiều giai thoại nhất. được lưu truyền ở đời, đặc biệt là những giai thoại khi ông đi sứ Trung Quốc, trong đó có giai thoại đối đáp văn chương hết sức thú vị. Trong lịch sử văn học Việt Nam, tên tuổi Mạc Đĩnh Chi gắn liền với bài Ngọc tỉnh liên phú. Tác phẩm chính: Ngọc tỉnh liên; Giao tử phú; Quá bành Trạch phỏng Đào Tiềm cựu cư; …</p> <p>44. <strong>Nguyễn Sĩ Cố (</strong>? - 1312): Nhà thơ, danh sĩ; từng giữ chức Học sĩ, An phủ sứ. Ông là người đề xướng dùng chữ Nôm trong thơ văn. Tác phẩm chính: Ông có nhiều thơ Nôm và thơ chữ Hán nhưng bị thất truyền, chỉ còn lại hai bài chép trong Toàn Việt thi lục là Tụng giá Tây chinh yết Tản Viên từ và Tụng giá Tây chinh yết Bạch Hạc giang Uy Hiển Vương từ .Với số lượng thơ ít ỏi như vậy, chưa đủ để hiểu phong cách cùng những đặc điểm nghệ thuật của thơ Nguyễn Sĩ Cố. Song, theo một số nhà nghiên cứu thì đây là hai bài thơ trào phúng ra đời tương đối sớm, và có thể xem ông là người đặt cơ sở cho dòng thi ca trào phúng trong lịch sử văn học viết của Việt Nam.</p> <p>45. <strong>Lê Đức Mao</strong> (1462 - 1529): Nhà thơ, danh sĩ; quê huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, Hà Đông (nay là Hà Nội). Ông học rộng, đỗ tiến sĩ nhưng không ra làm quan, giỏi làm thơ, phú, bài hát. Ông nổi tiếng về tài văn chương. Thơ văn ông nặng phần trào lộng, châm biếm. Với ngôn ngữ sắc bén khiến giới cầm quyền đương thời oán ghét. Tác phẩm của ông hiện chỉ còn Bát giáp thưởng đào văn (Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả đào) bằng chữ Nôm, là bài ca trù cổ nhất còn lại hiện nay.</p> <p>46. <strong>Đào Duy Từ</strong> (1572 - 1634): Nhà thơ, nhà quân sự, đệ nhất khai quốc công thần triều Nguyễn; quê Tĩnh Gia, Thanh Hoá. Ông học rộng nhưng không được đi thi vì xuất thân từ gia đình ca hát, vào Đàng Trong giúp chúa Nguyễn. Thơ Nôm lục bát trong hai bài vấn của Đào Duy Từ tương đối hoàn chỉnh, âm điệu hài hòa, ngôn ngữ bình dị, trong sáng tự nhiên; tuy còn sử dụng khá nhiều từ ngữ, điển cố Hán học. Sáng tác của Đào Duy Từ là những tác phẩm Nôm xuất hiện vào loại sớm ở khu vực Đàng Trong. Ông là một tác giả có đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của văn học tiếng Việt. Tác phẩm chính: Hổ trướng khu cơ; Ngoạ Long cương vãn; Tư Dung vãn.</p> <p>47.<strong> Ngô Thế Vinh</strong> (1802 - 1856): Nhà thơ, nhà giáo, danh sĩ; quê Nam Trực, Nam Định. Ông đỗ tiến sĩ, làm quan đến Lang trung bộ Lễ; do can việc trường thi bị cách chức, về quê mở trường dạy học.Qua những tác phẩm còn lại đến ngày nay, có thể nói ông là bậc tri thức uyên bác về nhiều lãnh vực. Ông có để lại bản dịch bài thơ “Chức cẩm hồi văn” của Tô Huệ (Trung Quốc), (gồm 40 câu thơ thất ngôn = 280 chữ) ra thơ song thất lục bát (cũng 40 câu = 280 chữ) rất hay, đến nay chưa có bản dịch nào vượt lên trên được. Tác phẩm chính: Dương Đình phú lục; Trúc Đường phú tuyển. Hoàng Việt sách tuyển; Luận thực đại lược; Trúc Đường Chu dịch tuỳ bút; Tống sử học; Trúc Đường thi văn khảo; Bái Dương thi tập; Ca trù thể cách; Bái Dương thư tập; Trúc Đường tuỳ bút.</p> <p>48. <strong>Nguyễn Thuật</strong> (1842 - 1911): Nhà thơ, sử gia, tự Hà Đình; quê Lễ Dương, (nay thuộc Thăng Bình), Quảng Nam. Ông đỗ Phó bảng, làm quan đến Hiệp tá đại học sĩ, tước An Trường tử, Thượng thư bộ Binh, sung Cơ mật viện đại thần, Tổng tài Quốc sử quán; được cử làm Phó sứ sang Bắc Kinh. Tác phẩm chính: Mỗi hoài ngâm thi thảo; Hà Đình văn tập; Hà Đình Ứng chế thi sao; Thời chính tạp luận… Ngoài ra ông còn viết chung với một số tác giả về văn học, sử học: Sử quán thư mục; Đại Nam cương giới vựng biên; Đại Nam Quốc sử tàng thư mục; Thi thảo tạp biên; …</p> <p>49. <strong>Trần Thiện Chánh</strong> (1822 - 1874): Nhà thơ, chí sĩ, tự Tử Mẫn, hiệu Trừng Giang; quê Bình Long, Gia Định (nay thuộc Tp Hồ Chí Minh). Ông đỗ Cử nhân, làm quan đến Tán tương quân thứ Sơn Tây, Hồng lô tự thiếu khanh giữ chức Biện lý bộ Binh, Tuần phủ Ninh Bình. Thơ văn của thi sĩ họ Trần, được sách “Một số nhân vật lịch sử đất phương Nam” nhận định là “hầu hết có liên quan đến thời cuộc, thể hiện tấm lòng yêu nước nồng nàn”. Còn “Văn học miền Nam nơi miền đất mới thì ghi”: “thơ văn ông luôn luôn thấm đượm tinh thần chiến đấu chống Pháp đến cùng”.Tác phẩm chính: Trừng Giang thi văn tập; Nam hành thi thảo; Bắc chinh thi thảo, Trần Tử Mẫn công thi tập.</p> <p>50. <strong>Học Lạc</strong> (1842 - 1915): Nhà thơ trào phúng, tên thật là Nguyễn Văn Lạc, hiệu là Sầm Giang; quê Mĩ Chánh, Mĩ Tho (nay là Tiền Giang). Ông nổi tiếng thơ văn, nhưng không đi thi, sống bằng nghề dạy học, bốc thuốc, bói dịch.Ông có tài làm thơ Nôm, xuất khẩu thành thi. Thơ Học Lạc hiện chỉ còn trên mười bài, đa phần là thơ quốc âm luật đường vần trắc. Tác phẩm chính: Ông Làng hát bội; Mĩ Tho tức cảnh; Con tôm; Ngồi trăng; Thuộc Nhiêu tức cảnh; Tức cảnh ban chiều; Tạ hương đảng; Chó chết trôi;…</p> <p>51.<strong> Ngô Giáp Đậu</strong> (1852 - ?): Nhà văn, sử gia, nhà giáo dục, hiệu Tam Thanh, biệt hiệu Sự Sự Trai; quê Tả Thanh Oai, nay thuộc Thanh Trì, Hà Nội. Ông đỗ cử nhân, làm quan từ chức Giáo thụ đến chức Đốc học. Ông sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm. Tác phẩm chính: Hoàng Việt hưng long chí; Trung học Việt sử toát yếu; Hiện Kim Bắc Kì địa dư sử; Đại Nam quốc tuý; ông còn sửa chữa, bổ sung văn bản tập Lĩnh Nam chích quái; Ngô gia thế phả; Trung học Việt sử biên niên toát yếu; …</p> <p>52. <strong>Chu Mạnh Trinh</strong> (1862 - 1905): Nhà thơ, danh sĩ, tự Cán Thần, hiệu Trúc Vân; quê Đông Yên (nay là Khoái Châu), Hưng Yên. Ông đậu tiến sĩ, làm quan đến Án sát. Từ bé đã nổi tiếng thông minh, có tài văn chương. Tác phẩm của Chu Mạnh Trinh giàu tính nhân văn, lãng mạn, tình cảm chủ nghĩa. Những sáng tác của ông lại thể hiện tình cảm yêu nước, đề cao văn hóa dân tộc. Tác phẩm chính: Trúc Văn thi tập; Thanh Tâm Tài Nhân thi tập; Hương Sơn phong cảnh; Hương Sơn hành trình.</p> <p>53. <strong>Bùi Hữu Nghĩa</strong> (1807 - 1872): Còn có tên là Bùi Quang Nghĩa, nhà thơ, hiệu Nghi Chi; quê phủ Vĩnh Định, trấn Vĩnh Thanh (nay thuộc thành phố Cần Thơ). Ông đỗ Giải nguyên, làm quan đến Tri phủ, nhưng bị vu cáo may thoát án tử, từ quan về dạy học, viết thơ văn chống Pháp kịch liệt. Cảm hứng nổi bật trong thơ Bùi Hữu Nghĩa là nỗi niềm chua xót và tấm lòng vàng đá đối với đất nước, sự khao khát được trở lại một thuở thăng bình theo lý tưởng Nho giáo. Ông thường vịnh vật để tỏ thái độ khinh thị bọn người có địa vị trong xã hội đương thời, bất tài và hãnh tiến; vịnh các nhân vật lịch sử để bộc bạch tâm sự bất đắc chí, sinh không gặp thời..Tác phẩm chính: Văn tế vợ, Văn tế con gái; Khóc vợ (thơ); Đi thuyền qua núi Sập (thơ); Quan công thất thủ (thơ); Kim Thạch Kỳ duyên (tuồng);…</p> <p>54. <strong>Nguyễn Văn Siêu </strong>(1799 - 1872): Nhà thơ, danh sĩ, tự Tốn Ban, hiệu Phương Đình; quê Thanh Trì, Hà Nội. Ông đậu Phó bảng, giữ các chức quan Chủ sự bộ Lễ, Phó sứ sang nhà Thanh, Học sĩ Viện tập hiền, Án sát Hà Tĩnh và Hưng Yên, sau từ quan về quê dạy học, viết sách. Tác phẩm chính: Phương Đình dư địa chí; Chư kinh khảo ước; Chư sử khảo thích; Tứ thư bị giảng; Phương Đình tuỳ bút lục; Phương Đình thi loại; Phương Đình văn loại;…</p> <p>55. <strong>Vũ Phạm Khải</strong> (1807 - 1872): Nhà thơ, danh sĩ, tự là Đông Dương, hiệu Ngu Sơn, Dưỡng Trai, Phượng Trì; quê Yên Mô, Ninh Bình. Ông đỗ Cử nhân, từng giữ các chức Lang trung bộ Hình, Tham biện nội các, Toản tu Quốc sử quán, Hàn lâm Trực học sĩ, Bố chính Thái Nguyên, sau xin về quê giúp dân khai khẩn đất hoang.Vũ Phạm Khải là nhà thơ, nhà văn, chủ yếu chiến đấu bằng bút mực. Nhưng mỗi khi cần, lại tự nguyện gác bút nghiên xông ra chiến trận, dù đôi khi không thuộc trách nhiệm được giao. Tác phẩm chính: Ngu Sơn toàn tập; Lịch đại chính hình thông khảo; Đông Dương văn tập; Trần Lê ngoại truyện; Phượng Trì văn tập; Thực lục tiền biên;…</p> <p>56. <strong>Phạm Phú Thứ</strong> (1821 - 1882): Nhà thơ, danh sĩ, tên thật là Phạm Hào, tự là Giáo Chi, hiệu Trúc Đường, biệt hiệu Trúc Ân, Giá Viên; quê Diên Phước, Quảng Nam. Ông đỗ đồng tiến sĩ, từng làm Tổng đốc, Thương chính đại thần, Khởi cư chú, Thượng thư bộ Hộ, Phó sứ trong phái bộ sang Pháp. Ông là người Việt Nam đầu tiên cho in sách về khoa học kĩ thuật, kiến nghị triều canh tân đất nước. Nói về thơ của Phạm Phú Thứ, trong Từ điển bách khoa toàn thư có đoạn: “Một số bài thơ trong “Giá Viên thi tập” bộc lộ cảm xúc của người chưa quên mình “vốn là học trò nghèo ở thôn quê”, chia sẻ nỗi vui buồn với ngư dân, nông dân trong cuộc sống hằng ngày của họ”. Tác phẩm chính: Tây Phù thi thảo; Giá Viên biệt lục (còn gọi Tây hành nhật kí); Trúc Đường thi văn tập; Bác vật tân biên; Hàng hải kim châm;…</p> <p>57. <strong>Nguyễn Thiếp</strong> (24.9.1723 - 6.2.1804): Nhà văn, nhà giáo và là danh sĩ cuối đời Hậu Lê và Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam, tên húy là Minh, tự là Quang Thiếp. Ngoài ra, ông còn có rất nhiều tên tự hay tên hiệu, hoặc do ông tự đặt, hoặc do người đương thời xưng tặng, chẳng hạn như: Khải Xuyên (có sách chép là Khải Chuyên), Hạnh Am, Điên ẩn, Cuồng ẩn, Lạp Phong cư sĩ, Hầu Lục Niên, Lam Hồng dị nhân, Lục Niên tiên sinh, La Giang phu tử, … Nguyễn Huệ (tức vua Quang Trung) gọi ông là La Sơn phu tử, là La Sơn tiên sinh. Tác phẩm: La Sơn tiên sinh thi tập, Hạnh Am di văn. Đọc Hạnh Am thi thảo, bên cạnh những bài ca ngợi thú ẩn dật, vẫn thấy tấm lòng của ông gắn bó với đời, với quê hương, và than thở cho cảnh suy vi của thế thái nhân tình… Nhìn chung, thơ ông giản dị, mộc mạc, được Phan Huy Chú khen là “thơ đều tao nhã thanh thoát, lý thú thung dung, thực là lời nói của người có đức, các tao nhân ngâm khách (khác) không thể sánh được” (Văn tịch chí).</p> <p>58. <strong>Sương Nguyệt Anh </strong>(8.3.1864 - 20.1.1921): Tên thật là Nguyễn Thị Khuê, tự là Nguyệt Anh, nhà thơ, quê ở Ba Tri, Bến Tre, là con gái tác gia Nguyễn Đình Chiểu. Ngoài bút danh Sương Nguyệt Anh, bà còn ký nhiều bút hiệu khác như: Xuân Khuê, Nguyệt Nga, Nguyệt Anh… Sương Nguyệt Anh sáng tác nhiều, nhưng không gom thành tập. Nay chỉ còn tản mác một số bài thơ, như: Đoan Ngọ nhật điếu Khuất Nguyên, Tức sự , Chinh Phụ thi, Thưởng bạch Mai, Vịnh ni cô, vua Thành Thái vào Nam, cảm tác khi lính Việt đi Âu chiến…Và vài bài vè, như: Vè tiểu yêu, Vè Thầy Hỷ, Vè đánh đề…Nhắc đến Sương Nguyệt Anh, người ta còn thấy lại nơi bà một tấm gương hoạt động cho phái nữ lưu; người ta không quên một cây bút rắn rỏi đã từng nêu trên tờ Nữ giới chung nhiều vấn đề lý thú về phận sự đàn bà đối với gia đình và xã hội. Trong buổi giao thời, phụ nữ nước nhà vừa ra khỏi khuê môn để tiếp xúc với văn hóa Âu Tây, bà Sương Nguyệt Anh rất xứng đáng là nữ sĩ tiền phong trên đất Việt</p> <p>59. <strong>Lê Qúi Đôn </strong>(2.8.1726 - 2.4.1784): Nhà văn, nhà khảo cứu thời kì trung đại Việt Nam, tự Duẫn Hậu, tên thuở nhỏ là Lê Danh Phương, hiệu Quế Đường; là quan thời Lê trung hưng, quê ở làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam; nay thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông là con trai cả của ông Lê Phú Thứ (sau đổi là Lê Trọng Thứ), đỗ Tiến sĩ năm Bảo Thái thứ 2 (Giáp Thìn, 1721), và làm quan trải đến chức Hình bộ Thượng thư, tước Nghĩa Phái hầu. Ông là người đã biên tập, trước thuật rất nhiều sách, đến nay đã thất lạc khá nhiều. Tác phẩm chính: Dịch kinh phu thuyết (Lời bàn nông nổi về Kinh Dịch), Thư kinh diễn nghĩa (Giảng nghĩa Kinh Thư), Quần thư khảo biện (Xét bàn các sách), Thánh mô hiền phạm lục (Chép về mẫu mực của các bậc thánh hiền), Vân Đài loại ngữ (Lời nói, chia ra từng loại, ở nơi đọc sách), Toàn Việt thi lục (Chép đủ thơ nước Việt), Quế Đường thi tập (Tập thơ của Quế Đường), …</p> <p>60. <strong>Nguyễn Thông </strong>(22.6.1827 - 27.8.1884): Tự Hi Phần, hiệu Kì Xuyên, biệt hiệu Độn Am, nhà thơ, danh sĩ Việt Nam nửa đầu thế kỷ 19, quê ở phủ Tân An, tỉnh Gia Định (nay thuộc xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An). Thi đỗ cử nhân, từng làm quan ở An Giang, khi thực dân Pháp xâm lược, ông xin cầm quân về Nam, sau này Nam Kì lục tỉnh bị mất, ông ra làm quan ở Quảng Ngãi, vận động nhân dân làm thủy lợi, trồng cấy, làm được nhiều việc có ích cho dân. Thơ văn Nguyễn Thông là tấm lòng ưu ái đối với những người xấu số, sự quan tâm đến nghề làm ruộng và gắn bó với đời sống của nông dân. Ông ca ngợi và xót thương những người hy sinh trong cuộc chiến đấu chống Pháp. Nổi bật và bao trùm là tấm lòng yêu mến quê hương mà ông phải lìa bỏ vì không chịu sống trên đất kẻ thù đã chiếm đóng…Tác phẩm chính: Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Vâng mệnh san định, xem xét cương mục lịch sử nước Việt), Kì Xuyên thi sao (Tập chép thơ của Kì Xuyên), Kì Xuyên vǎn sao (Tập chép văn của Kì Xuyên)…</p> <p>61. <strong>Ngô Thì Hương</strong> (17.10.1774 - 1.1.1821): Còn có tên là Vị, tự Thành Phủ, hiệu Ước Trai, nhà văn Việt Nam cuối thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 19, quê ở huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội). Ngô Thì Hương không viết nhiều, nhưng những bài viết về gia đình, về bản thân; hoặc ghi chép về người thực, việc thực…đều là những tác phẩm giàu cảm xúc, có nhiều tư liệu quý. Quyển Mai dịch thú dư là tập thơ thể hiện rõ phong cách của ông. Về nghệ thuật, ông có cách viết nhẹ nhàng nhưng dí dỏm, sâu sắc. Đó là nét ít gặp trong thơ chữ Hán. Tác phẩm chính: Mai dịch thú dư (Cỗ xe sứ trạm, kí sự), Thù phụng toàn tập (Toàn tập xướng họa, thơ), Thành Phủ công di thảo (Bản thảo để lại của ông Thành Phủ, do hậu nhân sưu tập).</p> <p>62. <strong>Ngô Thì Nhậm</strong>, còn gọi là Ngô Thời Nhiệm (25/10/1746 - 1803), tự là Hy Doãn, hiệu là Đạt Hiên, về Phật học lại có đạo hiệu là Hải Lượng, là danh sĩ, nhà văn đời hậu Lê và Tây Sơn, người có công lớn trong việc giúp triều Tây Sơn đánh lui quân Thanh. Tác phẩm nổi bật: Doãn thi văn tập (văn, thơ), Yên đài thu vịnh (thơ),…</p> <p>63. <strong>Ngô Thì Chí </strong>(1753 - 1788) là nhà văn Việt Nam ở thế kỷ 18 thời Lê trung hưng.Ngô Thì Chí tên chữ là Học Tốn, hiệu là Uyên Mật, là người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay là thuộc huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội)..Tác phẩm của Ngô Thì Chí có:Học Phi thi tập, Học Phi văn tập, Quốc sử tiệp lục , Hào thiên khoa sớ và 7 hồi đầu của quyển Hoàng Lê nhất thống chí.</p> <p>64. <strong>Lí Thái Tông</strong> (29.7.1000 - 1054): Tên thực là Lí Phật Mã, sau đổi là Lí Đức Chính, con Thái Tổ Lí Công Uẩn, nối ngôi 27 năm, miếu hiệu là Thái Tông. Ông là vị hoàng đế sáng suốt, tinh thông Phật học. Tác phẩm còn lại: Hình thư (sử, 3 quyển), một bài kệ chép trong Thiền uyển tập anh ngữ lục.</p> <p>65.<strong> Lí Đạo Tái</strong> (1254 - 1334): Tức thiền sư Huyền Quang, người hương Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang. Nay là làng Thái Bảo, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Học giỏi, đỗ cả thi hương, thi hội. Tác phẩm chính: Ngọc Tiên tập (tập thơ Ngọc Tiên), Chư phẩm kinh (Kinh các phẩm), Công văn tập (Tập công văn dùng trong nhà chùa), …</p> <p>66. <strong>Trương Hán Siêu </strong>(? - 1354): Danh sĩ thời Trần, tên tự là Thăng Phủ, hiệu Đôn Tẩu, quê ở làng Phúc Am, huyện Yên Ninh, lộ Trường Yên (nay là phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình), là môn khách của Trần Quốc Tuấn, tính tình cương nghị, học vấn uyên thâm. Tác phẩm của ông hiện chỉ còn bài Bạch Đằng giang phú, được đánh giá là một áng thiên cổ hùng văn trong lịch sử văn học yêu nước Việt Nam, một áng văn chứa chan niềm tự hào dân tộc, có ý nghĩa tổng kết lại chiến thắng Bạch Đằng thời bấy giờ.</p> <p>67. <strong>Lí Tử Tấn</strong> (1378 - 1454): Nhà thơ Việt Nam thời Lê sơ, hiệu là Chuyết Am quê ở làng Triều Đông (sau đổi là Triều Liệt), huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Tân Minh huyện Thường Tín, Hà Nội). Nhìn chung, không gian thơ của Lý Tử Tấn là một không gian nhẹ nhàng, trong tĩnh. Cái không gian như vậy chỉ có thể thấy trong thế giới tinh thần tĩnh tại Á Đông xưa. Tuy nhiên, ông vẫn là một nhà nho (ra làm quan) nhập thế, luôn làm tròn chức trách của mình, nhưng không hề bị công danh làm lụy. Tác phẩm chính: Chuyết Am thi tập (Tập thơ của Chuyết Am) nhưng hiện chỉ còn 5 bài phú chép trong Quần hiền phú tập do Hoàng Tụy Phu (1414-?) sưu tập, và 73 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn (1726-1784).</p> <p>68. <strong>Nguyễn Kiều</strong> (1694 - 1771): hiệu là Hạo Hiên, nhà thơ Việt Nam, quê ở làng Phú Xá, huyện Từ Liêm (nay là huyện Từ Liêm, Hà Nội). Đỗ Tiến sĩ năm 1715 và làm quan triều Lê, nổi tiếng hay chữ. Năm 1742, lấy nữ sĩ Đoàn Thị Điểm làm vợ kế; cùng năm, đi sứ Thanh. Năm 1748, được bổ chức đốc đồng Nghệ An, trên đường đưa gia đình đi theo, Đoàn Thị Điểm cảm nặng rồi mất. Tác phẩm chính: Hạo Hiên thi tập (Tập thơ của Hạo Hiên).</p> <p>69. <strong>Nguyễn Hành</strong> (1771 - 1824): Tên thật là Nguyễn Đạm, tự là Tử Kính, hiệu Nam Thúc, biệt hiệu Ngọ Nam và Nhật Nam, nhà thơ Việt Nam được người đương thời liệt vào An Nam ngũ tuyệt. Là con của Nguyễn Điều, là cháu nội Nguyễn Nghiễm, và gọi Nguyễn Du là chú ruột. Là người giỏi thơ văn, theo tư tưởng truyền thống, bất hợp tác với nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn. Về sáng tác ông có để lại 2 tập thơ chữ Hán: Quan Đông hải (Xem biển Đông), Minh quyên thi tập (Tập thơ chim quyên kêu).</p> <p>70. <strong>Trương Quốc Dụng</strong> (1797 - 1864): Nhà văn, danh sĩ thời Nguyễn, là người có công chấn hưng lịch pháp Việt Nam, tự là Dĩ Hành, quê tại làng Phong Phú; nay là xã Thạch Khê, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Tác phẩm chính: Trương Nhu Trung thi tập (Tập thơ Trương Nhu Trung), Thoái thực ký văn (Ghi chép những điều nghe được lúc lui về dùng cơm), Chiếu biểu luận thức (Bàn về cách thức của chiếu, biểu), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục (Kính vâng san định sử Việt đại cương và chi tiết làm tấm gương soi suốt cổ kim), …</p> <p>71. <strong>Trần Thiện Chánh </strong>(1822 - 1874): Nhà thơ, chí sĩ, tự Tử Mẫn, hiệu Trừng Giang; quê Bình Long, Gia Định (nay thuộc Tp Hồ Chí Minh). Ông đỗ Cử nhân, làm quan đến Tán tương quân thứ Sơn Tây, Hồng lô tự thiếu khanh giữ chức Biện lý bộ Binh, Tuần phủ Ninh Bình. Tác phẩm chính: Trừng Giang thi văn tập; Nam hành thi thảo; Bắc chinh thi thảo, Trần Tử Mẫn công thi tập.</p> <p>72. <strong>Bà Huyện Thanh Quan</strong>(1805-1848), tên thật là Nguyễn Thị Hinh; là người phường Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận, gần Hồ Tây (nay là phường Quảng An, quận Tây Hồ), Hà Nội[2]. Cha bà là Nguyễn Lý (1755-1837), đỗ thủ khoa năm 1783, đời vua Lê Hiển Tông.Dưới thời vua Minh Mạng, bà được mời vào kinh giữ chức Cung Trung Giáo Tập để dạy học cho các công chúa và cung phi. Bà Huyện Thanh Quan sáng tác không nhiều, hầu hết viết bằng chữ Nôm, theo thể Đường luật, nhưng rất uyên bác như: Thăng Long thành hoài cổ, Qua chùa Trấn Bắc, Qua Đèo Ngang, Chiều hôm nhớ nhà</p> <p>73. <strong>Hồ Xuân Hương </strong>(1772 - 1822) nữ nhà thơ nổi tiếng thời trung đại Việt Nam, thi sĩ Xuân Diệu đã mạo muội tôn Hồ Xuân Hương làm Bà chúa thơ Nôm. Các tác phẩm của bà được đánh giá là “thanh thanh tục tục”, hàm ý sâu xa. Thơ Hồ Xuân Hương luôn được trình bày theo phong cách thất ngôn bát cú hoặc thất ngôn tứ tuyệt, bút pháp được nhận định là điêu luyện nhưng phần chữ Nôm nhiều phần đặc sắc hơn chữ Hán. Ý tưởng trong thơ cũng rất táo bạo, dù là điều cấm kị đối với lễ giáo đương thời Tác phẩm: Lưu Hương ký, Xuân Hương thi tập.</p> <p>74. <strong>Nguyễn Khuyến</strong> (1835 - 1909), tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu là Quế Sơn, tự Miễu Chi, sinh tại quê ngoại làng Văn Khế, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Hà Nam nay là huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.Trong bộ phận thơ Nôm, Nguyễn Khuyến vừa là nhà thơ trào phúng vừa là nhà thơ trữ tình, nhuỗm đậm tư tưởng Lão Trang và triết lý Đông Phương. Thơ chữ Hán của ông hầu hết là thơ trữ tình. Có thể nói cả trên hai lĩnh vực, Nguyễn Khuyến đều thành công. Các tác phẩm gồm có Quế Sơn thi tập, Yên Đổ thi tập, Bách Liêu thi văn tập, Cẩm Ngữ,… cùng nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế, câu đối truyền miệng.</p> <p>75. <strong>Cao Bá Quát</strong> (1809 - 1855), hiệu Mẫn Hiên, Chu Thần. Cao Bá Quát là nhà thơ lớn nhất trong khuynh hướng phê phán hiện thực của văn học nửa đầu thế kỷ XIX. Ðóng góp của thơ văn Cao Bá Quát trước hết là ở nội dung, cái hơn người của ông là nội dung tư tưởng, là lòng dũng cảm, là sự sáng suốt cả về chính trị lẫn văn hóa. Tác phẩm: Cao Bá Quát thi tập, Cao Chu Thần di thảo, Cao Chu Thần thi tập, Mẫn Hiên thi tập.</p> <p>76. <strong>Đoàn Thị Điểm</strong> (1705-1749), hiệu: Hồng Hà Nữ Sĩ, là nữ sĩ Việt Nam thời Lê trung hưng. Bà là tác giả tập Truyền kỳ tân phả (chữ Hán), và tác giả của truyện thơ Chinh phụ ngâm (bản chữ Nôm- 412 câu thơ)- được bà dịch từ nguyên bản Chinh phụ ngâm khúc (viết bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn).</p> <p>77. <strong>Phạm Thái</strong> (1777-1813), còn gọi Phạm Đan Phượng, Phạm Phượng Sinh, hiệu Chiêu Lì (hoặc Chiêu Lỳ); là một danh sĩ ở cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19 trong lịch sử Việt Nam. Tác phẩm: Chiến tụng Tây hồ phú, Sơ kính tân trang, Văn tế Trương Quỳnh.</p> <p>78. <strong>Phạm Đình Hổ</strong> (1768 - 1839), tự Tùng Niên, Bỉnh Trực, bút hiệu Đông Dã Tiều, biệt hiệu Chiêu Hổ tiên sinh, là một danh sĩ sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX. Nhờ đọc nhiều, đi nhiều, ông đã để lại nhiều công trình khảo cứu, biên soạn có giá trị thuộc đủ mọi lĩnh vực như luận lý, lịch sử, địa dư, trước thuật…</p> <p>79. <strong>Nguyễn Quang Bích</strong> (07.5.1832 - 05.01.1890): Còn có tên là Ngô Quang Bích, hiệu Ngư Phong, nhà thơ và là lãnh tụ cuộc kháng chiến chống Pháp tại vùng Tây Bắc, quê Kiến Xương, Nam Định, nay thuộc tỉnh Thái Bình. Ông đỗ Đình nguyên, làm quan đến Tuần phủ Hưng Hoá, tổ chức nghĩa quân chống Pháp trong 10 năm gây nhiều tổn thất cho địch. Tác phẩm chính: Ngư phong thi tập (Tập thơ Ngư Phong, 1884 - 1889); ông là người được vua giao duyệt bộ sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục; …</p> <p><strong>Lời kết</strong>: Các bạn vừa được tham khảo khái quát về những tác giả tiêu biểu của văn học trung đại. Hi vọng các bạn sẽ nắm bắt được tiểu sử và một số tác phẩm của các tác giả nổi tiếng trên.</p> <p><strong>Tổng hợp</strong></p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Wed, 08 Jul 2026 05:47:43 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Tổng hợp các tác giả văn học trung đại Việt Nam</media:title>
                        <media:keywords>Tổng hợp các tác giả văn học trung đại Việt Nam</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[(8 mẫu) Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về thân phận người phụ nữ xưa]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/than-phan-nguoi-phu-nu-trong-xa-hoi-phong-kien-a110516.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/than-phan-nguoi-phu-nu-trong-xa-hoi-phong-kien-a110516.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/than-phan-nguoi-phu-nu-trong-xa-hoi-phong-kien-a110516.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>Hình tượng người phụ nữ xưa nay đã được nhắc đến nhiều trong các tác phẩm văn học về vẻ đẹp công dung ngôn hạnh, luôn là người có đức hi sinh, một lòng vì chồng, theo chồng. </strong>Trong bài viết này Hoatieu xin chia sẻ một số mẫu đoạn văn trình bày suy nghĩ về thân phận người phụ nữ xưa hay và chi tiết để bạn đọc có cái nhìn rõ hơn về hình ảnh người phụ nữ trong thời kỳ phong kiến.</p> <ul> <li>Top 6 bài đóng vai anh thanh niên kể lại truyện Lặng lẽ Sa Pa</li> <li>2 mẫu đóng vai bé Đản kể lại Chuyện người con gái Nam Xương hay chọn lọc</li> </ul> <p>Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến đã được nhiều nhà thơ, nhà văn nhắc đến trong các tác phẩm văn học nổi tiếng như Chuyện người con gái Nam Xương, Truyện Kiều của Nguyễn Du hay trong các tác phẩm thơ của Hồ Xuân Hương. Mặc dù sống trong xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công nhưng họ vẫn giữ được vẻ đẹp son sắt của người phụ nữ Việt Nam với đầy đủ công dung ngôn hạnh. Dưới đây là tổng hợp những đoạn văn ngắn suy nghĩ về thân phận người phụ nữ xưa, đoạn văn cảm nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến hay và chi tiết giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.</p> <h2>Viết đoạn văn ngắn cảm nhận của em về người phụ nữ thời phong kiến</h2> <p>Thân phận người phụ nữ xưa đã được ghi lại trong rất nhiều tác phẩm thơ văn. Thông qua các tác phẩm ta có thể cảm nhận được những đắng cay tủi hờn mà người phụ nữ đã phải trải qua. Hồ Xuân Hương đã mượn hình ảnh bảy nổi ba chìm của chiếc bánh trôi nước để tự thán về số phận lận đận của mình nói riêng và những người phụ nữ trong xã hội phong kiến nói chung. Có thể nói, lễ giáo phong kiến như một sợi dây vô hình trói chặt cuộc đời của những người phụ nữ với những nỗi niềm chua xót mà họ chỉ biết nhẫn nhịn chịu đựng. Hay như cuộc đời của nàng Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương, một người vợ vừa đẹp người lại đẹp nết nhưng chỉ vì những ghen tuông vô cớ của người chồng mà nàng đã phải dùng chính mạng sống của mình để minh oan. Qua đó, ta thấy được số phận của những người phụ nữ trong xã hội xưa thật nhỏ bé, họ không có vị thế cũng như không có tiếng nói trong cuộc sống nhưng vẫn luôn giữ được phẩm hạnh của mình. Chính vì thế mà em càng cảm thấy trân trọng cuộc sống của mình ngày hôm nay và may mắn khi được sống và học tập trong một xã hội văn minh, công bằng và bình đẳng.</p> <h2>Đoạn văn ngắn trình bày cảm nhận về thân phận phụ nữ xưa</h2> <p>Có thể nói rằng người phụ nữ khi sinh ra được xem như một bông hoa thơm ngát tỏa hương cho đời. Thế nhưng những người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa lại không được nâng niu trân trọng. Cuộc sống của họ luôn bị bó hẹp trong những quy định khắt khe về lễ nghi gia giáo. Đã có rất nhiều nhà văn, nhà thơ bày tỏ sự đồng cảm xót thương cho những thân phận liễu yếu đào tơ trong xã hội cũ như Nguyễn Du, Nguyễn Dữ... Nhà thơ Nguyễn Du đã phải thốt lên:</p> <p>“Đau đớn thay phận đàn bà</p> <p>Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”</p> <p>Hai câu thơ thể hiện sự ai oán, xót xa, nó là sự căm hận phẫn uất của người phụ nữ trong xã hội cũ nhưng người con gái hồng nhan bạc mệnh, như nàng Tiểu Thanh, Vương Thúy Kiều, Đạm Tiên… Hay như nàng Vũ Nương công dung ngôn hạn thùy mị nết na nhưng lại bị chồng hắt hỉu ruồng bỏ dẫn đến cái chết oan ức. Chẳng vì thế mà Nguyễn Dữ đã tượng tượng ra sự hồi sinh của nàng để đền đáp lại cái hiện thực ngiệt ngã của thân phận những người phụ nữ xưa. Có thể nói, những người phụ nữ sống trong xã hội cũ tuy bị chà đạp về tinh thần cũng như thể xác nhưng ở họ vẫn luôn tồn tại những đức tính vô cùng tốt đẹp cũng như vượt lên số phận để tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình.</p> <h2>Viết đoạn văn ngắn cảm nhận của em về người phụ nữ thời phong kiến</h2> <p>Phụ nữ là những bông hoa đẹp. Ở trong xã hội hiện đại, phụ nữ luôn được yêu thương trân trọng và được tự do thể hiện bản lĩnh của mình. Nhưng mấy ai biết được cùng là thân phận người phụ nữ nhưng những người phụ nữ sống trong xã hội phong kiến lại phải chịu đựng những tủi nhục, bất công, chà đạp. Những lễ giáo phong kiến đã trói chặt con người họ cùng với những hủ tục của xã hội phong kiến. Trong bộ phim Đèn lồng đỏ treo cao của đạo diễn Trương Nghệ Mưu, ta có thể thấy những số phận nghiệt ngã của những người phụ nữ trong gia đình. Họ giống như những món hàng, chỉ biết phục tùng mà đánh mất đi chính bản thân mình. Những quy củ của gia đình phong kiến khiến họ sống mà như là không sống. Chỉ đơn giản là tồn tại. Ta có thể thấy những bi kịch của cuộc đời người phụ nữ trong giai đoạn cũ phải chịu đựng trăm sự đè nén, hành hạ cả về thể xác và tinh thần bởi những người đàn ông ích kỷ được trao quyền giữ tiếng nói quyết định trong cả gia đình. Và thật may mắn, xã hội ngày nay đã tạo mọi điều kiện để phụ nữ thể hiện mình và hơn hết họ còn được xã hội tôn vinh qua các ngày lễ dành riêng cho phái nữ. Chúng ta hãy dần loại bỏ những lễ giáo hà khắc, cổ hủ trong thơ xưa và thay thế nó bằng những khúc ca vui ngợi ca về người phụ nữ.</p> <h2>Viết đoạn văn về số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến qua nhân vật Vũ Nương</h2> <p>Phụ nữ là hình ảnh biểu trưng cho cái đẹp, sự dịu dàng nết na thùy mị. Thế nhưng, những người con gái đẹp ấy vẫn phải chịu nhiều bất công, đau khổ, chà đạp trong cái xã hội phong kiến. Điều này ta có thể cảm nhận rất rõ thông qua nhân vật nàng Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của nguyễn Dữ. Vũ Nương là một người con gái đẹp người đẹp nết, những người con gái như nàng đáng lẽ phải được hưởng một cuộc sống hạnh phúc. Chỉ vì những bất công, hủ tục của xã hội phong kiến đã đẩy cuộc đời nàng vào một tấn bi kịch. Những người phụ nữ ấy nết na, đức hạnh như bị đối xử bất công, vô nhân đạo không có quyền sống hạnh phúc, không được che chở, bảo vệ số phận vô cùng mỏng manh, yếu ớt. Có lẽ vì thế mà truyện đã in sâu đậm vào trái tim người đọc, khiến ta mãi day dứt, xót xa, trào dâng niềm thương cảm nghẹn ngào.Họ là nạn nhân của xã hội phong kiến với nhiều định kiến hẹp hòi, bất công với người phụ nữ. Vũ Nương phải tìm đến cái chết để giải mọi nỗi oan ức. Như vậy Vũ Nương là những người phụ nữ phong kiến vừa đẹp người lại đẹp nết. Trong hoàn cảnh phong kiến khắc nghiệt, số phận có bi đát nhưng không làm mờ đi vẻ đẹp của họ.</p> <h2>Đoạn văn suy nghĩ về thân phận người phụ nữ xưa</h2> <p>Người phụ nữ ngày xưa xuất hiện trong văn học thường là những người phụ nữ đẹp. Từ vẻ đẹp ngoại hình cho đến tính cách. Đều là đẹp nhưng mỗi người lại mang một vẻ đẹp khác nhau, mỗi thân phận có một đặc điểm ngoại hình riêng biệt.Trong tác phẩm ” Bánh trôi nước” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, hiện lên hình ảnh người con gái “vừa trắng lại vừa tròn”, một người mang vẻ bề ngoài đầy đặn, tròn trịa. Đó là vẻ đẹp tự nhiên, dân dã, không chăm chút mà mộc mạc, tự nhiên nhưng không kém phần duyên dáng với làn da trắng mịn màng. Đấy chính là vẻ đẹp của người con gái lao động hay lam hay làm, đầy mạnh mẽ chốn thôn quê. Những người phụ nữ đẹp là thế, vậy mà đáng tiếc thay họ lại sống trong một xả hội phong kiến thối nát với bộ máy quan lại mục ruỗng, chế độ trọng nam khinh nữ vùi dập số phận họ. Càng xinh đẹp họ lại càng đau khổ, lại càng phải chịu nhiều sự chén ép, bất công. Như một quy luật khắc nghiệt của thời bấy giờ “hồng nhan bạc phận”. Đớn đau thay số phận của nàng Vũ Nương! Chỉ vì muốn con vui, muốn bớt buồn,giải khuây khi sống cô đơn vò võ nuôi con nên nàng đã lấy cái bóng, nói với con đó là cha. Nhưng nàng đâu thể ngờ, chính điều này đã gây ra cho nàng bao nỗi bất hạnh, tủi nhục, bị chồng nghi oan mà phải trầm mình xuống sông tự vẫn! Với nàng, để minh oan, không còn cách nào khác nữa. Nàng đã cùng đường mất rồi! Giá như cái xã hội này có một chút công bằng, để cho lời nói của người phụ nữ có giá trị thì chắc chuyện đáng tiếc này đã không xảy ra. Nàng không phải chịu uất ức, không phải lấy nước sông để rửa trôi nỗi nhơ nhục mà chồng nàng áp đặt. Vâng, số phận người phụ nữ thời xưa phải chịu bao nhiêu oan khuất, bất hạnh. Bị vu oan, bị nghi ngờ mà không thể giãi bày, không thể minh oan cho bản thân. Số phận của họ ở thế bị động, phải phụ thuộc vào người khác - những gã đàn ông chỉ lấy phụ nữ làm thứ mua vui, tiêu khiển. Em rất vui khi được sống trong thời đại mà vị trí của người phụ nữ đã được đề cao, tôn vinh. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam hiện diện ở nhiều vị trí trong cuộc đời và đã để lại nhiều hình ảnh bóng sắc trong văn thơ hiện đại.</p> <h2>Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về thân phận người phụ nữ xưa - mẫu 1</h2> <p>Thân phận người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến là một đề tài được rất nhiều nhà thơ, nhà văn lựa chọn làm đề tài sáng tác của mình. Qua các tác phẩm ấy, trước mắt chúng ta hiện lên hình ảnh những con người với vẻ ngoài xinh đẹp, cũng như nhân cách cao đẹp, thế nhưng số phận lại bị phụ thuộc vào rất nhiều người khác. Sự bó buộc của xã hội phong kiến, sự tàn ác của những thế lực đen tối đã khiến cho cuộc đời của họ đầy những chông gai, sóng gió. Nhưng dù khó khăn đến đâu, ở họ vẫn luôn ánh lên một vẻ đẹp của nhân cách, của tình yêu thương, của niềm lạc quan, niềm tin vào cuộc sống.</p> <h2>Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về thân phận người phụ nữ xưa - mẫu 2</h2> <p>Đất nước Việt Nam — đất nước của những câu hát ru ngọt ngào, đất nước của cánh cò trắng bay, đất nước của bàn tay mẹ tảo tần quà bao năm tháng… và từ trong cái nguồn mạch dạt dào ấy, người phụ là đề tài chưa bao giờ vơi cạn trong nguồn cầm hứng của người nghệ sĩ, qua nhiều thời đại khác nhau. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam hiện diện ở nhiều vị trí trong cuộc đời và đã để lại nhiều hình ảnh bóng sắc trong văn thơ hiện đại. Nhưng thật đáng tiếc thay, trong xã hội phong kiến, người phụ nữ lại phải chịu một số phận đầy bị kịch và đáng thương. "Phận đàn bà” trong xã hội phong kiến cũ đau đớn, bạc mệnh, tủi nhục không kể xiết. Lễ giáo phong kiến khắt khe như sợi dây oan nghiệt trói chặt người phụ nữ. người phụ nữ trong xã hội suy tàn ngày ấy luôn tìm đến cái chết để bảo vệ nhân phẩm của mình. Đó là những đau khổ mà người phụ nữ trong thời đại phong kiến. Họ đẹp, đẹp cả về ngoại hình và nhân cách. Thế nhưng cuộc sống của họ không do họ làm chủ, phải sống kiếp sống lênh đênh, trôi dạt, không định trước được tương lai của mình. Tuy nhiên, họ vẫn vượt lên nhưng đau đớn, tủi nhục ấy, để kiếm tìm hạnh phúc cho mình.</p> <h2>Đoạn văn nêu cảm nhận của em về số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến</h2> <p>Trong xã hội phong kiến, người phụ nữ luôn bị coi nhẹ, rẻ rúng, họ không được quyền quyết định trong mọi lĩnh vực cuộc sống. Tư tưởng "trọng nam khinh nữ" đã chà đạp lên quyền sống của họ, đàn ông được coi trọng, được quyền "năm thê bảy thiếp", được nắm quyền hành trong xã hội, trong khi đó phụ nữ chỉ là những cái bóng mờ nhạt, không được coi trọng. Họ phải làm lụng, vất vả cung phụng chồng con, một nắng hai sương mà cuộc đời thì tăm tối. Thân phận họ cũng chỉ là vật giữa chợ đời bao người mua. Thân phận họ bé nhỏ và đáng thương quá đỗi. Người phụ nữ trong sự bủa vây của truyền thống, tập tục, quan niệm phong kiến bao đời hà khắc, đến hạnh phúc của mình cũng không được quyền quyết định cuộc đời của chính mình. Bao khát khao bị kìm hãm, hạnh phúc lứa đôi bị rào cản phong tục đè nén. Họ có quyền được sống, được tự do yêu đương, nhưng xã hội đã chà đạp lên quyền của họ, chỉ cho họ một cuộc đời lầm lũi, chua cay. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào đi nữa thì vẻ đẹp của người phụ nữ cũng không bị vùi lấp. Tất cả những vẻ đẹp từ hình thức đến tâm hồn của họ thì luôn luôn đáng ca ngợi, đáng trân trọng và nâng niu.</p> <p><strong>Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Tài liệu của HoaTieu.vn.</strong></p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Wed, 08 Jul 2026 04:20:36 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">(8 mẫu) Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về thân phận người phụ nữ xưa</media:title>
                        <media:keywords>(8 mẫu) Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về thân phận người phụ nữ xưa</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[(...) Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mị]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phan-tich-nhan-vat-mi-trong-dem-mua-dong-a110505.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phan-tich-nhan-vat-mi-trong-dem-mua-dong-a110505.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phan-tich-nhan-vat-mi-trong-dem-mua-dong-a110505.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>(...) Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mị cũng đến chết héo. Mỗi đêm, Mị đã dậy thổi lửa, hơ tay, hơ lưng, không biết bao nhiêu lần...</p> <p>Lúc ấy đã khuya. Trong nhà đã ngủ yên, thì Mị trở dậy thổi lửa. Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại. Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi...Người kia việc gì mà phải chết thế. A Phủ... Mị phảng phất nghĩ như vậy.</p> <p>Đám than đã vạc hẳn lửa. Mị không thổi, cũng không đứng lên. Mị nhớ lại đời mình, Mị lại tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị đã cởi trói cho nó, Mị liền phải trói thay vào đấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ ... </p> <p>Lúc ấy trong nhà đã tối như bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại...Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tinh. Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chi thì thào được một tiếng “Đi ngay…”, rồi Mị nghẹn lại. A Phủ bỗng khuỷu chân xuống, không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay,</p> <p>A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy.</p> <p>Mị đứng lặng trong bóng tối.</p> <p>Rồi Mị cũng vụt chạy ra, trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc, Mị nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:</p> <p>- A Phủ cho tôi đi.</p> <p>A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói:</p> <p>- Ở đây thì chết mất.</p> <p>A Phủ chợt hiểu.</p> <p>Người đàn bà chê chồng đó vừa cứu sống mình.</p> <p>A Phủ nói: “Đi với tôi”. Và hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi (...)</p> <p>(Trích Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài, Ngữ văn 12 tập Hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2021, tr.13-14)</p> <p>Phân tích nhân vật Mị trong đoạn trích trên; liên hệ với hình ảnh Mị trong đêm tình mùa xuân để chỉ ra bước tiến trong nhận thức và hành động của nhân vật khi muốn giải thoát chính mình.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Tue, 07 Jul 2026 19:33:37 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">(...) Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mị</media:title>
                        <media:keywords>(...) Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mị</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Soạn bài Nhớ rừng SGK Ngữ văn 9 tập 2 Chân trời sáng tạo]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/soan-van-nho-rung-a110502.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/soan-van-nho-rung-a110502.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/soan-van-nho-rung-a110502.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>Suy ngẫm và phản hồi 2</strong></p> <p><strong>Trả lời Câu hỏi 2 Suy ngẫm và phản hồi trang 122 SGK Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo</strong></p><p>Phân tích tâm trạng của con hổ trong đoạn 1, 2 và trả lời các câu hỏi:</p> <p>a. Cuộc sống trong “những ngày xưa” ở chốn đại ngàn và cuộc sống hiện tại trong vườn bách thú của con hổ có những điểm gì khác biệt; sự khác biệt đó được thể hiện bằng hình thức nghệ thuật như thế nào?</p> <p>b. Qua nỗi “nhớ rừng”, con hổ đã bày tỏ niềm yêu quý và khinh ghét những gì?</p><p><strong>Phương pháp giải:</strong></p><p>Đọc kĩ văn bản để phân tích tâm trạng của con hổ.</p><p><strong>Lời giải chi tiết:</strong></p><p><strong>Cách 1</strong></p> <p>a. </p> <p>* Cuộc sống trong “những ngày xưa” ở chốn đại ngàn:</p> <p>- Tự do, oai hùng:</p> <p>"Chúa tể muôn loài"</p> <p>"Hống hách những ngày xưa"</p> <p>"Vùng vẫy"</p> <p>"Dõng dạc, đường hoàng"</p> <p>"Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng"</p> <p>- Khoáng đạt, hùng vĩ:</p> <p>"Cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già"</p> <p>"Tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi"</p> <p>"Với khi thét khúc trường ca dữ dội"</p> <p>- Bí ẩn, hoang vu:</p> <p>"Hang tối"</p> <p>"Mắt thần khi đã quắc"</p> <p>* Cuộc sống hiện tại trong vườn bách thú:</p> <p>- Tù túng, ảm đạm:</p> <p>"Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt"</p> <p>"Nằm dài, trông ngày tháng dần qua"</p> <p>"Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi"</p> <p>"Với cặp báo chuồng bên vô tư lự"</p> <p>- Giả tạo, tầm thường:</p> <p>"Kẻ thù không phải với ta"</p> <p>"Lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ"</p> <p>"Cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối"</p> <p>"Dải nước đen giả suối"</p> <p>* Sự khác biệt được thể hiện bằng hình thức nghệ thuật:</p> <p>- Đối lập:</p> <p>Tự do &gt;&lt; tù túng</p> <p>Oai hùng &gt;&lt; ảm đạm</p> <p>Khoáng đạt &gt;&lt; giả tạo</p> <p>- Hình ảnh thơ: Hình ảnh hùng vĩ, dữ dội &gt;&lt; hình ảnh tầm thường, giả dối</p> <p>- Giọng điệu: U uất, phẫn uất vs. chán nản, mỉa mai.</p> <p>b.</p> <p>- Qua nỗi “nhớ rừng”, con hổ đã bày tỏ niềm yêu quý, trân trọng cuộc sống tự do, oai hùng về núi rừng.</p> <p>- Còn khinh ghét sự tầm thường, giả dối trong cuộc sống hiện tại.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Tue, 07 Jul 2026 18:45:31 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Soạn bài Nhớ rừng SGK Ngữ văn 9 tập 2 Chân trời sáng tạo</media:title>
                        <media:keywords>Soạn bài Nhớ rừng SGK Ngữ văn 9 tập 2 Chân trời sáng tạo</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Ngày hội thơ Đường luật toàn quốc lần thứ XVIII]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/tho-duong-luat-a110497.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/tho-duong-luat-a110497.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/tho-duong-luat-a110497.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tho-duong-luat-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Thơ Đường luật, dù không phải nguồn gốc từ nước ta, nhưng khi truyền vào Việt Nam đã được Việt hóa sâu sắc, trở thành một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của dân tộc. Qua hàng trăm năm, thể thơ này không chỉ phản ánh tâm hồn, cốt cách người Việt mà còn góp phần gìn giữ những giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Hội thơ Đường luật Việt Nam hiện có 82 Chi hội trong cả nước với gần 3.000 hội viên. Từ khi thành lập đến nay, Hội đã phát huy vai trò quy tụ, thúc đẩy các hoạt động sáng tác thể thơ Đường luật trên phạm vi toàn quốc.</p><p>Ninh Bình - vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nơi hội tụ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa đặc sắc cũng là quê hương của nhiều nhà thơ nổi tiếng, tiêu biểu như: Trương Hán Siêu, Vũ Duy Thanh, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Nguyễn Bính… Trong bối cảnh mở rộng không gian phát triển sau sáp nhập, bên cạnh việc bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp của ông cha để lại, tỉnh luôn trân trọng và tạo điều kiện cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật phát triển. Ngày hội thơ Đường luật toàn quốc được tổ chức tại Ninh Bình là dịp để các thi hữu gặp gỡ, giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm sáng tác, đồng thời tôn vinh những đóng góp của các nhà thơ đối với sự phát triển của nền văn học nghệ thuật nước nhà, là một hoạt động văn hóa có ý nghĩa sâu sắc, góp phần lan tỏa tình yêu thơ ca và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Việc đăng cai tổ chức Ngày hội thơ Đường luật toàn quốc là cơ hội để tỉnh Ninh Bình quảng bá hình ảnh quê hương, con người tới bạn bè trong cả nước.</p><p>Ngày Hội thơ Đường luật cũng là một hoạt động thiết thực nhằm cụ thể hóa tinh thần của Nghị quyết số 80 về phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới, với mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát huy vai trò của văn học nghệ thuật trong việc bồi đắp tâm hồn, nhân cách con người Việt Nam, đồng thời khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.</p><figure><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tho-duong-luat-1.jpg" alt="Ngày hội thơ Đường luật toàn quốc lần thứ XVIII" /><figcaption>Các nhà thơ nhận Bằng vinh danh của Hội thơ Đường luật Việt Nam.</figcaption></figure><p>Cũng tại ngày hội, Ban tổ chức đã tặng Bằng vinh danh cho 22 nhà thơ sáng tác trên 1.000 bài thơ trở lên; 7 nhà thơ 95 tuổi trở lên vẫn tích cực tham gia sáng tác; 2 nhà thơ trẻ tuổi có nhiều đóng góp cho sáng tác và phong trào, 01 Hội cơ sở có nhiều tác phẩm tham gia Tập thơ Đường luật Việt Nam tập 21…</p><p>Cũng tại buổi lễ, Ban tổ chức đã giới thiệu 2 tập thơ mới xuất bản: “Thơ Đường luật Việt Nam” tập 21; tập thơ “Nam Định mãi sáng danh”.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Tue, 07 Jul 2026 18:01:44 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tho-duong-luat-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tho-duong-luat-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Ngày hội thơ Đường luật toàn quốc lần thứ XVIII</media:title>
                        <media:keywords>Ngày hội thơ Đường luật toàn quốc lần thứ XVIII</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Viết một đoạn văn ngắn nêu cảm nhận của em về nhân vật ông Hai trong văn bản Làng]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/cam-nhan-cua-em-ve-nv-ong-hai-a110495.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/cam-nhan-cua-em-ve-nv-ong-hai-a110495.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/cam-nhan-cua-em-ve-nv-ong-hai-a110495.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p> Mỗi người trong chúng ta đều có một nơi chôn rau cắt rốn và ai cũng có quyền được tự hào về hai tiếng quê hương. Ông Hai trong tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân cũng vậy. Ông yêu quí và tự hào về làng Chợ Dầu và hay khoe về nó một cách nhiệt tình, hào hứng. Ở nơi tản cư ông luôn nhớ về làng, theo dõi tin tức kháng chiến và hỏi thăm về Chợ Dầu. Tình yêu làng của ông càng được bộc lộ một cách sâu sắc và cảm động trong hoàn cảnh thử thách, đó là tin làng chợ Dầu lập tề theo giặc. Tình huống gay gắt đó đã bộc lộ chiều sâu tình cảm của nhân vật. Trái tim ông như đau đớn, “cổ ông như nghẹn đắng hẳn lại, da mặt tê rân rân” khi phải đón nhận tin đó. Về đến nhà ông chán chường, nhìn đàn con mà nước mắt ông giàn giụa, ông nghĩ về tương lai của những đứa trẻ khi chúng có quê hương là làng Việt gian. Phải là một người yêu quê, gắn bó với ngôi làng ấy sâu sắc, ông mới cảm nhận được nỗi đau đang giằng xé trong tâm hồn mình. Ông căm thù những kẻ theo Tây, phản bội làng. Tình thế của ông càng trở nên bế tắc, tuyệt vọng khi bà chủ nhà có ý đuổi gia đình ông với lý do không chứa người của làng Việt gian. Trong lúc tưởng tuyệt đường sinh sống ấy,ông thoáng có ý nghĩ quay về làng nhưng rồi lại gạt phắt ngay bởi “về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ là “cam chịu quay trở lại làm nô lệ cho thằng Tây”.Tình yêu làng lúc này đã lớn rộng thành tình yêu nước bởi dẫu tình yêu, niềm tin và tự hào về làng Dầu có bị lung lay nhưng niềm tin và Cụ Hồ và cuộc kháng chiến không hề phai nhạt. Rồi khi tin làng chợ Dầu theo giặc được cải chính, ông sung sướng như được sống lại, ông mặc quần áo chỉnh tề và đi báo tin khắp nơi. Tình yêu làng trong ông được sống dậy, niềm tự hào khiến ông vui như một đứa trẻ. Bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc, tinh tế, ngôn ngữ đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm đa dạng, Kim Lân đã miêu tả tâm trạng của ông Hai với những cung bậc cảm xúc chân thực. Qua đó, giúp ta thêm yêu và trân quý vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.</p><p><strong>Nguồn: Sưu tầm</strong></p><p><strong>Loigiaihay.com</strong></p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Tue, 07 Jul 2026 17:53:27 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Viết một đoạn văn ngắn nêu cảm nhận của em về nhân vật ông Hai trong văn bản Làng</media:title>
                        <media:keywords>Viết một đoạn văn ngắn nêu cảm nhận của em về nhân vật ông Hai trong văn bản Làng</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[5+ Dàn ý bài thơ Ánh trăng (hay, ngắn gọn)]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phan-tich-tho-anh-trang-a110479.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phan-tich-tho-anh-trang-a110479.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phan-tich-tho-anh-trang-a110479.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Dàn ý bài thơ Ánh trăng hay nhất, ngắn gọn được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn viết bài văn hay hơn.</p> <h2>5+ Dàn ý bài thơ Ánh trăng (hay, ngắn gọn)</h2> <p><b>Đề bài</b>: Lập dàn ý Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy.</p> <p>Bài giảng: <b>Ánh trăng - Cô Nguyễn Dung (Giáo viên VietJack)</b></p> <h3><strong>Dàn ý bài thơ Ánh trăng</strong></h3> <p><b>Dàn ý bài thơ Ánh trăng - mẫu 1</b></p> <h3>I. Mở bài</h3> <p>- Giới thiệu tác giả Nguyễn Duy và bài Ánh trăng, nêu khái quát về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm</p> <p>- Trích dẫn nhận định của Nguyễn Bùi Vợi</p> <h3>II. Thân bài</h3> <p><b>1. Khái quát chung</b></p> <p>- Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác của bài thơ</p> <p> + Bài thơ viết về thiên nhiên- một trong những chủ đề quen thuộc của thơ ca nói chung</p> <p> + Bài thơ mượn đề tài thiên nhiên để nói tới suy ngẫm, chiêm nghiệm của nhà thơ và con người, cuộc đời</p> <p><b>2. Phân tích bài thơ và chứng minh nhận định</b></p> <p>Bài thơ viết về hình ảnh ánh trăng gắn với cuộc đời</p> <p>- Hình ảnh ánh trăng xuất hiện trong nhan đề bài thơ cho biết đề tài, chủ đề mà bài thơ muốn thể hiện</p> <p>- Ánh trăng trở thành hình ảnh trung tâm của bài thơ</p> <p> + Vầng trăng gắn bó sâu đậm với con người từ thời thơ ấu, trải qua khó khăn gian khổ trong chiến đấu</p> <p><i>Hồi nhỏ sống với đồng</i></p> <p><i>Với sông rồi với bể</i></p> <p><i>Hồi chiến tranh ở rừng</i></p> <p><i>Vầng trăng thành tri kỉ</i></p> <p> + Cấu trúc lặp và biện pháp liệt kê “đồng, sông, bể, rừng” theo trình tự không gian hẹp tới rộng, từ quê hương tới đất nước đã trở thành nhân chứng, thức tỉnh con người</p> <p>→ Trải qua khổ cực, cuộc sống bình dị, hồn nhiên, tình cảm của con người và vầng trăng bền chặt “nghĩa tình”</p> <p>- Trăng là người bạn đồng hành, đồng cam cộng khổ, trăng hiện diện như hình ảnh của quá khứ tình nghĩa</p> <p>- Vầng trăng được nhân hóa trở thành “tri kỉ” có tâm trạng, cảm xúc, sự thủy chung sâu sắc</p> <p> “Vầng trăng thành tri kỉ”</p> <p>- Sự thay đổi trong mối quan hệ giữa nhà thơ và vầng trăng</p> <p> + Tác giả tạo ra sự đối lập giữa con người quá khứ và con người hiện tại, giữa sự thiếu thốn trong quá khứ với sự “hiện đại” đầy đủ của thực tại</p> <p>- Từ đó, diễn tả sự thay đổi về mặt tình cảm của con người: con người lãng quên vầng trăng, quên quá khứ, nên vầng trăng tình nghĩa giờ chỉ “như người dưng qua đường”</p> <p> + Con người trong sự đủ đầy vật chất và tiện nghi dễ dàng quên đi gian khổ, đau thương từ quá khứ</p> <p>- Khổ thơ thứ 4 tạo nên bước ngoặt làm chuyển hướng mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình</p> <p> + Hoàn cảnh được đẩy đến bước ngoặt khi tình huống bất ngờ xảy đến:</p> <p><i>Thình lình đèn điện tắt</i></p> <p><i>Phòng buyn đinh tối om</i></p> <p>Đây là tình huống quen thuộc, rất thực, tình huống tạo nên tính bước ngoặt để tác giả bộc lộ và thể hiện chủ đề tác phẩm</p> <p> + Sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, giữa “ phòng tối om” &gt;&lt; “vầng trăng tròn”</p> <p> + Người và trăng đối mặt thì tình xưa nghĩa cũ dâng lên, dường như “vầng trăng tròn vành vạnh” vẫn luôn chung thủy đứng chờ</p> <p> + Trăng xuất hiện đột ngột có sức rung động mạnh mẽ thức tỉnh lương tâm con người</p> <p>→ khổ thơ quan trọng tạo nên tính bước ngoặt cho bài thơ cũng là hồi chuông làm thức tỉnh tình nghĩa, lương tâm của con người</p> <p>- Hình tượng vầng trăng và dòng cảm xúc của tác giả</p> <p>Sự xúc động mãnh liệt của nhân vật trữ tình “ ngửa mặt lên nhìn mặt/ có cái gì rưng rưng/ như là đồng là bể/ như là sông là rừng”</p> <p>- Chủ thể trữ tình lặng lẽ đối diện với vầng trăng trong tư thế im lặng cũng chính là quá khứ đối diện với hiện tại, sự thủy chung tình nghĩa đối diện với sự bạc bẽo vô tình</p> <p> + Đối diện với vầng trăng tình nghĩa, con người dường như thức tình được sự thiện lương: nhìn sâu vào bản thân để thấy lỗi lầm, sự thay đổi của mình</p> <p> + Cuộc gặp gỡ không lời giúp con người tự soi chiếu vào chính mình</p> <p>- Khổ thơ cuối thể hiện những suy ngẫm sâu sắc mang tính triết lý của tác giả</p> <p> + “trăng cứ tròn vạnh vạnh” biểu trưng cho sự chung thủy, nghĩa tình, trọn vẹn của thiên nhiên và quá khứ dù con người có thay đổi, vô tình</p> <p> + Ánh trăng được nhân hóa “im phăng phắc” không trách cứ, oán hờn thể hiện sự bao dung, độ lượng của con người nghĩa tình</p> <p> + Sự im lặng khiến nhân vật trữ tình “giật mình” đây là sự thức tỉnh lương tâm rất đáng trân trọng</p> <p> + Câu thơ cuối cùng là sự âm hận, nỗi niềm tâm sự trở nên ám ảnh, day dứt</p> <p>→ Sự cảnh tỉnh, nhắc nhở con người nhớ về quá khứ, về những điều ân tình thủy chung</p> <h3>III. Kết bài</h3> <p>Nguyễn Duy khai thác hình tượng nghệ thuật ánh trăng hết sức độc đáo. Ánh trăng mang lại câu chuyện về lẽ sống ân tình, chung thủy</p> <p>Bài thơ Ánh trăng cũng gợi lên trong lòng chúng ta nhiều suy ngẫm về cách sống, cách làm người, lối sống ân tình ở đời qua những câu thơ thấm thía, sâu nặng</p> <p><b>Dàn ý bài thơ Ánh trăng - mẫu 2</b></p> <p><b>1, Mở bài</b></p> <p> - Giới thiệu tác giả, tác phẩm:</p> <p> + Nguyễn Duy là một trong những nhà thơ trẻ thời kháng chiến chống Mỹ. Sau 1975, những sáng tác của ông càng trở nên sâu sắc, đa nghĩa, thể hiện sự đa diện của cuộc sống.</p> <p> + Bài thơ nói tới hình ảnh quen thuộc trong thi ca, nhưng với một hơi thở hiện đại, mang nhiều suy tư, ý nghĩa ánh trăng trở nên khác biệt. </p> <p><b>2, Thân bài</b></p> <p><i>a, Con người trong quá khứ hòa mình với thiên nhiên, vầng trăng là tri kỉ</i></p> <p> - Kí ức tuổi trẻ sống chan hòa với thiên nhiên, sống chân chất giản dị:</p> <p> + Lúc còn nhỏ: “sống với đồng”, “với sông”, “với bể”. </p> <p> + Trong thời chiến tranh: ở rừng, cuộc sống khó khăn thiếu thốn, tuy vất vả nhưng vẫn đầy nét thơ mộng vì có trăng làm tri kỷ.</p> <p>⇒ thiên nhiên nuôi dưỡng tâm hồn con người trở nên thơ ngây, trong trẻo: “trần trụi”, “hồn nhiên” không đắn đo suy nghĩ, không toan tính thiệt hơn. Trong khó khăn con người sống đùm bọc nhau, che chở cho nhau như rừng như núi che chở cho quân dân khỏi kẻ thù.</p> <p> + Hình ảnh trăng lúc đó là vầng trăng “tình nghĩa”, vầng trăng bầu bạn, vầng trăng hi vọng: theo chân con người trong những buổi hành quân, soi sáng con đường những đêm tối, đem lại cảm giác bình yên, an ủi như người thân.</p> <p><i>b, Con người ở hiện tại lãng quên quá khứ</i></p> <p> - Hoàn cảnh hiện tại: ở thành phố đầy đủ tiện nghi với “ánh điện cửa gương”, nhà cao tầng.</p> <p> - Vị trí của trăng hiện tại: “Như người dưng qua đường”, trở nên nhỏ bé, xa lạ.</p> <p>⇒ Thủ pháp nghệ thuật đối lập giữa hai khổ thơ đầu với khổ thơ thứ ba tạo sự khác biệt, thay đổi một cách chớp nhoáng của hoàn cảnh sống, của lòng người.</p> <p><i>c, Sự đối diện giữa trăng và người</i></p> <p> - Hoàn cảnh: mất điện, sự tiện nghi của cuộc sống hiện đại đột ngột biến mất, quay trở về thuở quá khứ khó khăn, tăm tối ⇒ nhân vật mở cửa sổ và thấy vầng trăng tròn, tỏa sáng.</p> <p>⇒ Tác giả sử dụng một loạt tính từ, động từ mạnh: thình lình, tối om, vội, bật tung, đột ngột. </p> <p> - Sự đối diện giữa nhân vật với vầng trăng như đối diện với chính mình, với quá khứ: </p> <p> + Tư thế đối mặt: Ngửa mặt lên nhìn mặt</p> <p> + Vầng trăng gợi lại những kỉ niệm trong quá khứ: đồng, bể, sông, rừng - mỗi địa điểm gắn với đường đời của nhân vật đều có ánh trăng làm bạn.</p> <p> + Cảm xúc: trăng là hiện thân của tất cả những gì đã qua trong quá khứ, là tuổi thơ, là chiến tranh gian khổ nhưng hào hùng, là sự hi sinh xương máu nhưng đánh đổi lấy cuộc sống hiện tại tự do, đủ đầy. Nhân vật đã lãng quên tất cả, mải mê hưởng thụ cuộc sống mới, đến khi nhìn lại thì như đánh mất một phần bản thân mình, xúc động và hối hận.</p> <p><i>d, Sự nhắc nhở, thức tỉnh con người không được quên giá trị truyền thống, không được quay lưng với quá khứ</i></p> <p> - Sự bất biến của quá khứ, của giá trị truyền thống: Trăng vẫn luôn “tròn vành vạnh”, là vầng trăng của sự bao dung, tha thứ (“kể chi người vô tình”). Trăng không biết nói, cũng như quá khứ không biết trách móc kẻ vô tình: “kể chi”.</p> <p> - Sự giật mình thức tỉnh của nhân vật: không ai trách móc anh ta, nhưng tự bản thân anh đã nhận ra sai lầm của mình khi lãng quên quá khứ, bao gồm cả những gì tốt đẹp, trong trẻo lẫn khó khăn, mất mát.</p> <p> - Liên hệ so sánh với câu nói nổi tiếng của nhà thơ Gamzatov: “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác”</p> <p><b>3, Kết bài</b></p> <p>Khái quát giá trị bài thơ:</p> <p> - Bài thơ cho thấy những ý nghĩa khác của hình ảnh vầng trăng: vầng trăng còn mang ý nghĩa như một chứng nhân lịch sử, chứng kiến cuộc sống của con người trong quá khứ.</p> <p> - Bài thơ giàu tính triết luận, răn dạy con người không được lãng quên quá khứ, ghi nhớ nó với lòng biết ơn và lấy nó làm động lực phấn đấu cho tương lai.</p> <h3><strong>Phân tích bài thơ Ánh trăng - mẫu 1</strong></h3> <p>Nguyễn Duy thuộc thế hệ làm thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Vừa mới xuất hiện, Nguyễn Duy đã nổi tiếng với bài thơ “Tre Việt Nam". Bài "Hơi ấm ổ rơm" của anh đã từng đoạt giải thưởng báo Văn Nghệ. Hiện nay. Nguyễn Duy vẫn tiếp tục sáng tác. Anh viết đều và khỏe. "Ánh trăng" là một trong những bài thơ của anh được nhiều người ưa thích bởi tình cảm chân thành, sâu sắc, tứ thơ bất ngờ mới lạ. </p><p>Hai khổ thơ đầu tác giả nhắc đến những kỉ niệm đẹp: </p><p> "Hồi nhỏ sống với đồng </p><p> với sông rồi với bể </p><p> hồi chiến tranh ở rừng </p><p> vầng trăng lị thành tri kỉ." </p><p>Trăng gắn bó với tác giả ngay từ thời thơ ấu. Trăng gắn với đồng ruộng, dòng sông, biển cả. Dù ở đâu, đi đâu trăng cũng ở bên cạnh. Nhưng phải đến khi ở rừng nghĩa là lúc tác giả sống trên tuyến đường Trường Sơn xa gia đình, quê hương vầng trăng mới thành “tri kỉ". Trăng với tác giả là đôi bạn không thể thiếu nhau. Trăng chia ngọt sẻ bùi, trăng đồng cam cộng khổ. </p><p>Tác giả khái quát vẻ đẹp của trăng, khẳng định tình cảm yêu thương, quý trọng của mình đối với trăng: </p><p> “Trần trụi với thiên nhiên </p><p> hồn nhiên như cây cỏ </p><p> ngỡ không bao giờ quên </p><p> cái vầng trăng tình nghĩa.” </p><p>Trăng có vẻ đẹp vô cùng bình dị, một vẻ đẹp không cần trang sức, đẹp một cách vô tư, hồn nhiên. Trăng tượng trưng vẻ đẹp thiên nhiên nên trăng hóa vào thiên nhiên, hòa vào cây cỏ. “Vầng trăng tình nghĩa" bởi trăng từng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ, bởi trăng là người bạn, tri âm, tri kỉ như tác giả đã nói ở trên. Ấy thế mà có những thời gian tác giả tự thú là mình đã lãng quên cái “vầng trăng tình nghĩa" ấy: </p><p> “Từ hồi về thành phố </p><p> quen ánh điện, cửa gương </p><p> vầng trăng đi qua ngõ </p><p> như người dưng qua đường. ” </p><p>Trước đây, tác giả sống với sông, với bể, với rừng, bây giờ môi trường sống đã thay đổi. Tác giả về sống với thành phố. Đời sống cũng thay đổi theo, “quen ánh điện”, “cửa gương". “Ánh điện”, "cửa gương" tượng trưng cho cuộc sống sung túc, đầy đủ sang trọng... dần dần "cái vầng trăng tình nghĩa” ngày nào bị tác giả lãng quên. “Vầng trăng" ở đây tượng trưng cho những tháng năm gian khổ. </p><p>Đó là tình bạn, tình đồng chí được hình thành từ những năm tháng gian khổ ấy. “Trăng" bây giờ thành “người dưng". Con người ta thường hay đổi thay như vậy. Bởi thế người đời vẫn thường nhắc nhau: “ngọt bùi nhớ lúc đắng cay”. Ở thành phố vì quen với "ánh điện, cửa gương”, quen với cuộc sống đầy đủ tiện nghi nên người đời không thèm để ý đến“vầng trăng" từng là bạn tri kỉ một thời. Phải đến lúc toàn thành phố mất điện: </p><p> “Thình lình đèn điện tắt </p><p> phòng buyn đinh tối om </p><p> vội bật tung cửa sổ </p><p> đột ngột vầng trăng tròn." </p><p>"Vầng trăng" xuất hiện thật bất ngờ, khoảnh khắc ấy, phút giây ấy,… tác giả, bàng hoàng trước vẻ đẹp kì diệu của vầng trăng. Bao nhiêu kỉ niệm xưa bỗng ùa về làm tác giả cứ “rưng rưng" nước mắt: </p><p> “Ngửa mặt lên nhìn mặt </p><p> có cái gì rưng rưng </p><p> như là đồng, là bể </p><p> như là sông, là rừng”. </p><p>Nguyễn Duy gặp lại ánh trăng như gặp lại người bạn tuổi thơ, như gặp lại người bạn từng sát cánh bên nhau trong những tháng năm gian khổ. Tác giả không dấu được niềm xúc động mãnh liệt của mình. “Vầng trăng" nhắc nhở tác giả đừng bao giờ quên những tháng năm gian khổ ấy, đừng bao giờ quên tình bạn, tình đồng chí đồng đội, những người đã từng đồng cam cộng khổ. chia ngọt sẻ bùi trong những tháng năm chiến đấu đầy gian lao thử thách. </p><p>Khổ cuối bài thơ, Nguyễn Duy đưa người đọc cùng đắm chìm trong suy tư, trong chiêm nghiệm về “vầng trăng tình nghĩa" một thời: </p><p> “Trăng cứ tròn vành vạnh </p><p> kể chi người vô tình </p><p> ánh trăng im phăng phắc </p><p> đủ cho ta giật mình... ” </p><p>Trăng vẫn thủy chung mặc cho ai thay đổi, vô tình với trăng. Trăng bao dung và độ lượng biết bao! Tấm lòng bao dung độ lượng ấy "đủ cho ta giật mình" mặc dù trăng không một lời trách cứ. Trăng tượng trưng cho phẩm chất cao quý của nhân dân, trăng tượng trưng cho vẻ đẹp bền vững của tình bạn, tình chiến đấu trong những tháng năm “không thể nào quên". </p><p>“Ánh trăng" của Nguyễn Duy gây được nhiều xúc động đối với nhiều thế hệ độc giả bởi cách diễn tả bình dị như những lời tâm sự, lời tự thú, lời tự nhắc nhở chân thành. Giọng thơ trầm tĩnh, sâu lắng. Tứ thơ bất ngờ, mới lạ. “Ánh trăng” còn mang ý nghĩa triết lí về sự thủy chung khiến người đọc phải “giật mình" suy nghĩ, nhìn lại chính mình để sống đẹp hơn, nghĩa tình hơn. </p><h3><strong>Phân tích bài thơ Ánh trăng - mẫu 2</strong></h3> <p>Nhà văn Nguyễn Tuân có lần từng nói: “Thơ là mở ra một cái gì mà trước câu thơ trước bài thơ ấy dường như vẫn còn bị phong kín” vì vậy mỗi một sáng tác thơ ca đều phải mở ra một điều gì đấy mới mẻ về tư tưởng về nội dung về nghệ thuật trong tâm trí của người đọc. </p><p>Nếu Lí Bạch đã từng nâng chén cùng với trăng sáng trên cao để thấm thía nỗi cô đơn mình với bóng là ba, nếu Nguyễn Du đã để vầng trăng là nhân chứng cho mối lương duyên của Thúy Kiều - Kim Trọng, thì chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng coi trăng như một người bạn tri kỷ, thân thiết “Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”. </p><p>Cũng viết về vầng trăng, hình tượng vốn bấy lâu đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận của thi ca, nhưng bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy vẫn khơi gợi trong tâm hồn của mỗi độc giả những cảm xúc mới mẻ, sâu sắc và nhiều ý nghĩa. </p><p>Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948, ông là một nhà thơ chiến sĩ, đã từng tham gia phục vụ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sáng tác tiêu biểu là tập thơ Ánh trăng, một trong những tập thơ đánh dấu son quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Duy. </p><p>Ánh trăng được sáng tác ở thành phố Hồ Chí Minh, vào năm 1978, ba năm sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Người lính chiến từ giã chiến trường trở về giữa phố thị, sống trong cảnh hòa bình, đất nước đổi mới, trong lúc đó dường như sự đủ đầy vật chất, cuộc sống bộn bề đã khiến con người ta vô tình quên đi những năm tháng gian khổ nhưng ân tình thủy chung. Để khi yên tĩnh dưới ánh trăng, nhà thơ mới bừng tỉnh nhận ra… </p><p>Trong 2 khổ thơ đầu mạch cảm xúc của Nguyễn Duy hướng về những kỷ niệm trong quá khứ, sự gắn bó của của vầng trăng trong từng bước đi của cuộc đời nhà thơ. </p><p> “Hồi nhỏ sống với đồng </p><p> với sông rồi với biển </p><p> hồi chiến tranh ở rừng </p><p> vầng trăng thành tri kỷ” </p><p>Ngay từ khổ thơ đầu thì nhà thơ đã mở ra trong một dòng hoài niệm hết sức tha thiết về tuổi ấu thơ của chính mình bằng nhịp thơ đều đặn, với những câu thơ 5 chữ ngắn gọn, đầy cảm xúc. Đó là lời của một người lính từng đi qua chiến tranh gian khổ này về sống giữa Sài Gòn xa hoa, người lính ấy hồi tưởng về tuổi thơ, về thời trai tráng chinh chiến sa trường. </p><p>Nếu lúc nhỏ cuộc đời của cậu bé Nguyễn Duy gắn bó mật thiết với đồng ruộng, với dòng sông tươi mát, với vùng biển bao la, thì khi lớn lên vào cuộc chiến, cuộc sống của nhà thơ lại tiếp tục gắn bó sâu sắc với thiên nhiên núi rừng, như Tố Hữu nói trong Việt Bắc “Rừng che bộ đội rừng vây quân thù”. </p><p>Thế nhưng dẫu hoàn cảnh, điều kiện sống có đổi thay thì duy chỉ có một thứ chẳng hề thay đổi ấy là vầng trăng trên cao, vầng trăng ấy trong lòng của tác giả đã trở thành tri âm, tri kỷ, là người bầu bạn trong những năm tháng hoa niên, trong từng bước hành quân chiến đấu. Trăng chia sẻ những nỗi vui buồn, những niềm gian khó, đi đến đâu trăng theo đến ấy, thân thương, gần gũi vô cùng. Sự gắn bó, mối quan hệ và tình cảm của nhà thơ và vầng trăng được làm rõ qua mấy câu thơ. </p><p> “Trần trụi với thiên nhiên </p><p> hồn nhiên như cây cỏ </p><p> ngỡ không bao giờ quên </p><p> cái vầng trăng tình nghĩa” </p><p>Cuộc sống của tác giả, từ khi còn thơ ấu đến tuổi thanh niên vào chiến trường vẫn luôn gắn bó mật thiết và “trần trụi” với thiên nhiên, không che giấu bất kỳ điều gì, tác giả sống một cách đơn giản, bình yên và hồn nhiên như những loài cây cỏ với sức sống mạnh mẽ dẻo dai. </p><p>Trên trời có ánh trăng sáng lúc nào cũng dõi mắt theo cuộc sống vui vẻ ấy của nhà thơ, thân thuộc đến độ Nguyễn Duy cứ “ngỡ”, cứ đinh ninh chắc nịch rằng bản thân mình sẽ chẳng bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa, vằng vặc trên cao mà mình vẫn xem là tri kỷ suốt mấy mươi năm cuộc đời kia. </p><p> “Từ hồi về thành phố </p><p> quen ánh điện cửa gương </p><p> vầng trăng đi qua ngõ </p><p> như người dưng qua đường” </p><p>Thế nhưng những cái “ngỡ” thường khó có thể duy trì vì cuộc đời vốn biến đổi không ngừng, bởi vật chất xưa nay luôn quyết định ý thức. Rời chiến trường, rời quê hương với những đồng ruộng, sông bể quê mùa, nhà thơ vào giữa phố thị, được sống trong một cuộc sống dư dả, xa hoa. </p><p>Nếu buổi trước kia phải vật vạ, mai phục nơi rừng sâu rậm rạp, phải chân lấm tay bùn với ánh đèn dầu mờ ảo thì nay cuộc sống đã đổi thay, “ánh điện cửa gương”, đều là những thứ mới mẻ, dễ khiến người ta ham thích và sống sung sướng mãi rồi cũng quen đi. Bất chợt nhà thơ chẳng biết từ lúc nào đã quên khuấy đi cái ánh sáng nhàn nhạt dịu nhẹ đến từ thiên nhiên, đến từ vầng trăng mà mình vẫn hằng coi là tri kỷ. </p><p>Không biết là do cuộc sống quá tất bật, bộn bề, hay lòng người vô tâm, bỏ quên kỷ niệm son sắt xưa cũ mà nay thấy vầng trăng ngự trên trời, cũng chẳng còn trân quý, chỉ là “người dưng qua đường”. Nói đến đây bỗng thấy thật xót xa, buồn tủi cho vầng trăng kia quá, từng một thời sát cánh, chia sẻ vui buồn từ đồng quê đến rừng già, từ ấu thơ đến trưởng thành, ấy mà chỉ vài năm ngắn ngủi, vài ánh điện lạ lẫm mọi thứ đã đổi thay. </p><p> “Thình lình đèn điện tắt </p><p> phòng buyn-đinh tối om </p><p> vội bật tung cửa sổ </p><p> đột ngột vầng trăng tròn” </p><p>Giữa sự trớ trêu và buồn tủi như thế, bỗng một tình huống bất ngờ xảy đến - mất điện, căn phòng tối om, khiến người lính vốn quen với ánh điện sáng trưng sửng sốt và hoang mang. Ông buộc phải tìm một nguồn sáng khác, cánh cửa mở ra, vầng trăng tròn “đột ngột” chiếu thẳng vào căn phòng tăm tối, chiếu thẳng vào tâm hồn của nhà thơ khiến ông giật mình. </p><p> “Ngửa mặt lên nhìn mặt </p><p> có cái gì rưng rưng </p><p> như là đồng là bể </p><p> như là sông là rừng” </p><p>Vầng trăng và nhà thơ dường như đối diện với nhau một cách trực tiếp và thẳng thắn nhất, mặt đối mặt, bao kỷ niệm ùa về ùa về trong tâm trí của tác giả như bão tố khiến đôi mắt này “rưng rưng” nước mắt, nào là vầng trăng tri kỷ vẫn một lòng một dạ sắt son giữa trời xanh, xa hơn nữa là hình ảnh cánh đồng, bờ biển thuở ấu thơ, con sông xanh mát. </p><p>Và có lẽ nhớ nhất chính là hình ảnh cánh rừng, hình ảnh những năm tháng chiến đấu đầy gian khổ nhưng giàu những kỷ niệm không thể nào quên. Mà chỉ duy nhất một vầng trăng tri kỷ, vẫn bầu bạn, vẫn sẻ chia, vẫn dõi theo bước chân người lính chiến không rời. </p><p> “Trăng cứ tròn vành vạnh </p><p> kể chi người vô tình </p><p> ánh trăng im phăng phắc </p><p> đủ cho ta giật mình” </p><p>Đối diện với trăng, nhà thơ dường như bị lép vế, bởi sự xấu hổ vì lỗi lầm vô tâm, nỡ bỏ quên những ân tình trong quá khứ, để chạy theo cuộc sống xô bồ tấp nập, theo “ánh điện cửa gương”, tách biệt với thiên nhiên, quên cả tri kỷ mà người đã từng “ngỡ không bao giờ quên”. </p><p>Trăng không hờn trách, không chỉ trích, trăng vẫn im lặng soi sáng, phủ lên nhà thơ thứ ánh sáng đẹp đẽ và nhân hậu. Điều ấy càng khiến con người ta thêm “giật mình”, thêm ngỡ ngàng, thậm chí là bàng hoàng về bản thân, sự im lặng đôi lúc chính là liều thuốc hữu hiệu, khiến chúng ta phải tự soi xét lại. </p><p>Sự bao dung, dịu dàng và thủy chung của vầng trăng khiến nhà thơ hiểu ra được nhiều điều, có lẽ cái “giật mình” ấy chính là sự tỉnh ngộ. Tỉnh ngộ để tìm lại bản thân, để sống tốt hơn, để nhớ lại và trân quý những gì tốt đẹp trong quá khứ, để không sống vô tình, vô nghĩa, vầng trăng chính là một tấm gương sáng về lòng thủy chung của người tri kỷ, để người lính soi vào và suy ngẫm lại về bản thân mình suốt những năm qua đã sống thực sự nhân nghĩa hay chưa. </p><p>Vầng trăng xưa nay vốn đã rất quen thuộc với con người, trăng chiếu rọi xuống những ánh sáng nhàn nhạt, dịu nhẹ như người bạn, người thân, người tri kỷ sẵn sàng sẻ chia, ôm ấp và đồng hành với con người trên mọi nẻo đường. Ánh trăng của Nguyễn Duy là một bài thơ dẫu câu từ có vẻ đơn giản, mộc mạc nhưng lại hàm súc những ý nghĩa lớn, ấy là bài học về sự ghi nhớ những ân tình trong quá khứ, là lời khuyên, là tấm gương về lối sống nhân nghĩa, luôn trân quý, biết ơn những người, những cảnh vật xưa cũ. </p><p>Bởi dù đó có là những điều quá vãng, nhưng mãi luôn là những giá trị quan trọng xây dựng nên một tâm hồn, một cuộc đời, dễ dàng lãng quên đồng nghĩa với việc vô tâm, vô cảm với cuộc đời. </p> <h3><strong>Phân tích bài thơ Ánh trăng - mẫu 3</strong></h3> <p> Trong thơ ca, trăng vốn là nguồn cảm hứng sáng tác vô tận cho các thi nhân. Ta biết đến ánh trăng làm bạn với Bác trong ngục; ta biết đến một vầng trăng huyền bí của Hàn Mặc Tử. Và ta còn phải nhắc đến trăng trong tác phẩm Ánh trăng của nhà thơ Nguyễn Duy. Vầng trăng tự nó như một thứ thuốc thử, một lời nhắc nhở đối với mỗi con người về cách sống, cách ứng xử trong cuộc đời. </p><p> Mở đầu bài thơ, là hình ảnh xa xôi mà bình dị giữa con người và trăng: </p><p> Hồi nhỏ sống với đồng </p><p> với sông rồi với bể </p><p> hồi chiến tranh ở rừng </p><p> vầng trăng thành tri kỉ </p><p> Lời thơ mộc mạc tựa như một lời thủ thỉ, tâm tình, kết hợp vời điệp từ “với” cho thấy tuổi thơ đầy giản dị, mộc mạc, gắn bó với cỏ cây, thiên nhiên. Và trong những người bạn ấy, không thể thiếu vầng trăng mát lành, luôn ở bên cạnh chia sẻ mọi buồn vui khó khăn trong suốt quãng đời tuổi thơ, bởi vậy, “vầng trăng thành tri kỉ”. Vầng trăng hơn một người bạn thấu hiểu và cảm thông cho những cảm xúc, những khó khăn, vất vả mà bạn phải trải qua. Trăng hiện lên trần trụi gần gũi, không chút toan tính, vụ lợi: trần trụi với thiên nhiên/ hồn nhiên như cây cỏ. </p><p> Giữa trăng và người là hai hình tượng sóng đôi, song song đồng hành với nhau, nếu như trăng xuất hiện thì còn người lại luôn bị che khuất đi. Để rồi cuối khổ thơ thứ hai, con người phải giật mình, thảng thốt thốt lên: </p><p> ngỡ không bao giờ quên </p><p> cái vầng trăng tình nghĩa </p><p> Những tưởng những năm tháng bên nhau, cùng chia sẻ gian khổ ngọt bùi, con người sẽ không thể quên được người bạn tri kỉ của mình. Nào ngờ cuộc đời có quá nhiều nỗi truân chuyên, nhiều điều lo lắng khiến ta vụt mất những điều giản dị và ý nghĩa mà không hề hay biết. Chữ “ngỡ” đặt đầu câu như một lời độc thoại thảng thốt, một lời ăn năn, xám hối muộn màng của con người. Hạnh phúc bình dị, đơn sơ thuở nào bị cái hào nhoáng, sa hoa vật chất tầm thường che khuất mất, để ta vô tình lãng quên những điều thiêng liêng: </p><p> Từ hồi về thành phố </p><p> quen ánh điện cửa gương </p><p> vầng trăng đi qua ngõ </p><p> như người dưng qua đường </p><p> Khổ thơ thứ ba, vầng trăng đã được nhân cách hóa thành một con người cụ thể. Ngỡ rằng vầng trăng ấy vẫn là tri kỉ, tình nghĩa bền chặt nào ngờ giờ đây lại chẳng khác gì người dưng nước lã. Thời gian có sức tàn phá thật khủng khiếp, nó có thể biến một tình cảm vốn thiêng liêng, cao đẹp, nay trở thành những mối quan hệ như chưa hề quan biết. Sự thật phũ phàng bởi thời gian, bởi lòng người thay đổi khó mà lường trước được. </p><p> Trong vòng xoáy của đồng tiền, con người mải mê lao vào tìm kiếm những sa hoa, dục vọng, để rồi khi: “Thình lình đèn điện tắt/ phòng buyn đinh tối om” , khi ấy con người mới có thời gian tự chiêm nghiệm, suy ngẫm lại. Nguyễn Duy đã lấy một sự việc hết sức bình thường, mất điện, để biến nó thành nút thắt, đẩy bài thơ lên đến cao trào, cũng chính bởi phút giây đó con người mới có cơ hội tự suy nghĩ về chính những ứng xử của mình trong cuộc sống. </p><p> Vội bật tung cửa sổ </p><p> Đột ngột vầng trăng tròn </p><p> Cả khổ thơ là những chuỗi hành động gấp gáp, liên tiếp nhau. Khi con người ta mất đi ánh sáng nhân tạo, lập tức phải tìm đến một nguồn sáng khác - ánh sáng tự nhiên. Và đột ngột họ gặp lại người bạn năm xưa. Họ ngạc nhiên, ngỡ ngàng, đến nỗi chẳng nói thành lời. Trăng vẫn vậy, vẫn vẹn tròn, thủy chung và biết bao cảm xúc ùa về trong tác giả: “Ngẩng mặt lên nhìn mặt/ có cái gì rưng rưng/ như là đồng là bể/ như là sông là rừng” . Trong khoảnh khắc lặng im bất chợt, mặt người đối diện với mặt trăng, kí ức của những ngày gắn bó lại ùa về trong tác giả. Là đồng, sông, bể, rừng những người bạn gắn bó trong suốt thuở thiếu thời và những năm tháng kháng chiến kiên cường, gian khổ. Khuôn mặt của trăng chính là quá khứ ân nghĩa, thủy chung mà con người đã vô tình lãng quên. Qua bao nhiêu thăng trầm, biến động trăng vẫn vẹn nguyên, vẫn thủy chung độ lượng với con người: </p><p> Trăng cứ tròn vành vạnh </p><p> kể chi người vô tình </p><p> ánh trăng im phăng phắc </p><p> đủ cho ta giật mình. </p><p> Khổ thơ vận dụng hàng loạt các từ láy: vành vạnh, phăng phắc, mỗi từ láy lại mang đến những giá trị biểu cảm khác nhau. Từ láy vành vạnh cho thấy sự ân tình, thủy chung vẹn nguyên của vầng trăng từ quá khứ đến hiện tại. Từ láy phăng phắc lại là cái im lặng giúp cảnh tỉnh con người, cái nhìn đầy nghiêm khắc để con người nhận ra sự bội bạc của chính mình. Nhưng đồng thời sự im lặng ấy cũng cho thấy thái độ bao dung, độ lượng của vầng trăng, hay rộng ra là của quá khứ, của nhân dân thủy chung tình nghĩa. Cái giật mình ở cuối bài cho thấy sự hối lỗi, đã nhận ra những sai lầm của bản thân. Thật tinh tế và khéo léo, Nguyễn Duy đã sử dụng hình ảnh vầng trăng, cùng với quá trình nhận thức của nhân vật trữ tình để làm bật lên tư tưởng, chủ để của tác phẩm. </p><p> Bằng giọng điệu tâm tình tự nhiên, chân thành, hình ảnh giàu tính biểu tượng bài thơ như một lời nhắc nhở đến muôn thế hệ. Nhắc nhở về lối sống ân tình thủy chung, biết ơn quá khứ, những người đã hi sinh để cho chúng ta có cuộc sống bình yên hạnh phúc như ngày hôm nay. Bài thơ ra đời đã lâu, nhưng vẫn giữ mãi giá trị nhân văn tốt đẹp của nó. </p> <h3><strong>Phân tích bài thơ Ánh trăng - mẫu 4</strong></h3> <p> Cát trắng và Ánh trăng là hai tập thơ của Nguyễn Duy, nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Một hồn thơ tươi trẻ tỏa mát bóng tre, như con sóng vỗ dòng sông thơ ấu phảng phất hương vị đồng quê: </p><p> Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá </p><p> Níu váy bà đi chợ Bình Lâm </p><p> Bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật </p><p> Và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trầm. </p><p> (Đò Lèn) </p><p> Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Ánh trăng, Đò Lèn... là những bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Duy. Bài thơ Ánh trăng rút trong tập thơ cùng tên, được tác giả viết vào năm 1978, tại Thành phố Hổ Chí Minh. 3 năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Bài thơ như một lời tâm sự chân thành: vầng trăng không chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên đất nước mà nó còn gắn bó với tuổi thơ, với những ngày kháng chiến gian khổ vầng trăng đối với mỗi chúng ta không bao giờ có thể quên và đừng vô tình lãng quên. </p><p> Nếu như trong bài thơ Tre Việt Nam, câu thơ lục bát có khi được tách ra thành 2 hoặc 3 dòng thơ để tạo nên hiệu quả nghệ thuật biểu đạt gây ấn tượng thì ở bài thơ Ánh trăng này lại có một nét mới. Chữ đầu của dòng thơ, câu thơ không viết hoa. Phải chăng nhà thơ muốn cho cảm xúc được dào dạt trôi theo dòng chảy của thời gian, kỉ niệm? </p><p> Hai khổ thơ đầu nói về vầng trăng của tuổi thơ và vầng trăng thời chiến tranh. Vầng trăng tuổi thơ trải rộng trên một không gian bao la: "Hồi nhỏ sống với đồng - với sông rồi với bể". Hai câu thơ 10 tiếng, gieo vần lưng (đồng - sông); từ "với" được điệp lại 3 lần nhằm diễn tả một tuổi thơ đi nhiều, được hạnh phúc cảm nhận những vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên, từng được ngắm trăng trên đồng quê, ngắm trăng trên dòng sông và ngắm trăng trên bãi bể. Tuổi thơ của chúng ta dễ có mấy ai được cái cơ may ấy như nhà thơ? Thuở bé nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng chỉ được ngắm trăng nơi sân nhà: "Ông trăng tròn sáng tỏ - Soi rõ sân nhà em... Chỉ có trăng sáng tỏ - Soi rõ sân nhà em... " (Trích Trăng sáng sân nhà em). </p><p> Tuổi thơ được ngắm trăng thích thế, như một chút hoài niệm xa vời. Hai câu thơ tiếp theo nói về hồi máu lửa, trăng với người lính, trăng đã thành "tri kỉ": </p><p> Hồi chiến tranh ở rừng </p><p> vầng trăng thành tri kỉ. </p><p> "Tri kỉ": biết người như biết mình; bạn tri kỉ là người bạn rất thân, hiểu biết mình. Trăng với người lính, với nhà thơ trong những năm ở rừng thời chiến tranh đã trở thành đôi bạn tri kỉ- Người chiến sĩ nằm ngủ dưới trăng "Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm" (Hồ Chí Minh). Giữa rừng khuya sương muối, người chiến sĩ đứng chờ giặc tới "Đầu súng trăng treo" (Chính Hữu). Nẻo đường hành quân của người chiến sĩ nhiều đêm đã trở thành "nẻo đường trăng dát vàng". Trăng đã chia sẻ ngọt bùi hân hoan trong niềm vui thắng trận với người lính tiền phương. Đất nước trải qua những năm dài máu lửa, trăng với anh bộ đội đã vượt lên mọi tàn phá hủy diệt của bom đạn quân thù: </p><p> Và vầng trăng, vầng trăng đất nước </p><p> Vượt qua quầng lửa, mọc lên cao. </p><p> (Phạm Tiến Duật) </p><p> Các tao nhân ngày xưa thường "đăng lâu vọng nguyệt", còn anh bộ đội Cụ Hồ một thời trận mạc đã nhiều phen đứng trên đồi cao, hành quân vượt núi cũng say sưa ngắm vành trăng cao nguyên. Thật là thú vị khi đọc vần thơ Nguyễn Duy vì nó đã mở ra trong lòng nhiều người một trường liên tưởng: "hồi chiến tranh ở rừng - vầng trăng thành tri kỉ". </p><p> Khổ thơ thứ hai như một lời nhắc nhở của tác giả về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Lại một vần lưng nữa xuất hiện - Một ẩn dụ so sánh làm nổi bật chất trần trụi, chất hồn nhiên người lính những năm tháng ở rừng. Đó là cốt cách của các anh: </p><p> Trần trụi với thiên nhiên </p><p> hồn nhiên như cây cỏ. </p><p> Vầng trăng là biểu tượng đẹp của những năm tháng ấy, đã trở thành "vầng trăng tri kỉ", "vầng trăng tình nghĩa" ngỡ như không bao giờ có thể quên. Một ý thơ làm động đến đáy tâm hồn, như một sự thức tỉnh lương tâm đối với những kẻ vô tình: "ngỡ không bao giờ quên - cái vầng trăng tình nghĩa " </p><p> Sự thay đổi của lòng người thật đáng sợ. Hoàn cảnh sống đổi thay, con người dễ thay đổi, có lúc dễ trở nên vô tình, có kẻ dễ trở thành "ăn ở bạc". Từ ở rừng, sau chiến thắng về thành phố, được trưng diện và xài sang: buyn-đinh, cao ốc, quen ánh điện, cửa gương... Và "vầng trăng tri kĩ", "vầng trăng tình nghĩa" đã bị người lãng quên, dửng dưng. Cách so sánh thấm thía làm chột dạ nhiều người: </p><p> Từ hồi về thành phố </p><p> quen ánh điện cửa gương </p><p> vầng trăng đi qua ngõ </p><p> như người dưng qua đường. </p><p> Trăng được nhân hóa, lặng lẽ đi qua đường, trăng như người dưng đi qua, chẳng còn ai nhớ, chẳng còn ai hay. Người có lương tâm, lương tri mới biết sám hối. Biết sám hối để tự hoàn thiện nhân cách, tự vươn lên, hướng tâm hồn về ánh sáng và cái cao cả. Không đao to búa lớn, không đại ngôn, mà trái lại, giọng thơ thầm thì như trò chuyện, giãi bày tâm sự, nhà thơ đang trò chuyện với mình. Chất trữ tình của thơ ca trở nên sâu lắng, chân thành. </p><p> Cũng như dòng sông có thác ghềnh, có quanh co, uốn khúc, cuộc đời cũng có nhiều biến động li kì. Ghi lại một tình huống "cuộc sống thị thành"của những con người mới ở rừng về thành phố, nhà thơ chỉ sử dụng 4 câu thơ 20 từ. Các từ "thình lình", "vội", "đột ngột" gợi tả tình thái đầy biểu cảm. Có nhà triết học nói: "Cuộc đời dạy ta nhiều hơn trang sách . Vần thơ của Nguyễn Duy nói với ta rất nhiều: </p><p> Thình lình đèn điện tắt </p><p> phòng buyn-đinh tối om </p><p> vội bạt tung cửa sổ </p><p> đột ngột vầng trăng tròn. </p><p> Trăng xưa đã đến với người, vẫn "tròn", vẫn "đẹp", vẫn thủy chung với mọi người, mọi nhà, với thi nhân, với người lính. Người ngắm trăng rồi suy ngẫm bâng khuâng: </p><p> Ngửa mặt lên nhìn mặt </p><p> có cái gì rưng rưng </p><p> như là đồng,là bể </p><p> như là sông, là rừng. </p><p> Nguyễn Tuân từng coi trăng là "cố nhân", nhà thơ Xuân Diệu, trong bài Nguyệt cầm viết cách đây 60 năm cũng có câu: "Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần". Trở lại với tâm trạng người lính trong bài thơ này. Một cái nhìn đầy áy náy xót xa: "Ngửa mặt lên nhìn mặt". Hai chữ "mặt" trong vần thơ: mặt trăng và mặt người cùng "đối diện đàm tâm". Trăng chẳng nói, trăng chẳng trách thế mà người lính cảm thấy "có cái gì rưng rưng". "Rưng rưng" nghĩa là vì xúc động, nước mắt đang ứa ra, sắp khóc. Giọt nước mắt làm cho lòng người thanh thản lại, trong sáng lại, cái tốt lành hé lộ. Bao kỉ niệm đẹp một đời người ùa về, tâm hồn gắn bó, chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng xưa, với đồng, với bể, với sông, với rừng, với quê hương đất nước. Cấu trúc câu thơ song hành, với biện pháp tu từ so sánh, với điệp từ (là) cho thấy ngòi bút của Nguyễn Duy thật tài hoa:... "như là đồng, là bể - như là sông, là rừng". Đoạn thơ hay ở chất thơ bộc bạch chân thành, ở tính biểu cảm, tính hình tượng và hàm súc, từ ngôn ngữ hình ảnh đi vào lòng người, khắc sâu điều nhà thơ muốn tâm sự với chúng ta một cách nhẹ nhàng mà thấm thía. </p><p> Khổ thơ cuối bài thơ mang tính hàm nghĩa độc đáo, đưa tới chiều sâu tư tưởng triết lí: </p><p> Trăng cứ tròn vành vạnh </p><p> kể chi người vô tình </p><p> ánh trăng im phăng phắc </p><p> đủ cho ta giật mình </p><p> "Tròn vành vạnh" là trăng rằm, một vẻ đẹp viên mãn. "Im phăng phắc" là im như tờ, không một tiếng động nhỏ. Vầng trăng cứ tròn đầy và lặng lẽ "kể chi người vô tình" là biểu tượng của sự bao dung độ lượng, của nghĩa tình thuỷ chung trọn vẹn trong sáng mà không hề đòi hỏi đền đáp. Đó cũng chính là phẩm chất cao cả của nhân dân mà Nguyễn Duy cũng như nhiều nhà thơ cùng thời đã phát hiện và cảm nhận một cách sâu sắc trong thời kì chiến tranh chống Mĩ. </p><p> Ánh trăng là một bài thơ hay. Thể thơ năm chữ được vận dụng sáng tạo, tài hoa. Sự phong phú vần điệu, ngôn ngữ trong sáng, giọng thơ tâm tình vừa hướng nội vừa hướng ngoại. Nhà thơ tâm sự với người đọc những sâu kín nhất nơi lòng mình. Chất triết lí thâm trầm được diễn tả qua hình tượng "ánh trăng"đã tạo nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ. Không nên sống vô tình. Phải thủy chung trọn vẹn, phải nghĩa tình sắt son với bạn bè, đồng chí, với nhân dân - đó là điều mà Nguyễn Duy nói thật hay, thật cảm động qua bài thơ này. </p> <h3><strong>Phân tích bài thơ Ánh trăng - mẫu 5</strong></h3> <p>Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Sau chiến tranh, Nguyễn Duy tiếp tục làm thơ và thơ ông ngày càng trở nên đậm đà với một phong cách, giọng điệu “quen thuộc mà không nhàm chán”. </p><p>Thơ Nguyễn Duy giản dị, gần gũi song đầy suy tư, chiêm nghiệm triết lí sâu sắc về cuộc đời và con người. Bài thơ "Ánh trăng" là một bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ đó của Nguyễn Duy.Tác phẩm được viết vào năm 1978, ba năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. </p><p>Qua bài thơ, Nguyễn Duy muốn lời nhắc nhở, thức tỉnh người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa, thủy chung cùng quá khứ, thức dậy trong tâm hồn người lính lòng trung hiếu vẹn tròn với cách mạng, với nhân dân về những năm tháng gắn bó với thiên nhiên, với đất nước. </p><p>Bài thơ là một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại. Dòng xúc cảm của nhà thơ cũng men theo dòng tự sự này mà bộc lộ tâm tư, suy ngẫm chiêm nghiệm. Trước hết, bài thơ mở ra những kỉ niệm đẹp, tình cảm gắn bó giữa con người và vầng trăng trong quá khứ xa xôi: </p><p> Hồi nhỏ sống với đồng </p><p> với sông rồi với bể </p><p> hồi chiến tranh ở rừng </p><p> vầng trăng thành tri kỉ </p><p> trần trụi với thiên nhiên </p><p> hồn nhiên như cây cỏ </p><p> ngỡ không bao giờ quên </p><p> cái vầng trăng tình nghĩa </p><p>Với giọng thơ tâm tình, thủ thỉ, tác giả đã gợi nên những kỉ niệm của một quãng thời gian dài từ khi còn nhỏ cho tới lúc trưởng thành trở thành người lính trong chiến tranh. Tất cả đều thấm đẫm ánh trăng. “Hồi nhỏ” gắn mình với thiên nhiên như với đồng ruộng, với sông bể của quê hương. Lớn lên trở thành người lính xông pha trận mạc gắn mình với rừng núi bao la, bát ngát. </p><p>Trong cuộc ấy, con người sống chan hòa với thiên nhiên, bình dị, ấm áp, hiền hòa. Và vầng trăng “tri kỉ”, “tình nghĩa” đã minh chứng cho sự gắn kết giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Ở đây, Trăng được nhân hóa như con người và trở thành người bạn tuyệt vời cùng với con người: Trăng chia sẻ mọi vui buồn, gian khó, đồng cam cộng khổ xoa dịu những vết thương của chiến tranh bằng thứ ánh sáng dịu hiền nên trở thành người bạn “tri kỉ”, tri âm. </p><p>Con người sống “trần trụi với thiên nhiên”, “hồn nhiên như cây cỏ”, một cuộc sống thanh thản, giản dị và thỏa lòng. Và trăng với người sống chan hòa, gắn bó đằm thắm “tình nghĩa” với nhau. Vì vậy, lòng đã tự hẹn với lòng bằng một tấm lòng thủy chung, tình nghĩa, son sắt: “bao giờ quên”. Nhưng từ “ngỡ” như vừa thể hiện niềm xót xa, tiếc nuối, ân hận; lại vừa báo hiệu trước sự đổi thay một tình nghĩa đáng lẽ cần phải trân trọng. </p><p>Nếu như ở hai khổ thơ đầu, tác giả đưa người đọc trở về với quá khứ xa xăm, thì đến với khổ ba, Nguyễn Duy lại đã đưa người đọc trở về với hiện tại trong sự tác động của hoàn cảnh đến con người, khiến con người lãng quên vầng trăng: </p><p> Từ hồi về thành phố </p><p> quen ánh điện cửa gương </p><p> vầng trăng đi qua ngõ </p><p> như người dưng qua đường </p><p>Thành phố là một địa điểm khác, hoàn toàn mới mẻ, đối lập với không gian sống hồi nhỏ và khi còn là người lính trên chiến trường. Hình ảnh “ánh điện cửa gương” là hình ảnh hoán dụ, biểu tượng cho cuộc sống đủ đầy, tiện nghi, khép kín trong những căn phòng hiện đại nơi phồn hoa đô thị, rời xa với thiên nhiên. </p><p>Từ đó, nhà thơ đã diễn tả sự thay đổi tình cảm của con người: “Vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa” kia đã trở thành “người dưng qua đường”. Vầng trăng đi qua ngõ nhưng con người hờ hững, thờ ơ, không còn nhận ra trăng từng là người bạn tri kỉ, tình nghĩa một thời nữa. </p><p>Câu chuyện tâm tình được kể ngắn gọn, súc tích, mộc mạc, giản dị mà chân thành; những câu chữ đầu dòng thơ không viết hoa đã diễn tả dòng suy tư miên man không dứt của nhà thơ trước sự chảy trôi của thời gian, năm tháng và sự thay đổi của lòng người trước cuộc sống tiện nghi. </p><p>Tưởng chừng như Trăng cứ thế mà chìm khuất đi mãi mãi, người với Trăng sẽ chẳng còn cơ hội mà gặp gỡ nhau. Bởi trước phồn hoa đô hội, dưới ánh sáng cửa gương, đèn điện, dưới sự bận bịu, lo toan cho cuộc sống của con người thì Trăng sẽ trở nên nhạt nhòa, chìm khuất nhưng nó đã có dịp bừng sáng lên khi một tình huống bất ngờ xảy đến, để rồi đánh thức biết bao nhiêu là suy ngẫm, kỉ niệm dội về trong lòng thi nhân: </p><p> Thình lình đèn điện tắt </p><p> phòng buyn-đinh tối om </p><p> vội bật tung cửa sổ </p><p> đột ngột vầng trăng tròn </p><p>Nếu ở các khổ thơ trước, giọng thơ đều đều, chậm dãi, miên man trong những kỉ niệm tươi đẹp của quá khứ thì đến khổ bốn, giọng thơ đã đột ngột cất cao, thể hiện sự choáng ngợp, bất ngờ trước sự xuất hiện đột ngột của vâng trăng trước khung cửa sổ. </p><p>Mất điện, theo một lẽ tự nhiên khi con người chỉ tìm tới nơi có ánh sáng, hạnh động phản xạ như một thói quen “vội bật tung cửa sổ” và con người đã vô tình bắt gặp “vầng trăng tròn” tình nghĩa năm nào. Nghệ thuật đảo ngữ đã đẩy từ “đột ngột” lên đầu câu thơ, nhấn mạnh đến sự ngỡ ngàng, ngạc nhiên, bàng hoàng của con người khi bắt gặp vầng trăng. Vầng trăng tròn vành vạnh, chan chứa tình nghĩa vẫn luôn dõi theo, đồng hành cùng con người, vẫn luôn lặng lẽ tỏa sáng không hề hao khuyết. </p><p>Còn con người thì lãng quên vầng trăng nên khi bắt gặp vầng trăng mới cảm thấy bất ngờ, đột ngột đến như vậy. Mọi khoảng lặng xung quanh rất cần cho lúc này, mọi thứ như ngừng trôi đi, nhường chỗ cho hai tâm hồn gặp gỡ: </p><p> Ngửa mặt lên nhìn mặt </p><p> có cái gì dưng dưng </p><p> như là đồng là bể </p><p> như là sông là rừng </p><p>Nhà thơ lặng lẽ đối diện với trăng “Ngửa mặt lên nhìn mặt” và ngậm ngùi “rưng rưng” như trực trào nước mặt sắp khóc, vừa vui mừng, vừa nghẹn ngào không nói được thành lời. Từ “mặt” ở cuối câu thơ đầu là từ nhiều nghĩa, tạo nên sự đa nghĩa của ý thơ: Nhà thơ đối diện với vầng trăng, người bạn tri kỉ mà mình đã lãng quên. </p><p>Người đối diện với trăng, trăng đối diện với người hay chính là quá khứ đối diện với hiện tại, thủy chung tình nghĩa đối diện với sự bạc bẽo, vô tình. Đối diện với trăng, nhà thơ như soi thấy cả mình trong đó, như được sống lại với những năm tháng gắn bó với thiên nhiên “đồng, sông, rừng, bể”. </p><p>Vì thế, đã làm cho con người nhà thơ “rưng rưng” xúc động. Sự xúc động ấy vừa là niềm vui khi được sống lại với quá khứ; lại vừa là giọt nước mắt của sự ăn năn, cảm thấy hổ thẹn, ân hận về sự đổi thay của chính mình. Giọng thơ chuyển từ sự bất ngờ, đột ngột chuyển sang xúc động “rưng rưng”. Điệp ngữ “như là”, kết hợp với biện pháp liệt kê hình ảnh “đồng - sông - rừng - bể” đã khiến nhịp thơ trở nên trầm lắng, chậm rãi và những lớp sóng của hoài niệm xa xăm cứ tự đâu ùa về thật xúc động thiêng liêng. </p><p>Từ hồi tưởng đến hiện tại, từ hiện tại tới xúc động rưng rưng và cuối cùng lắng dần vào trong những suy ngẫm, chiêm nghiệm. Đó là những phút giây bừng ngộ của tâm hồn nhà thơ mà cũng chính là lời nhắn nhủ thiết tha mà Nguyễn Duy muốn gửi gắm trong cuộc đời: </p><p> Trăng cứ tròn vành vạnh </p><p> kể chi người vô tình </p><p> ánh trăng im phăng phắc </p><p> đủ cho ta giật mình. </p><p>Suốt chiều dài bài thơ, Trăng được miêu tả với rất nhiều những định ngữ khác nhau như: trăng tri kỉ, trăng tình nghĩa, vầng trăng tròn và cuối cùng kết tinh thành "Trăng cứ tròn vành vạnh". Điều đó đã cho thấy, trăng trở thành biểu tượng cho sự bất biến, vĩnh hằng, không thay đổi; biểu tượng cho sự tròn đầy, thủy chung, trọn vẹn của thiên nhiên tươi đẹp trong quá khứ, trong hiện tại và cả tương lai, cho dù lòng người đổi thay, khiếm khuyết “vô tình”. </p><p>Hình ảnh ánh trăng được nhân hóa với thái độ “im phăng phắc” gợi cho chúng ta liên tưởng tới cái nhìn nghiêm khắc như trách móc, nhắc nhở con người về thái độ “vô tình” bạc bẽo, lãng quên của chính mình. Nhưng đồng thời thái độ "im phăng phắc" đó của trăng cũng chất chứa cả sự bao dung, nhân từ, độ lượng của người bạn thủy chung, tình nghĩa. Bởi dù lòng người thay đổi nhưng trăng vẫn dõi theo người, vẫn lặng lẽ tỏa sáng, vẫn cứ “tròn vành vạnh”. </p><p>Dòng thơ cuối dồn nén biết bao nhiêu là cảm xúc trong cái “giật mình” của con người. Chính sự im lặng của trăng đã làm cho con người phải “giật mình” thức tình, hay đó chính là cái "giật mình" của nhân cách, của lương tâm, là lời sám hối chân thành để rửa sạch tội lỗi, để tâm hồn trở nên trong sạch và sống tốt đẹp hơn. </p><p>Lời thơ chuyển từ “vầng trăng tròn vành vạnh” sang hình ảnh “ánh trăng” chất chứa nhiều ý nghĩa khái quát: nếu như vầng trăng tròn là để nói về quá khứ thủy chung, tình nghĩa vẹn nguyên thì “ánh trăng” lại để nói đến vầng hào quang của quá khứ, ánh sáng của lương tâm, của đạo đức soi rọi xua tan đi những bóng tối của sự lãng quên, bội bạc và làm con người thức tỉnh, tâm hồn trở nên trong sáng hơn, đẹp đẽ hơn. </p><p>Vì thế, ánh trăng của Nguyễn Duy là một thứ vầng trăng mang đầy tính nhân văn, nhân bản sâu sắc. Nó trở thành một bài học không chỉ dành riêng cho những người lính mà còn có ý nghĩa với tất cả mọi người, mọi thời đại để rồi từ đó, tự mỗi người trong mỗi chúng ta sẽ tự đối diện với chính mình, với quá khứ xem mình đã sống ra sao, như thế nào... </p><p>Bài thơ kết hợp hài hòa, tự nhiên giữa biểu cảm và tự sự, tạo nên như một câu chuyện riêng, một lời tâm sự chân thành, một lời tự nhắc nhở có giọng trầm tĩnh mà sâu lắng. Kết cấu và giọng điệu làm nổi bật chủ đề và tạo sức truyền cảm cho bài thơ. </p><p>Hình ảnh thơ vừa cụ thể, vừa khái quát, mang ý nghĩa biểu tượng sâu xa và chất chứa chiều sâu suy ngẫm, triết lí. Các câu thơ liền mạch, không dùng dấu câu, không viết hoa đầu dòng (trừ chữ cái đầu mỗi khổ thơ) như diễn tả dòng tâm tư triền miên, thiết tha, sâu lắng. </p><p>Tóm lại, qua bài thơ, người đọc thấy được những ẩn ý sâu xa và những bài học mang tầm triết lí sâu sắc mà nhà thơ muốn gửi gắm tới người đọc, đó là thái độ sống "uống nước nhớ nguồn", ân nghĩa thủy chung trong quá khứ. </p> <p><b>Mục lục Văn mẫu | Văn hay 9 theo từng phần:</b></p> <ul> <li><b>Mục lục Văn thuyết minh</b></li> <li><b>Mục lục Văn tự sự</b></li> <li><b>Mục lục Văn nghị luận xã hội</b></li> <li><b>Mục lục Văn nghị luận văn học Tập 1</b></li> <li><b>Mục lục Văn nghị luận văn học Tập 2</b></li> </ul> <ul> <li><b>Hơn 20.000 câu trắc nghiệm Toán,Văn, Anh lớp 9 có đáp án</b></li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Tue, 07 Jul 2026 11:32:28 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">5+ Dàn ý bài thơ Ánh trăng (hay, ngắn gọn)</media:title>
                        <media:keywords>5+ Dàn ý bài thơ Ánh trăng (hay, ngắn gọn)</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/cac-bai-nghi-luan-xa-hoi-a110468.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/cac-bai-nghi-luan-xa-hoi-a110468.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/cac-bai-nghi-luan-xa-hoi-a110468.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>Kiểu bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lý</strong></p> <p>A. MỞ BÀI:</p> <p>- Dẫn dắt, giới thiệu tư tưởng, đạo lí cần bàn luận.</p> <p>- Mở ra hướng giải quyết vấn đề.</p> <p>B. THÂN BÀI:</p> <p>1. Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận: 0,5 điểm (khoảng 10 dòng)</p> <p>Khi giải thích cần lưu ý:</p> <p>- Bám sát tư tưởng đạo lí mà đề yêu cầu, tránh suy diễn chủ quan, tuỳ tiện.</p> <p>- Chỉ giải thích những từ ngữ, hình ảnh còn ẩn ý hoặc chưa rõ nghĩa.</p> <p>- Phải đi từ yếu tố nhỏ đến yếu tố lớn: giải thích từ ngữ, hình ảnh trước, rồi mới khái quát ý nghĩa của toàn bộ tư tưởng đạo lí mà đề yêu cầu.</p> <p>2. Bàn luận tư tưởng đạo lí mà đề yêu cầu: 2,0 điểm (khoảng 1,5 đến 2 mặt giấy thi)</p> <p>a. Bàn luận về mức độ đúng đắn, chính xác, sâu sắc của tư tưởng đạo lí mà đề yêu cầu:</p> <p>Khi bàn luận nội dung này, cần lưu ý:</p> <p>- Phân tích, chia tách tư tưởng đạo lí thành các khía cạnh để xem xét, đánh giá.</p> <p>- Dùng lí lẽ, lập luận và dẫn chứng để chứng minh tính đúng đắn, đồng thời bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề tư tưởng, đạo lí được bàn luận.</p> <p>- Khi bàn luận, đánh giá cần thận trọng, khách quan, có căn cứ vững chắc.</p> <p>b. Bàn luận về mức độ đầy đủ, toàn diện của tư tưởng đạo lí mà đề yêu cầu:</p> <p>Khi bàn luận nội dung này, cần lưu ý:</p> <p>- Người viết nên tự đặt ra và trả lời các câu hỏi: Tư tưởng đạo lí ấy đã đầy đủ, toàn diện chưa? Có thể bổ sung thêm điều gì?</p> <p>- Người viết cần lật đi lật lại vấn đề, xem xét từ nhiều góc độ, nhiều quan hệ để đánh giá và bổ sung cho hợp lí, chính xác.</p> <p>- Người viết cần có bản lĩnh, lập trường tư tưởng vững vàng, cần có suy nghĩ riêng, dám đưa ra chính kiến riêng, miễn là có lí, có tinh thần xây dựng và phù hợp đạo lí.</p> <p>3. Rút ra bài học nhận thức và hành động trong cuộc sống: 0,5 điểm (khoảng 10 dòng)</p> <p>Khi đưa ra bài học nhận thức và hành động, cần lưu ý:</p> <p>- Bài học phải được rút ra từ chính tư tưởng đạo lí mà đề yêu cầu, phải hướng tới tuổi trẻ, phù hợp và thiết thực với tuổi trẻ, tránh chung chung, trừu tượng.</p> <p>- Nên rút ra hai bài học, một về nhận thức, một về hành động.</p> <p>- Bài học cần được nêu chân thành, giản dị, tránh hô khẩu hiệu, tránh hứa suông hứa hão.</p> <p>C. KẾT BÀI:</p> <p>- Đánh giá ngắn gọn, khái quát về tư tưởng, đạo lí đã bàn luận.</p> <p>- Phát triển, liên tưởng, mở rộng, nâng cao vấn đề.</p> <p><strong>Kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống</strong></p> <p>A. MỞ BÀI:</p> <p>- Giới thiệu sự việc, hiện tượng cần bàn luận</p> <p>- Mở ra hướng giải quyết vấn đề: Thường là trình bày suy nghĩ</p> <p>B. THÂN BÀI:</p> <p>1. Giải thích hiện tượng đời sống: 0,5 điểm (khoảng 10 dòng)</p> <p>Khi giải thích cần lưu ý:</p> <p>- Bám sát hiện tượng đời sống mà đề yêu cầu, tránh suy diễn chủ quan, tuỳ tiện.</p> <p>- Làm nổi bật được vấn đề cần bàn bạc trong bài.</p> <p>2. Bàn luận về hiện tượng đời sống: 2,0 điểm (khoảng 1,5 đến 2 mặt giấy thi)</p> <p>- Phân tích các mặt, các biểu hiện của sự việc, hiện tượng đời sống cần bàn luận</p> <p>- Nêu đánh giá, nhận định về mặt đúng - sai, lợi - hại, lí giải mặt tích cực cũng như hạn chế của sự việc, hiện tượng ấy, bày tỏ thái độ đồng tình, biểu dương hay lên án, phê phán.</p> <p>- Chỉ ra nguyên nhân của của sự việc, hiện tượng ấy, nêu phương hướng khắc phục mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực của sự việc, hiện tượng.</p> <p>3. Rút ra bài học nhận thức và hành động trong cuộc sống: 0,5 điểm (khoảng 10 dòng)</p> <p>Liên hệ với bản thân và thực tế đời sống, rút ra bài học nhận thức và hành động. (Đề xuất bài học về cách sống, cách ứng xử nói chung và đối với bản thân nói riêng.)</p> <p>C. KẾT BÀI:</p> <p>- Đánh giá chung về sự việc, hiện tượng đời sống đã bàn luận</p> <p>- Phát triển, mở rộng, nâng cao vấn đề.</p> <p><strong>Kiểu bài về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học</strong></p> <p>A. MỞ BÀI:</p> <p>- Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề xã hội đặt ra trong các tác phẩm văn học cần bàn luận.</p> <p>- Mở ra hướng giải quyết vấn đề.</p> <p>B. THÂN BÀI:</p> <p>1. Vài nét về tác giả và tác phẩm: 0,5 điểm (khoảng 10 dòng):</p> <p>Giới thiệu ngắn gọn tác giả, tác phẩm có vấn đề nghị luận.</p> <p>2. Bàn luận vấn đề xã hội đặt ra trong các tác phẩm văn học mà đề yêu cầu: 2,0 điểm (khoảng 1,5 đến 2 mặt giấy thi)</p> <p>- Nêu vấn đề được đặt ra trong tác phẩm văn học:</p> <p>+ Người viết phải vận dụng kĩ năng đọc - hiểu văn bản để trả lời các câu hỏi: Vấn đề đó là gì? Được thể hiện như thế nào trong tác phẩm?</p> <p>+ Cần nhớ, tác phẩm văn học chỉ là cái cớ để nhân đó mà bàn bạc, nghị luận về vấn đề xã hội, vì thế không nên đi quá sâu vào việc phân tích tác phẩm mà chủ yếu rút ra vấn đề có ý nghĩa xã hội để bàn bạc.</p> <p>- Từ vấn đề xã hội được rút ra, người viết tiến hành làm bài nghị luận xã hội, nêu những suy nghĩ của bản thân mình về vấn đề xã hội ấy:</p> <p>+ Vấn đề được yêu cầu bàn luận ở đây (cũng là vấn đề xã hội mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm văn học) có thể là 1 tư tưởng đạo lí, có thể là một hiện tượng đời sống.</p> <p>+ Vì vậy người viết chỉ cần nắm vững cách thức làm các kiểu bài nghị luận xã hội (về tư tưởng đạo lí, về một hiện tượng của đời sống) để làm tốt phần này.</p> <p>+ Khẳng định ý nghĩa của vấn đề trong việc tạo nên giá trị của tác phẩm.</p> <p>3. Rút ra bài học nhận thức và hành động trong cuộc sống: 0,5 điểm (khoảng 10 dòng)</p> <p>Khi đưa ra bài học nhận thức và hành động, cần lưu ý:</p> <p>- Bài học phải được rút ra từ chính vấn đề xã hội (tư tưởng đạo lí hoặc hiện tượng đời sống) được đặt ra trong tác phẩm mà đề yêu cầu, phải hướng tới tuổi trẻ, phù hợp và thiết thực với tuổi trẻ, tránh chung chung, trừu tượng.</p> <p>- Nên rút ra hai bài học, một về nhận thức, một về hành động.</p> <p>- Bài học cần được nêu chân thành, giản dị, tránh hô khẩu hiệu, tránh hứa suông hứa hão.</p> <p>C. KẾT BÀI:</p> <p>- Đánh giá ngắn gọn, khái quát về vấn đề xã hội đã bàn luận.</p> <p>- Phát triển, liên tưởng, mở rộng, nâng cao vấn đề.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Tue, 07 Jul 2026 07:08:28 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                                    <media:keywords></media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/loi-bai-hat-hong-nhan-a110465.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/loi-bai-hat-hong-nhan-a110465.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/loi-bai-hat-hong-nhan-a110465.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/loi-bai-hat-hong-nhan-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<h3><strong>Bài hát Hồng nhan của Jack, bản sao Phan Mạnh Quỳnh giữ vị trí đầu tiên trên #zingchart real-time</strong></h3> <p>Thời gian qua, một giọng ca trẻ <strong>sở hữu</strong> phong cách tương tự Phan Mạnh Quỳnh được chú ý, đó là Jack. Trong bài hát Hồng nhan đứng đầu bảng xếp hạng và phổ biến trên mạng xã hội, Jack được nhận xét có lối hát giống hệt giọng ca Hồi ức, cách rap lại na ná Đen.</p> <p>Hiệu ứng từ Hồng nhan và Jack một lần nữa chứng tỏ âm nhạc đậm chất miền Tây pha màu sắc đương đại luôn có đông đảo khán giả đón nhận.</p> <p>Có 3 ca khúc Indie/Underground lọt top 10 #zingchart tuần này là Hồng nhan, Một đêm say (hạng 6) và Bông hoa chẳng thuộc về ta (hạng 9). Hồng nhan của Jack tiến nhanh trên bảng xếp hạng (BXH) ngay khi ra mắt.</p> <p>Bài hát Hồng nhan nói về câu chuyện cô gái rời bỏ chàng trai đi lấy chồng trong thời gian anh lên đường nhập ngũ.</p> <figure><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/loi-bai-hat-hong-nhan-1.jpg" alt="loi bai hat hong nhan cua jack" /> <figcaption> <p><strong> Lời bài hát Hồng nhan của Jack, bản sao Phan Mạnh Quỳnh</strong></p> </figcaption> </figure> <p>“Thương cha thương mẹ để đành lòng mà quay lưng/ 25 âm lịch nhìn người cười mà rưng rưng/ Bên kia là pháo hoa/Rộn ràng người đến xem/ Họ hàng mừng kết duyên/ Còn phần mình là hết duyên”,… <strong>lời bài hát</strong> cùng hình ảnh người lính trong MV khắc họa rõ ràng chân dung nhân vật chính.</p> <p>Cùng thời điểm chuẩn bị nhập ngũ, chàng trai nhận lời chia tay từ người yêu. Anh đau khổ nhìn mối tình đã qua nhưng luôn dặn lòng mạnh mẽ để phục vụ tổ quốc. Hình ảnh chàng trai cũng là thông điệp tác giả muốn truyền tải.</p> <h4><strong>Lời bài hát Hồng nhan của Jack</strong></h4> <p>Và dòng thư tay em gửi trao anh ngày nào </p> <p>Giờ còn lại hư vô em gửi anh đây lời chào </p> <p>Mà nhìn người đi vội mình làm gì nên tội </p> <p>Tại sao lại cách xa còn yêu như thế mà </p> <p>Để lệ hoen mi khi mùa xuân đang thầm thì </p> <p>Nhìn người mà ra đi anh chẳng níu kéo điều gì </p> <p>Mà nghe sao đáng thương nhìn nhau như cố hương </p> <p>Tìm em ở bốn phương vì say nên vấn vương </p> <p>Em ơi vô tình dù tình mình gặp không may </p> <p>Em xa nơi này để giọt lệ ở bên đây </p> <p>Bầu trời giờ hắt hiu nhìn về nơi đó đây </p> <p>Ngoài trời thì có mây chỉ còn lại là đắng cay </p> <p>Thương cha thương mẹ để đành lòng mà quay lưng 25 âm lịch nhìn người cười mà rưng rưng </p> <p>Bên kia là pháo hoa rộn ràng người đến xem Họ hàng mừng kết duyên còn phần mình là hết duyên</p> <p>Ohh Anh như kẻ lạc còn tâm tối giữa rừng thông </p> <p>Nơi cánh chim nhỏ lạc đàn tìm bến đỗ để ngừng trông </p> <p>Anh là 1 con đom đóm mắt anh sáng đến xoay vòng </p> <p>Gieo cho anh cả 1 mầm sống nhưng chẳng chịu công vun trồng </p> <p>Vì lúc ấy ta còn trẻ nên đời bạc và mưu sinh </p> <p>Anh chưa học hết lớp 10 người ta gọi là lưu linh </p> <p>Anh gắn bó với sông nước và cảnh vật này hữu tình </p> <p>Còn người ta cho em áo lụa hỏi tại sao chẳng phụ mình</p> <p>Tình yêu ơi bình yên ơi </p> <p>Về đây đi để anh ôm để gió cuốn đêm nay ai đưa về nhà </p> <p>Để gió vang lên câu tình ca </p> <p>Để lệ hoen mi khi mùa xuân đang thầm thì </p> <p>Nhìn người mà ra đi anh chẳng níu kéo điều gì </p> <p>Mà nghe sao đáng thương nhìn nhau như cố hương </p> <p>Tìm em ở bốn phương vì say nên vấn vương </p> <p>Hết rồi cuối cùng nắng thì cũng đã ngã vàng </p> <p>Bên người nhân tình em phải thương bản thân mình</p> <p>Buồn lắm phải không giã tràng lấp biển Đông </p> <p>Biết người cũng chả trông nên thôi câu chuyện thả ra sông </p> <p>Nhưng nếu anh say như thế này thì ai xem </p> <p>Người ta sẽ nói anh tệ với những thứ mà em đem </p> <p>Vì thế nên anh phải sống như cái cách anh từng mơ </p> <p>Dù cho bản thân này hóa đá nhưng trái tim chẳng ngừng thở </p> <p>Và ba của anh là lính má anh từng làm cán bộ </p> <p>Anh không cho phép mình khóc xe có hư cũng ráng độ </p> <p>Đời người là kiếp lãng du, anh chẳng may làm lữ khách </p> <p>Đi với nhau cả 1 hành trình giờ có xa chẳng nỡ trách </p> <p>Em ước là đời của em bình yên </p> <p>Chẳng buồn phiền như người ta </p> <p>Mà giờ ra đây mà xem có người đang lên kiệu hoa </p> <p>Và rồi sẽ tốt nhưng mà ở nơi khác chẳng còn bận lòng như ở đây </p> <p>Tình yêu của anh thì có đủ mùi vị nhưng mà chẳng ngọt như ở tây</p> <p>Nà na na na (xN) </p> <p>Để lệ hoen mi khi mùa xuân đang thầm thì </p> <p>Nhìn người mà ra đi anh chẳng níu kéo điều gì </p> <p>Mà nghe sao đáng thương nhìn nhau như cố hương </p> <p>Tìm em ở bốn phương vì say nên vấn vương.</p> <p>Và dòng thư tay em gửi trao anh ngày nào giờ còn lại hư vô em gửi anh đây lời chào</p> <p>Mà nhìn người đi vội mình làm gì nên tội tại sao lại cách xa còn yêu như thế mà</p> <p>Để lệ hoen mi khi mùa xuân đang thầm thì nhìn người mà ra đi anh chẳng níu kéo điều gì</p> <p>Mà nghe sao đáng thương nhìn nhau như cố hương tìm em ở bốn phương vì say nên vấn vương</p> <p>Em ơi vô tình dù tình mình gặp không may em xa nơi này để giọt lệ ở bên đây</p> <p>Bầu trời giờ hắt hiu nhìn về nơi đó đây ngoài trời thì có mây chỉ còn lại là đắng cay</p> <p>Thương cha thương mẹ để đành lòng mà quay lưng 25 âm lịch nhìn người cười mà rưng rưng</p> <p>Bên kia là pháo hoa rộn ràng người đến xen họ hàng mừng kết duyên còn phần mình là hết duyên</p> <p>Ohh...Anh như trẻ lạc còn tâm tối giữa rừng thông</p> <p>Nơi cánh chim nhỏ lạc đàn tìm bến đỗ để ngừng trông</p> <p>Anh là một con đom đóm mắt anh sáng đến xoay vòng</p> <p>Gieo cho anh cả một mầm sống nhưng chẳng chịu công vun trồng</p> <p>Vì lúc ấy ta còn trẻ nên đời bạc và mưu sinh</p> <p>Anh chưa học hết lớp 10 người ta gọi là lưu linh</p> <p>Anh gắn bó với sông nước và cảnh vật này hữu tình</p> <p>Còn người ta cho em áo lụa hỏi tại sao chẳng phụ mình</p> <p>Tình yêu ơi bình yên ơi về đây đi để anh ôm </p> <p>Để gió cuốn đêm nay ai đưa về nhà để gió vang lên câu tình ca</p> <p>Để lệ hoen mi khi mùa xuân đang thầm thì nhìn người mà ra đi anh chẳng níu kéo điều gì</p> <p>Mà nghe sao đáng thương nhìn nhau như cố hương tìm em ở bốn phương vì say nên vấn vương</p> <p>Hết rồi cuối cùng nắng thì cũng đã ngả vàng bên người nhân tình em phải thương bản thân mình</p> <p>Buồn lắm phải không dã tràng lấp biển Đông biết người cũng chả trông nên thôi câu chuyện thả ra sông</p> <p>Nhưng nếu anh say như thế này thì ai xem người ta sẽ nói anh tệ với những thứ mà em đem</p> <p>Vì thế nên anh phải sống như cái cách anh từng mơ dù cho bản thân này hóa đá nhưng trái tim chẳng ngừng thở</p> <p>Và ba của anh là lính má anh từng làm cán bộ anh không cho phép mình khóc xe có hư cũng ráng độ</p> <p>Đời người là kiếp lãng du, anh chẳng may làm lữ khách đi với nhau cả một hành trình giờ có xa chẳng nỡ trách</p> <p>Em ước là đời của em bình yên chẳng buồn phiền như người ta mà giờ ra đây mà xem có người đang lên kiệu hoa</p> <p>Và rồi sẽ tốt nhưng mà ở nơi khác chẳng còn bận lòng như ở đây tình yêu của anh thì có đủ mùi vị nhưng mà chẳng ngọt như ở tây</p> <p>.Để lệ hoen mi khi mùa xuân đang thầm thì nhìn người mà ra đi anh chẳng níu kéo điều gì</p> <p>Mà nghe sao đáng thương nhìn nhau như cố hương tìm em ở bốn phương vì say nên vấn vương.</p> <p><strong>Tú Linh</strong></p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Tue, 07 Jul 2026 05:11:32 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/loi-bai-hat-hong-nhan-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/loi-bai-hat-hong-nhan-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                                    <media:keywords></media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Chiến Tranh ... Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ  (Trần Chung Ngọc)]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-hay-ve-hoang-phu-ngoc-tuong-a110463.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-hay-ve-hoang-phu-ngoc-tuong-a110463.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/nhan-dinh-hay-ve-hoang-phu-ngoc-tuong-a110463.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<i>đăng ngày 24 tháng 4, 2008 </i> <p> </p> <p> Ngày 19 tháng 4, 2008, trang nhà sachhiem.net có chuyển cho tôi vài lời “nhắn tin” của ông Nguyen Thang như sau:</p> <p><i> “Tôi vừa có biết một bài báo trên talawas của Tiêu Dao Bảo Cự, trong đó có nói về bài “chiến tranh nhìn từ một phía, phía của không phía” của tác giả Trần Chung Ngọc. Nay muốn nhắn tin đến sachhiem và muốn giới thiệu gián tiếp đến ông bài viết này.”</i></p> <p> Tò mò muốn biết ông Tiêu Dao Bảo Cự nói gì về bài <i>“Chiến Tranh Nhìn Từ Một Phía: Phía Của Không Phía”</i> mà tôi viết từ tháng 10, 2006, đã đăng trên giaodiem.com trước đây, và có giữ trên giaodiemonline.com và sachhiem.net, nhưng không gửi cho Talawas, tuy rằng chủ đề <i>“Chiến Tranh Nhìn Từ Nhiều Phía”</i> là ở trên Talawas. Có nhiều lý do tôi không muốn bài của tôi ở trên Talawas tuy rằng trước đây Giáo sư Thái Kim Lan có đề nghị tôi gửi bài phê bình Luật sư Nguyễn Hữu Liêm đến Talawas. Gần đây, qua vụ Tòa Khâm Sứ, tôi mới gửi vài ý kiến ngắn đến Talawas, và ý kiến sau cùng, vì Talawas lấy quyền chủ biên edit lại ý và nội dung nên tôi đã thấy không cần thiết phải đưa lên Talawas nữa.</p> <p> Vào Talawas tôi thấy có bài <i>“Từ “Bi kịch Hoàng Phủ Ngọc Tường” đến “Hội chứng chính nghĩa” và “Bi kịch của chúng ta”” </i>của ông Tiêu Dao Bảo Cự và tôi đoán là có thể ông Tiêu Dao Bảo Cự phê bình bài “Chiến Tranh…” của tôi trong đó. Ít lâu nay tôi không vào Talawas và dù có vào tôi cũng không quan tâm đến những bài viết về <i>“Bi kịch Hoàng Phủ Ngọc Tường”</i> vì đó không phải là chủ đề mà tôi muốn đọc hay muốn biết.</p> <p> Đọc bài của ông Tiêu Dao Bảo Cự [TDBC] tôi thấy đúng là trong đó có một đoạn ông phê bình bài <i> “Chiến Tranh…”</i> của tôi và đọc đoạn này tôi thấy sự hiểu biết của tôi về cuộc chiến tranh Việt Nam vừa qua và của ông Tiêu Dao Bảo Cự có thể nói là bất khả tương hợp. Bởi vì ông TDBC có vẻ như vẫn đứng về một phía, qua một góc lăng kính, để luận về cuộc chiến tranh Việt Nam trong khi chủ trương của tôi là “phía của không phía”. Bài này chỉ đưa ra vài nhận xét về đoạn ông TDBC phê bình bài <i>“Chiến Tranh…” </i>của tôi mà thôi, những phần khác tôi xin đặt ra ngoài lề.</p> <p> Ông TDBC phê bình <i>“phía của không phía”</i> của tôi, gài trong một câu như sau: <i> “Chiến tranh nhìn từ một phía, thậm chí “phía của không phía”</i> <i> (thực ra là một cách nói ra vẻ khách quan nhưng vô nghĩa) đều lệch lạc mà phải đứng trên bình diện dân tộc và nhân loại để nhìn nhận một cách đầy đủ, rút ra bài học để giải quyết những vấn nạn còn tồn tại do nó tạo ra cũng như những vấn đề mới của lịch sử.</i>” Tôi thấy câu trên khá mâu thuẫn, vì theo ông TDBC thì chiến tranh nhìn từ “một phía” hay từ “phía của không phía” đều lệch lạc cả, <i>mà phải đứng trên bình diện dân tộc và nhân loại để nhìn nhận một cách đầy đủ. </i>Như vậy có phải là ông TDBC đã đứng về “phía của dân tộc” và “của cả nhân loại” để nhìn cuộc chiến tranh Việt Nam cho đầy đủ rồi không? Mặt khác, chúng ta cũng có thể hiểu “bình diện dân tộc” thì không phải là “quốc gia”, hay “cộng sản”, hay “Mỹ” v..v.., nghĩa là “phía của không phía”, có phải không? </p> <p> Nhưng đọc ý kiến của ông TDBC trong chuyên mục<i> “Chiến tranh nhìn từ nhiều phía” </i>trên Talawas trước đây, chúng ta thấy rõ ông ta đã ở một phía.. Và vì vậy tôi đã phê bình ông trong bài <i>“Chiến Tranh Nhìn Từ Một Phía: Phía Của Không Phía”. </i> Nếu muốn, quý độc giả có thể tìm đọc bài này trên sachhiem.net: https://sachhiem.net/TCN/TCNts/TCNts15.php, hay trên giaodiemonline.com, đặc biệt về phần tôi phê bình Tiêu Dao Bảo Cự. </p> <p> Nếu thật sự đứng trên bình diện dân tộc thì cuộc chiến tranh Việt Nam có thể tóm gọn trong một câu: <b><i>“Đó là cuộc tranh đấu giành độc lập và thống nhất cho nước nhà, theo truyền thống chống ngoại xâm trong suốt giòng lịch sử của Việt Nam, và đã thành công. Chấm hết.” </i></b> Còn đứng trên bình diện “nhân loại” thì tôi không có khả năng, vì tôi không thể xác định được nhân loại ngày nay là Mỹ, Tàu, Nga v..v.. hay Vatican, hay Hồi Giáo, hay tất cả Đen, Vàng, Trắng, Nâu và Ngăm Ngăm, hay “tình nhân loại”...</p> <p> Ông TDBC viết: <i>“Chuyên mục “Chiến tranh nhìn từ nhiều phía” của Talawas đã đăng tải bao nhiêu ý kiến khác biệt, đối nghịch và không ai có thể đưa ra kết luận sau cùng.” </i>Tại sao vậy? Vì tất cả các ý kiến đều viết theo tâm cảnh từ một phía, hoặc chưa nghiên cứu kỹ về mọi khía cạnh của cuộc chiến, và đôi khi còn viết lên những ý kiến hết sức ngớ ngẩn nữa, tôi có thể khẳng định như vậy [Xin đọc lại bài https://sachhiem.net/TCN/TCNts/TCNts15.php.] Nếu viết theo <i>“phía của không phía”</i> alias <i>“bình diện dân tộc”</i>, nghĩa là chỉ dựa trên những sự kiện lịch sử đã xẩy ra trên đất nước Việt Nam và nhìn chúng như thật sự là chúng như vậy, thì kết luận đã rất là rõ ràng. Kết luận này là từ sự tổng hợp của một núi tài liệu viết bởi các học giả mà hầu hết không ở phía nào, vì được viết sau 1975 nhiều năm dựa trên sự nghiên cứu nghiêm chỉnh các tài liệu, kể cả các tài liệu và phim ảnh đã được giải mật. Kết luận này có thể thâu tóm trong mấy điểm sau đây:</p> <p>- <b>Thực chất cuộc chiến là chống ngoại xâm: mới đầu là chống toan tính của Pháp-Mỹ-Vatican muốn tái áp đặt nền đô hộ trên đất nước Việt Nam (1945-1954), và sau là chống trình tự đế quốc của Mỹ muốn áp đặt trên đầu người dân Việt Nam sau thời thuộc địa (1954-1975) những “giá trị” của Mỹ.</b> Mà giá trị của Mỹ là gì? Alexis de Tocqueville đã có một nhận xét khá chính xác về “giá trị” của Mỹ: <i>“Khi chúng ta đào sâu vào đặc tính quốc gia của người Mỹ, chúng ta thấy rằng họ chỉ tìm giá trị của mọi thứ trên thế giới trong câu trả lời của câu hỏi: Nó mang đến bao nhiêu tiền”</i> </p> <p> Đó đích thực là một cuộc chiến của người Việt Nam chống ngoại xâm, danh từ “giải phóng” không thích hợp vì Việt Nam đã là một quốc gia độc lập từ ngày 2.9.1945, không còn ở trong hoàn cảnh bị đô hộ, cho nên không cần phải giải phóng. Pháp-Mỹ dùng quân sự muốn tái lập nền đô hộ của Pháp trên đất nước Việt Nam nên Việt Nam kháng chiến chống lại và kết quả là trận Điện Biên Phủ. Mỹ dựng lên chính quyền Công giáo Ngô Đình Diệm để làm tiền đồn chống Cộng cho Mỹ, sau đó mang hơn nửa triệu quân vào tàn phá đất nước Việt Nam, về sinh mạng và về vật chất, cho nên Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chủ trương “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Kết quả là ngày 30.4.1975. </p> <p>- Tuyệt đại đa số những tác phẩm viết nghiêm chỉnh về cuộc chiến ở Việt Nam đều viết bởi các tác giả có uy tín trong xã hội như học giả, giáo sư đại học, bộ trưởng, cựu tướng lãnh, chính trị gia v..v.., những người đặt sự lương thiện trí thức lên hàng đầu. Trường phái gọi là “chính thống” này thường viết dựa trên những sự kiện lịch sử và phân tích sự việc như chúng là như vậy. Phần lớn là viết sau năm 1975, có khi cả nhiều năm sau. Không có lý những học giả của Mỹ trong các đại học lớn lại viết về chiến tranh Việt Nam với mục đích xuyên tạc sự thật để bôi nhọ quốc gia của họ. Kết luận của trường phái gọi là “chính thống” (orthodox) này là:<b> “Cuộc can thiệp </b> (intervention)<b> hay xâm lăng </b>(invasion)<b> của Mỹ vào Việt Nam là bất chính và là một sự sai lầm lớn lao.” </b> Điều này đúng hay sai? Chúng ta hãy xét lại vài sự kiện lịch sử.</p> <p> Giáo sư Stephen Vlastos ở Đại học Iowa viết:</p> <p> <b>Từ năm 1950 Mỹ đã trực tiếp trợ cấp cho cuộc chiến tranh</b> [để tái lập nền thuộc địa] <b>của</b> <b>Pháp.</b> <b>Khi chiến tranh chấm dứt vào năm 1954, Mỹ đã trả 80% chiến phí cho Pháp.</b> <b>Mục đích của Pháp luôn luôn là khôi phục nền thuộc địa. </b> <b>Tài trợ cho cuộc chiến của Pháp, chính quyền Truman đã liên kết Hoa Kỳ với chủ nghĩa thực dân và chống lại phong trào giải phóng quốc gia, lãnh đạo bởi Cộng Sản, và được người dân ủng hộ rộng rãi.</b> [From 1950, the U.S. directly subsidized France’s war. France’s aims remained restorationist and colonial. When the war ended in 1954In financing the French war, the Truman administration aligned the United States with colonialism and against a broadly supported, and Communist-led, movement of national liberation]</p> <p> Như vậy, <b>Mỹ đã là đồng lõa xâm lược với Pháp từ năm 1950 chứ không phải chỉ xâm lăng sau Hiệp Định Geneva.</b> Mặt khác, đọc lịch sử chúng ta thấy Mỹ có những hành động trịch thượng, kiêu căng vô lối, tự cho mình có quyền định đoạt số phận của Việt Nam. Chúng ta hẳn còn nhớ, sau Thế Chiến II, trước khi giúp Pháp trở lại Đông Dương, Tổng Thống Mỹ Roosevelt đã hỏi Tưởng Giới Thạch là<i> “Có muốn Đông Dương không?”</i>. Và Tưởng Giới Thạch đã trả lời: <i>“Điều này không giúp gì cho chúng tôi. Chúng tôi không muốn. Họ không phải là người Tàu. Họ sẽ</i> <i>không chịu hòa nhập vào dân Tàu” </i>(<i>Backfire</i>, p. 43: Mr. Roosevelt asked Chiang: “Do you want Indo-China?” The Generalissimo replied: “It’s no help to us. We don’t want it. They are not Chinese. They would not assimilate into the Chinese people.”)</p> <p> Giáo sư Noam Chomsky ở Đại học Harvard viết: </p> <p><b><i> Mỹ đã tham gia sâu vào nỗ lực của Pháp để tái chinh phục thuộc địa trước của Pháp, biết rõ rằng kẻ thù là một phong trào quốc gia của Việt Nam.</i></b><i> <b>Khi Pháp rút lui, Mỹ dấn thân ngay lập tức vào việc phá hoại Hiệp Định Geneva, dựng lên một chế độ khủng bố ở miền Nam, một chế độ, cho đến năm 1961, đã giết tới 70000 “Việt cộng”</b>, <b>làm nổi lên cuộc kháng chiến mà từ năm 1959 được sự ủng hộ của nửa nước miền Bắc tạm thời chia đôi bởi Hiệp Định Geneva năm 1954 mà Mỹ đã phá ngầm…</b> </i></p> <p> <i> <b>Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân loại trên khắp Đông Dương.</b></i></p> <p> (The United States was deeply committed to the French effort to reconquer their former colony, recognizing throughout that the enemy was the nationalist movement of Vietnam. When France withdrew, the United States dedicated itself at once to subserting the 1954 Geneva settlement, intalling in the South a terrorist regime that had killed perhaps 70,000 “Viet Cong” by 1961, evoking resistance which, from 1959, was supported from the Northern half of the country temporarily divided by the 1954 settlement that the United States had undermined… In short, the US invaded South Vietnam, where it proceeded to compound the crime of aggression with numerous and quite appalling crimes against humanity throughout Indochina.)</p> <p> Và Daniel Ellsberg, người khui ra <i>Tài Liệu Ngũ Giác Đài</i>, viết trong cuốn <i> Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, </i>Viking, năm 2002, p.255:</p> <p><b><i> “Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lăng của Mỹ”.</i></b></p> <p> (In terms of the UN Charter and our own avowed ideals, it was a war of foreign agression, American aggression.)</p> <p> Do đó, <b>mọi lý do Mỹ dùng để can thiệp vào Việt Nam trở thành vô giá trị,</b> không thể biện minh được, trước những sự kiện trên. Sự thật là, Mỹ tự ban cho mình quyền của một cảnh sát quốc tế, ép buộc mọi quốc gia phải theo sự xếp đặt của mình, nghĩa là, áp dụng luật rừng và cường quyền thắng công lý của kẻ mạnh. <b> Nhưng thực ra, theo những tài liệu hiện hữu của một số học giả Mỹ, cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam có nhiều tính cách xâm lăng và nằm trong chủ trương bá quyền của Mỹ trên khắp thế giới chứ không phải chỉ riêng ở Việt Nam. </b> Mỹ đã can thiệp vào nội bộ của nhiều nước: El Salvador, Dominican Republic, Philippines, Thailand v..v..</p> <p> <b>Như vậy, cuộc xâm lăng của Pháp-Mỹ, rồi Mỹ, đã là một sự kiện. </b> Do đó những vấn đề như ý thức hệ Cộng sản đối với ý thức hệ Quốc gia, hay Thế giới Tự Do chống Thế giới Cộng sản v..v.. đều trở thành không thích hợp (irrelevant), vì đối với tuyệt đại đa số người dân Việt Nam thì họ chỉ biết rằng có cuộc xâm lăng, và điều này hiển nhiên trước mắt họ chứ không phải là do bị tuyên truyền, cho nên họ phải chống xâm lăng theo truyền thống dân tộc: “giặc đến nhà đàn bà phải đánh”, đơn giản có thế thôi.</p> <p> Nhưng ông TDBC không đồng ý đó là một cuộc xâm lăng mà tất cả là do lỗi của đảng CSVN như ông đã trình bày trong bài <i>Chiến tranh, nghệ thuật tuyên truyền và chân lý lịch sử</i>trên Talawas trước đây, tôi thấy cần phải nhắc lại đoạn đó ở đây:</p> <p><b>Tiêu Dao Bảo Cự:</b> <i> Tại sao chính quyền Mỹ lâm chiến ở Việt Nam sau khi hiệp định Genève được ký kết, chia đôi đất nước? <b>Nếu không có cuộc chiến tranh giải phóng của miền Bắc, được chuẩn bị ngay từ năm 1954 khi cài cấy cán bộ ở lại và sau đó từng bước đưa vũ khí và quân đội vào miền Nam và cuộc chiến lan rộng thì Mỹ có trực tiếp đưa quân vào miền Nam không</b></i><b>?</b> <i> Miền Nam có cần được giải phóng không khi lúc đó hai miền đều có chính quyền và do hoàn cảnh lịch sử đều có mức độ lệ thuộc nước ngoài không khác nhau là mấy và không thể nói là bị xâm lược? <b>Nếu không có xâm lược thì không thể có chiến tranh giải phóng mà đó đích thực là nội chiến.</b> Nội chiến kết với chiến tranh ủy nhiệm đã tạo ra chiến tranh xâm lược khi Mỹ trực tiếp đưa quân vào Việt Nam. (Thực ra vai trò của Liên Xô và Trung Quốc lúc đó đối với Miền Bắc không khác gì vai trò của Mỹ ở Miền Nam, nhưng vì Mỹ sai lầm trong việc đưa quân vào Việt Nam nên bị <b>mang tiếng là xâm lược</b> và đây cũng là nguyên chính đưa đến sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến, đặc biệt là cuộc chiến tuyên truyền của những người Cộng Sản.)</i> </p> <p> Tôi đã phê bình chi tiết đoạn này trong bài <i>“Chiến Tranh…, Phía Của Không Phía”</i>: https://sachhiem.net/TCN/TCNts/TCNts15.php, cho nên không nhắc lại nữa. Ở đây, tôi chỉ đặt vài câu hỏi ngắn:</p> <p>- Hiệp định Geneva chia đôi đất nước?</p> <p>- Có thật là miền Bắc đã chuẩn bị chiến tranh giải phóng từ năm 1954 không?</p> <p>- Miền Bắc hô hào thi hành cuộc Tổng Tuyển Cử theo đúng quy định của Hiệp Định Geneva. Nếu có cuộc Tổng Tuyển Cử năm 1956 theo quy định của Hiệp Định Genève thì có cần đến chiến tranh giải phóng hay không?</p> <p>- Nước ngoài nào dựng lên chính quyền miền Nam?</p> <p>- Nước ngoài nào dựng lên chính quyền miền Bắc?</p> <p>- Mức độ chính quyền miền Nam lệ thuộc Mỹ là như thế nào, và từ bao giờ?</p> <p>- Mức độ chính quyền miền Bắc lệ thuộc Nga Hoa là như thế nào, và từ bao giờ?</p> <p>- Mang nửa triệu quân vào đất nước của người ta mà không phải là xâm lược, chỉ bị mang tiếng là xâm lược?? Vậy thế nào mới là xâm lược??</p> <p>- Tại sao Mỹ lại “Việt Nam hóa” [Vietnamization] cuộc chiến? Trước khi “Việt Nam hóa” thì đó là cuộc chiến của ai? Có phải là của quân xâm lược đối với nhân dân Việt Nam không?</p> <p> Tôi xin để cho độc giả nhận định về cái nhìn về chiến tranh Việt Nam như trên của TDBC, có phải là <i>đứng trên bình diện dân tộc và nhân loại để nhìn nhận một cách đầy đủ </i> [sic] không, hay chỉ là những luận điệu biện minh cho cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam của Mỹ và của giới chống Cộng ở hải ngoại, nói mà không biết mình nói cái gì, với luận điệu tất cả đều đổ lỗi cho Cộng sản đã ngoan cố tranh đấu cho nền độc lập và thống nhất của Việt Nam. Thật là không có luận điệu nào lại thiếu hiểu biết một cách quá tệ hại như vậy. </p> <p> Đọc đoạn trên của ông TDBC chúng ta thấy rõ ràng lập luận của ông là: Hiệp Định Geneva chia đôi đất nước; hai miền đều có chính quyền; miền Bắc chuẩn bị giải phóng miền Nam ngay từ năm 1954; vì miền Bắc đưa vũ khí và quân đội vào miền Nam nên Mỹ mới đưa quân vào Việt Nam; cuộc chiến trước khi Mỹ đưa quân vào đích thực là nội chiến; vì mang quân vào nên Mỹ bị “mang tiếng” [sic] là xâm lược. Tất cả những luận cứ này đều không có một giá trị trí thức nào nếu không muốn nói là ấu trĩ đến độ buồn cười.</p> <p> Và bây giờ, ông TDBC lại ngụy biện và phê bình bài <i>“Chiến Tranh…”</i> của tôi như sau:</p> <p> <i>Khi người dân bình thường nói hay tôi viết </i><i> “Hiệp định Genève chia đôi đất nước”,</i><i> không phải tôi không biết, không đọc, không hiểu nội dung của hiệp định, mà điều đó chỉ có nghĩa là trong thực tế, từ khi có Hiệp định Genève, đất nước bị chia làm hai miền, với hai chính quyền đối địch nhau, mang lại một sự phân ly đau đớn cho dân tộc Việt Nam. Tôi đã viết tương tự về những điều này trong một bài trước nhưng có lẽ ông Trần Chung Ngọc không đọc hoặc không thèm quan tâm, tôi không dám nói là ông không hiểu. Nhưng tôi thấy dù đã rào đón, ông vẫn là người “tận tín thư bất như vô thư” vì ông chỉ trích dẫn ông Tây này nói thế này, ông Tây kia viết thế kia, hiệp định nọ xác định rằng… để đi đến kết luận mà không chịu nhìn nhận và suy nghĩ từ thực tế, hay ông chỉ viết theo định kiến hoặc kết luận có trước. (Rất có thể ông Ngọc là người đọc rộng, biết nhiều nhưng khi ông viết với giọng điệu rất thiếu văn hóa, luôn phỉ báng những người đối thoại là “ngu dốt, có đầu không có óc…”, thiết nghĩ ông chẳng phải là người đáng để tranh luận.)</i></p> <p> Ông TDBC đã lẫn lộn giữa thực tế và nghiên cứu lịch sử trong lãnh vực học thuật (Scholarship). Nghiên cứu lịch sử là tìm hiểu ý nghĩa đích thực của cuộc chiến dựa trên các tài liệu về Cuộc Kháng Chiến Chống Pháp, Hiệp Định Geneva, Nguồn Gốc Sự Can Thiệp Của Mỹ, Cuộc Nổi Giậy Của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, Sự Khao Khát Thống Nhất Đất Nước Của Người Dân Việt Nam và Thực Hiện, Hoàn Tất Nhiệm Vụ Thống Nhất Đất Nước bị tạm ngưng bở Hiệp Định Geneva v..v… Thực tế là có sự xung đột giữa hai phe tạm gọi là Quốc Gia và Cộng Sản, nhưng đó tuyệt đối không phải là cuộc nội chiến. Vì nếu là nội chiến, nghĩa là giữa người Việt với nhau, thì Mỹ lại càng không có lý do gì để can thiệp vào chuyện của người Việt Nam. Chuyện nội bộ của Việt Nam thì để cho người Việt Nam dàn xếp với nhau. Nhưng vì sự can thiệp vô lối của Mỹ cho nên gây nên một tình trạng bi thảm cho Việt Nam: những người yêu nước Việt Nam, dù mang nhãn hiệu Cộng sản, đã bắt buộc phải chiến đấu với một lực lượng xâm lược mạnh hơn gấp bội và một chế độ tay sai do thế lực trên dựng lên, điều mà nhiều tài liệu lịch sử cho thấy, Cộng sản Việt Nam không bao giờ muốn.</p> <p> Cuộc chiến ở Việt Nam có phải là nội chiến không? Đến đây tôi lại phải nhắc lại một nhận định của Daniel Ellsberg trong cuốn <i>Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, </i>Viking, 2002, p.255:</p> <p><i> Không làm gì có chiến tranh Đông Dương thứ nhất và thứ nhì, chỉ có một cuộc xung đột nối tiếp trong một phần tư thế kỷ..</i></p> <p><i> Dùng ngôn từ thực tế, đứng về một phía (Mỹ), <b>ngay từ đầu nó đã là một cuộc chiến của Mỹ: mới đầu là Pháp-Mỹ, sau đến toàn là Mỹ.</b> Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam - không phải là tất cả người Việt Nam nhưng cũng đủ để duy trì cuộc đấu tranh - chống chính sách của Mỹ và những kinh viện, <b>ủy nhiệm</b>, kỹ thuật gia, hỏa lực, và cuối cùng, quân đội và phi công, của Mỹ.</i></p> <p><b><i> Cuộc chiến đó không có gì là “nội chiến”, sau 1956 hay 1960, như nó đã không từng là nội chiến trong cuộc tái chiếm thuộc địa của Pháp được Mỹ ủng hộ.</i></b><i> <b>Một cuộc chiến mà trong đó một phía hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc - một quyền lực nắm quyền quyết định về bản chất của chế độ địa phương vì những quyền lợi của mình - thì không phải là một cuộc nội chiến.</b></i></p> <p><i> Bảo rằng chúng ta “xía vào” cái gọi là “đích thực là một cuộc nội chiến”, như hầu hết các tác giả Mỹ, và ngay cả những người có khuynh hướng tự do chỉ trích cuộc chiến cho rằng như vậy cho đến ngày nay, đơn giản chỉ là che dấu một sự thực đau lòng hơn, và cũng chỉ là một huyền thoại như là luận điệu chính thức về một “cuộc xâm lăng từ miền Bắc”.</i></p> <p><b><i> Theo tinh thần Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lăng của Mỹ.</i></b></p> <p> [There had been no First and Second Indochina Wars, just one continuous conflict for almost a quarter of century.</p> <p> In practical terms, on one side, it had been an American war almost from its beginning: at first French-American, eventually wholly American. In both cases it was a struggle of Vietnamese - not all of them but enough to persist - against American policy and American financing, proxies, technicians, firepower, and finally, troops and pilots.</p> <p> It was no more a “civil war” after 1955 or 1960 than it had been during the US-supported French at colonial reconquest. A war in which one side was entirely equipped and paid by a foreign power - which dictated the nature of the local regime in its own interest - was not a civil war. To say that we had “interfered” in what is “really a civil war”, as most American writers and even liberal critics of the war do to this day, simply screened a more painful reality and was as much a myth as the earlier official one of “agression from the North”. </p> <p> In terms of the UN Charter and our own avowed ideals, it was a war of foreign agression, American aggression.]</p> <p> Ông TDBC phê bình tôi là <i>“chỉ trích dẫn ông Tây này nói thế này, ông Tây kia viết thế kia, hiệp định nọ xác định rằng… để đi đến kết luận mà không chịu nhìn nhận và suy nghĩ từ thực tế, hay ông chỉ viết theo định kiến hoặc kết luận có trước.” </i> Vấn đề không phải là tôi trích dẫn ông Tây này, ông Tây kia, mà trong lãnh vực học thuật, chúng ta cần phải xét xem là ông Tây này, ông Tây kia nói đúng hay sai, nếu sai thì sai ở chỗ nào? Theo nhận định của ông Mỹ Daniel Ellsberg trên thì tôi có thể nói rằng, ông Mỹ đã nhận định vấn đề trên “bình diện dân tộc Việt Nam”, còn ông TDBC thì nhận định vấn đề trên “bình diện dân tộc…Mỹ” mà không hề biết cái dân tộc Mỹ nó như thế nào. </p> <p> Mặt khác, ông TDBC không hiểu rằng, <i>“tận tín thư bất như vô thư”</i> có nghĩa là “Tin tất cả vào một cuốn sách thì thà đừng đọc sách”, nhưng trong bài “Chiến Tranh…” của tôi, tôi đã đưa ra một đống tài liệu của nhiều nhân vật khác nhau, rút ra một mẫu số chung để đưa đến kết luận, thì kết luận đó không phải là do định kiến hoặc kết luận có trước, mà là kết quả cuộc một công cuộc nghiên cứu. Chỉ có những người đã quen thuộc trong lãnh vực nghiên cứu mới có thể làm công việc này. Đọc bất cứ một cuốn sách nào, hay bất cứ một bài khảo luận nào, chúng ta cũng đều thấy trong đó có một phần tài liệu tham khảo rất phong phú. Còn viết bừa, viết bậy theo cảm tính cá nhân, bất cần tài liệu, bất cần sự thật, viết để mà viết, thì ai viết cũng được.</p> <p> Ông TDBC cũng cho rằng tôi “thiếu văn hóa” khi thấy trong một số bài tôi dùng những cụm từ nặng nề như <i>“ngu dốt, có đầu mà không có óc…”, </i>và do đó <i>“thiết nghĩ ông chẳng phải là người đáng để tranh luận”. </i>Nhưng tôi biết ông không hề đọc những bài khác của tôi, vì trong một vài bài, đã hơn một lần tôi đã nói rõ ý của tôi khi dùng những từ đó. Tôi dùng từ “ngu dốt” là theo nghĩa “ngu si vô trí” trong thuật ngữ Phật Giáo, nghĩa là không biết rõ sự thật về một vấn đề nào đó chứ không phải là “đầu óc ngu muội” không có khả năng hiểu biết. Và “dốt” có nghĩa là đi theo vết của anh thợ giầy mà lại cứ muốn đi lên trên nơi giầy dép, tương tự như một thành ngữ của Việt Nam; “Dốt mà hay nói chữ”. Do đó người “ngu dốt” rất có thể là chính tôi, nếu tôi không biết rõ sự thật về một vấn đề nào đó và viết bậy những điều tôi không biết rõ hoặc ngoài sự hiểu biết của tôi. Còn “có đầu mà không có óc” không phải là trong đầu không có óc, mà là không có khả năng tìm hiểu sự thật, suy tư cho rõ ngọn ngành, hay tin bướng tin càn. Những từ này chỉ có thể áp dụng cho một người trước một vấn đề nào đó chứ không thể tổng quát hóa làm thuộc tính của người đó. Những từ này thuộc thuật ngữ phê bình không phải dùng để phỉ báng. </p> <p> Cuối cùng tôi cũng xin nói rõ, tôi chưa bao giờ có ý muốn tranh luận cùng ông TDBC, cho nên có đáng hay không, không phải là vấn đề.</p> <p> Ông TDBC vẫn cho rằng cuộc chiến ở Việt Nam vừa là <i>“chiến tranh ý thức hệ”</i>, vừa là <i> “chiến tranh ủy nhiệm”</i>, vừa là <i>“nội chiến”</i> với những lý luận đại khái như sau:</p> <p> Là <i> “Chiến tranh ý thức hệ”</i> vì, theo TDBC, miền Nam là <i>“tiền đồn chống cộng của thế giới tự do”</i>, và miền Bắc là <i>“vị trí tiền tiêu của phe xã hội chủ nghĩa” </i> [TDBC]. </p> <p> Vậy “chống Cộng” là một ý thức hệ? Đây phải chăng là “ý thức hệ” của Công Giáo, vì Công Giáo chống Cộng năng nổ nhất. Hay là “ý thức hệ” của nhúm người đang biểu tình chống Vietweekly và Người Việt ở Cali.?</p> <p> Là <i> “Chiến tranh ủy nhiệm”</i> vì <i> “hai miền đều nhận tiền bạc, vũ khí của ngoại bang, đều chịu sự chỉ đạo của các cường quốc..”</i> [TDBC] </p> <p> Nhưng thế nào là ủy nhiệm? Ủy nhiệm có nghĩa là ủy thác cho một người khác một nhiệm vụ làm thay cho mình. Vậy thì từ “ủy nhiệm” chỉ có thể áp dụng cho phía Việt Nam Cộng Hòa chứ không thể áp dụng cho phía Bắc Việt. Lý do rất đơn giản. Mỹ dựng lên chế độ miền Nam và quyết định mọi việc, dùng miền Nam để làm tiền đồn chống Cộng cho Mỹ. </p> <p> Điều này có thể chứng minh qua lời trích dẫn ông Nguyễn Văn Thiệu của TDBC: <i>“Chúng ta đổ xương máu thì Mỹ phải đổ đô-la vào”</i> và qua một núi tài liệu hiện hữu, những tài liệu cho rằng VNCH chỉ là một “client regime”, một chế độ tay sai. Còn nước nào dựng lên chính quyền Bắc Việt, và chiến đấu để thống nhất đất nước ngay từ thời Pháp thuộc và chống Nhật có phải là một nhiệm vụ đã được Hoa Nga giao phó để “giải phóng quốc gia” thay cho họ không? Bảo rằng vì Trung Cộng và Nga Sô tiếp tế vũ khí cho Bắc Việt là ủy nhiệm cho Bắc Việt chống Mỹ hộ Nga Sô hay Trung Cộng để thực hiện âm mưu bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản, tôi cho là ngớ ngẩn. Căn bản là chống ngoại xâm. Trước một lực lượng có ưu thế tuyệt đối về quân sự và kinh tế, người Việt yêu nước lấy gì mà chống, nếu không có viện trợ của nước bạn, gậy tầm vông hay súng hỏa mai? </p> <p> Là <i> “nội chiến”</i> vì <i> “người Việt đã cầm súng giết nhau trên chiến trường, tàn sát nhau trên quê hương và hận thù nhau trong tim óc cho đến tận ngày nay.”</i> [TDBC] </p> <p> Vấn đề không đơn giản như vậy. Theo định nghĩa, nội chiến là cuộc chiến giữa hai phe trong một quốc gia mà không có sự nhúng tay hay hiện diện của người ngoài. “Nội”. Do đó, Daniel Ellbergs đã nhận định rất chính xác như đã trích dẫn ở trên: <b>Một cuộc chiến mà trong đó một phía [VNCH] hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc [Mỹ] - một quyền lực nắm quyền quyết định về bản chất của chế độ địa phương vì những quyền lợi của mình - thì không phải là một cuộc nội chiến. </b></p> <p> Mặt khác, điều mà ông TDBC viết : <i>"hận thù nhau trong tim óc cho đến tận ngày nay”</i> tôi thấy phần lớn chỉ là hận thù một chiều của một thiểu số những kẻ đi buôn hận thù không đáng kể ở hải ngoại, không thể tổng quát hóa cho hơn 2 triệu người Việt di cư ở hải ngoại, hay cho 86 triệu đồng bào ở trong nước. Tôi khuyên ông TDBC hãy nhìn vào thực tế và đừng có viết bậy. Mỗi năm người Việt hải ngoại gửi về bao nhiêu tỷ đô la, có bao nhiêu ngàn người về thăm quê hương, đọc báo chí trong nước có thấy sự khích động hận thù nào đối với người quốc gia khi xưa, ở trong nước cũng như ở hải ngoại v.. v… và v.. v…</p> <p> Tôi nghĩ, phê bình đi phê bình lại là chuyện bất đắc dĩ, cực chẳng đã. Nhưng nhiều lúc lại là chuyện không thể không làm. Thôi thì chịu khó mất thì giờ đôi chút cũng chẳng có hại gì.</p> <p> </p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Tue, 07 Jul 2026 04:55:43 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Chiến Tranh ... Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ  (Trần Chung Ngọc)</media:title>
                        <media:keywords>Chiến Tranh ... Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ  (Trần Chung Ngọc)</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Giáo dục]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/lien-he-sang-thu-voi-thu-dieu-a110444.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/lien-he-sang-thu-voi-thu-dieu-a110444.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/lien-he-sang-thu-voi-thu-dieu-a110444.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Dạng mở bài Sang thu chung của một bài viết phân tích cả bài thơ cần đảm bảo bao quát được tất cả các nét đặc trưng về nội dung và nghệ thuật có trong toàn bộ bài thơ. Dưới đây là một số cách học sinh có thể áp dụng để triển khai:</p><p>Mở bài trực tiếp, đi thẳng vào vấn đề là cách tiếp cận dễ nhất, giúp bạn hạn chế tối đa tình trạng lan man, lạc đề. Dưới đây là một số mở bài Sang thu hay bạn có thể tham khảo khi làm văn hay bài thi, đảm bảo sẽ giúp bạn đạt được điểm số cao.</p><p><strong>Mở bài mẫu 1</strong></p><p>Bài thơ "Sang Thu" của Hữu Thỉnh là một bức tranh tinh tế và sinh động về những chuyển biến nhẹ nhàng từ hạ sang thu của thiên nhiên và lòng người. Với ngôn ngữ giản dị mà giàu hình ảnh, Hữu Thỉnh đã vẽ nên cảnh sắc thiên nhiên mùa thu dịu dàng mà thấm đượm, từ hương ổi ngọt ngào trong gió se lạnh đến dòng sông lúc lững lờ lúc vội vã, từ đám mây nửa hạ nửa thu đến cái nắng vàng nhạt dần trên bầu trời. Tất cả tạo nên một bức tranh thu hoàn mỹ, đầy cảm xúc và sâu lắng.</p><p><strong>Mở bài mẫu 2</strong></p><p>"Sang Thu" của Hữu Thỉnh là một tác phẩm tiêu biểu của thơ hiện đại Việt Nam, gợi lên bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp khi mùa hè dần chuyển sang thu. Qua từng câu chữ tinh tế, tác giả dẫn dắt người đọc vào thế giới của những cảm xúc nhẹ nhàng, khi hương ổi chín lan tỏa trong không gian và những biến đổi tinh vi của thiên nhiên khi mùa thu chạm ngõ. Bài thơ không chỉ tả cảnh sắc mùa thu mà còn chứa đựng những suy tư, chiêm nghiệm sâu sắc về sự thay đổi của thời gian và cuộc đời.</p><p>Ngoài cách trực tiếp đi vào giới thiệu tác phẩm, cách mở bài Sang thu gián tiếp, dẫn dắt từ một vấn đề hay liên hệ với những bài thơ cùng nội dung sẽ giúp bài viết trở nên đa dạng, tránh nhàm chán và sáo rỗng.</p><p><strong>Mở bài mẫu 1</strong></p><p>Cũng như mùa xuân, mùa thu luôn mang đến nguồn cảm hứng dạt dào cho các thi nhân. Mỗi nhà thơ lại có góc nhìn và phong cách miêu tả độc đáo, in đậm dấu ấn cá nhân của họ. Có người thấy mùa thu là hình ảnh cây liễu buồn, là màu áo phai nhạt, là tiếng bước chân trên lá vàng khô. Hữu Thỉnh cũng đã thêm vào kho tàng thơ ca mùa thu của dân tộc một góc nhìn tươi mới. Ông nổi tiếng với những bài thơ viết về cuộc sống, con người nông thôn và đặc biệt là về mùa thu. Những vần thơ thu của ông luôn mang theo cảm xúc xao xuyến, bồi hồi trước cảnh sắc thiên nhiên trong trẻo và sự chuyển biến nhẹ nhàng của đất trời. Điều này được thể hiện rõ nét qua bài thơ "Sang thu" mà ông đã sáng tác vào cuối năm 1977.</p><p><strong>Mở bài mẫu 2</strong></p><p>Viết về đề tài mùa thu, nếu thơ ca trung đại có chùm ba bài thơ thu "Thu điếu", "Thu vịnh", "Thu ẩm" của Nguyễn Khuyến, còn thơ Mới có "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư thì thơ ca hiện đại sau năm 1975 nổi bật với bài thơ "Sang thu" của Hữu Thỉnh. Đây là bài thơ đã khắc họa bức tranh thiên nhiên lúc giao mùa với những biến chuyển nhẹ nhàng của tạo vật. Đồng thời, bài thơ cũng thể hiện sự cảm nhận tinh tế của tác giả.</p><p>Dạng mở bài Sang thu nâng cao thường dành cho những học sinh giỏi, mong muốn có một mở đầu ấn tượng. Dạng mở bài này không chỉ tập trung vào giới thiệu tác giả, tác phẩm mà còn phải thu hút người đọc bằng những câu dẫn kèm dẫn chứng sinh động.</p><p><strong>Mở bài mẫu 1 </strong></p><p>Mùa thu là nguồn cảm hứng bất tận trong thơ ca, chỉ một cái mùa thu ấy thôi nhưng giới văn nhân - nghệ sĩ đã biết bao lần cảm thán và tự sáng tác riêng cho mình những vần thơ, những câu hát rất riêng, rất đặc sắc. Ví như Xuân Diệu viết trong "Đây mùa thu tới" bằng một cảm xúc sầu não, ủ rũ khi “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang” với “Hơn một loài hoa đã rụng cành” và “Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”. Hữu Thỉnh chính là một trong các nhà thơ tiêu biểu khi viết về mùa thu với một nét rất riêng. Ông không viết về cuối thu, giữa thu mà chọn một khoảnh khắc tương đối nhạy cảm là thời điểm giao mùa, sang thu. Thế nhưng, khoảnh khắc ấy khi vào thơ đã được tác giả diễn tả một cách vô cùng mượt mà và tinh tế trong bài thơ "Sang thu".</p><p><strong>Mở bài mẫu 2</strong></p><p>Mùa thu đẹp nhưng trầm lắng, man mác một nỗi buồn chia ly đã trở thành nguồn cảm hứng sáng tác bất tận cho thi nhân xưa và nay. Bằng tài năng và những cảm nhận tinh tế của mình, mỗi nhà văn, nhà thơ lại cảm nhận mùa thu ở dáng vẻ và sắc thái riêng biệt. Đó là mùa thu với "hàng liễu đìu hiu đứng chịu tang" trong "Đây mùa thu tới" của Xuân Diệu, là âm thanh xào xạc của lá vàng trong "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư. Cũng viết về mùa thu, nhà thơ Hữu Thỉnh đã mang đến những cảm nhận độc đáo, ấn tượng về khung cảnh thiên nhiên trong thời khắc giao mùa từ hạ sang thu.</p><p>Dạng đề bài phân tích hay cảm nhận theo khổ rất phổ biến trong đề thi vào 10 các năm. Chính vì vậy, bạn đừng quên chuẩn bị mở bài trước cho những khổ thơ quan trọng.</p><p>Khổ đầu bài thơ Sang thu là cảm nhận tinh tế của nhà thơ trong gió se về tín hiệu sang thu. Bạn có thể tham khảo mẫu mở bài sau khi phân tích khổ thơ này:</p><p>Hữu Thỉnh là một nhà thơ có nhiều tác phẩm xuất sắc viết về con người và cuộc sống thiên nhiên. "Sang thu" là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông về đề tài mùa thu. Bài thơ không chỉ miêu tả cảnh sắc thiên nhiên khi thu sang mà còn ẩn chứa những suy tư của con người trước những chuyển biến của cuộc đời.</p><p>Khổ 2 là cảm nhận của tác giả về những chuyển biến tinh tế của đất trời lúc thu sang. Bạn có thể tham khảo mở bài hay về phần này như sau:</p><p>Với một đoạn thơ ngắn, nhà thơ đã tái hiện một bức tranh đầy hơi ấm của cuộc đời, của quê hương. Những hình ảnh sang thu hiện lên thật thân quen, giản dị mà tươi tắn và sống động. Nếu mùa xuân là mùa hội tụ của những bàn tay nghệ sĩ tài hoa thì mùa thu cũng bước vào thơ ca một cách tự nhiên và gần gũi. Trước đây, Nguyễn Khuyến nổi tiếng với ba bài thơ thu: “Thu điếu”, “Thu vịnh”, “Thu ẩm"; sau này, Xuân Diệu có “Đây mùa thu tới”. Nhẹ nhàng và khiêm nhường, Hữu Thỉnh cũng góp thêm cho mùa thu đất nước một góc nhìn đầy cảm xúc.</p><p>Khổ thơ thứ 3 thể hiện những tâm tư, suy ngẫm của tác giả về mùa thu. Mẫu mở bài để bạn tham khảo dưới đây.</p><p>Cuối hạ - đầu thu luôn là những khoảnh khắc lòng người đong đầy cảm xúc lẫn lộn. Đó là những xao xuyến, chút chơi vơi và vấn vương âu lo. Mỗi phút giây trôi qua dù mỏng manh nhưng cũng để lại dư âm và tình cảm luyến lưu. Dòng cảm xúc bất tận ấy đã được Hữu Thỉnh bắt trọn và phô diễn dưới ngòi bút tài hoa của mình qua bài thơ “Sang thu”.</p><p>Một số chủ đề thường gặp ở đề thi vào 10 đối với bài thơ Sang thu có thể kể đến như phân tích cảnh ra trận, phân tích thiên nhiên và con người lúc sang thu, bức tranh tứ bình. Bạn có thể tham khảo một số mẫu mở bài dưới:</p><p>Mùa thu là nguồn cảm hứng vô tận cho các thi sĩ, nhà thơ nào cũng mong muốn vẽ nên một bức tranh thu độc đáo cho riêng mình. Hữu Thỉnh đã tạo ra một nét riêng biệt với bài thơ "Sang thu", khai thác thời khắc giao mùa. Bài thơ "Sang thu" là những cảm nhận và rung động man mác, bâng khuâng của tác giả trước sự biến đổi kỳ lạ của đất trời trong ngưỡng cửa thu.</p><p>Có lẽ trong bốn mùa xuân - hạ - thu - đông, mùa thu luôn là mùa được ưu ái hơn cả khi bước vào địa hạt thi ca. Xoay quanh đề tài mùa thu, cổ kim đông tây có biết bao bài thơ hay, gửi gắm những suy nghĩ, tâm tình khác nhau. Nằm trong nguồn mạch chung của văn học, Hữu Thỉnh cũng góp một tâm tình, một bức tranh đẹp đẽ, bình dị của mùa thu Bắc Bộ Việt Nam với bài thơ Sang thu.</p><p>Có thể thấy một mở bài hay quyết định rất lớn điểm điểm số của bài làm văn/bài thi. Việc tạo được ấn tượng ngay từ phần mở đầu với giáo viên sẽ giúp học sinh dễ dàng ghi điểm. Để viết mở bài Sang thu hay, học sinh cần đặc biệt chú ý triển khai nội dung đảm bảo các yếu tố sau:</p><p>Mở bài Sang thu ấn tượng sẽ là một điểm cộng rất lớn cho bài viết của học sinh trong mắt giáo viên chấm bài. Mở bài của bạn cần nêu được khái quát về ý nghĩa bài thơ, đồng thời liên hệ với tác giả để giúp cho phần phân tích bên dưới dễ triển khai.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Mon, 06 Jul 2026 23:04:28 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Giáo dục</media:title>
                        <media:keywords>Giáo dục</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[5+ Cảm nhận về cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù (siêu hay)]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/canh-cho-chu-trong-tac-pham-chu-nguoi-tu-tu-a110427.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/canh-cho-chu-trong-tac-pham-chu-nguoi-tu-tu-a110427.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/canh-cho-chu-trong-tac-pham-chu-nguoi-tu-tu-a110427.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><b>Đề bài:</b> Cảm nhận về cảnh cho chữ trong truyện Chữ người tử tù</p> <h3><b>Dàn ý mẫu</b></h3> <h3>I. Mở bài</h3> <p>- Trình bày những nét tiêu biểu nhất về tác giả Nguyễn Tuân: Một nhà văn tài hoa uyên bác </p><p>- Giới thiệu truyện ngắn Chữ người tử tù và cảnh cho chữ: Chữ người tử tù là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách tài hoa nghệ sĩ của Nguyễn Tuân và cảnh cho chữ là một cảnh tượng “xưa nay chưa từng thấy” trong truyện ngăn này </p><h3>II. Thân bài</h3> <p><b>1. Hoàn cảnh diễn ra cảnh cho chữ</b></p> <p>- Vị trí: Cuối tác phẩm </p><p>- Hoàn cảnh: Trong đêm cuối cùng trước khi Huấn Cao phải ra pháp trường chịu án chém </p><p><b>2. Nội dung cảnh cho chữ:</b></p> <p> • Cảnh cho chữ diễn ra trong: </p><p>- Thời gian: đêm trước khi Huấn Cao ra pháp trường chịu án chém, khi chỉ còn “vẳng có tiếng mõ trên vọng canh” </p><p>- Địa điểm: trại giam tỉnh Sơn </p><p>- Không gian: buồng tối chật hẹp, ẩm ướt... </p><p> • Đây là "cảnh tượng xưa nay chưa từng có" : </p><p>- Thông thường, việc cho chữ, xin chữ thường được diễn ra ở những nơi thanh cao; ở đây lại diễn ra trong buồng giam tối tăm, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián. </p><p>- Thân phận và hành động của người cho chữ và nhận chữ đặc biệt: </p><p> + Người cho chữ: Huấn Cao- người tử tù sắp chịu án chém, bị mất tự do lại nổi bật và đẹp đẽ, hiên ngang dậm tô nét chữ vuông tươi tắn ⇒ trở thành người nghệ sĩ. </p><p> + Người nhận chữ: viên quản ngục- một người ngày thường nắm quyền cai quản tù nhân trong tay nay khúm núm, kính cẩn thu những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ </p><p>- Xây dựng được các cặp phạm trù đối lập nhau: trong cảnh có sự đối lập giữa cảnh vật, đồ vật, màu sắc, âm thanh, mùi vị...một cách gay gắt để làm nổi bật bức tranh bi hùng, đó là sự đối lập giữa: Ánh sáng - bóng tối, cái thiện- cái ác, cái đẹp- cái xấu xa, cái cao cả- cái thấp hèn, tự do- ràng buộc, thơm tho( mùi mực)- ẩm mốc( mùi nhà giam phân chuột, phân gián) </p><p> ⇒ Tất cả những lí do trên đã làm nên “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. </p> <p> • Huấn Cao khuyên quản ngục thay chốn ở (khuyên về nhà quê) rồi hãy nghĩ tới việc chơi chữ bởi nếu cứ tiếp tục ở chốn "lao xao" thì sẽ " khó giữ thiên lương cho lành vững" . </p><p> ⇒ Sâu xa hơn việc cho chữ chính là bài học về lẽ sống rất chân thành. </p><p> • Chi tiết quản ngục cúi đầu vái lạy người tử tù Huấn Cao: sự thức tỉnh trước cái đẹp, quản ngục đã thoát ra những cái tầm thường, ràng buộc để vươn tới cái cao đẹp. </p><p><b>3. Nghệ thuật xây dựng cảnh cho chữ</b></p> <p>- bút pháp lãng mạn lí tưởng hóa </p><p>- nghệ thuật đối lập </p><p>- khả năng dựng cảnh và tài năng ngôn ngữ tài tình </p><p>- nhịp văn chậm rãi càng làm cho những câu, chữ ấy thấm sâu hơn vào lòng độc giả. </p><p><b>4. Ý nghĩa cảnh cho chữ</b></p> <p>-Giữa chốn ngục tù tàn bạo, chính người tử tù lại là người làm chủ.Nhưng nhìn sâu xa hơn,trong khoảnh khắc ấy, cả hai dường như rũ bỏ mọi sự ràng buộc lễ giáo để trở thành những tâm hồn tri kỉ, đồng điệu. </p><p>- Qua cảnh tượng này, chủ đề tác phẩm đượcthể hiện sâu sắc , đó là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp đối với cái xấu xa, của cái thiện đối với cái ác... </p><p>-Toàn bộ cảnh cho chữ là bài ca tôn vinh cái đẹp, cái thiện, cái thiên lương của con người trong hoàn cảnh tối tăm ngục tù bậc nhất. </p><p> ⇒ Đoạn văn thể hiện sâu sắc quan điểm tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Tuân. </p><h3>III. Kết luận</h3> <p>- Khẳng định lại đây là cảnh tượng tiêu biểu nhất làm nên thành công của tác phẩm </p><h3><b>Bài văn mẫu 1</b></h3> <p> Làm nên giá trị cho tác phẩm, kết tinh giá trị tư tưởng của văn bản trong Chữ người tử tù không gì khác chính là cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục. Đây là cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Nó là kết tinh nghệ thuật, hoàn thiện vẻ đẹp phẩm chất nhân vật và là kết tinh những giá trị tư tưởng sâu sắc của Nguyễn Tuân. </p><p> Huấn Cao vốn là một người Nho sĩ, vì bất mãn với thực tại xã hội đương thời, đã đứng lên khởi nghĩa, nhưng cuối cùng thất bại ông bị bắt giam và chờ ngày hành quyết. Ông là một người tài hoa, có tài viết chữ đẹp mà ai cũng ao ước gặp gỡ. Ông gặp quản ngục tại nơi mà ông bị giam giữ. Không gian gặp gỡ của họ là chốn tù lao, nơi chỉ có lừa lọc và chém giết lẫn nhau. Đây đồng thời cũng là ngày sống cuối cùng của người tử từ Huấn Cao. Vị thế của các nhân vật có sự thay đổi khác nhau, trên bình diện xã hội: Huấn Cao là kẻ tử tù, mang trong mình mong muốn lật đổ và thay đổi trật tự xã hội, còn quản ngục là người đứng đầu trại giam tỉnh Sơn, là người đại diện cho trật tự xã hội đương thời. Trên bình diện xã hội, họ là những người đối nghịch với nhau. Còn trên bình diện nghệ thuật: Huấn Cao là một người nghệ sĩ với tài năng viết chữ đẹp, được biết bao người coi trọng, mếm mộ; còn viên quản ngục là kẻ liên tài, là người trân trọng cái đẹp và cái tài sáng tạo ra cái đẹp. Ở đây họ lại là những người bạn tri âm, tri kỉ. Còn trên bình diện nhân cách: Huấn Cao là người có khí phách kiên cường, có thiên lương trong sáng, trân trọng những tấm lòng trong thiên hạ; quản ngục là người biết biết kính mến khí phách và chính là tấm lòng trong thiên hệ. Trong quan hệ này họ cũng là những người tri âm. Như vậy mối quan hệ giữa họ vô cùng phức tạp, với những vị thế khác nhau khiến cho mối quan hệ trở nên chồng chéo. </p><p> Trong những ngày ở nhà lao tỉnh Sơn, viên quản ngục có thái độ biệt đãi đặc biệt với ông Huấn Cao: cặp mắt hiền từ khi nhận tù nhân, đồ ăn thức uống trong những ngày ông Huấn trong ngục, không chỉ vậy quản ngục còn đích thân xuống nhà lao gặp Huấn Cao với sự lễ độ, khúm núm, dù bị Huấn Cao đuổi ra ngoài vẫn khiêm nhường, lặng lẽ mà không hề nổi cáu. Bởi quản ngục mong muốn có được nét chữ ông Huấn để treo trong nhà. Ngày nhận tin Huấn Cao sẽ bị giải đi, quản ngục lặng người đi bởi ông biết có thể cả đời sẽ không bao giờ có được chữ ông Huấn Cao. Và chính trong hoàn cảnh đó, thầy thơ lại đã đánh liều xin với Huấn Cao, và được Huấn Cao nhận lời cho chữ. Đây chính là bối cảnh dẫn đến cảnh cho chữ xưa nay chưa từng có. </p><p> Không gian cho chữ vô cùng đặc biệt, người ta chỉ xin chữ và cho chữ ở những nơi sạch sẽ, yên tĩnh, trang trọng còn trong tác phẩm cảnh cho chữ lại diễn ra ở nhà tù tối tăm, bẩn thỉu, đó là nơi chỉ tồn tại cái xấu, cái ác, lừa lọc và giả dối với nhau. Thời gian cho chữ cũng là một điểm đặc biệt khac: Huấn Cao cho chữ khi mà chỉ đến sáng mai sẽ phải đi chịu án tử hình. Ông đã dành những giây phút cuối cùng của cuộc đời để vừa hoàn thành nguyện ước cho quản ngục, vừa để lại những gì tinh túy, đẹp đẽ nhất cho cuộc đời. Trong không gian tăm tối ấy ánh lên là tấm vải lụa trắng bạch trắng tinh còn nguyên vẹn lần hồ, người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang đậm tô nét chữ. Mỗi chữ quản ngục viết ra “viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng” còn thầy thơ lại thì “run run bưng chậu mực”. Trước cái đẹp, con người ta dường như không quan tâm tới bất cứ chuyển động nào từ thế giới bên ngoài, họ chỉ nhìn thấy Huấn Cao và những nét chữ ông đậm tô, thành kính và thiêng liêng trước khoảnh khắc cái đẹp được tạo tác. Ông Huấn Cao viết xong phần lạc khoản, lặng lẽ thở dài và đỡ viên quản ngục dậy. Ông thương cho quản ngục phải ở nơi đen tối, làm nghề này thì khó có thể giữ được thiên lương cho lành vững, rồi cũng đến lem luốc cả đời lương thiện đi. Chính cái đẹp đó đã có sức mạnh cải hóa con người. Giữa người cho chữ và nhận chữ có sự chuyển đổi vị thế cho nhau, cho thấy sự cảm hóa của cái đẹp. Người cho chữ là người nghệ sĩ sáng tạo ra cái đẹp lại ở vị thế của tử tù; vốn là đối tượng cần được giáo dục, cảm hóa lại ban phát những lời khuyên chí tình cho quản ngục. Người xin chữ ở vị thế quản ngục, cai quản tử tù, tiếp nhận, bái lĩnh những lời khuyên của tử tù. Qua đó Nguyễn Tuân muốn truyền tải thông điệp: niềm tin vào sự chiến thắng tất yếu của cái đẹp, của cái thiện. </p><p> Cảnh cho chữ đã được Nguyễn Tuân vận dụng thủ pháp đối lập tương phản triệt để, đem lại hiểu quả nghệ thuật cao. Không khí cổ xưa của một thời đã cách xa hàng trăm năm đã được Nguyễn Tuân gợi lại qua ngôn ngữ và cử chỉ của nhân vật. Cảnh cho chữ là một bức tranh giàu chất hội họa, đồng thời ông vận dung linh hoạt kĩ thuật điện ảnh, liên tục chuyển góc, chuyển cảnh, quay cận rồi quay xa giúp người đọc có cái nhìn trọn vẹn về nhân vật. </p><p> Cảnh cho chữ là một cảnh đặc sắc, “xưa nay chưa từng có”, kết tinh giá trị nghệ thuật và tư tưởng của Nguyễn Tuân, làm nổi bật và hoàn chỉnh vẻ đẹp nhân cách của mỗi nhân vật. Với cảnh cho chữ, Nguyễn Tuân đã khẳng định, giữa chốn nhà lao tù ngục, không phải những kẻ đại diện cho quyền lực thống trị mọi thứ mà chính người tử tù với tài năng và cốt cách làm chủ. Qua đó, ông cũng ngầm khẳng định sự chiến thắng của cái đẹp, cái tài hoa và nhân cách cao đẹp với cái xấu xa, độc ác, tàn nhẫn. </p><h3><b>Bài văn mẫu 2</b></h3> <p> Nguyễn Tuân là tên tuổi lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại, một nhà văn bậc thầy, một con người có nhân cách văn hóa mẫu mực suốt một đời “đi tìm cái đẹp, cái thật” trong văn chương. Nhà văn duy mỹ ấy ông say đắm, ngợi ca và tôn thờ cái đẹp. Điều đó được ông thể hiện tài tình qua cảnh cho chữ nơi cửa ngục của người tử tù Huấn Cao và viên quan coi ngục. Đây được coi là đoạn văn quan trọng nhất hội tụ được giá trị nghệ thuật và tư tưởng của tác phẩm, đồng thời tô đậm thêm vẻ đẹp của Huấn Cao và viên quản ngục với bút pháp tương phản và lí tưởng hóa cái đẹp. </p><p> Đoạn văn tả cảnh cho chữ nằm ở cuối tác phẩm, là đỉnh cao của tình huống truyện éo le. Người tử tù Huấn Cao bị bắt giam nơi cửa ngục vì tội làm phản chống lại triều đình, viên quan coi ngục là người có nhiệm vụ trông coi phạm nhân nhưng cũng là một người say mê cái đẹp, khao khát có được chữ của ông Huấn. Biết được tấm lòng biệt nhỡn liên tài và tấm chân tình của viên quan coi ngục Huấn Cao đã đồng ý cho chữ. Với nghệ thuật tương phản rõ rệt cảnh cho chữ đã tháo cởi nút thắt của tình huống truyện, để lại cho người đọc nhiều suy ngẫm. </p><p> Trước tiên, sự tương phản về vị trí giữa người cho và người nhận. Người cho chữ ở đây là tên tử tù sắp phải chịu án chém đầu, tên tội phạm nguy hiểm “có tài bẻ khóa và vượt ngục”_kẻ cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình . Kẻ xin chữ là viên quan coi ngục_người đại diện cho bộ máy cai trị của triều đình ấy. Xét về địa vị xã hội họ là hai người đối nghịch nhau nhưng trên bình diện nghệ thuật họ lại là tri âm tri kỉ cùng ham mê, say đắm cái đẹp. Một người có tài viết chữ đẹp, người kia lại suốt một đời ngưỡng mộ tài năng ấy. Chính điều đó đã làm cho địa vị trí trong xã hội bị xóa nhòa để làm nổi bật lên sự đồng điệu của hai tâm hồn. Xét về một bình diện khác Huấn Cao là một người tù bị gông cùm xiềng xích và giam giữ về nhân thân nhưng tự do về nhân cách còn người kia tự do về nhân thân nhưng nhân cách lại bị cầm tù. </p><p> Thứ hai, tương phản giữa thời gian và không gian cho chữ. Thời gian ở đây là đêm cuối cùng của một đời người anh hùng ở trong khoảnh khắc đếm từng canh bởi ngày mai ông cùng các bạn của mình sẽ bị áp giải vào kinh lĩnh án hành hình. Không gian cũng thật đối lập bởi thông thường cái đẹp phải được sáng tạo ở nơi trong sạch, nghệ thuật thư pháp_thú vui tao nhã và thanh tao phải được thực hiện giữa thanh thiên bạch nhật trong thư phòng sang trọng ngào ngạt của mùi hương trầm lan tỏa, có ánh đèn lung linh huyền ảo. Nhưng cảnh cho chữ trong tác phẩm trái lại hoàn toàn được Nguyễn Tuân đánh giá là “Cảnh tượng xưa nay chưa từng có” bởi nó diễn ra ở một nơi là buồng giam của tử tù, nơi tăm tối và “chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián” dưới “ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu”, ánh sáng trắng của tấm lụa bạch còn nguyên vẹn đã xóa tan đi bóng tối và mùi mực thơm thanh khiết áp đảo mùi hôi bẩn thỉu đó là sự thắng thế của cái đẹp với cái phàm tục dơ bẩn. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân tốn công sức, giấy mực để miêu tả không gian nơi đây tất cả chi tiết đều có dụng ý nghệ thuật. Nhà văn tả cái bẩn thỉu để làm nổi bật lên giá trị của cái đẹp. Thế là không còn cái nhà ngục nào tồn tại với mùi ẩm mốc, mạng nhện… chỉ còn cái mùi của thiên lương thuần khiết, thanh cao hiện hữu. </p><p> Thứ ba, tương phản về vị thế và tâm tế của người cho và kẻ xin chữ. Người cho chữ là “Một người tù cổ đeo gông chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván” Huấn Cao lúc này không còn là một tên tử tù sắp bị tử hình mà là một người nghệ sĩ tài ba sáng tạo ra cái đẹp, nhà tù phong kiến giam giữ được thân hình ông nhưng không trói nổi nhân cách, tâm hồn ông. Đối lập với tư thế ung dung, tự do tự tại của người tử tù là sự “khúm núm” của viên quan coi ngục và “run run” của thầy thơ lại_ những con người đại diện cho quyền uy lại khép nép đến thế. Cái “khúm núm” của quan coi ngục không phải là cái cúi đầu hèn hạ mà trái lại rất đáng trân trọng. Ông cúi đầu thành kính trước cái đẹp đó là một điều nên làm ở trong đời. Vị thế và tâm thế bị đảo ngược hoàn toàn. Người có quyền lại không có uy, người tử tù lại giữ trong tay quyền sát quyền sinh, người đáng lẽ phải giáo dục, giáo hóa tội phạm thì nay lại được tội phạm giáo dục lại. Đây không còn là một cảnh cho chữ bình thường mà là cảnh giáo hóa thiêng liêng về nhân cách làm người của người cho và người nhận chữ thông qua đoạn cuối là khi Huấn Cao cho viên quan coi ngục lời khuyên vô giá. Bởi theo ông “Ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. </p><p> Nguyễn Tuân với tài năng nghệ thuật tương phản với bút pháp tả thực và lãng mạn đan xen, sự sắc sảo điêu luyện của ngòi bút đã khắc họa con người và cảnh vật chi tiết, tỉ mỉ gây ấn tượng sâu sắc. Giọng văn chậm rãi, từng câu từng chữ như thước phim quay chậm cảnh cho chữ “xưa nay chưa từng có” làm nổi bật lên nhân cách của con người hiện thân cho cái đẹp. </p><p>Xem thêm các bài Văn mẫu phân tích, dàn ý tác phẩm lớp 11 khác:</p> <ul> <li><b>30+ Phân tích truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân</b> </li> <li><b>3 bài Phân tích hình tượng Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù </b> </li> <li><b>30+ Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao đối với viên quản ngục</b> </li> <li><b>30+ Phân tích nhân vật viên quản ngục trong truyện ngắn Chữ người tử tù</b> </li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Mon, 06 Jul 2026 17:49:31 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">5+ Cảm nhận về cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù (siêu hay)</media:title>
                        <media:keywords>5+ Cảm nhận về cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù (siêu hay)</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Mạng xã hội xuất hiện trong đề thi văn chọn học sinh giỏi quốc gia]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/nghi-luan-xa-hoi-hoc-sinh-gioi-a110426.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/nghi-luan-xa-hoi-hoc-sinh-gioi-a110426.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/nghi-luan-xa-hoi-hoc-sinh-gioi-a110426.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/nghi-luan-xa-hoi-hoc-sinh-gioi-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Sáng 5-1, kỳ thi chọn <i>học sinh giỏi quốc gia</i> năm học 2023-2024 diễn ra với các môn Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Tiếng Anh, Tiếng Nga, Tiếng Pháp, Tiếng Trung Quốc và thi lập trình trên máy vi tính môn tin học. </p> <figure> <img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/nghi-luan-xa-hoi-hoc-sinh-gioi-1.jpg" alt="Đề Văn học sinh giỏi quốc gia đề cập đến mạng xã hội" /> <figcaption> Thí sinh tham dự kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia tại Hội đồng thi Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong </figcaption> </figure> <h2><b>Trải nghiệm - ghi lại - tức thời chia sẻ lên mạng xã hội...</b></h2> <p>Đề thi Ngữ văn khiến học sinh thích thú khi đề cập đến vấn đề thời sự hiện nay. Đó là việc chia sẻ trên mạng xã hội.</p> <p><i>Đề Ngữ văn gồm 2 câu</i></p> <p>Câu 1: Nghị luận xã hội<i> (8 điểm)</i></p> <p><i>Trải nghiệm - ghi lại - tức thời chia sẻ lên mạng xã hội có nên là phương cách khẳng định giá trị của người trẻ trong thời đại ngày nay?</i></p> <p><i>Câu 2: Nghị luận văn học (12,0 điểm)</i></p> <p><i>“Các kiệt tác lớn là vô tận, mỗi thế hệ hiểu chúng theo cách của mình như vậy có nghĩa là các độc giả tìm thấy ở đó điều gì rọi sáng một phương diện trải nghiệm của họ. Nhưng nếu như một tác phẩm là vô tận, điều đó không có ý nói rằng, nó không có nghĩa khởi thủy, hay chú ý tác giả không phải là tiêu chuẩn của nghĩa khởi thủy ấy. Cái vô tận, là ý nghĩa của nó, là tính thích đáng của nó ở bên ngoài bối cảnh nó xuất hiện.</i></p> <p><i>Bằng hiểu biết và trải nghiệm văn học, anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên. </i></p> <figure> <figcaption> Đề văn chọn học sinh giỏi quốc gia năm học 2023-2024 </figcaption> </figure> <h2><b>Vấn đề khá quen thuộc</b></h2> <p>Đỗ Nguyễn Bảo Hân, học sinh Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, quận Tân Bình, cho biết so với các năm trước, phần nghị luận xã hội khó hơn, trong khi đó phần nghị luận văn học có rất nhiều ý để phân tích. Vì thế để có bài viết cô đọng, giàu cảm xúc và kịp với thời gian là điều không dễ dàng đối với các thí sinh. </p> <figure> <img src="https://image.plo.vn/w2000/Uploaded/2026/yrfjpybfjpy/2024_01_05/hoc-sinh-gioi-quoc-gia-6-8572-2729.jpg" alt="Đề Văn học sinh giỏi quốc gia đề cập đến mạng xã hội" /> <figcaption> Đỗ Nguyễn Bảo Hân chụp hình cùng bố sau khi đã hoàn thành xong bài thi môn Văn </figcaption> </figure> <p>Trong đó, phần nghị luận xã hội đề cập đến mạng xã hội, một vấn đề khá quen thuộc với giới trẻ. Liên quan đến sự trải nghiệm và ghi lại, em đề cập đến nguyên nhân vì sao các bạn lại ghi lại. </p> <p>Còn đối với khía cạnh “tức thời chia sẻ trên mạng xã hội” cũng cần nhưng phải có mức độ. Bởi sự tồn tại của nó không thể là mãi mãi vì trên mạng xã hội dù có nhiều người nhưng họ có thể lướt qua mà không chú ý. </p> <p>Do đó, để khẳng định giá trị của mình, Hân nghĩ giới trẻ cần nỗ lực để có giá trị tự thân chứ không phải là những giá trị ảo trên mạng xã hội. </p> <p>Cũng theo Hân, phần nghị luận văn học là chủ đề khá quen thuộc nhưng khá dài và có nhiều vế nên thí sinh dễ đi vào phân tích lan man, không đúng trọng điểm. </p> <figure> <img src="https://image.plo.vn/w2000/Uploaded/2026/yrfjpybfjpy/2024_01_05/hoc-sinh-gioi-quoc-gia-3-7733-8549.jpg" alt="Đề Văn học sinh giỏi quốc gia đề cập đến mạng xã hội" /> <figcaption> Bạn bè đến cổ vũ cho Tuấn Phong (bìa trái), học sinh Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong sau khi đã hoàn thành xong bài thi văn sáng nay </figcaption> </figure> <p>Tương tự, một học sinh đến từ Trường THPT Nguyễn Hữu Huân chia sẻ đề văn khá thân thuộc và không có gì quá ấn tượng. </p> <p>“Phần nghị luận xã hội em làm khá tốt bởi nó có sự trải nghiệm của bản thân” - thí sinh này bày tỏ.</p> <p>Cũng theo nữ sinh này, việc sử dụng và chia sẻ trên mạng xã hội của giới trẻ hiện nay khá phổ biến. Nó vừa có lợi, vừa có hại. </p> <p>“Mạng xã hội là nơi giúp mình có được cơ hội thể hiện bản thân. Tuy nhiên, nó cũng có thể khiến mình chạy theo một hình mẫu nào đó không phù hợp. Việc so sánh bản thân của mình với người khác quá nhiều sẽ khiến mình đánh mất giá trị thực tế trong cuộc sống. Do đó, nên có cách chia sẻ phù hợp, đồng thời cũng chỉ xem mạng xã hội như một công cụ phụ hỗ trợ, không nên coi đó là cách duy nhất để thể hiện mình. Còn phần nghị luận văn học không có sự đột phá" - nữ sinh này nói thêm. </p> <figure> <img src="https://image.plo.vn/w2000/Uploaded/2026/yrfjpybfjpy/2024_01_05/hoc-sinh-gioi-quoc-gia-2-1371-7849.jpg" alt="hoc-sinh-gioi-quoc-gia-5-466.jpg" /> <figcaption> Nguyễn Tâm Thy có tâm trạng khá thoải mái sau khi đã hoàn thành xong bài thi </figcaption> </figure> <p>“Phần nghị luận xã hội đề cập đến việc khẳng định giá trị bản thân là vấn đề khá quen thuộc. Bản thân em đã từng nghĩ tới trong quá trình ôn tập nên em làm câu này khá ổn” - Nguyễn Tâm Thy, học sinh Trường THPT Nguyễn Hữu Huân bộc bạch. </p> <p>Tâm Thy cho hay đối với phần nghị luận xã hội, bài viết của em được triển khai theo hướng việc trải nghiệm và việc ghi lại là một điều tích cực đối với việc khẳng định giá trị bản thân. Tuy nhiên bản thân cần nhiều thời gian hơn để lắng đọng, nghiền ngẫm những trải nghiệm đó. </p> <figure> <figcaption> Theo Bộ GD&amp;ĐT, kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm nay có 5.800 học sinh dự thi ở tất cả các môn </figcaption> </figure> <p>Việc chia sẻ thực tế là tốt bởi vì nó có thể lan tỏa, còn "tức thời" nghĩa là chưa có sự nghiền ngẫm, đó là sự vội vàng trong khi cần thời gian để lắng lại. Do đó, em đã đặt lại một phương cách để khẳng định giá trị bản thân vào cuối bài sau khi đã phân tích. Đề bài đặt ra cách thể hiện bản thân qua trải nghiệm, ghi lại và tức thời chia sẻ trên mạng xã hội. Còn theo em đó là sự trải nghiệm, ghi lại, nghiền ngẫm, suy tư, lắng đọng và chia sẻ. </p> <p>Đối với phần nghị luận văn học, vẫn tập trung vào vấn đề lý luận mà tất cả học sinh đều sẽ tiếp cận trong quá trình ôn tập. Tuy nhiên, bài văn ấn tượng phải có suy nghĩ độc đáo. Bởi người ra đề luôn đòi hỏi ở học sinh phải có những tư duy sáng tạo và độc đáo hơn. </p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Mon, 06 Jul 2026 17:43:33 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/nghi-luan-xa-hoi-hoc-sinh-gioi-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/nghi-luan-xa-hoi-hoc-sinh-gioi-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Mạng xã hội xuất hiện trong đề thi văn chọn học sinh giỏi quốc gia</media:title>
                        <media:keywords>Mạng xã hội xuất hiện trong đề thi văn chọn học sinh giỏi quốc gia</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Giá giai đoạn 1 Capital Square có tăng không? – Cập nhật &amp; phân tích 2025]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phan-tich-doan-1-a110423.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phan-tich-doan-1-a110423.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phan-tich-doan-1-a110423.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-doan-1-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Sau bài <strong>giá Capital Square 2025</strong> đã công bố mặt bằng giá và chính sách ưu đãi theo từng phân khu, nhiều khách hàng đặt câu hỏi: “Giá giai đoạn 1 Capital Square có tăng không?”. Thực tế, sau khi hoàn thiện phần móng và chuyển sang giai đoạn thi công thân, giá đã bắt đầu <strong>bước vào chu kỳ tăng theo tiến độ</strong> - điều thường thấy ở các dự án trung tâm ven sông.</p> <p>Nếu bạn đang theo dõi <strong>Capital Square Đà Nẵng</strong>, bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ nguyên nhân tăng giá, biên độ điều chỉnh trung bình, và tại sao <strong>đặt mua sớm giai đoạn 1</strong> vẫn là cơ hội vàng.</p> <p><strong>Nhận Bảng Giá &amp; Mặt Bằng</strong></p> <h2>1. Tóm tắt giá bán giai đoạn 1 Capital Square</h2> <p>Tại thời điểm mở bán (Q3/2024), <strong>giá trung bình giai đoạn 1 của Capital Square</strong> dao động:</p> <ul> <li> <p><strong>2PN:</strong> từ 3,6 - 3,9 tỷ/căn.</p> </li> <li> <p><strong>3PN:</strong> từ 4,8 - 6,2 tỷ/căn.</p> </li> <li> <p><strong>Dual Key / góc view sông:</strong> từ 6,9 - 7,7 tỷ/căn.</p> </li> </ul> <p>Đến <strong>tháng 10/2025</strong>, sau khi hoàn thiện móng và thi công phần thân, <strong>mức giá trung bình đã tăng khoảng 7-10%</strong> so với thời điểm công bố đầu tiên.Các căn <strong>view sông Hàn, tầng cao, góc đẹp</strong> là nhóm tăng mạnh nhất - do quỹ căn giới hạn và nhu cầu cao từ khách hàng ngoài tỉnh.</p> <p>Điều đáng chú ý, dù giá có tăng, nhưng Capital Square vẫn <strong>nằm trong nhóm giá cạnh tranh nhất lõi trung tâm</strong>, thấp hơn 20-25% so với các dự án ven sông đã bàn giao giai đoạn trước.(Xem thêm<strong> khung giá &amp; cách đọc bảng giá Capital Square</strong> để hiểu cách tính giá theo hướng view và tầng.)</p> <h2>2. Vì sao giá giai đoạn 1 Capital Square tăng?</h2> <p>Có 3 nhóm nguyên nhân chính lý giải cho <strong>đợt tăng giá đầu tiên</strong> của Capital Square:</p> <h3>a. Tiến độ thi công đạt mốc móng - yếu tố tâm lý thị trường</h3> <p>Theo báo cáo <strong>tiến độ Capital Square</strong>, dự án đã hoàn thành phần hầm liên thông và đang dựng thân các block A-B. Đây là giai đoạn các nhà đầu tư F0 bắt đầu quay lại thị trường, kéo theo tâm lý FOMO khiến giá tự nhiên “nhích” lên.</p> <h3>b. Pháp lý hoàn thiện, mở bán chính thức</h3> <p>Từ tháng 9/2025, <strong>pháp lý Capital Square</strong> được Sở Xây dựng Đà Nẵng phê duyệt cho phép bán nhà hình thành trong tương lai. Khi pháp lý rõ ràng, niềm tin tăng lên - đồng nghĩa với việc <strong>giá bán được điều chỉnh theo mặt bằng an toàn hơn</strong>.<img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-doan-1-1.jpg" alt="Giá giai đoạn 1 Capital Square có tăng không?" /></p> <h3>c. Cầu tăng - cung giới hạn</h3> <p>Thị trường trung tâm ven sông Đà Nẵng hiện chỉ còn 2-3 dự án đủ pháp lý và vị trí tương đương Capital Square. Do đó, khi quỹ căn view đẹp khan hiếm, giá ở giai đoạn sau sẽ <strong>được điều chỉnh từng block</strong>, trung bình mỗi đợt +2-3%.</p> <blockquote> <p><strong>Nhận Bảng Giá &amp; Mặt Bằng</strong></p> </blockquote> <h2>3. Mức tăng giá dự kiến theo tiến độ</h2> <p>Dựa trên dữ liệu các dự án tương tự tại Đà Nẵng (2020-2024), biên độ tăng giá theo tiến độ được dự đoán như sau:</p> <p>Điều này có nghĩa, khách hàng mua ở <strong>giai đoạn 1 (2024-2025)</strong> sẽ có lợi thế <strong>vốn vào thấp hơn 15-20%</strong> so với giá dự kiến bàn giao - tương đương mức sinh lời kỳ vọng trung bình 8-10%/năm.</p> <p>(Tham khảo thêm <strong>chọn căn view sông Hàn giữ giá tốt</strong> để tối ưu lựa chọn căn hộ có biên độ tăng giá mạnh nhất.)</p> <h2>4. Chính sách tài chính giai đoạn 1 vẫn tốt nhất</h2> <p>Không chỉ giá thấp, <strong>chính sách thanh toán giai đoạn 1</strong> cũng đang là lợi thế lớn:</p> <ul> <li> <p><strong>Vay 70% - lãi suất 0% trong 24 tháng.</strong></p> </li> <li> <p><strong>Chiết khấu sớm 15%</strong> cho 50 khách hàng đầu tiên thanh toán nhanh.</p> </li> <li> <p><strong>Ưu đãi Early Birds +2%</strong> cho khách giữ chỗ sớm.<img src="https://capitalsquaredanang.net/wp-content/uploads/2025/07/F4-min-694x1024.jpg" alt="Giá giai đoạn 1 Capital Square có tăng không?" /></p> </li> </ul> <p>Các chính sách này sẽ <strong>giảm dần hoặc hết hiệu lực</strong> khi dự án bước sang giai đoạn 2, vì lượng căn còn lại ít và nhu cầu tăng cao.Do đó, đây là <strong>thời điểm vàng để mua hoặc đầu tư</strong>, khi chi phí vốn thấp, chính sách vay linh hoạt, và giá vẫn đang ở “vùng đáy” theo chu kỳ dự án.</p> <h2>5. Dự báo xu hướng giá đến 2027</h2> <p>Theo đánh giá từ các chuyên gia địa ốc Đà Nẵng:</p> <ul> <li> <p>Đến <strong>2026</strong>, khi phần thân hoàn thiện 70%, giá trung bình dự kiến tăng thêm 8-10%.</p> </li> <li> <p>Đến <strong>2027</strong>, sau khi bàn giao và vận hành, giá căn hộ view sông có thể đạt <strong>trên 80 triệu/m²</strong>, tương đương mức tăng 25-30% so với giai đoạn 1.</p> </li> <li> <p>Đặc biệt, các căn <strong>view trực diện sông Hàn, tầng cao, 3PN góc</strong> sẽ luôn dẫn đầu bảng tăng giá.</p> </li> </ul> <p>Điều đó cho thấy: <strong>giá giai đoạn 1 Capital Square tuy đã tăng nhẹ, nhưng vẫn là giai đoạn mua an toàn nhất</strong> - khi vừa đủ thông tin pháp lý, vừa được hưởng toàn bộ ưu đãi và tiềm năng tăng trưởng.</p> <p><strong>Nhận Bảng Giá &amp; Mặt Bằng</strong></p> <p><strong>Theo dõi: Fanpage Capital Square Đà Nẵng</strong></p> <p><strong>Thông tin liên hệ:</strong><strong>• Dự án: Capital Square Đà Nẵng</strong><strong>• Địa chỉ dự án: Đường Trần Hưng Đạo &amp; Ngô Quyền, Phường An Hải Bắc, Quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng</strong><strong>• Điện thoại: 035 278 9999</strong><strong>• Văn phòng: 422 Đường 2/9, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng</strong><strong>• Email: daongocchienthangreal@gmail.com</strong></p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Mon, 06 Jul 2026 16:22:27 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-doan-1-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-doan-1-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Giá giai đoạn 1 Capital Square có tăng không? – Cập nhật &amp; phân tích 2025</media:title>
                        <media:keywords>Giá giai đoạn 1 Capital Square có tăng không? – Cập nhật &amp; phân tích 2025</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[10+ Bài văn phân tích nghệ thuật 13 câu đầu Vội vàng (điểm cao)]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/voi-vang-xuan-dieu-13-cau-dau-a110402.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/voi-vang-xuan-dieu-13-cau-dau-a110402.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/voi-vang-xuan-dieu-13-cau-dau-a110402.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Bài văn phân tích nghệ thuật 13 câu đầu Vội vàng điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.</p> <h2>10+ Bài văn phân tích nghệ thuật 13 câu đầu Vội vàng (điểm cao)</h2> <h3><strong>Dàn ý Bài văn phân tích nghệ thuật 13 câu đầu Vội vàng</strong></h3> <p>I. Mở bài</p> <p>- Giới thiệu sơ lược về bài thơ “Vội Vàng” của Xuân Diệu: Đây là một trong những bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu, thể hiện phong cách thơ lãng mạn, hướng về cảm xúc mãnh liệt của cuộc sống, tình yêu và vẻ đẹp của thời gian.</p> <p>- Đề cập đến việc phân tích nghệ thuật 13 câu đầu bài thơ, nơi tác giả đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật đặc sắc để bộc lộ những cảm xúc, suy tư về sự vội vàng trong đời sống và tình yêu.</p> <p>II. Thân bài</p> <p>1. Đặc sắc về hình ảnh, ngữ điệu trong 13 câu đầu</p> <p>- Hình ảnh thiên nhiên: Xuân Diệu sử dụng những hình ảnh tươi sáng, sinh động như “mặt trời”, “hoa”, “bầu trời”,... để tạo nên không gian sống động, tràn đầy nhựa sống. Những hình ảnh này góp phần làm nổi bật sự sống mãnh liệt và sự gấp gáp của thời gian.</p> <p>- Tư tưởng về sự vội vàng: Cả 13 câu đầu, Xuân Diệu thể hiện tư tưởng muốn nắm bắt vội vàng những khoảnh khắc tươi đẹp của cuộc sống, không chần chừ vì sợ sẽ mất đi sự trọn vẹn của nó.</p> <p>- Ngữ điệu nhanh, mạnh mẽ: Tác giả sử dụng ngữ điệu nhanh và gấp gáp qua việc lựa chọn từ ngữ mạnh mẽ như “vội vàng”, “dội”, “ngừng”, “mãi”, “lòng”,... Đặc biệt, điệp từ “vội vàng” xuất hiện nhiều lần, tạo nên nhịp điệu khẩn trương, hối hả, giống như nhịp sống nhanh chóng của con người.</p> <p>2. Biện pháp nghệ thuật trong 13 câu đầu</p> <p>- Điệp từ: Điệp từ “vội vàng” là biện pháp nghệ thuật chủ đạo xuyên suốt bài thơ, nhấn mạnh ý nghĩa của việc sống vội vàng, tận hưởng sự sống mà không chần chừ. Đây là biện pháp quan trọng thể hiện tâm trạng của tác giả và ý tưởng chính trong bài thơ.</p> <p>- So sánh: Xuân Diệu sử dụng biện pháp so sánh để nhấn mạnh sự tươi mới của cuộc sống và sự nhanh chóng của thời gian. Ví dụ: “Con chim chiền chiện vội vàng” thể hiện sự sống của chim, cũng như cảm xúc trong lòng tác giả về sự vội vàng trong cuộc sống.</p> <p>- Ẩn dụ: Tác giả sử dụng hình ảnh của mặt trời và hoa để nói về tuổi trẻ, về những khoảnh khắc đẹp, những thứ cần được tận hưởng ngay lập tức. Câu “Mặt trời của tôi cũng vội vàng” giúp người đọc liên tưởng đến sự tươi trẻ của chính mình.</p> <p>- Nhịp điệu và câu văn: Xuân Diệu đã sử dụng những câu văn ngắn gọn, nhịp điệu nhanh cùng với những câu hỏi tu từ để thể hiện sự khẩn trương của người muốn tận hưởng và nắm bắt thời gian. </p> <p>3. Tạo cảm giác mơ mộng, mãnh liệt trong cách diễn đạt</p> <p>- Cảm xúc mạnh mẽ, nồng nhiệt: Xuân Diệu thể hiện sự khao khát sống trong từng câu chữ. Cảm giác vội vàng không chỉ là về thời gian mà còn thể hiện nỗi khát khao yêu đương, đắm say trong cảm xúc và giây phút của tình yêu.</p> <p>- Tình yêu và sự sống: Tình yêu được thể hiện qua những hình ảnh tươi đẹp, qua những câu hỏi tu từ đầy khao khát. Xuân Diệu khát khao yêu và sống hết mình, muốn cảm nhận từng giây phút của cuộc sống.</p> <p>4. Tạo nên không gian đặc biệt, cảm giác của sự sống và khát khao tận hưởng</p> <p>- Không gian rộng mở, đầy màu sắc: Mỗi hình ảnh thiên nhiên được Xuân Diệu vẽ lên đều mang đậm màu sắc tươi sáng, thể hiện sự phong phú, đa dạng và đầy sức sống của thế giới tự nhiên. Hình ảnh “hoa tươi” hay “mặt trời” đều mang một ý nghĩa biểu tượng của cuộc sống, tuổi trẻ, tình yêu, những thứ đẹp đẽ và cần được sống trọn vẹn.</p> <p>- Khát khao sống trọn vẹn từng giây phút: Mỗi câu trong 13 câu đầu như một lời thúc giục, một lời mời gọi sống vội vàng, vì thời gian trôi qua rất nhanh và không thể quay lại được.</p> <p>III. Kết bài</p> <p>- Tổng kết lại giá trị nghệ thuật của 13 câu đầu trong bài thơ “Vội vàng” qua việc sử dụng hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp, biện pháp nghệ thuật như điệp từ, so sánh, ẩn dụ, và nhịp điệu gấp gáp để thể hiện tâm trạng, khao khát sống hết mình của tác giả. </p> <p>- Khẳng định rằng qua 13 câu đầu, Xuân Diệu không chỉ thể hiện tình yêu mãnh liệt với cuộc sống mà còn gửi gắm thông điệp sâu sắc về việc sống vội vàng, sống hết mình với từng khoảnh khắc trong cuộc sống ngắn ngủi của con người.</p> <h3><strong>Bài văn phân tích nghệ thuật 13 câu đầu Vội vàng - mẫu 1</strong></h3> <p>Bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ lãng mạn, thể hiện cái tôi mãnh liệt, khát khao sống hết mình và tận hưởng vẻ đẹp của cuộc đời, của thời gian và tình yêu. 13 câu đầu trong bài thơ này thể hiện sự khao khát sống vội vàng của tác giả, đồng thời cũng là những bức tranh thiên nhiên sống động mà Xuân Diệu sử dụng để khắc họa cảm xúc và triết lý sống của mình.</p> <p>Trong đoạn thơ này, Xuân Diệu đã bộc lộ rõ sự khát khao mãnh liệt muốn nắm bắt và giữ lại vẻ đẹp của thiên nhiên, của thời gian và tuổi trẻ. Tác giả sử dụng những hình ảnh sống động và tươi mới như “màu”, “gió”, “hương”, “hoa”, “lá”, “ánh sáng” để bày tỏ mong muốn “tắt nắng”, “buộc gió”, “cho hương đừng bay đi”, “cho màu đừng nhạt mất”. Những mong muốn này xuất phát từ tình yêu mãnh liệt với cuộc sống, với thiên nhiên, và đặc biệt là khao khát níu giữ lại những khoảnh khắc đẹp đẽ trong đời người, những khoảnh khắc dễ dàng trôi qua nhanh chóng.</p> <p>“Tôi muốn tắt nắng đi </p> <p>Cho màu đừng nhạt mất”</p> <p> Đây là mong muốn tác giả muốn giữ lại vẻ đẹp tươi sáng, không để nắng làm mờ đi sắc màu của cuộc sống, của thiên nhiên. Ánh sáng mặt trời là hình ảnh tượng trưng cho sức sống, năng lượng của đời sống, nhưng Xuân Diệu lại cảm nhận rằng thời gian luôn làm phai nhạt những điều tốt đẹp ấy.</p> <p> “Tôi muốn buộc gió lại </p> <p> Cho hương đừng bay đi”</p> <p> Gió tượng trưng cho sự tự do, khoảnh khắc vội vàng trong thiên nhiên, và hương là vẻ đẹp thoáng qua, dễ bay đi mà không thể giữ lại được. Điều này thể hiện mong muốn níu giữ lại những điều đẹp đẽ của thời gian, của cuộc sống, tình yêu.</p> <p>Xuân Diệu sử dụng nhiều hình ảnh thiên nhiên đặc sắc để tạo ra một không gian sống động, tươi mới, từ đó thể hiện cảm xúc mãnh liệt của tác giả về thời gian và cuộc sống:</p> <p>“Của ong bướm này đây tuần tháng mật”</p> <p>Hình ảnh “ong bướm” và “tuần tháng mật” gợi nhắc đến thời gian đẹp đẽ của tuổi trẻ, của tình yêu đang nở rộ, tràn đầy sức sống. Đây là thời gian của những khoảnh khắc ngọt ngào, đầy lãng mạn.</p> <p> “Này đây hoa của đồng nội xanh rì”</p> <p> Hoa là biểu tượng của sự sống, sự tươi mới, và hình ảnh “hoa của đồng nội” thể hiện vẻ đẹp giản dị, chân thật nhưng đầy quyến rũ của thiên nhiên. Cảnh đồng quê tươi đẹp làbiểu tượng của sự thuần khiết, của những điều giản dị nhưng luôn mang đến sự thoải mái và thanh thản.</p> <p>“Này đây lá của cành tơ phơ phất”</p> <p> Những chiếc lá non mới nhú, mềm mại và mơn mởn trong gió, thể hiện sự trẻ trung, sự tươi mới của mùa xuân, mùa của sự sinh sôi và nảy nở.</p> <p>“Của yến anh này đây khúc tình si”</p> <p> Hình ảnh “yến anh” gợi đến một tình yêu nồng nàn, say đắm. Những khúc tình si như là biểu tượng của những rung động nhẹ nhàng, trong trẻo, là minh chứng cho tình yêu trong sáng, ngây thơ của tuổi trẻ.</p> <p>“Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”</p> <p> Ánh sáng được thể hiện qua hình ảnh ánh sáng chiếu trên hàng mi, gợi lên sự tươi mới và lấp lánh của tình yêu. Mỗi buổi sáng là sự khởi đầu của một ngày mới, và ánh sáng tượng trưng cho sự sống động, niềm vui, và hy vọng.</p> <p>“Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa”</p> <p> “Thần Vui” là hình ảnh một thần linh của niềm vui, mang đến niềm hạnh phúc, sự tươi mới cho mỗi sáng, cho mỗi khoảnh khắc trong cuộc sống. Tác giả nhấn mạnh rằng mỗi ngày là một cơ hội để sống hết mình, để tận hưởng và đón nhận niềm vui từ cuộc sống.</p> <p>“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”</p> <p>Hình ảnh tháng Giêng gợi nhớ về mùa xuân, mùa của sự yêu đương, của những khoảnh khắc ngọt ngào, tươi mới. Đây là hình ảnh mang tính biểu tượng cao, cho thấy rằng thời gian và tình yêu là hai điều không thể tách rời, và tháng Giêng chính là thời điểm lý tưởng để tận hưởng sự ngọt ngào của tình yêu.</p> <p>Xuân Diệu đã thể hiện sự sung sướng, hạnh phúc khi được sống trong một không gian đầy sự sống và màu sắc. Tuy nhiên, cũng chính trong cảm giác sung sướng ấy, tác giả bộc lộ sự vội vàng:</p> <p>“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa”</p> <p> Câu thơ này bộc lộ một sự mâu thuẫn trong cảm xúc của tác giả. Mặc dù sống trong niềm vui, nhưng Xuân Diệu vẫn cảm nhận được sự vội vàng, sự ngắn ngủi của thời gian, của tuổi trẻ. Cảm giác sung sướng vẫn bị chi phối bởi nỗi lo sợ về sự qua đi nhanh chóng của cuộc sống, của tuổi xuân tươi đẹp.</p> <p>“Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”</p> <p> Đây là lời khẳng định mạnh mẽ về thái độ sống của tác giả. Xuân Diệu muốn tận hưởng sự sống, tuổi trẻ ngay trong khoảnh khắc này, không để thời gian trôi qua rồi mới nuối tiếc. Tác giả không muốn chờ đợi thời gian, mà muốnchủ động sống vội vàng, sống trọn vẹn mỗi phút giây.</p> <p>Qua 13 câu đầu bài thơ “Vội vàng”, Xuân Diệu đã thể hiện được một tình yêu mãnh liệt với cuộc sống, vẻ đẹp thiên nhiên, và tuổi trẻ. Những hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp, sự vội vàng và khát khao sống trọn vẹn đã tạo nên một không gian thơ đầy sức sống. Tác giả muốn nhấn mạnh rằng cuộc sống và thời gian rất quý giá, và chúng ta phải sống hết mình, vội vàng để không bỏ lỡ những khoảnh khắc tươi đẹp. Bài thơ không chỉ thể hiện sự yêu đời mà còn là lời nhắc nhở về thời gian ngắn ngủi, kêu gọi con người sống trọn vẹn với những gì mình có trong hiện tại.</p> <h3><strong>Bài văn phân tích nghệ thuật 13 câu đầu Vội vàng - mẫu 2</strong></h3> <p>Bài thơ “Vội Vàng” của Xuân Diệu là một trong những tác phẩm nổi bật của phong trào Thơ mới, thể hiện khát khao mãnh liệt của tác giả về cuộc sống, tình yêu và thời gian. Đoạn thơ 13 câu đầu là sự bộc lộ rõ nét những suy tư sâu sắc của Xuân Diệu về sự vội vàng trong cuộc sống, khát khao tận hưởng tuổi trẻ, vẻ đẹp thiên nhiên và tình yêu. Dưới đây là một phân tích chi tiết về đoạn thơ này.</p> <p>Xuân Diệu bộc lộ một sự khao khát mạnh mẽ về việc muốn nắm bắt và giữ lại vẻ đẹp của cuộc sống, đặc biệt là trong những khoảnh khắc đẹp đẽ nhất của thiên nhiên và tuổi trẻ. Cái “vội vàng” thể hiện qua những mong muốn hết sức đặc biệt:</p> <p>“Tôi muốn tắt nắng đi </p> <p>Cho màu đừng nhạt mất”</p> <p> Hình ảnh mặt trời và ánh sáng tượng trưng cho sự sống, tuổi trẻ và thời gian. Xuân Diệu không muốn thời gian trôi qua làm phai nhạt sắc màu của cuộc sống. Đây là một sự phản kháng với thời gian, với quy luật sinh - lão - bệnh - tử. Tác giả mong muốn ngừng thời gian, để tuổi trẻ và cuộc sống luôn tươi mới, rực rỡ.</p> <p>“Tôi muốn buộc gió lại </p> <p> Cho hương đừng bay đi”</p> <p>Gió và hương là những hình ảnh tượng trưng cho sự tự do, sự tươi mới, nhưng cũng rất mong manh và dễ biến mất. Việc “buộc gió” và “giữ hương” là sự tuyệt vọng của tác giả trước thời gian và sự vô thường. Xuân Diệu không muốn để những khoảnh khắc đẹp, những cảm xúc ngọt ngào bay đi mất, mà muốn giữ chúng lại lâu dài.</p> <p>Trong 13 câu đầu, Xuân Diệu đã vẽ ra một bức tranh thiên nhiên rực rỡ, tươi đẹp, sống động, thể hiện sự sinh sôi nảy nở của mùa xuân và sự tươi mới của tuổi trẻ.</p> <p> “Của ong bướm này đây tuần tháng mật”</p> <p> Hình ảnh ong bướm và tuần tháng mật gợi lên sự ngọt ngào, mới mẻ của tình yêu và tuổi trẻ. “Tuần tháng mật” là khoảng thời gian của những cảm xúc ngây ngất, say đắm. Đồng thời, hình ảnh này cũng nói lên sự vội vã của tình yêu trong những tháng ngày đẹp đẽ, dễ dàng trôi qua.</p> <p> “Này đây hoa của đồng nội xanh rì”</p> <p> Hình ảnh hoa nở trong đồng nội là biểu tượng của sự sống, tươi đẹp và bắt đầu của mùa xuân. Đó là thời gian của sự khởi đầu, của những gì tươi mới, chưa qua đi, và đầy hứa hẹn.</p> <p> “Này đây lá của cành tơ phơ phất”</p> <p> Cây lá mềm mại, non nớt, phơ phất trong gió tượng trưng cho sự trẻ trung, tươi mới, mơn mởn của thiên nhiên và tuổi trẻ. Hình ảnh này gợi lên sự nhẹ nhàng, thanh thoát của đời sống, không vướng bận lo âu hay sợ hãi.</p> <p> “Của yến anh này đây khúc tình si”</p> <p> Yến anh là loài chim gắn liền với tình yêu trong văn học. Hình ảnh chim yến và “khúc tình si” cho thấy sự nồng nàn, say đắm trong tình yêu. Đây là sự gợi nhắc về những cảm xúc tươi mới, đẹp đẽ của tình yêu tuổi trẻ.</p> <p>“Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”</p> <p> Hình ảnh ánh sáng phản chiếu trên hàng mi là một biểu tượng của sự sống, của sự trong sáng và hạnh phúc. Ánh sáng tượng trưng cho khởi đầu mới, sự mở ra của một ngày mới tràn đầy hy vọng, yêu thương và khát vọng sống.</p> <p>Mặc dù cảm thấy hạnh phúc, Xuân Diệu lại thể hiện sự khát khao, vội vàngtrong việc tận hưởng những gì đẹp đẽ trong cuộc sống:</p> <p>“Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa”</p> <p> “Thần Vui” như một hình ảnh gọi mời, mang đến niềm vui, sự hạnh phúc cho mỗi ngày mới. Nhưng đây cũng là một lời nhắc rằng thời gian sẽ trôi qua và niềm vui không thể kéo dài mãi. Sự vui vẻ, hạnh phúc chỉ là khoảnh khắc thoáng qua, không thể níu giữ được lâu.</p> <p>“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”</p> <p> “Tháng Giêng” là thời điểm của mùa xuân, thời gian mới bắt đầu, tươi tắn và đầy sức sống. Hình ảnh “cặp môi gần” là biểu tượng của sự ngọt ngào, sự thân mật, và sự say đắm trong tình yêu. Tác giả khẳng định tháng Giêng như là một khoảnh khắc hoàn hảo, nơi mà niềm vui và hạnh phúc luôn hiện hữu.</p> <p> “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa”</p> <p> Sự mâu thuẫn trong câu thơ này thể hiện cảm xúc của tác giả: dù sống trong niềm vui, hạnh phúc, nhưng Xuân Diệu vẫn cảm nhận sự ngắn ngủi và vội vàng của cuộc sống. Niềm hạnh phúc này chỉ tồn tại trong khoảnh khắc, giống như tháng Giêng và tuổi trẻ chỉ là những giai đoạn thoáng qua.</p> <p>“Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”</p> <p> Đây là một lời khẳng định mạnh mẽ của tác giả về thái độ sống của mình. Xuân Diệu không muốn chờ đợi, không muốn hoài niệm, mà muốn sống trọn vẹn ngay trong khoảnh khắc hiện tại. Tác giả không muốn để tuổi xuân trôi qua vô nghĩa, mà muốn tận hưởng từng giây phút của sự sống, của tình yêu, của mùa xuân trong hiện tại.</p> <p>Bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu là một bức tranh thiên nhiên sống động, là lời khẳng định mạnh mẽ về sự khát khao sống, yêu và hạnh phúc trong hiện tại. Tác giả sử dụng hình ảnh thiên nhiên và biện pháp nghệ thuật như điệp từ, ẩn dụ, so sánh để khắc họa cảm xúcvội vàng, nồng nàn, và khát khao sống hết mình. Từ những khát vọng giữ lại sắc màu cuộc sống, giữ lại những cảm xúc tình yêu, Xuân Diệu nhấn mạnh rằng thời gian trôi đi rất nhanh, và chúng ta cần phải sống trọn vẹn với từng khoảnh khắc trong cuộc đời.</p> <h3><strong>Bài văn phân tích nghệ thuật 13 câu đầu Vội vàng - mẫu 3</strong></h3> <p>Đoạn thơ bạn trích dẫn là một phần trong bài thơ “Vội vàng” của nhà thơ Xuân Diệu, một trong những tác phẩm tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Bài thơ phản ánh sự sống động, tươi mới của tuổi trẻ và những cảm xúc mãnh liệt của con người trước sự trôi đi của thời gian.</p> <p> “Tôi muốn tắt nắng đi </p> <p> Cho màu đừng nhạt mất; </p> <p> Tôi muốn buộc gió lại </p> <p> Cho hương đừng bay đi.”</p> <p>Ở khổ thơ này, tác giả thể hiện những mong muốn rất mạnh mẽ, gần như là những hành động phi lý, không thể thực hiện được nhưng lại rất tự nhiên và mãnh liệt trong cảm xúc của con người. “Tắt nắng đi”, Xuân Diệu muốn tạm ngừng thời gian, không để mùa xuân qua đi, không để màu sắc của cuộc sống trở nên phai nhạt. Nắng tượng trưng cho sự sống, sự tươi trẻ, và tác giả muốn dừng lại để giữ lại mọi vẻ đẹp của tuổi xuân. “Buộc gió lại” Gió tượng trưng cho sự tự do, sự di chuyển của thời gian, và việc “buộc gió lại” là một ước muốn ngừng trôi đi thời gian, giữ lại sự tươi mới, hương sắc trong hiện tại. Những mong muốn này thể hiện sự khát khao níu giữ tuổi trẻ, giữ lại những khoảnh khắc đẹp đẽ của cuộc sống, một sự cố gắng chống lại sự trôi đi của thời gian</p> <p>“ Của ong bướm này đây tuần tháng mật; </p> <p> Này đây hoa của đồng nội xanh rì; </p> <p> Này đây lá của cành tơ phơ phất; </p> <p> Của yến anh này đây khúc tình si. </p> <p> Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.”</p> <p>Tác giả mô tả cảnh vật mùa xuân bằng một loạt hình ảnh sinh động, tươi mới. Ong bướm, tuần tháng mật là hình ảnh của sự mãn nguyện, hạnh phúc, của tình yêu lứa đôi nở rộ trong mùa xuân. Hoa của đồng nội xanh rì, hoa mọc ở đồng nội mang đậm hương sắc tươi mới, sinh động của thiên nhiên mùa xuân, gợi lên sự trẻ trung, tươi mới và vẻ đẹp trọn vẹn của đời sống. Cành tơ phơ phất là hình ảnh của sự mềm mại, nhẹ nhàng, mỏng manh của cành cây, tượng trưng cho sự tinh tế, mơ màng của mùa xuân. “Yến anh” là loài chim nhỏ, trong âm điệu của chúng có sự rộn ràng, yêu đương, tượng trưng cho những cảm xúc say đắm, ngây ngất của tình yêu. Những hình ảnh này không chỉ mang tính chất mô tả thiên nhiên, mà còn thể hiện sự đắm chìm, say mê của tác giả với cuộc sống, với cái đẹp và với những cảm xúc nồng nàn của tuổi trẻ.</p> <p> “Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa; </p> <p> Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; </p> <p> Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa: </p> <p> Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”</p> <p> “Thần Vui” là một hình ảnh ẩn dụ cho sự tươi mới, hân hoan của một ngày mới, bắt đầu bằng sự mời gọi của niềm vui, sự sung sướng. “Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần” là một phép so sánh tinh tế và gợi cảm. Tháng Giêng, tháng đầu năm, mang trong mình sự ngọt ngào, tươi mới của tình yêu và tuổi trẻ, giống như một nụ hôn, đầy quyến rũ và tươi đẹp.</p> <p>“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa”</p> <p> Tác giả cảm thấy hạnh phúc, nhưng lại nhận thức được rằng niềm vui đó không thể kéo dài mãi mãi, vì thời gian sẽ trôi qua. Chính vì thế, sự vội vàng ở đây là sự khát khao tận hưởng cuộc sống, nhưng cũng là nỗi lo lắng trước sự qua đi của thời gian.</p> <p>“Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”</p> <p> Tác giả không muốn chỉ nhìn lại tuổi xuân khi đã qua đi, mà muốn tận hưởng ngay lúc này. Điều này thể hiện quan điểm sống của Xuân Diệu hái hoa lúc xuân còn tươi, đừng để đến khi mùa xuân qua đi mới nhận ra giá trị của nó.</p> <p>Bài thơ “Vội vàng” là một khúc ca của tuổi trẻ với những cảm xúc mãnh liệt, khát khao chiếm hữu và giữ gìn thời gian, giữ gìn tuổi xuân. Xuân Diệu thể hiện một sự yêu đời, yêu cuộc sống mãnh liệt và cũng đầy lo lắng trước sự trôi qua của thời gian. Qua đó, tác giả khẳng định rằng tuổi trẻ là vô giá, và cần phải sống hết mình, vội vàng tận hưởng trước khi thời gian qua đi.</p> <h3><strong>Bài văn phân tích nghệ thuật 13 câu đầu Vội vàng - mẫu 4</strong></h3> <p>Bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ mới, với những cảm xúc mạnh mẽ và tràn đầy khao khát. Được sáng tác vào đầu thế kỷ XX, khi xã hội Việt Nam đang trải qua những thay đổi lớn, bài thơ là sự bộc lộ của một tâm hồn nhạy cảm, đầy xúc cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, của cuộc sống, đặc biệt là tuổi trẻ. Với lối viết đặc sắc, phong phú về hình ảnh và biểu cảm, Xuân Diệu đã khắc họa rõ nét khát khao tận hưởng cuộc sống, cùng với sự lo lắng trước sự trôi qua của thời gian. Từ đó, bài thơ không chỉ là lời ca ngợi vẻ đẹp của mùa xuân mà còn là những trăn trở về sự phù du của cuộc sống.</p> <p> “Tôi muốn tắt nắng đi </p> <p> Cho màu đừng nhạt mất; </p> <p>Tôi muốn buộc gió lại </p> <p> Cho hương đừng bay đi.”</p> <p>Trong khổ thơ đầu tiên, Xuân Diệu thể hiện mong muốn mạnh mẽ, thậm chí là phi lý , nhưng lại vô cùng tự nhiên và mãnh liệt. Tác giả muốn “tắt nắng” để giữ lại sắc màu tươi đẹp của cuộc sống. Đây là một hành động tưởng chừng như không thể, nhưng nó lại phản ánh một khát khao mạnh mẽ của tuổi trẻ: nâng niu và giữ lại những khoảnh khắc đẹp đẽ của hiện tại. Việc “buộc gió lại” cũng vậy, là một sự cố gắng ngừng trôi đi của thời gian, khi gió luôn mang theo hương sắc của cuộc sống. Chính điều này thể hiện sự bất lực trước thời gian trôi đi, nhưng cũng là một sự quyết tâm níu kéo hương sắc và sự tươi trẻ của tuổi xuân. Qua những hình ảnh này, tác giả muốn thể hiện một ước ao mãnh liệt là có thể dừng lại thời gian, giữ lại mọi thứ trong khoảnh khắc đẹp đẽ, để không phải chứng kiến sự phai nhạt của đời sống, của tuổi trẻ .</p> <p> “Của ong bướm này đây tuần tháng mật; </p> <p> Này đây hoa của đồng nội xanh rì; </p> <p>Này đây lá của cành tơ phơ phất; </p> <p> Của yến anh này đây khúc tình si. </p> <p> Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.”</p> <p>Khổ thơ thứ hai của Xuân Diệu mở ra một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp và sinh động . Mỗi hình ảnh trong đó đều gợi lên một mùa xuân tươi đẹp, nở rộ, mang đầy sức sống và hương sắc. “Ong bướm, tuần tháng mật” không chỉ là hình ảnh của sự ngọt ngào, đầy đam mê mà còn là sự biểu tượng cho tình yêu nở rộ. “Hoa của đồng nội xanh rì”, màu xanh của đồng nội tượng trưng cho sự tươi mới, sự sống vĩnh hằng của thiên nhiên. “Cành tơ phơ phất” Cành cây mảnh mai, nhẹ nhàng này tạo ra cảm giác mềm mại, giống như sự yêu đương, khát khao nhẹ nhàng, tươi trẻ. Hình ảnh yến anh đang hát khúc tình si không chỉ là sự biểu thị cho tình yêu lãng mạn, mà còn là sự thăng hoa của cảm xúc. Những hình ảnh này không chỉ vẽ ra một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn phản ánh được tình yêu, sự đắm say, hạnh phúc trong những khoảnh khắc tuyệt vời của cuộc sống. Tác giả đang tận hưởng từng phút giây của sự sống, và rõ ràng, ông muốn mở rộng tầm mắt, đắm chìm vào vẻ đẹp của cuộc đời .</p> <p>“Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa; </p> <p> Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; </p> <p> Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa: </p> <p> Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”</p> <p>Khổ thơ này mang đến sự chuyển biến trong cảm xúc của tác giả. Trong khoảnh khắc đầu tiên, tác giả cảm nhận rõ ràng sự tươi mới và tràn đầy niềm vui. “Thần Vui” là một hình ảnh tượng trưng cho niềm hạnh phúc, lạc quan trong cuộc sống, một làn gió mới đánh thức con người vào buổi sáng sớm.</p> <p>“Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần” </p> <p>Đây là phép so sánh đẹp, đầy gợi cảm, tháng Giêng tượng trưng cho sự ngọt ngào, sự yêu đương , gợi đến cảm giác của một nụ hôn , một khoảnh khắc tươi mới , và sự gắn kết yêu thương. Tuy nhiên, Xuân Diệu không chỉ tận hưởng sự vui vẻ trong hiện tại mà còn có sự lo lắng , một nỗi sợ hãi về thời gian trôi qua. Dù đầy hạnh phúc , ông vẫn vội vàng một nửa, như thể không có đủ thời gian để tận hưởng trọn vẹn . Và câu thơ “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân” chính là sự nhận thức rõ ràng của tác giả về sự hữu hạn của tuổi xuân. Ông không muốn đợi đến khi mùa xuân qua đi mới hoài niệm về những khoảnh khắc đẹp mà ngay lúc này phải tận hưởng trọn vẹn.</p> <p>Bài thơ “Vội vàng” thể hiện một quan niệm sống mãnh liệt và đầy khát khao của Xuân Diệu : đó là việc tận hưởng hết mình với tuổi trẻ và cuộc sống , nhưng cũng không thể không có sự lo lắng trước sự trôi qua của thời gian. Thông qua những hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp và những ước muốn tưởng chừng không thể thực hiện được, tác giả muốn khẳng định rằng thời gian và tuổi xuân là vô giá . Vì vậy, chúng ta cần phải trân trọng và sống hết mình, đừng để thời gian trôi qua mà không kịp hưởng thụ vẻ đẹp của cuộc sống. Cái “vội vàng” trong bài thơ chính là một sự kêu gọi sống trọn vẹn, không chần chừ, không bỏ lỡ những khoảnh khắc đẹp đẽ của cuộc đời.</p> <h3><strong>Bài văn phân tích nghệ thuật 13 câu đầu Vội vàng - mẫu 5</strong></h3> <p>Bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu được sáng tác vào những năm đầu của thế kỷ XX, trong bối cảnh phong trào Thơ Mới đang phát triển mạnh mẽ. Xuân Diệu, được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình”, đã mang đến một phong cách thơ tràn đầy cảm xúc, mãnh liệt, thể hiện sự khát khao sống, yêu đời, yêu người. Bài thơ này không chỉ thể hiện tình yêu cuộc sống, mà còn là sự trăn trở, lo lắng về sự trôi qua của thời gian và tuổi trẻ.</p> <p> “Tôi muốn tắt nắng đi </p> <p> Cho màu đừng nhạt mất; </p> <p> Tôi muốn buộc gió lại </p> <p> Cho hương đừng bay đi.”</p> <p>Những câu thơ đầu tiên là sự thể hiện khát khao mãnh liệt của tác giả trong việc ngừng trôi đi của thời gian. Xuân Diệu sử dụng hình ảnh “tắt nắng” và “buộc gió lại” như một mong muốn phi lý, thể hiện sự bất lực trước dòng chảy của thời gian nhưng lại đầy tự nhiên và chân thành . “Tắt nắng đi” là mong muốn ngừng mặt trời lặn, ngừng thời gian trôi đi, để màu sắc của cuộc sống không bị phai nhạt. “Buộc gió lại” cũng mang hàm ý về sự mong muốn nắm bắt và giữ lại những khoảnh khắc ngọt ngào trong cuộc sống. Gió tượng trưng cho sự tự do, sự trôi qua của thời gian, và tác giả muốn dừng lại không cho nó bay đi. Mong muốn này cho thấy một khát khao rất sâu sắc muốn vươn tới cái đẹp, muốn níu giữ những khoảnh khắc hoàn hảo của tuổi trẻ và tình yêu trước sự vô thường của cuộc đời .</p> <p> “Của ong bướm này đây tuần tháng mật; </p> <p> Này đây hoa của đồng nội xanh rì; </p> <p> Này đây lá của cành tơ phơ phất; </p> <p>Của yến anh này đây khúc tình si. </p> <p> Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.”</p> <p>Khổ thơ này là một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, tràn đầy sức sống. Xuân Diệu dùng hình ảnh sinh động, ngọt ngào để miêu tả mùa xuân , tuổi trẻ và tình yêu. “Ong bướm, tuần tháng mật” không chỉ là hình ảnh của những loài vật trong mùa xuân, mà còn là biểu tượng của tình yêu nở rộ, sự ngọt ngào của những tháng ngày đầu tiên yêu đương. “Hoa của đồng nội xanh rì” là sự thể hiện vẻ đẹp tươi mới, tràn đầy sức sống của thiên nhiên, của tuổi trẻ đang nở rộ. “Lá của cành tơ phơ phất” gợi lên cảm giác mềm mại, dịu dàng, như một cơn gió nhẹ, thể hiện sự trong sáng và mơ màng của tình yêu. “Khúc tình si của yến anh” là hình ảnh của những âm thanh ngọt ngào của loài chim nhỏ, tượng trưng cho sự mê đắm, ngây ngất trong tình yêu. Những hình ảnh này không chỉ là mô tả thiên nhiên mà còn là sự mở ra một không gian tuyệt vời của tuổi trẻ, là sự chiêm ngưỡng vẻ đẹp của sự sống trong những khoảnh khắc tuyệt vời. Xuân Diệu đã làm cho mỗi cảnh vật đều tràn đầy nhựa sống, tràn đầy cảm xúc .</p> <p>“Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa; </p> <p>Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; </p> <p>Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa: </p> <p> Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”</p> <p>Khổ thơ này thể hiện sự chuyển biến trong cảm xúc của tác giả. Xuân Diệu không chỉ hạnh phúc trong hiện tại, mà còn có nỗi lo lắng, sự vội vàng. “Thần Vui” tượng trưng cho sự vui tươi, tươi mới, là niềm vui trong mỗi ngày sáng sớm, đánh thức mọi người ra khỏi giấc ngủ, sẵn sàng đối diện với cuộc sống. “Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần” Câu thơ này gợi lên sự ngọt ngào, quyến rũ của tháng Giêng, của mùa xuân, của những khoảnh khắc yêu đương đẹp đẽ. Tuy nhiên, dù đang cảm nhận được sự vui vẻ, hạnh phúc, Xuân Diệu lại nhận ra rằng thời gian đang trôi qua nhanh chóng tuổi xuân không thể kéo dài mãi mãi. Chính vì thế, ông cảm thấy “vội vàng” để sống trọn vẹn từng khoảnh khắc, vì tuổi xuân sẽ không quay lại. Câu “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân” là sự thể hiện triết lý sống của Xuân Diệu đừng để đến khi mùa xuân qua đi mới tiếc nuối, mà phải tận hưởng ngay hiện tại, vì thời gian không chờ đợi ai .</p> <p>Bài thơ “Vội vàng” là một khúc ca tươi vui, hân hoan nhưng cũng chứa đựng đầy nỗi lo lắng về sự trôi qua của thời gian. Xuân Diệu đã thể hiện nỗi khát khao sống trọn vẹn từng khoảnh khắc của cuộc đời, đặc biệt là tuổi trẻ, nhưng đồng thời cũng là nỗi sợ hãi khi nhận thức được rằng thời gian không thể níu giữ. Với lối viết lãng mạn và mãnh liệt, Xuân Diệu đã làm sống dậy những cảm xúc say đắm, ngất ngây trước vẻ đẹp của cuộc sống, nhưng cũng khẳng định rằng cuộc sống quá ngắn ngủi, vì vậy chúng ta phải vội vàng tận hưởng và trân trọng từng giây phút. Bài thơ không chỉ là lời kêu gọi sống hết mình, mà còn là sự trân trọng những khoảnh khắc tươi đẹp của cuộc đời, là sự chấp nhận sự vô thường của thời gian và sự tự do trong cách sống.</p> <h3><strong>Bài văn phân tích nghệ thuật 13 câu đầu Vội vàng - mẫu 6</strong></h3> <p>Xuân Diệu, một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới, nổi bật với sự lãng mạn, yêu đời, và khát khao tận hưởng cuộc sống. Bài thơ “Vội vàng” được sáng tác trong bối cảnh thế giới đang trải qua những thay đổi lớn, đặc biệt là sự đổi mới trong văn học Việt Nam. Bài thơ là sự phản ánh tâm hồn nhạy cảm và mối bận tâm sâu sắc của tác giả trước sự trôi đi của thời gian.</p> <p>“Tôi muốn tắt nắng đi </p> <p>Cho màu đừng nhạt mất; </p> <p> Tôi muốn buộc gió lại </p> <p>Cho hương đừng bay đi.”</p> <p>Trong đoạn thơ này, Xuân Diệu thể hiện một khát khao mãnh liệt muốn ngừng trôi đi của thời gian và giữ lại sự tươi đẹp của cuộc sống. “Tôi muốn tắt nắng đi” câu thơ này là một ước muốn không thể thực hiện được, bởi nắng tượng trưng cho thời gian, cuộc sống và sự biến đổi. Nếu có thể tắt nắng, thì thời gian cũng sẽ ngừng lại, và màu sắc cuộc sống sẽ không bị phai nhạt. “Buộc gió lại”: Gió tượng trưng cho sự tự do, sự vận động không ngừng của thời gian. Xuân Diệu muốn buộc gió lại, không để nó bay đi, để giữ lại hương sắc của cuộc sống, của những khoảnh khắc đẹp đẽ mà ông đang tận hưởng. Những mong muốn này tuy là phi lý nhưng lại thể hiện được sự mong muốn giữ gìn sự trong sáng và tươi mới của cuộc sống, đặc biệt là tuổi xuân. Khát khao vĩnh cửu hóa hiện tại là ước muốn của một tâm hồn yêu đời mãnh liệt.</p> <p> “Của ong bướm này đây tuần tháng mật; </p> <p> Này đây hoa của đồng nội xanh rì; </p> <p> Này đây lá của cành tơ phơ phất; </p> <p> Của yến anh này đây khúc tình si. </p> <p> Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.”</p> <p>Khổ thơ này mang đến một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, đầy sinh động, tràn đầy sức sống, và nó không chỉ đơn thuần là mô tả cảnh vật mà còn thể hiện khát khao sống trọn vẹn của tác giả. Ong bướm, tuần tháng mật là những hình ảnh tiêu biểu cho mùa xuân, mùa của tình yêu, sự ngọt ngào và thịnh vượng. Tình yêu được ví như những tuần tháng mật - thời gian tươi đẹp, ngọt ngào. Hoa của đồng nội xanh rì: Hoa là biểu tượng của vẻ đẹp, sự tươi mới, tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng và sự nở rộ của tuổi trẻ. Lá của cành tơ phơ phất: Lá là hình ảnh đại diện cho sự tinh tế, nhẹ nhàng, mềm mại, như chính sự mơ màng, dịu dàng của tình yêu. Khúc tình si của yến anh: Yến anh là loài chim nhỏ nhưng luôn cất lên những khúc hát yêu đương, gợi lên hình ảnh của một tình yêu say đắm và đầy khao khát. Ánh sáng chớp hàng mi: Hình ảnh này không chỉ gợi lên vẻ đẹp của một đôi mắt, mà còn là ánh sáng của hi vọng, của sự trẻ trung, và sự trong sáng của cuộc sống.</p> <p>Tất cả những hình ảnh thiên nhiên này kết hợp với nhau tạo thành một bức tranh mùa xuân ngập tràn sắc màu và hương vị của cuộc sống. Xuân Diệu không chỉ ngắm nhìn mà còn thấm đẫm từng khoảnh khắc tuyệt vời trong sự tươi mới của tuổi trẻ và tình yêu.</p> <p> “Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa; </p> <p>Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; </p> <p> Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa: </p> <p> Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”</p> <p>Trong khổ thơ này, Xuân Diệu bắt đầu có sự chuyển biến trong cảm xúc, thể hiện niềm vui nhưng cũng là nỗi lo lắng về sự trôi qua của thời gian. “Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa”: Thần Vui là hình ảnh tượng trưng cho niềm vui mỗi ngày, là ánh sáng mới mang đến cảm giác tươi mới, sống động cho cuộc sống. “Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”: Tháng Giêng là tháng đầu năm, là mùa xuân. Tác giả ví tháng Giêng như một nụ hôn, thể hiện sự ngọt ngào và tình yêu say đắm của tuổi trẻ. Câu thơ này còn mang hàm ý khát khao được nếm trọn niềm vui và tình yêu của cuộc đời. Tuy nhiên, dù đang cảm thấy sung sướng, Xuân Diệu lại có cảm giác “vội vàng một nửa”. Tác giả nhận thức được rằng mỗi khoảnh khắc tươi đẹp đều có giới hạn. Sự vội vàng này là vì ông hiểu rằng thời gian không đợi chờ ai, và không thể để đến khi mùa xuân qua đi mới hoài niệm. “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”: Đây là một câu thơ tư duy sâu sắc, thể hiện một triết lý sống: đừng để thời gian trôi qua rồi mới hối tiếc. Xuân Diệu không muốn chỉ nhìn lại tuổi xuân khi đã qua đi mà muốn tận hưởng ngay bây giờ.</p> <p>Bài thơ “Vội vàng” không chỉ là lời ca ngợi về vẻ đẹp của mùa xuân, của tuổi trẻ và tình yêu, mà còn là lời kêu gọi sống trọn vẹn từng khoảnh khắc trong cuộc đời. Xuân Diệu không muốn bỏ lỡ bất kỳ khoảnh khắc nào, đặc biệt là những giây phút tươi đẹp của thời gian và tuổi xuân. Bài thơ là sự kết hợp giữa sự yêu đời mãnh liệt và nỗi lo lắng trước sự trôi đi của thời gian. Xuân Diệu dùng những hình ảnh sinh động, mơ màng và biểu cảm để thể hiện niềm vui, nhưng cũng không quên nhắc nhở rằng thời gian trôi qua rất nhanh, và tuổi xuân không thể kéo dài mãi mãi. Tóm lại, bài thơ là một thông điệp sống vội vàng, sống hết mình, và trân trọng từng khoảnh khắc của cuộc đời.</p> <h3><strong>Bài văn phân tích nghệ thuật 13 câu đầu Vội vàng - mẫu 7</strong></h3> <p>Bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất trong thơ mới Việt Nam, đặc biệt là về cảm xúc mạnh mẽ và sâu sắc mà nó truyền tải. Qua bài thơ này, Xuân Diệu thể hiện khát khao sống trọn vẹn, niềm đam mê với sự sống, nhưng đồng thời cũng là sự trăn trở, lo lắng về sự phù du của thời gian. </p> <p> “Tôi muốn tắt nắng đi </p> <p> Cho màu đừng nhạt mất; </p> <p> Tôi muốn buộc gió lại </p> <p>Cho hương đừng bay đi.”</p> <p>Mở đầu bài thơ, Xuân Diệu đã sử dụng những hình ảnh thiên nhiên gần gũi và quen thuộc nhưng lại chứa đựng khát khao mạnh mẽ muốn nắm giữ sự tươi đẹp của cuộc sống. Câu “Tôi muốn tắt nắng đi” không chỉ là mong muốn đơn thuần về việc ngừng thời gian mà còn là mong muốn vĩnh cửu hóa những khoảnh khắc tuyệt vời của tuổi trẻ và tình yêu. Nắng ở đây là biểu tượng của thời gian, của sự trôi qua không ngừng, và nếu có thể tắt nắng, tức là ngừng lại thời gian và giữ cho màu sắc cuộc sống không bị phai nhạt. “Buộc gió lại” là một hình ảnh rất đặc biệt. Gió là biểu tượng của sự tự do, sự thay đổi không ngừng. Thực tế, gió không thể bị buộc lại hay dừng lại, nhưng chính sự khát khao có thể níu giữ và kiểm soát thiên nhiên này lại phản ánh một nỗi lo sợ không thể ngừng trôi đi của thời gian. Xuân Diệu dường như đang chạy đua với thời gian, không muốn mất đi những khoảnh khắc quý giá của cuộc đời.</p> <p> “Của ong bướm này đây tuần tháng mật; </p> <p>Này đây hoa của đồng nội xanh rì; </p> <p> Này đây lá của cành tơ phơ phất; </p> <p> Của yến anh này đây khúc tình si. </p> <p> Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.”</p> <p>Ở khổ thơ thứ hai, Xuân Diệu không chỉ miêu tả thiên nhiên một cách sinh động mà còn sử dụng những hình ảnh sinh động, tươi mới để thể hiện một thế giới đầy sắc màu và hương vị của tuổi trẻ. Những hình ảnh như “ong bướm”, “tuần tháng mật” là biểu tượng của tình yêu nở rộ, ngọt ngào và đầy đam mê, giống như những tháng ngày yêu đương đầu đời, khi tất cả mọi thứ đều đẹp đẽ và hạnh phúc. “Hoa của đồng nội xanh rì” và “lá của cành tơ phơ phất” mang đến những hình ảnh tựa như mơ, đầy chất lãng mạn, tượng trưng cho sự tươi mới, nhẹ nhàng, và sự bắt đầu mới của một tình yêu, một cuộc đời tràn đầy hy vọng. “Yến anh khúc tình si” là hình ảnh của những khúc hát yêu đương, của những âm thanh ngọt ngào, thể hiện sự say đắm, mộng mơ của tuổi trẻ. Hình ảnh này không chỉ là một mô tả đơn thuần mà còn là biểu tượng cho cảm xúc đắm say, tình yêu đầy mê đắm trong cuộc sống. Tất cả những hình ảnh này đều được Xuân Diệu sử dụng để khắc họa sự tươi đẹp của hiện tại. Nhưng đồng thời, chính vì cái đẹp ấy mà tác giả càng cảm thấy lo sợ, vì biết rằng nó sẽ không kéo dài mãi mãi.</p> <p> “Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa; </p> <p> Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; </p> <p>Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa: </p> <p> Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.”</p> <p>Khổ thơ này thể hiện sự chuyển biến trong cảm xúc của tác giả: Mặc dù đang sung sướng, nhưng Xuân Diệu không thể nào ngừng lo lắng về sự trôi qua của thời gian. Những “thần Vui” là những niềm vui thoáng qua, và chính việc đón nhận niềm vui này cũng khiến Xuân Diệu nhận ra rằng niềm vui có thể không kéo dài. “Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần” là hình ảnh tượng trưng cho sự tươi mới, ngọt ngào, và gần gũi. Đây là tháng đầu tiên của năm mới, mang đến hy vọng, lộc xuân, và có sự liên tưởng đến tình yêu và sự yêu đương. Nhưng “ngon như một cặp môi gần” lại ngầm ám chỉ một sự say đắm, nóng bỏng, một cảm giác không thể kéo dài mãi. Vì vậy, Xuân Diệu cảm thấy vội vàng, cảm thấy như mình không thể chờ đợi sự trôi qua của thời gian để rồi hoài niệm về tuổi xuân khi đã qua. Ông muốn tận hưởng ngay bây giờ, chớp lấy mỗi khoảnh khắc, vì ông hiểu rằng thời gian trôi đi không thể níu giữ.</p> <p>Bài thơ “Vội vàng” không chỉ đơn giản là lời ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, mùa xuân hay tuổi trẻ, mà nó còn là lời kêu gọi sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc của cuộc đời. Chính sự vội vàng trong việc tận hưởng cuộc sống ấy đã phản ánh sự băn khoăn và lo lắng của tác giả về sự phù du của thời gian. Xuân Diệu nhắc nhở chúng ta rằng thời gian không đợi chờ ai, và nếu không sống hết mình trong những khoảnh khắc đẹp đẽ, chúng ta sẽ để lỡ những điều quý giá nhất. Khát khao sống trọn vẹn và thưởng thức sự tươi mới của cuộc sống trở thành mệnh lệnh sống của tác giả. Và đó chính là lý do vì sao “vội vàng” trở thành một từ khóa xuyên suốt bài thơ.</p> <p>“Vội vàng” là một bài thơ đầy cảm xúc mãnh liệt, thể hiện sự khát khao sống trọn vẹn từng khoảnh khắc của cuộc đời, đồng thời cũng chứa đựng nỗi lo sợ sự mất mát trước sự trôi qua của thời gian. Bài thơ không chỉ đơn thuần là lời ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, mùa xuân mà còn là một thông điệp sống sâu sắc: hãy sống vội vàng, hãy trân trọng những gì đẹp đẽ nhất mà cuộc sống ban tặng trước khi nó qua đi.</p> <p>Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:</p> <ul> <li><b>Bài văn phân tích nghệ thuật 9 câu đầu bài Đất nước</b></li> <li><b>Bài văn phân tích nghệ thuật bài thơ Tây Tiến</b></li> <li><b>Bài văn phân tích nghệ thuật bài Chữ người tử tù</b></li> <li><b>Bài văn phân tích nghệ thuật của bài Những ngôi sao xa xôi</b></li> <li><b>Bài văn phân tích nghệ thuật đoạn 3 Tây Tiến</b></li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Mon, 06 Jul 2026 07:50:37 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">10+ Bài văn phân tích nghệ thuật 13 câu đầu Vội vàng (điểm cao)</media:title>
                        <media:keywords>10+ Bài văn phân tích nghệ thuật 13 câu đầu Vội vàng (điểm cao)</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Quyết Tâm Mạnh]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/dan-chung-uoc-mo-a110382.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/dan-chung-uoc-mo-a110382.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/dan-chung-uoc-mo-a110382.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Có một người bạn của tôi rất thích nói ước mơ của mình cho tất cả mọi người, gặp ai có cơ hội đều nói, chia sẻ về ước mơ và tuyên bố rằng mình chắc chắn sẽ làm được. Cậu ấy cho rằng nói hết người này tới người khác rồi sẽ có một người cùng chung chí hướng và như vậy cũng để củng cố quyết tâm. Nhưng cậu ấy không nhận ra rằng có những người chẳng thèm muốn nghe, phải ngồi chịu đựng vì không muốn làm cậu ta mất lòng. Đồng thời cũng có những người nói xấu sau lưng vì cho rằng cậu ấy là một tên “nói nhiều nhưng làm thì không được bao nhiêu” vì tới giờ này cậu ấy vẫn chưa làm được những gì mình nói. Trong cuốn sách Sức mạnh niềm tin ở trang 148-149. Tác giả Claude M. Bristol cũng bày tỏ quan điểm “không nên nói về ước mơ” :</p><p>“Tôi muốn nhấn mạnh rằng các bạn đừng nói với ai về những gì bạn viết trên những mẫu giấy như thế (mẫu giấy ghi ước mơ tác giả đề cập ở các trang trước) và cũng không nên tiết lộ với người khác về niềm khao khát của bạn. Nếu làm thế bạn sẽ gặp thảm họa đấy! Chỉ khi nào bạn hiểu rõ hơn về khoa học này, bạn mới có thể hiểu sự dao động của ý nghĩ - vì một cách ý thức hoặc vô thức, lòng đố kỵ hay một nguyên nhân nào đó sẽ xuất hiện và vô hiệu hóa ước mơ.</p><p>Để dẫn chứng, tôi có một người bạn bác sĩ từng nộp đơn xin vào lực lượng Hải Quân Hoa Kỳ trong những ngày đầu Chiến Tranh Thế Giới thứ 2, Anh ấy đóng cửa phòng mạch và bảo với mọi người rằng mình sẽ gia nhập Hải Quân. Và thế là anh ấy trở thành người được mọi người quan tâm, mời tham dự tiệc tùng và được tặng vô số quà. Sau này anh ta nói với tôi: “Tôi được bài học nhớ đời rằng không nên nói cho ai biết về khát khao của mình. Phải đến hai năm sau tôi mới nhận được giấy triệu tập, và trong thời gian đó tôi phải mở lại phòng mạch của mình. Thật bối rối khi đã nhận bao nhiêu là quà tặng chia tay như thế, để rồi tôi phải ngồi nhà làm nguội cơn bốc đồng của mình trong suốt hai năm ròng”.</p><p>Sự thật là khi nói ra điều bạn sắp làm, bạn sẽ làm suy yếu các nguồn lực của bạn. Bạn sẽ đánh mất các mối liên kết gần gũi với tiềm thức của bạn, và trừ phi bạn làm theo những gì được gợi ý trong cuốn sách này, bạn sẽ phải luôn bắt đầu lại từ đầu các kế hoạch nhằm đặt đạt được các thành tựu mà bạn đặt ra”.</p><p>“Đừng nói với bất cứ ai về khao khát của bạn!” Luôn là một lời khuyên đúng đắn.”</p><p>Một người khác cũng có quan điểm tương tự là Derek Silvers. Ông sáng lập CD Baby, website âm nhạc với doanh thu lên tới 100 triệu USD. Năm 2003 ông đã đoạt giải thưởng World Technology Award, Esquire magazine’s annual “Best and Brightest”. Ông được mô tả như “người thay đổi cách thức mua bán trong ngành âm nhạc và là anh hùng trong kinh doanh âm nhạc“. Trong video dưới đây ông trình bày thí nghiệm của Peter Gollwitzer:</p><p>https://www.ted.com/talks/derek_sivers_keep_your_goals_to_yourself</p><p> </p><p>“163 người tham gia 4 thí nghiệm riêng biệt, mọi người được yêu cầu viết ra mục tiêu cá nhân, phân nửa tuyên bố cam kết của họ cho cả phòng và nửa còn lại thì không. Rồi mọi người được cho 45 phút làm việc liên quan để đưa họ gần tới mục tiêu hơn. Nhưng họ được bảo rằng có thể dừng lại bất cứ lúc nào. Và những người im lặng đã làm việc suốt 45 phút. Trong khi những người nói thì bỏ cuộc sau trung bình 33 phút. (Số liệu mà Derek đưa ra có sai lệch so với của Peter Gollwitzer. Ông thực hiện thí nghiệm đó trên 30 người. Người im lặng 45.65 phút, người nói 41.52 phút nhưng kết quả vẫn giống như Derek mô tả)</p><p> </p><p>Một lý do nữa để không nói cho người khác nghe ước mơ của mình được trình bày ở phần cuối của bài viết Tại sao luật hấp dẫn không hoạt động với bạn? bạn hãy xem qua nhé.</p><p>Hãy cẩn thận trong việc chia sẻ ước mơ của mình. Hành động quan trọng hơn lời nói. Hãy để thành tựu lên tiếng!</p><p>Cám ơn bạn đã dành thời gian đọc bài viết.</p><p>Nguyễn Viết Vũ - Quyettammanh.vn</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Mon, 06 Jul 2026 02:02:39 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Quyết Tâm Mạnh</media:title>
                        <media:keywords>Quyết Tâm Mạnh</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Những ngày tù chung với ông Đạo Dừa]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/ong-hai-la-nguoi-nhu-the-nao-a110379.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/ong-hai-la-nguoi-nhu-the-nao-a110379.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/ong-hai-la-nguoi-nhu-the-nao-a110379.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>Năm 1972, lúc này tôi là Sĩ Quan Tham Mưu trong BCH Trung Đoàn 10BB , đóng tại Thị Xã Trúc Giang, Kiến Hoà ( Bến Tre) bên cạnh Hồ Chung Thuỷ, ông Trung Đoàn Pho là Trung Tá Hứa Yến Khiến khoá 10 Đalat, ông này thân với tôi, gia đình ông có 11 anh em trai, trong đó có Đại Tá Hứa Yến Lến ( khoá 7 dalat, là phụ tá hành quân Sư Đoàn 18 BB cho Tương Lê minh Đảo, ông Tr/ tá Khiến được chuyển qua Tiểu Khu, làm Quân Trưởng Trúc Giang, quận này bao gồm cả Cồn Phụng, là nơi ông Đạo Dừa sinh sống cùng đệ tử, trước đó ông Đạo Dừa có đem cái chuồng nhốt một con mèo và 1 con chuột sông chung với nhau, lên Saigon trước Toà Đại sứ Mỹ biểu tình. Ông Quận phải sang Cồn Phụng ngủ để canh chừng ông Đạo lên Saigon nữa, hoặc đệ tử của ông “ xuống đường “ ( xuống ghe thuyền biểu tình dưới nước), cuối tuần ông Trung Tá Khiến kêu tôi sang Cồn Phụng ngủ với ông và và lính của Quận, tôi có ngủ ở Cồn Phụng với ông 2 lần, nhưng vì ngủ trên võng ngoài rừng dừa mệt mỏi nên không đi nữa, sáng dậy có dân trên cồn đến bán quà sáng như sôi dừa, bánh ….Trong bài này nói ông ngủ trên cây dừa, tôi thấy khó tin, tôi thấy trên khu ông ở có sàn ci măng, có cột chống đỡ chắc chắn,ông sống trên một cái tháp cao,có cầu thang đi lên, tháp tròn đường kính khoảng 1m, bằng nhôm, trên sàn ci măng có các cột lớn, các cột này có khắc hình con rồng, trên sàn ci măng có một bản đồ lớn nước VN,bên cạnh bản đồ có các chữ như sau : Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn văn Thiệu, Nguyễn cao Kỳ, Nguyễn thành Nam ( ông Đạo Dừa) là 4 anh em một nhà, các đệ tử của ông có một số rất trẻ, đa số là con trai. </strong></p> <p>Thiện (‘Frank Do’ via banbexagan; banbexagan@googlegroups.com)</p> <h2><strong>Những ngày tù chung với ông Đạo Dừa</strong></h2> <p>* Viết theo lời kể của Joseph Cao ở Paris để tặng những chiến sĩ can trường của đất nước. Tôi biết về ông Đạo Dừa rất ít.Trước kia, có một dạo tôi hiểu lầm ông. Nói hiểu lầm thì không đúng lắm: Tôi đã đánh giá sự đấu tranh của ông một cách phiến diện, hời hợt. Tôi được biết ông tên Nguyễn Thành Nam, một nhà trí thức tân tiến, đỗ bằng kỹ sư Canh Nông ở Pháp, có tinh thần ái quốc cao. Ông thành tài về nước, không làm việc cho Pháp, dấn thân vào cuộc cách mạng dân tộc. Vào thuở tôi còn mài đũng quần nơi những lớp trung học Pháp, tên tuổi của ông đã lẫy lừng, tương lai rạng ngời hào quang. Người Pháp ở Đông Dương rất ưu đãi dân thuộc địa thông thạo Pháp ngữ. Từ các công sở đến tòa án, hễ ai nói thông được tiếng Pháp kể như nắm được chiếc chìa khóa vàng trong tay, vào cửa nào cũng thông cũng lọt.Huống chi đối với những nhà khoa bảng xuất thân từ những đại học ở “chánh quốc” áo gấm về nước! Với cái tài ấy, cái thế ấy, giá khéo luồn lọt một tí, làm gì chẳng thừa miếng đỉnh chung?Nhưng ông kỹ sư Nam ấy lại không đem cái tài học của ông làm việc cho Pháp. Ông cũng không dùng cái vốn liếng văn hóa Tây phương gây lợi cá nhân, cho có được vợ đẹp con ngoan,cho có trang trại giàu sang trưởng giả, hoặc khai khẩn dinh điền màu mỡ cò bay thẳng cánh… Ông đã rũ bỏ cảnh phồn hoa quyến rũ, dứt lìa văn minh vật chất ông có thể thụ hưởng thừa thãi, để về một cồn vắng… trèo lên ngồi trên ngọn cây dừa mà tu, và thành là ông Đạo Dừa!Tôi từng nghe mấy người anh bà con, cùng ở Pháp về chuyến tàu với ông, không ngớt bàn tán về hành động ấy của ông: - Kỹ sư Nam ở Bến Tre tính gì thế? Toan làm chính trị? Hay muốn chóng nổi danh?- Hắn bất hợp tác với nhà cầm quyền ư? Chủ trương tranh đấu bất bạo động như thánh Gandhi bên Ấn Độ à? Bối cảnh chính trị ở Việt Nam khác xa với bên ấy lắm cơ mà!- Hay hắn lập dị? Cũng muốn tỏ ra ta đây anh hùng cách mạng?Tôi nghe nói mà chán ngắt cho mấy ông anh họ ấy. Họ còn ham thụ hưởng, có dám dấn thân như thế đâu. Cũng có kẻ xu thời, làm chính trị sa lông. Thứ chánh trị không tốn kém gì, không hy sinh nguy hiểm gì, mà lại được tiếng là kẻ thức thời.Tôi là lớp trẻ vừa trưởng thành, vừa mới hiểu biết, trong thập niên 30-40. Chúng tôi thường thao thức theo tiếng gọi thức tỉnh của hồn nước, của các bậc tiền bối yêu nước như cụ Phan Bội Châu, cụ Huỳnh Thúc Kháng, ông Phan Châu Trinh, Tăng Bạt Hổ… Và cái chết oanh liệt của các bậc anh hùng Yên Bái Nguyễn Thái Học, Ký Con…đã khơi dậy lòng yêu nước khắp nơi.Chúng tôi sống trong ký túc xá, giữa bốn bức tường kín học đường, song cũng biết được đại khái những hoạt động của các ông Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm, Trần Văn Ân, Hồ Hữu Tường, Hồ Văn Ngà… và vô số nhà trí thức Trung Nam Bắc… đã không chạy theo vinh hoa phú quý thuở bấy giờ mà lại dấn thân làm quốc sự. Những quyển sách quốc cấm như Phan Đình Phùng, Con hùm Yên Thế Hoàng Hoa Thám, Giặc Cờ Vàng… được chúng tôi lén lút chuyền tay nhau, nửa đêm chun vào cầu tiêu, xem mê mệt không thôi. Phong Trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục với những tổ chức đưa thanh niên du học nước ngoài, những trường bí mật đào tạo nhân tài đất nước đã nhiều đêm là mộng trắng canh trường của lòng trai háo hức dấn thân vào phiêu lưu của chúng tôi. Chúng tôi không còn lòng học hành nữa. Cái học trong nước, dẫu đến cao đẳng, cũng chỉ để làm nô lệ. Chúng tôi từng chứng kiến, căm hờn và ứa lệ, khi trông thấy đang trong giờ giảng bài, vị giáo sư đáng kính mến bỗng bị lính kính, mật thám Pháp vào lớp, xích tay lại dẫn ra xe…Giữa cái buổi giao thời đặc biệt ấy của đất nước, bọn thực dân cai trị cố tình bên trên đè ép xuống, dân chúng ở dưới ngộp ngạt trôi mình, có một số thanh niên Tây học, đâm ra hoang mang mất hướng. Một số bỏ sở làm lương to, đi lên núi Cấm tu hành, hoặc toan luyện bùa phép chống lại súng đạn, hoặc toan tìm hậu duệ các tiền bối kháng Pháp thời xưa? Một số lại ủy mị hơn, tìm quên lãng hận mất nước trong làn khói phù dung! Một số tìm đường trốn ra nước ngoài, cố sao móc nối được một anh thủy thủ ngoại quốc có tàu buông neo ở Nhà Rồng, năn nỉ sao cho anh ta thương tình dấu dưới hầm tầu để đi được thoát. Nếu rủi ra khơi rồi mà thuyền trưởng hay được, bất quá hắn xiềng chân lại, chờ đến một bến cảng nào đó thì tống khứ lên bờ, miễn đừng trong thuộc địa của Pháp thôi, là cũng sướng đời rồi! Tuy không nói nhiều ngoại ngữ, chỉ biết tiếng Pháp rất hạn chế trong thương trường quốc tế, nhưng những thanh niên mạo hiểm vẫn tin tưởng ở sức lực và bàn tay tháo vát của mình để có thể kiếm được cái ăn qua buổi, miễn không ngửa tay xin ăn. Mà dù không kiếm sống được, chết đói xứ lạ là cùng, còn hơn sống nô lệ nơi quê nhà vốn nổi tiếng vựa lúa Châu Á!Tôi có một số bạn bắt mối được với một bạn thủy thủ tàu buôn Pháp,bọn này đòi 50 đồng mới cho xuống tàu. Ba đứa đều là học sinh, còn trong cảnh cơm cha áo mẹ, làm sao có đến một số bạc to lớn như thế?Bán cả đồ đạc,quyên góp khắp bạn bè mãi mới được 40 đồng,định sẽ năn nỉ xin bớt,chắc bọn chúng cũng chịu, nhưng khi đem tiền ra bến, hỡi ôi, con tàu buôn hôm nọ đã nhổ neo, ra lòng sông Sài Gòn rồi!Sở dĩ tôi nói lên việc này là để cùng quý bạn hình dung lại thời điểm ấy của những công dân Việt Nam, như dòng sông Cửu Long đợt sóng này nối tiếp đợt sóng khác, đã ý thức được những việc cần phải làm của người bị trị. Quyền yêu nước không phải ở một người, ở một đảng phái nào.Bây giờ, người ta tha hồ tô hồng, chuốt lục lịch sử đảng họ. Bẻ cong cả lịch sử. Phủ nhận công ơn của những người ngoài đảng ta! Các văn sĩ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa tán tụng tận mây xanh về việc đi tìm đường cứu nước của “bác”, làm như chỉ có “bác” của họ mới độc đáo đi nước ngoài. Ở Sài Gòn, có một dinh thự to tát và tráng lệ của thực dân Pháp bỏ lại bến Nhà Rồng, đáng lẽ thuộc về nhân dân đang thiếu nhà ở, thì đảng lại làm thành ngôi nhà kỷ niệm nơi xuất xứ đi ra nước ngoài của lãnh tụ. Để thờ những vật vớ vẩn! Sao không thờ bao nhiêu bậc tiền hiền cách mạng trước “bác” hoặc đồng thời với “bác”, tài ba hơn và sự hy sinh cống hiến nhiều hơn?Cổ nhân bảo: luận anh hùng, chớ luận vào thành công hay thất bại, phải luận vào sự tiên phong khởi đầu. Những người thắp sáng, những nhà khai hoang, trong lãnh vực thương nước yêu nòi mới thực hiển hách. Cũng như nơi tuyến đầu, người lính trước tiên nhận diện được quân thù mà cảnh giác cho bạn đồng ngũ, dù có bị bắn ngã chết, vẫn giữ công đầu! Tổ quốc Việt Nam không quên ơn những người con ấy. Dầu hiện nay, họ bị bôi nhọ, hay xuyên tạc. Trong số đó có ông Đạo Dừa. Với một năm ở tù chung ở khám Cần Thơ, tôi mới thật sự biết ông. Khâm phục ông nhẫn nại, kiên quyết và bất khuất hơn người.Trước kia, tôi chỉ biết ông có chí hướng hơn người. Ông tìm con đường tranh đấu riêng. Ông không theo phe này, lập hội kín nọ. Ông làm cách mạng quần chúng. Lấy số đông dân chúng làm hậu thuẫn. Ông pha màu tôn giáo vào chính trị, và ông đã khởi xướng lên một mình. Một loại tôn giáo hòa đồng. Thực chất là lấy tình thương bao la để khuyến dụ và cảm hóa mọi người. Ông đã gặt hái ít nhiều thành công. Lúc bấy giờ, tôi vẫn còn cho ông là một con người đáng tôn kính, song có phần lập dị.Nhân một dạo, tôi có dịp đi đò máy từ bến bắc Rạch Miễu sang tỉnh lỵ Bến Tre, khi con đò chạy ngang qua một cái cồn đất nọ, người đi đò cùng trầm trồ trỏ tay bảo: - Ông Đạo Dừa ngồi trên đọt dừa đó, thấy không? Ổng ngồi mấy năm nay rồi. Mặc nắng mưa, trưa tối!Một bà lão già nói bằng giọng cung kính: - Ai cũng tưởng ổng chịu không nổi, mà chết rồi! Nhưng người ta vẫn thấy ông ngồi trơ trơ đó. Mà ông phải nhà nghèo hèn gì, con nhà giàu sang, danh giá. Vậy mà ông lại đi tu. Nói là để độ đời!Tôi hỏi lại: - Tây để cho ông làm như vậy sao? Ông ra vẻ chống đối như vậy, bỉ mặt cho người Pháp ở Đông Dương lắm.- Mèn ơi, họ bắt ổng giam vô tù mấy lần. Ổng tịnh khẩu, không thèm nói chuyện. Nhưng viết giấy hỏi Tây là ổng có tội gì mà bị bắt?Đụng chạm nhân quyền sao đó!Tây cãi không lại lý của ổng,phải thả ổng ra. Ổng lại trèo lên cây dừa mà ngồi.Tây giận lắm,sai người đốn bỏ cây dừa của ổng.Mất cây dừa đó, ổng lại trèo lên cây dừa khác.Mèn ơi,ai trông thấy ổng trèo dừa mà hổng thương đứt ruột! Tây lại sai người đốn dừa nữa, ổng lại ngồi trên cây khác. Đốn hết dừa cù lao này,thì ổng sang qua cù lao kia.Bến Tre là xứ dừa mà. Không lẽ Tây đốn hết dừa của tỉnh? Thằng Tây đành chịu thua ổng luôn.- Rồi ổng ăn gì?- Ổng chỉ uống nước dừa, có khi ăn thêm vài trái chuối để sống. Vậy nên người ta mới kêu ổng là ông Đạo Dừa.- Thời buổi lộn xộn, ổng ngồi hoài như vậy, không sợ nguy hiểm?- Ổng hổng sợ. Mà dân cũng thương ổng, ngấm ngầm bảo vệ cho ổng.- Ổng tịnh khẩu hoài, không mở miệng nói chuyện? Không thuyết pháp sao? Vậy làm sao truyền đạo?- Ổng không nói. Chỉ viết ra trên giấy. Nói chuyện cũng bằng giấy tờ. Vậy mà đệ tử đông lắm. Ở khắp nơi, đâu cũng có. Cả ở Lục tỉnh, ở miền Trung nữa. Vì đạo của ông tốt một cái là thờ kính ông bà, tôn trọng lễ nghĩa và ăn ở hòa mục với mọi người.Tôi chăm chú nhìn lên ngọn dừa khi phà chạy ngang mé cồn. Trên ngọn một cây dừa cao, một hình bóng người nhỏ thó, mặc áo vải vàng, ngồi thu lu trên một giạt bằng cây to, trông thấy bấp bênh lơ lửng. Trời trưa nắng như hun đốt, mắt nhìn lên lóe sao.Thế mà bóng người nọ vẫn ngồi xếp bằng an tọa,tịnh nhiên. Ông ngồi như thế đã mấy năm trời? Gương kiên nhẫn của ông thật đáng phục!Tôi vì bận việc ở Bến Tre, đến xế chiều mới xuống phà trở sang tỉnh Mỹ Tho. Ông Đạo Dừa vẫn ngồi trên ngọn dừa nơi cồn đất nọ. Ngọn gió chiều thổi lộng lòng sông rộng. Cây dừa trông từ xa thấy chao đảo. Thế nhưng ông đạo vẫn ngồi bằng an, tâm tư vắng lặng vào cõi hư vô nào? Hay ông đang nghiền ngẫm một thế cờ hay để giải thoát cho đất nước, cho con người? Bên kia bờ tỉnh lỵ Mỹ Tho đang sáng choang ánh đèn phồn hoa, lại có tiếng ca nhạc từ đài phát thanh nào đó phát ra âm điệu xa vời quyến rũ, mê ly. Như tất cả giục giã con người đừng hoài phí tuổi xuân, cứ quyện hồn vào những hoan lạc, say sưa… Tôi bất giác ngước nhìn hình bóng ông Đạo Dừa ngồi nơi hoang tịch nọ. Cái bóng dáng gầy còm của người trí thức ngậm câm tiếng nói ấy lại có một sức mạnh huyền vi rọi xuống lương tâm con người.Cảnh giác người đời đừng mê bả béo mồi thơm mà quên hờn mất nước!Sau đó, tôi bị kẹt! Mãi lâu sau tôi mới lại có dịp về miệt Tiền Giang. Thỉnh thoảng tôi gặp trên đường những người đàn ông có,đàn bà có,già có,trẻ có,mặc quần áo bằng vải màu vàng hoặc màu già,áo thì là áo bà ba gài nút ở giữa hay là vạt miễng,có người để tóc dài chít khăn màu vàng. Những người ấy ăn nói lễ phép, từ tốn và thân thiện. Tôi hỏi ra mới biết đấy là đệ tử của ông Đạo Dừa. Ông Đạo chủ trương hòa đồng tôn giáo.Ông thờ các bậc sáng thế.Phật Thích Ca ông cũng trọng,Chúa Ki Tô ông cũng kính,cả đến Lão Tử ông cũng theo,Khổng Tử ông cũng học…Tất cả các vị có lòng từ bi,bác ái,yêu thương nhân loại, xả thân vì chúng sanh, ông đều phụng thờ. Đó là tình thương yêu phải học tập, phải noi theo. Đệ tử của ông rải rác khắp nơi. Họ hành đạo và truyền đạo với lòng tin vững chắc, dù phải gặp rất nhiều khó khăn, cả những hiểm nguy.Vì trong cái thế giới nhiễu nhương,còn lắm người nhắm mắt chạy theo thế lực kim tiền,thì trái tim thương yêu của người thiện lương dù mở rộng mấy cũng ít có người cảm thông.Rồi sau đó,tôi lại gặp một số đệ tử của ông Đạo Dừa trong cảnh nhà tù!Hỏi đến Thầy họ,Thầy họ chắc cũng bị cầm giữ đâu đó.Họ vẫn không rời chiếc áo bà ba vạc miễng của họ. Sau lưng áo, họ vẽ hai chữ Tu Tù thật lớn. Họ lặng thinh, không nói gì. Ai muốn hiểu sao hiểu. Có thể bảo là vì tu nên mới bị tù. Có thể có nghĩa ở tù vẫn cứ tu. Lại có nghĩa lấy việc ở tù làm công quả học thành đạo. Theo họ, họ bảo tu cho đất nước hòa bình, con người thương yêu con người hơn. Chỉ có tình thương yêu mới khai trừ họa chiến tranh. Chỉ có tình thương yêu, mới san sớt đồng đều, mới thông cảm nhau, không cần đấu tranh giai cấp!Tôi hỏi người đệ tử của ông Đạo Dừa: - Nghe nói Thầy anh muốn làm người hòa giải?- Phải. Cậu Hai yêu nước thương dân, không nỡ nhìn triệu triệu thanh niên ở hai phía bị nướng thiêu trong nạn nồi da xáo thịt. Chiến tranh đã hơn ba mươi năm, dân chúng điêu linh, xã hội tàn hoại, đất nước nghèo khổ lắm rồi, sao người ta lại không chịu ngưng tay?- Thấy anh tin là hai bên có thể ngồi lại với nhau?- Cậu Hai tin ai cũng có lòng yêu nước thật sự.Lòng yêu nước đứng trên quyền lợi của bè cánh,đảng phái.- Và Thầy anh tin “bác Hồ” sẽ từ bỏ đảng cộng sản? Hay đặt quyền lợi của đảng, của Nga Sô, của Trung cộng ra ngoài để cứu nước cứu dân?- Nếu ông Hồ yêu nước, ông phải làm như vậy!Tôi khẽ thở dài: - Thầy anh chủ trương tốt,nhưng tình hình chính trị phức tạp lắm, lại thêm lòng dạ tham lam của con người, tham vọng của quốc tế… Không như việc Thầy anh nuôi con mèo chung với con chuột một lồng…- Thú vật còn biết dung nhau, con người lại không thể sao? Việc nước nhà mình đã đến lúc mình phải tính với nhau, không cần đến anh Mỹ, anh Nga, anh Tàu chen vào nếu họ không có thiện chí giúp đỡ!- Tôi sợ Thầy anh ôm mãi cái không tưởng ấy. Giá mà thành được như thế, người dân Việt nào lại không thích?Về sau, tôi lại nghe tin ông Đạo Dừa trở về Cồn Phụng, tức là cái cồn đất ông trèo lên ngồi trên cây dừa mấy mươi năm về trước. Khi ấy cồn đã có đông dân cư tụ tập. Nhà ở khang trang. Dân tình dễ sống. Có văn hóa. Có tình người. Có trật tự. Có cả mấy người Mỹ tu ở đấy. Ai trông thấy tướng đi lênh khênh của họ trong bộ quần áo bà ba màu vàng may rộng khổ mà vẫn thấy túm bó, với đôi bàn chân đi đất rón rén của họ, đều phải che miệng cười. Nhưng là cái cười đầy thiện cảm, thân ái. Họ gặp ai cũng chắp tay cúi đầu, nói trọ trẹ: - Chào ông!… Chào bà!… Chào anh!… Chào chị!… Mạnh giỏi!Nơi Cồn Phụng còn treo một biểu ngữ to Bất Chiến Tự Nhiên Thành. Đó là một câu sấm xưa từ mấy trăm năm, mà người ta cho là trong bài sấm Trạng Trình, tiên đoán về hậu vận nước nhà. Nhưng không ai hiểu câu sấm ấy ứng vào thời kỳ nào? Sao không đánh nhau mà thành? Và cái thành ấy có lợi cho phe nào? Tôi thầm nghĩ ông Đạo Dừa đưa lên câu biểu ngữ để kêu gọi ngưng chiến.Nơi bến cồn có đậu một chiếc tàu sắt mà ông Đạo Dừa cho trang trí theo mỹ thuật Việt Nam và đặt tên là thuyền Bát Nhã. Trên con thuyền rộng lớn ấy, nơi phía trước, ông bầy ra nhiều hàng ghế sắt cho du khách ngồi. Nhiều phái đoàn ngoại quốc đến phỏng vấn ông, thu băng, quay phim. Ông ngồi nơi chiếc ghế đặt phía trước, có hai đệ tử đứng hai bên. Chính hai đệ tử nọ trả lời những câu hỏi của khách, thỉnh thoảng ông mới biên vào giấy cho họ phát biểu thêm những chi tiết.Tôi đến nhằm lúc hết giờ phỏng vấn, nhưng cũng được đệ tử của ông nói về chánh kiến của đạo. Ông nhận ra tôi, chỉ mỉm cười. Nụ cười hiền hòa và thân thiết. Ông vẫn không ngớt tay lẫy những hột bắp, để sau đó tự ông nấu lấy ăn. Trước kia ông chỉ uống nước dừa. Dạo sau này, vì làm việc nhiều, vì đệ tử khuyên lơn, ông mới ăn thêm buổi ngọ (buổi trưa) bằng bắp nấu. Tôi trông thấy ông gầy ốm quá, thân hình nhỏ thó, đôi tay khẳng khiu, mặt thỏn như trẻ nít, song đôi mắt tinh anh sáng rực khác thường. Các phóng viên truyền hình ngoại quốc không ngớt tỏ vẻ kinh ngạc và thán phục trước một ông già ốm tong teo như cây sậy mà lại có một mãnh lực chịu đựng kiên cường. Tự ông làm ra thức ăn cho ông, tuy rằng đệ tử của ông rất đông. Nếu ông để cho họ phục dịch, chắc họ sung sướng lắm. Nhưng ông chủ trương có làm mới có ăn, ông phải tự tay làm lấy thức ăn cho ông. Nếu ông bị rủi ro nằm bệnh ngày nào, ngày đó ông nhịn đói. Không ai khuyên lơn, năn nỉ ông được một miếng nào. Tôi trông thấy những việc ông làm, lòng vơi bớt đi những thành kiến thắc mắc về ông. Ông thật sự thể hiện tình thương yêu to lớn. Ông xót xa đau đớn khi thấy chiến tranh kéo dài, dân tộc điêu linh tang tóc,đất nước kiệt quệ tài nguyên, lẽ ra có thể làm dân giàu, nước mạnh! Nhưng giữa khi đôi bên say chiến,nhất quyết một được một thua, tiếng gọi hòa bình của ông chỉ là tiếng gào khản trong sa mạc! Rồi đây, Cồn Phụng của ông, nơi ông tạo được một xã hội kiểu mẫu nho nhỏ ấy có được yên? Thân phận của ông và bầy đệ tử rồi sẽ nổi trôi, chìm ngụp thế nào trong cảnh biến loạn tang thương của đất nước?Đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, cái ngày uất hận của người Việt tự do! Cộng sản đã thôn tính được miền Nam Việt Nam, và chỉ qua một thời gian ngắn đã làm cho toàn quốc đói rách và sa đọa hơn bao giờ hết! Tôi lại gặp ông Đạo Dừa trong ngục thất Cần Thơ. Đầu tiên, tôi trông thấy ông, cũng như tôi, bị liệt kê vào thành phần tối nguy hiểm và bị biệt giam. Tức là nhốt trong co-nét, thùng sắt to tướng đựng đồ viện trợ của Mỹ hồi xưa. Mỗi người một co-nét. Nằm ngồi,ăn uống, ỉa đái- xin lỗi độc giả-cũng tại chỗ.Cửa co-nét đóng lại, mình một mình trong tối bưng, trơ trọi và… thối bung! Không trông thấy ánh sáng mặt trời, mặt trăng. Không biết ngày tháng, thời khắc. Thỉnh thoảng mới được chúng mở cửa co-nét dọn dẹp vệ sinh. Ôi mừng ơi là mừng. Mừng trông thấy được ánh sáng. Trông thấy những vật cử động sao lạ mắt quá chừng! Mới biết rằng mình còn sống ở nhân gian!Bọn cai tù, bọn cán bộ, đối xử rất tàn nhẫn. Chúng ngoài miệng nói khoan hồng mà lòng thâm như rắn độc. Vô cớ cũng chửi rủa hạ nhục. Chúng như thể rửa hờn giai cấp bằng trút lên đầu kẻ sa cơ, thất thế dưới tay chúng. Chúng oán ghét ông Đạo Dừa vô cùng. Chỉ có ổng thản nhiên và coi thường chúng. Chúng càng đọa đầy ông bao nhiêu, ông càng quyết liệt và quật cường bấy nhiêu. Quyết không chịu thua chúng. Và lắm lần hành hạ ông mãi không xong, chúng phải chịu thua ông. Ông phản đối chúng bằng cách gõ cái ca uống nước vào cửa co-nét… xèng xèng… xèng xèng… có khi cả ngày không ngớt tiếng…Tên lính gác bực mình quát hỏi: - Làm gì om sòm thế? Giờ này khuya rồi, làm thế ai ngủ được?Tiếng nói chậm rãi và rắn rỏi của ông Đạo Dừa đưa ra sau cửa co-nét: - Cậu ơi, tôi thương cậu lắm…- Tôi chả cần ông thương!- Có ai ngăn trở được tình thương? Cậu không cần tôi thương là quyền cậu. Còn tôi thương cậu là quyền tôi.Tôi thương cậu chỉ là một kẻ tay sai.Như thiên lôi,lịnh trên bảo đánh đâu là phải làm vậy thôi.Thương cậu chiến đấu mấy năm trời, vào sanh ra tử biết bao lần, rốt cuộc cũng chỉ là anh lính gác, thương cậu chức vụ bé nhỏ quá, không làm sao giải quyết nổi chuyện của tôi…- Nhưng ông muốn gì?- Thương cậu quá! Cậu không giải quyết nổi, hỏi làm gì.Cậu kêu người lớn hơn cậu lại cho tôi nói chuyện.- Giờ này mấy đồng chí cán bộ ngủ cả rồi.- Tôi thương cậu quá! Nhưng khỏi cần nói chuyện với cậu.Ông Đạo Dừa lại gõ lanh canh…lanh canh…Gõ nhịp đều như tiếng mõ hồi một.Mấy người bạn tù gần đấy giật mình thức giấc, thì thầm bảo nhau: - Cậu Hai lại tranh đấu nữa rồi Bọn quản giáo, cán bộ rồi đây khổ sở với cậu không ít!Những người bị “học tập cải tạo” bất đắt dĩ ấy tuy phải làm lụng cực nhọc ban ngày, ban đêm cần giấc ngủ cho lại sức, song không phiền hà khi phải thức giấc vì tiếng khua lon của ông Đạo Dừa. Trái lại, họ rất thích cảnh ông Đạo Dừa chống báng lại bọn hung tàn giết người không gớm tay ấy. Chỉ có ông Đạo Dừa mới dám làm, mới không biết sợ, không khuất phục trước uy vũ. Ông gõ lon gọi mãi cho đến khi tên lính canh phải đi gọi tên cán bộ cai tù đến. Tên này quát tháo lên: - Ông muốn gì?Giọng nói của ông Đạo Dừa từ trong co-nét đưa ra, mềm mỏng, ngọt ngào: - Tôi thương chú cán bộ quá. Thương chú đang ngủ ngon giấc mà bị dựng dậy vì tôi. Nhưng đành phải gọi chú nửa đêm, nửa hôm như thế này là vì tôi bị… bỏ đói!Bọn quản giáo, thường ngày hay sừng sộ, mắng chửi phạm nhân. Với ai dầu già lão, bạc phơ tóc trắng, chúng cũng gọi là anh, tức là tử tế lắm rồi. Song đặc biệt chúng lại gọi ông Đạo Dừa là ông.Tên cán bộ bực tức bảo: - Ai bỏ đói ông?- Không bỏ đói tôi, sao không cho tôi uống nước dừa?Tên cán bộ mở cửa co-nét, chỉ tay về ổ bánh mì và lon sữa: - Không có nước dừa nhưng có bánh tây và sữa đây thôi!- Tôi không ăn những thứ đó. Tôi chỉ uống nước dừa.Ông trả lời rất quả quyết. Tên cán bộ cầm ổ bánh mì lên xem có bị cắn mất miếng nào hay chăng? Lại bưng lon sữa xem xét tỉ mỉ. Hắn nghi ông Đạo Dừa giả bộ không ăn, nhưng kỳ thật đã nhấp nháp chút ít rồi giả bộ làm khó. Nhưng ổ bánh mì vẫn y nguyên, cả lon sữa cũng vẫn còn đầy. Mùi bánh và mùi sữa đưa vào mũi hắn, thơm ngon đến nỗi hắn phải nuốt nước bọt đến đánh ực một cái trong cổ họng. Hắn ăn no đầy đủ thế mà thấy ổ bánh và sữa ngọt bùi, béo bổ phải thèm rỏ dãi, thế mà lão già ốm nhom kia lại có gan cóc tía, đã đói rã ruột, vẫn chẳng thèm rớ tới.Gã dằn ổ bánh mì và lon sữa xuống nền sắt co-nét, sầm nét mặt bảo: - Ngon bổ thế này mà ông chê. Chả có thứ khác đâu!Ông Đạo Dừa vẫn ngọt ngào: - Tôi thương chú cán bộ! Chú nhỏ chức quá, không giải quyết được vấn đề của tôi. Thương đã làm mất giấc ngủ của chú. Thôi chú về ngủ lại đi. Để tôi gọi cấp trên của chú. Tôi thương chú ít quyền quá !…Và rồi ông lại gõ lanh canh… lanh canh… Gõ đến sáng vẫn không dứt tiếng. Tên trưởng trại phải đến gặp ông: - Ông đòi hỏi chuyện ngoài luật lệ của nhà tù.- Mấy chú bỗng dưng giam cầm tôi, giam cầm hàng ngàn người vô tội, có theo luật lệ nào không?- Mấy người có nợ máu với nhân dân. Còn ông là tay sai của CIA.- Chú có biết CIA là thế nào mà mở miệng ra là buộc tội cho mọi người. Ai làm sở Mỹ là CIA? Tiếp xúc với người Mỹ là CIA? Biết tiếng Ăng-lê cũng là CIA?Học thức một chút cũng CIA.Chỉ có bần cố nông mới không là CIA? Thế hồi Việt Minh còn ở chiến khu Việt Bắc, có Mỹ trợ lực cho cũng là CIA? Bác Hồ lúc ấy cũng CIA?- Này ông đừng nói bậy mà khốn!… Cứ nói đến việc ông kêu đói. Tại ông chê thức ăn đặc biệt của nhà tù cho ông dùng….- Ê, không phải à. Thức ăn đó Tín hữu của tôi gởi cho. Tôi thương chú Trưởng trại nói sai. Cố tình bóp méo sự thật. Tín hữu của tôi sợ tôi bị bỏ đói chết nên mới gởi vào cho dừa nước, bánh mì, sữa… Tôi không ăn bánh mì sữa, chỉ muốn nước dừa thôi. Tôi thương Trưởng trại không giải quyết nổi việc này, thì tôi gọi cấp Đảng ủy của quản giáo vậy!Và ông lại gõ lanh canh… lanh canh…. Bọn cai tù nghiến răng căm tức lắm mà không làm gì đặng ông. Chúng không muốn ông bị chết đói để khỏi bị mang tiếng. Nhưng ông Đạo Dừa cũng biết như vậy, vẫn kiên trì mà sống. Như thể thi gan luôn cả đến cái chết. Trưởng trại và bọn quản giáo phải họp khẩn cấp. Dừa trái thì có sẵn do đệ tử của ông Đạo Dừa gởi vào, nhưng ai chặt cho ông uống? Lũ răng đen mã tấu chặt đầu người thì sành, nhưng chặt quả dừa đâu có biết! Chúng đâu dám phát dao cho ông. Nhỡ ông lấy dao rạch bụng tự tử thì sao? Bàn cãi mãi, chúng mới nẩy ý kiến tìm trong số tù gốc người Bến Tre ra chặt dừa cho ông. Chúng gọi anh NVA ra, bảo đem dừa đến cho ông uống. Anh này ngơ ngác, bảo: - Tôi có biết chặt dừa đâu?- Anh là dân Bến Tre mà không biết chặt dừa ư?- Tôi chèo đò. Có vườn dừa đâu mà biết chặt.Có anh TVT tình nguyện ra. Anh này trước có bán dừa, biết cách thức. Anh chỉ cần dựng đứng trái dừa, bổ ba nhát dao, chặt xéo nơi núm dừa thành tam giác, bật tung núm dừa ra, không một giọt nước sóng sánh ra ngoài. Anh bưng quả dừa đến bên ông Đạo. Tuy anh không phải là đệ tử, anh cũng cung kính bảo nhỏ: - Cậu Hai uống đi để mà sống.- Cám ơn em. Tụi này bạo phát, bạo tàn. Qua sẽ không sống đến ngày đó. Qua biết chúng quyết làm cho qua chết. Nhưng thể xác thời chết chứ tinh thần thời không!Bọn Việt cộng hành hạ ông Đạo Dừa đủ cách. Chúng lôi ông ra để tắm rửa cho ông:- Ông ở dơ quá không chịu tắm rửa, không thay đổi quần áo, hôi hám kinh tởm quá. Lại chí rận, bọ chét cùng mình, lây bịnh nguy hiểm cho cả khám!Chúng cầm vòi nước xịt vào ông. Nước xịt rất mạnh, làm ông té lăn lốc. Ông cố gắng bò dậy. Lại bị nước bắn tung người đi, lăn cuồng như bông vụ.Ông không hề rên rỉ, than van một tiếng.Vẫn gượng ngồi dậy, lại té lăn.Chúng cười ầm lên.Ông cương quyết không khuất phục.Bọn tù chúng tôi nhìn ông,xót thương biết mấy, và khâm phục ông không lời nào cho xiết. Ông bao giờ cũng ngẩng cao đầu không cúi luồn. Cả đời ông bị tù đầy cũng lắm, ông sợ gì lũ trẻ ranh muốn giết ông mà khỏi mang tiếng này! Chả bù trong khám,biết bao kẻ xưa kia giầu sang danh giá,oai quyền hống hách, bây giờ khúm núm sợ sệt trước lũ cán bộ ngu dốt:- Dạ bẩm thưa cán bộ, em lỡ lầm, lần sau không dám. Xin cán bộ rộng lòng tha thứ một phen.Một điều dạ thưa, vâng bẩm, khúm núm, sợ sệt, như muốn thun người nhỏ bớt đi. Uốn lưng khòm cong lại, cầu an, tắc trách, thủ phận mình, quên đồng bạn. Lại còn một hạng khác, ti bỉ hơn, cam làm ăng-ten cho thù. Phản bạn, bội tình đồng ngũ, nghĩa bạn bè, để được một lời hứa sẽ cứu xét cho về sớm, hoặc được một vài ân huệ cỏn con… Ôi, điếm nhục!Tôi nhìn gương can cường của ông mà lại xấu hổ cho mình. Mới bị tù đầy vài bận thôi mà tôi tưởng rằng hãnh diện lắm. Tù Pháp thuộc tôi có ở. Tù Nhật Bổn tôi cũng đã nếm mùi. Rồi lại tù Việt Minh vào năm 1945, lại còn hai năm vướng mắc trong nhà tù của chế độ trước vì chống nạn độc tài tham nhũng nữa! Nay lại vào khám Cần Thơ, bị liệt vào thành phần biệt giam nguy hiểm, biết chừng nào được ra? So với các bậc cách mạng xả thân tranh đấu thời trước, tôi nào có ăn nhằm gì?Trừ lúc ở tù Việt cộng những năm ấy ra, cảnh ngồi tù Nhật Bổn là đáng nhớ nhất. Năm ấy 1942, tôi bị Hiến binh Nhật bắt giam ở “Chambre de Commerce” ở bến sông Sài gòn, sau này là Thượng Nghị Viện của chế độ trước. Vì tội rải truyền đơn chống thực dân, cả Pháp lẫn Nhật, mà bọn Hiến binh nghi tôi là gián điệp Trùng Khánh. Chúng giam vào phòng Thương Mại ấy, hai bên là chỗ giam người có song gỗ chắn trước mặt, chừa một lối đi ở giữa. Mỗi sáng, 7 giờ, tụi Nhật cho chúng tôi đem thùng vệ sinh ra đổ xong lại bưng vào căn phòng giam hẹp của mình. Chúng bắt ngồi xếp bằng, thẳng lưng lên, tay để nơi đầu gối, không được nhúc nhích. Sáng ngồi tới 12 giờ trưa, được nghỉ ngơi cơm nước. Cơm thì được phát một chén gạo Thái Lan dẻo như nếp, có nêm tí muối. Chiều 2 giờ ngồi đến 6 giờ mới được nghỉ ngơi, cơm nước như khi trưa. Tối lại phải ngồi từ 7 giờ đến 9 giờ mới có quyền nằm xuống. Khi ngồi, phải ngồi yên như pho tượng. Nếu mỏi mệt khom lưng, nghiêng quẹo người, hay lệch đầu qua bên là bị một côn gỗ gõ đánh cốp trên đầu như bị sét đánh, tá hỏa tam tinh! Đó là thằng đội Trâu, thân hình trùng trục như con trâu nước, đầu vấn khăn lông trắng, dưới bẹn thắt cái khố, đi qua lại nơi khoảng đường giữa, vai vác cây gậy gỗ tròn và nặng. Nó thường đập chẩy máu đầu tội nhân. Đấy là chỉ trừng phạt sơ sài về tội ngồi không thẳng thắn thôi. Còn khi bọn Nhật tra khảo để lấy lời cung khai thì thật kinh khủng rởn cả tóc gáy. Cứ hai thằng Nhật thân hình như hộ pháp quần một phạm nhân; vật, ném, tung, hứng… nạn nhân của chúng như quả bóng rổ! Thường thì có máu đổ, nạn nhân chết giấc năm ba phen mới tạm được buông tha cho về khám. Khi ấy tôi còn trẻ, háo động, làm sao ngồi yên tĩnh như thế từ giờ này sang giờ khác được. Nên cũng đã nếm mùi côn gỗ bao nhiêu phen.Một hôm tôi trông thấy có một con gián bò ở kẹt song gỗ. Tôi mừng như bắt được vàng. Có được một sự sống động dưới mắt. Trông nó chạy tới chạy lui, cũng đỡ buồn trong cảnh hoang lương, tịch mịch. Dầu rằng khít bên đó cũng có nhiều bạn đồng cảnh, nhiều pho tượng sống! Tôi khi ấy chưa biết trầm tĩnh, nhẫn nhục của người luyện công tĩnh tọa. Dẫu có nén lắm, lòng vẫn xôn xao không định.Đến nay, trông thấy ông Đạo Dừa nhẫn nại, trầm tĩnh và xem thường bạo tàn, vũ lực của chúng, tôi mới thấy đó làm gương cho mình.Quyết không ủy mị,buồn rầu,khổ đau,rên rỉ dưới bạo tàn.Ông Đạo Dừa bị xịt nước ướt loi ngoi,nằm im trong vũng nước lênh láng,da thâm tím lại.Nhưng một lát sau ông lại lồm cồm bò dậy.Lại ngồi xếp bằng ngay ngắn,ngẩng cao đầu.Trông thấy hình dáng gầy gò,ốm nhom của ông, da bọc trơ xương như cái xác ướp khô mà đôi mắt vẫn linh động,vẫn ảnh hiện tình nhân đạo,vị tha bao la…Ông thường chống đối bọn Việt cộng:- Các anh mà cách mạng cái gì? Cách mạng gì không biết thương dân, yêu nước, cam làm tay sai ngoại bang. Cách mạng gì mà giam cầm hàng triệu người vô tội? Làm hằng triệu người tán gia bại sản, tan nát gia đình? Làm cho sáu mươi triệu đồng bào phải rách rưới đói nghèo, không trông thấy ánh sáng hy vọng nào, một tương lai tốt đẹp nào. Thiên đường hứa hẹn của cộng sản các anh là hố thẳm muôn đời chôn vùi dân tộc!Bọn chúng giam nhốt ông vào chuồng chó. Đó là một nơi nhỏ hẹp bên vòng rào,có mái thiếc che thấp, có giây chì gai bao quanh. Trước kia nơi đó nhốt chó nên có danh từ chuồng chó. Ban ngày nắng rọi xuống mái thiếc nung nóng như lò lửa. Đêm đêm về, gió khuya lạnh buốt như cắt da. Đến chó ở đấy còn chịu không nổi huống chi con người. Nhưng ông Đạo Dừa vẫn bền bỉ chịu đựng. Mềm dẻo như cây sậy giữa phong ba. Dầu cho cuồng phong, nghịch khí đến đâu, cây sậy tạm thời phải cong, phải ngả nghiêng, oằn oại trước bạo lực đàn áp hung tàn, nhưng không đổ gẫy!Bọn Cộng sản chỉ muốn ông Đạo Dừa khuất phục chúng, thốt ra lời hứa hẹn với chúng không tranh đấu nữa, không chống đối nữa.Chúng chẳng những buông tha ông,còn cho ông những ơn huệ đặc biệt,hậu hĩ hơn người.Xưa kia,Pháp không mua nổi ông,Nhật không dụ dỗ ông nổi,Việt cộng nào đáng gì để ông nghe theo!Cuối năm đó tôi bị chuyển trại. Khi đi ngang qua chỗ ông ngồi, tôi khẽ cúi đầu như chuyển lời nói qua tâm tưởng với ông: - Cậu Hai ráng gượng sống…Ông mỉm cười nhân hậu. Nụ cười ngậm ngùi vĩnh biệt!Mấy năm sau,tôi được trả tự do.Không tội gì,mà mất tự do rồi được trả!Và sau ba chuyến vượt biên cam go,tôi thoát ra được nơi vùng trời tự do.Nhờ vẫn đeo đuổi chí hướng phục quốc,tôi lê một giò qua nhiều nơi Âu, Mỹ,cả Á Châu.Khi đến địa phương nào có trồng cây dừa,tôi bất giác nhìn lên ngọn cây, liên tưởng đến ông Đạo Dừa. Hình bóng của người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Thành Nam hiện ra mờ ảo trước mắt tôi. Gầy gò ốm yếu, tưởng chừng gió thổi cũng bay như ông, ngờ đâu lại có lòng sắt đá kinh người! Tôi nghe như văng vẳng bên tai những lời nhỏ nhẹ của ông:- Tôi thương mấy chú lắm, mấy chú Việt Cộng ơi. Mấy chú ngu dại lắm. Mấy chú không biết bạo tàn, bạo diệt! Chỉ có nhân nghĩa mới trường tồn!Năm 1988, tôi gặp một người bạn mới vượt biên sang, bảo rằng ông Đạo Dừa đã tịch!Tôi bỗng nhiên cay xè mắt, đôi giòng lệ tiếc thương chan hòa…Cộng sản Việt Nam phạm rất nhiều lỗi lầm đối với Quốc gia, Dân tộc,trong đó có sự giết hại nhà chí sĩ hiếm có Nguyễn Thành Nam. Ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam là người trí thức cuối cùng đã hạ mình xuống tin tưởng vào thiện chí của Việt Cộng, dẫu sao cũng có lòng xúc động trước cảnh huynh đệ tương tàn…Nhưng ông đã mang mối thất vọng đấy xuống tuyền đài… *Đến hôm nay, trong cộng đồng người Việt hải ngoại, có một thiểu số trí thức thơ ngây cụ hoặc hoạt đầu, đang toan luồn lưng, cụp gối hòa hợp, hòa giải với Cộng Sản Việt Nam bá quyền và ngoan cố. Các vị ấy có biết chăng đang vô tình nối giáo cho giặc? Cùng a tòng vào tội phản dân, hại nước? Xin hãy xem gương chiến đấu can cường của ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam và vô số chiến sĩ cách mạng đã bị Việt cộng hãm hại chết, để làm đài soi lại lương tâm mình!Kẻ hèn này, cùng đồng bào trong và ngoài nước, rất mong được vậy lắm thay!<strong>Hoàng Ngọc Giao.</strong></p> <p><strong>[ </strong>From: Hanh Nguyen;Date: October 19, 2021]</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Mon, 06 Jul 2026 00:49:21 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Những ngày tù chung với ông Đạo Dừa</media:title>
                        <media:keywords>Những ngày tù chung với ông Đạo Dừa</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Văn mẫu lớp 12: Phân tích 4 câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc hay nhất]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phan-tich-4-cau-dau-viet-bac-a110369.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phan-tich-4-cau-dau-viet-bac-a110369.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phan-tich-4-cau-dau-viet-bac-a110369.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-4-cau-dau-viet-bac.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Giới thiệu đến các em học sinh và thầy cô 3 mẫu bài phân tích hay 4 câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu được chúng tôi sưu tầm, tổng hợp chi tiết dưới đây:</p> <h2><strong>Tuyển tập những bài mẫu phân tích tác phẩm Việt Bắc 4 câu thơ đầu hay nhất</strong></h2> <p><strong>Bài văn mẫu số 1:</strong></p> <p>Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ ông mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, đậm chất trữ tình. Trong sự nghiệp sáng tác của mình ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị như tập thơ “Từ ấy”, “Máu và hoa”… trong đó tiêu biểu nhất là bài thơ “<strong>Từ ấy</strong>” trích trong tập thơ “Từ ấy”. Bài thơ đã thể hiện một cách thành công nỗi nhớ nhung, tâm trạng bồi hồi, lưu luyến trong buổi chia tay của người Việt Bắc với cán bộ cách mạng. Điều đó được thể hiện rõ nhất trong đoạn thơ:</p> <p>“Mình về mình có nhớ ta</p> <p>Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.</p> <p>Mình về mình có nhớ không</p> <p>Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?</p> <p>Tiếng ai tha thiết bên cồn</p> <p>Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi</p> <p>Áo chàm đưa buổi phân li</p> <p>Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…</p> <p>Việt Bắc là căn cứ địa cách mạng, là cái nôi kháng chiến. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 7 năm 1954 hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết. Tháng 10 năm 1954 Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Nhân sự kiện lịch sử ấy Tố Hữu đã viết bài thơ “Việt Bắc”.</p> <p><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-4-cau-dau-viet-bac.jpg" alt="Vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc" /></p> <p>Câu thơ mở đầu là một câu hỏi tu từ chứa nhiều cảm xúc:</p> <p>“Mình về mình có nhớ ta”</p> <p>“Mình” là chỉ người ra đi - người chiến sĩ cách mạng, “ta” chính là người Việt Bắc. Câu hỏi chính là lời của người ở lại hỏi người ra đi rằng khi người chiến sĩ cách mạng về xuôi rồi còn có nhớ đến người Việt Bắc hay không? Với cách xưng hô “mình - ta” đậm chất ca dao cùng với điệp từ mình đã cho ta thấy được tình cảm gắn bó thân thiết đầy yêu thương, làm cho nỗi nhớ càng trở nên day dứt khôn nguôi. Người Việt Bắc muốn hỏi người kháng chiến có nhớ:</p> <p>“Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”</p> <p>Mười lăm năm là từ chỉ thời gian, là khoảng thời gian gắn bó keo sơn giữa người chiến sĩ và người Việt Bắc. Đó là một khoảng thời gian dài cùng nhau chiến đấu, cùng nhau vượt qua biết bao gian khổ. Từ “ấy” vang lên chứ tác giả không sử dụng từ “đó” như để làm tăng thêm ý nghĩa của khoảng thời gian “mười lăm năm” đồng thời thể hiện sự trân trọng của tác giả với những ngày tháng gắn bó. Những từ “thiết tha”, “mặn nồng” là những từ nhấn mạnh tình cảm gắn bó keo sơn giữa người Việt Bắc và người cách mạng. Qua đó tác giả muốn nhấn mạnh hơn về tình nghĩa thủy chung son sắt luôn hướng tới cách mạng, hướng tới những người chiến sĩ của người dân Việt Bắc.</p> <p>Câu thơ tiếp theo như một lời nhắc nhở đối với người chiến sĩ cách mạng:</p> <p>“Mình về mình có nhớ không”</p> <p>Vẫn là câu hỏi tu từ, vẫn là cách xưng hô “mình” nhưng đây là câu hỏi vang lên như một lời nhắc nhở “có nhớ không”. Người Việt Bắc muốn nhắc nhở người chiến sĩ cách mạng về xuôi hãy nhớ đến Việt Bắc, hãy:</p> <p>“Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”</p> <p>Khi về tới Hà Nội, người cách mạng khi nhìn thấy cây ở Hà Nội phồn hoa thì hãy nhớ đến núi rừng nơi Việt Bắc. Hãy nhớ nơi gắn bó thủy chung, son sắc, nơi người cách mạng và người Việt Bắc đã cùng chiến đấu, cùng nhau vượt qua bao gian khổ. Khi nhìn thấy sông thì hãy nhớ đến nguồn, hãy nhớ đến sông núi Việt Bắc, nhớ đến những dòng sông cùng các chiến sĩ cách mạng chiến đấu. Hay đó chính là lời nhắc nhở của người Việt Bắc đối với người chiến sĩ cách mạng khi trở về xuôi nhìn thấy cảnh vật nơi phồn hoa đô thị tươi đẹp ấy thì hãy nhớ đến con người Việt Bắc, nhớ đến những ngày tháng chiến đấu gian khổ nơi núi rừng đầy hiểm trở, cheo leo. Điệp từ “nhìn” và “nhớ” dường như đã nhấn mạnh ý hỏi của người ở lại. Mong muốn những người cách mạng luôn nhớ về nơi Việt Bắc. Nơi có những con người sắt son, thủy chung, luôn mong nhớ về người cách mạng.</p> <p>Bốn câu thơ đầu tiên là lời của người Việt Bắc hỏi người cán bộ về xuôi. Với lối đối đáp cách xưng hô “mình - ta”, điệp từ cùng với từ láy, đặc biệt là kết hợp với câu hỏi tu từ đã cho thấy được tình cảm gắn bó thiết tha, mặn nồng, thủy chung son sắt của người Việt Bắc. Qua đó ta có thể cảm nhận được phẩm chất tốt đẹp của con người nơi đây. Dù phải sống trong khó khăn, đồi núi hiểm trở, thiếu thốn nhưng tình yêu của họ đối với người chiến sĩ là không hề thay đổi, luôn luôn cồn cào, da diết và mãnh liệt.</p> <p>Vẻ đẹp của đoạn thơ không chỉ là lời của người Việt Bắc mà còn là câu trả lời của người cách mạng dành cho Việt Bắc:</p> <p>“Tiếng ai tha thiết bên cồn</p> <p>Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi</p> <p>Áo chàm đưa buổi phân li</p> <p>Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”</p> <p>Với đại từ nhân xưng “ai” đó chính là tiếng lòng của người Việt Bắc vang vọng như muốn gọi người chiến sĩ ở lại, hay đó chính là tiếng lòng của người chiến sĩ không muốn chia xa. Từ “tha thiết” như làm cho tiếng gọi đó vang vọng hơn, sâu lắng hơn, làm cho ta cảm nhận được tình cảm giữa Việt Bắc và người cán bộ cách mạng như vô cùng sâu nặng. Câu thơ tiếp theo càng làm rõ hơn điều đó:</p> <p>“Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi”</p> <p>Từ láy “bâng khuâng”, “bồn chồn” chính là để chỉ tâm trạng người ra đi. “Bâng khuâng” là trạng thái lưu luyến day dứt, như còn lâng lâng một điều gì đó sâu sắc lắm trong tình cảm của mình. Nó khiến cho tâm trạng của con người day dứt đến khó chịu ,“bồn chồn” là chỉ sự ray rứt trong tâm trạng của con người như lo lắng điều gì đó. Tất cả đã tạo nên tâm trạng của người chiến sĩ cách mạng về xuôi, khi trở về xuôi vẫn còn mang trong mình nỗi nhung nhớ, day dứt khôn nguôi, cả sự lo lắng trong tâm trạng của người cán bộ cách mạng. Qua đó ta có thể cảm nhận được tình cảm của người cách mạng đối với Việt Bắc cũng sâu nặng không kém gì tình cảm của người Việt Bắc dành cho họ.</p> <p>Hai câu thơ cuối là hình ảnh chia tay đầy nước mắt giữa người chiến sĩ cách mạng và người Việt Bắc:</p> <p>“Áo chàm đưa buổi phân li</p> <p>Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”</p> <p>“Áo chàm” là màu áo nâu, màu áo của người nông dân nghèo khổ, cực nhọc, vất vả quanh năm suốt tháng lao động cần cù để phục vụ cho cách mạng. Hình ảnh hoán dụ “áo chàm” chính là để chỉ người Việt Bắc. Những người Việt Bắc ra tiễn những người cách mạng về xuôi trong một tâm trạng day dứt, bâng khuâng. Từ “phân li” như thể hiện buổi chia tay ấy như là sự chia cắt. Dường như họ không muốn rời xa nhau nhưng do hoàn cảnh họ phải chia li, xa rời nhau mỗi người một nơi. Qua đó thể hiện nỗi tiếc thương nhung nhớ, khẳng định tình cảm gắn bó sâu đậm của người Việt Bắc và người chiến sĩ cách mạng. Tình cảm ấy được khẳng định rõ ràng hơn trong câu thơ cuối:</p> <p>“Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”</p> <p>Không phải không có gì để nói mà là có quá nhiều điều để nói, không thể nói hết và không biết nói điều gì đầu tiên, từ “biết nói gì” đã thể hiện điều đó. Mười lăm năm gắn bó keo sơn, mười lăm năm cùng nhau vượt qua bao khó khăn gian khổ tình cảm của họ quá sâu đậm, có quá nhiều điều để nói nhưng những lời nói ấy tại sao không thốt nên lời, nó cứ nghẹn lại trong cổ họng mà thứ trào ra chỉ có nước mắt của sự chia li. Không nói ra được họ chỉ biết cầm tay nhau, chỉ hành động “cầm tay” thôi đã cho ta cảm nhận thấy tình yêu thương mặn nồng giữa họ. Hành động “cầm tay” thay cho những lời nói yêu thương, những lời gửi gắm, tình cảm giữa họ dường như được truyền hết qua hành động ấy. Đó còn là sự thể hiện tình cảm, tâm trạng chưa xa đã nhớ của người chiến sĩ cách mạng và đó cũng chính là tiếng lòng của họ.</p> <p>Tám câu thơ ngắn gọn nhưng mang biết bao ý nghĩ. Qua đó cho ta cảm nhận sâu sắc về tình cảm thủy chung son sắt, gắn bó sâu nặng giữa người Việt Bắc và người cán bộ cách mạng về xuôi. Qua đó ta thấy được tâm trạng bồi hồi lưu luyến day dứt của họ. Không chỉ thành công về nội dung, đoạn thơ còn thành công về nghệ thuật. Với lối đối đáp, cách xưng hô mình - ta, điệp từ, điệp ngữ cùng với hình ảnh hoán dụ, từ láy, ngôn từ bình dị, đậm đà tính dân tộc, tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu.</p> <p>Qua đoạn thơ ta đã cảm nhận được một cách rõ nét tình cảm, tấm lòng, tình yêu thương mà người Việt Bắc và người cán bộ cách mạng dành cho nhau. Tám câu thơ trong bài thơ “<strong>Việt Bắc</strong>” của Tố Hữu mang lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Những ân tình ấy sẽ sống mãi trong lòng người đọc hôm nay và mai sau.</p> <p><img src="https://cdn.tailieu.com/images/2022-10/07/ba/phan-tich-4-cau-dau-viet-bac-3.jpeg" alt="Vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc" /></p> <p><strong>Bài văn mẫu số 2:</strong></p> <p>Nhắc đến Tố Hữu, người ta sẽ nhớ ngay đến hình ảnh của một nhà thơ luôn đi đầu trong phong trào nghệ thuật vì nền cách mạng nước nhà. Con đường thơ ca của Tố Hữu luôn gắn liền với những hình ảnh, sự kiện nổi bật của dân tộc. Bằng giọng thơ giàu tình cảm, bút pháp tài tình kết hợp giữa chính trị và nghệ thuật biểu hiện, ông đã sáng tác bài thơ <strong>Việt Bắc</strong> được xem là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Đặc biệt, chỉ qua khổ thơ thứ nhất, ông đã mang tới cho người đọc đến với vùng đất Việt Bắc đầy nắng gió, khó khăn những thấm đẫm tình nghĩa.</p> <p><strong> Việt Bắc</strong> được sáng tác vào tháng 10/1954, đây là giai đoạn chuyển giao khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, các cán bộ chiến sỹ rời chiến khu Việt Bắc quay trở lại thủ đô Hà Nội. Cuộc chiến tranh kết thúc với bao niềm vui hân hoan vì nền độc lập hòa bình, thế nhưng đồng nghĩa với việc chia ly giữa cán bộ và đồng bào Việt Bắc. Nơi ấy, nhân dân cán bộ đã trải qua cùng nhau bao khó khăn, kỉ niệm, chia sẻ ngọt bùi cùng nhau. Bài thơ Việt Bắc</p> <p>ra đời để thể hiện biết bao tâm tình của người đi kẻ ở.</p> <p>Mở đầu đoạn trích, tác giả đã thay lời muốn nói của những người ở lại để thể hiện cho hết cung bậc nhớ thương, tình cảm:</p> <p>“Mình về mình có nhớ ta</p> <p>Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng</p> <p>Mình về mình có nhớ không</p> <p>Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?</p> <p>Mình - ta thường được dùng để thể hiện mối quan hệ gần gũi như vợ chồng, lứa đôi. Thế nhưng tác giả đã dùng cặp từ ấy cho đồng bài <strong>Việt Bắc</strong> với những người lính cán bộ. Chẳng phải vợ chồng nhưng tình nghĩa đôi bên cũng keo sơn, bền chặt tựa như vậy. Những câu hỏi dồn dập, nào là có nhớ ta, nhớ cây nhớ núi nhớ sông nhớ nguồn không. Điệp từ “nhớ” được nhắc lại nhiều lần trong câu hỏi tu từ càng xoáy sâu vào trong lòng người đọc. “Mười lăm năm” là chi tiết thực chỉ độ dài từ những năm 1940 cho đến thời gian ấy, hơn một thập kỷ chúng ta đã cùng nhau ăn, cùng nhau cười, cùng nhau chiến đấu. So với những cuộc kháng chiến khác, mười lăm năm ấy chẳng phải là dài. Thế nhưng cái quan trọng ở đây, khoảng thời gian ấy đã tích tụ, bồi đắp biết bao tình cảm, có thể đong đầy bằng cả đời người. Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến, bao lời dặn dò của người ở lại cho người ra đi. Trở về với phố hội phồn hoa, mong người đừng quên “cây núi sông nguồn chốn đây”. Những cảnh vật tuy vô tri vô giác, thế nhưng đã cùng “mình” với “ta” trong suốt bao năm qua lúc vui kể cả lúc buồn. Cây và sông là biểu tượng của không gian miền xuôi, với vùng cao đầy núi và nguồn. Sự chia ly có thể bị ngăn trở bởi khoảng cách thế nhưng “ta” vẫn luôn hi vọng “mình” sẽ chẳng bao giờ quên những chốn kỉ niệm ấy. Tố Hữu đặc biệt sử dụng những từ “thiết tha”, “mặn nồng” càng làm tăng giá trị của những thứ tình cảm ấy. Phải thật trân trọng, đáng quý xiết bao mới khiến con người ta không khỏi nuối tiếc nếu phải đánh mất đi.</p> <p>Nếu như đối với người ở lại, những tình cảm ấy chất chứa trong hàng ngàn lời nói thì người ra đi chỉ biết dùng hành động để thể hiện nỗi lòng. Tình cảm ấy, họ đã quá hiểu nhân dân Việt Bắc. Vì sự nghiệp đất nước vẫn đang đợi chờ các anh nên buộc lòng các anh phải ra đi, tuy chẳng nỡ nhưng cũng đành xa cách:</p> <p>“Tiếng ai tha thiết bên cồn</p> <p>Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi”</p> <p>Những cặp từ láy “bâng khuâng”, “bồn chồn” diễn tả trạng thái tâm lý nhớ thương, luyến tiếc khiến lòng chẳng thể yên. Như Tú Xương đã viết:</p> <p>“Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai”...</p> <p>Tiếng “ai” ấy lại chất chứa biết bao yêu thương, chẳng thể chỉ cụ thể một người, bởi tình cảm ấy là dành cho cả một đồng bào Việt Bắc. Tố Hữu đã khai thác tiếng “ai” ấy một cách xuất sắc, khi để lại âm vang trong lòng người về. Nó khiến cho tâm trạng con người càng trở nên nôn nao, những dòng cảm xúc cứ ào về không thôi. Nhưng những tâm trạng nhớ thương ấy chỉ biết kìm nén chặt trong lòng, chẳng thể nào dùng lời lẽ bày tỏ, hay thét lên cho nguôi ngoai những nỗi buồn.</p> <p>Tâm trạng bâng khuâng bồn chồn ấy còn được thể hiện hết sức tinh tế qua nhịp điệu hai câu tiếp theo:</p> <p>“Áo chàm đưa buổi phân li</p> <p>Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”</p> <p>Cặp thơ lục bát được tác giả góp thêm một chút nhịp điệu, như một đảo phách trong âm nhạc. Màu “áo chàm” đặc trưng của những con người chân chất miền núi Tây Bắc. Hình ảnh thấy thật đơn sơ, mộc mạc của chốn quê nghèo, nghèo vật chất những luôn giàu tình cảm. Tấm áo ấy đã chất chứa biết bao mồ hôi, khó khăn vất vả, một nắng hai sương để chiến đấu, nuôi dưỡng các anh lính cụ Hồ để các anh an tâm đánh giặc. Chẳng phải áo bào, áo gấm để tiễn đưa, cảm ơn công lao của các anh, chỉ là bóng dáng của những con người lao động nhưng sao vẫn khiến cho ta không khỏi cảm kích, biết ơn. Tình cảm bịn rịn ấy còn được thể hiện qua hình ảnh “cầm tay”. Đôi bàn tay của những con người cầm súng ấm ấp, nâng niu đôi tay của những người lao động. Những đôi tay vất vả, sờn lên vì những khó khăn khác nhau, nhưng giờ phút ấy, đôi ta đều chung một nỗi tâm tình. Hình ảnh giàu tính gợi hình, gợi cảm xúc, chẳng cần phải giãi bày nhiều vì có quá nhiều điều muốn nói, nhưng lại chẳng biết bắt đầu từ đâu. Nỗi lòng ấy, xin người để “ta” chôn chặt trong tim nhưng tình cảm sẽ sống mãi trong khoảnh khắc “cầm tay” ấy.</p> <p>Đoạn thơ mở đầu của bài Việt Bắc đã vẽ nên những cung bậc cảm xúc hết sức đa dạng, sâu lắng của người đi kẻ ở. Nhịp thơ nhẹ nhàng, du dương để diễn tả một cách trọn vẹn, khéo léo những tình cảm chân thành ấy đã cho thấy tài năng nổi bật của Tố Hữu trong số những thi sỹ tài hoa của Việt Nam.</p> <p><img src="https://cdn.tailieu.com/images/2022-10/07/ba/phan-tich-4-cau-dau-viet-bac-7.jpeg" alt="Vẻ đẹp của con đường Tây Bắc" /></p> <p><strong>Bài văn mẫu số 3:</strong></p> <p>Mỗi khi nhớ tới nhà thơ Tố Hữu người ta sẽ nhớ tới một con người chiến sĩ cách mạng. Ông là người đi tiên phong trong phong trào nghệ thuật được gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc của nước ta. Con đường sáng tác nghệ thuật của tác giả Tố Hữu luôn gắn với tình cảm yêu quê hương đất nước với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của quê hương Việt Nam.</p> <p>Tác giả Tố Hữu đã sáng tác rất nhiều bài thơ hay nói lên tình cảm yêu nước của quê hương mình, tình cảm quân dân gắn bó. Trong đó, bài thơ "Việt Bắc" là một bài thơ hay đặc sắc thể hiện bút pháp nghệ thuật điêu luyện tài tình của tác giả Tố Hữu khi kết hợp giữa đỉnh cao giữa nghệ thuật và chính trị. Đó là một sự kết hợp vô cùng nhuần nhuyễn uyển chuyển không hề gây cảm giác khó chịu cho người đọc. Trong bài thơ "Việt Bắc" khổ thơ đầu tiên mang tới cho độc giả những cảm xúc vô cùng nghẹn ngào về tình cảm quân và dân vô cùng thắm thiết gắn bó với nhau như người thân trong cùng một gia đình.</p> <p>Bài thơ "Việt Bắc" được tác giả Tố Hữu sáng tác trong hoàn cảnh khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nước ta đã thắng lợi hoàn toàn. Những người chiến sĩ cách mạng bộ đội cụ Hồ sau 15 năm sống tại vùng núi Việt Bắc gắn bó với đồng bào dân tộc nơi đây, được những người dân nơi đây nuôi giấu chia sẻ từng bát cơm, từng củ khoai củ sắn trong những ngày kháng chiến ác liệt, gắn bó như ruột thịt như người thân trong cùng một gia đình. Nhưng nay khi Miền Bắc nước ta hoàn toàn sạch bóng quân thù thì người chiến sĩ của chúng ta phải trở về xuôi về lại quê hương của mình nhận nhiệm vụ mới.</p> <p>Cuộc chia tay bịn rịn, thể hiện tình cảm gắn bó thắm thiết. Những lời nói trước khi lên đường khiến cho người dân vô cùng xúc động không nói nên lời giữa cảnh ly biệt kẻ ở người đi. Mở đầu bài thơ tác giả Tố Hữu đã ra những lời nhớ thương được ấp ủ ở trong lòng từ rất lâu rồi. Thể hiện nỗi niềm nặng trĩu của người ra đi cũng như người ở lại:</p> <p>"Mình về mình có nhớ ta</p> <p>Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng</p> <p>Mình về mình có nhớ không?</p> <p>Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn"</p> <p>Tác giả Tố Hữu đã sử dụng cách xưng hô truyền thống thường gặp "Ta và mình" là phong cách xưng hô thường thấy trong ca dao, tục ngữ, dân ca ở nước ta. Đồng thời cho thấy tình cảm gắn bó thân thiết máu thịt của những con người nơi đây với các chiến sĩ cách mạng như người một nhà, như tình cảm vợ chồng, anh em, mẹ con, nên ta và mình sao thật gần gũi, thân thiết, keo sơn.</p> <p>Điệp từ "Nhớ" được tác giả Tố Hữu sử dụng nhiều lần nhằm nhấn mạnh sự nhớ nhung khi xa cách, một nơi tuy không phải là quê hương của những chiến sĩ cách mạng nhưng lại có nhiều kỉ niệm thân thiết, vào sinh ra tử chẳng khác nào quê hương thứ hai của những người lính cụ Hồ.</p> <p>Biết bao nhiêu kỉ niệm những người chiến sĩ đã cùng những người dân đồng bào nơi đây cùng trải qua với nhau. Họ cùng nhau đánh đuổi kẻ thù, miếng cơm được chia một nửa, mà mảnh chăn cũng đắp cùng, thể hiện một tình cảm gắn bó hơn cả người thân ruột thịt trong một gia đình. Những người dân đồng bào vùng núi Việt Bắc tuy không phải là anh em cha mẹ, nhưng chẳng khác nào anh em cha mẹ của những người chiến sĩ trong mười lăm năm qua.</p> <p>"Tiếng ai tha thiết bên cồn</p> <p>Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi"</p> <p>Trong hai câu thơ thể hiện tình cảm gắn bó của những người lính với bà con đồng bào nơi đây. Những tiếng nói tha thiết âm vang mãi trong lòng mỗi người lính của chúng ta.</p> <p>Nó chính là tiếng lòng, tiếng gọi của những con người từng một thời sinh tử gắn bó, có những khi cận kề cái chết nhưng họ vẫn luôn sát cánh bên nhau, giờ phải chia ly kẻ đi người ở nên tâm trạng không khỏi vấn vương xúc động nghẹn lời. Những tâm trạng nhớ nhung chỉ biết kiềm chế ở trong trái tim không thể nói nên lời hay gào thét lên cho nguôi ngoai nỗi lòng, khiến cho cảnh chia ly càng trở nên buồn hơn bao giờ hết.</p> <p>Áo chàm đưa buổi phân ly,</p> <p>Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.</p> <p>Câu thơ được tác giả Tố Hữu viết theo thể thơ cổ truyền lục - bát vừa dễ nhớ lại dễ thuộc, cách gieo vần cũng như nhịp điệu vô cùng sinh động làm cho bài thơ trở nên vô cùng hấp dẫn, và tạo nên âm hưởng nhạc họa trong bài thơ. Màu sắc của áo chàm chính là màu trang phục của những người dân đồng bào dân tộc vùng núi tây Bắc. Một hình ảnh quen thuộc giản dị gắn bó với những người chiến sĩ cách mạng, nhưng hôm nay khi chia ly màu áo chàm lại gợi lên những cảm xúc bồi hồi bâng khuâng. Hình ảnh giàu tính cảm xúc gợi cảm nên phải thể hiện những tình cảm chân thành gắn bó. Những tình cảm chân thành giữa người đi và người ở lại, tình nghĩa quân dân.</p> <p>Khổ đầu của bài thơ "<strong>Việt Bắc</strong>" tác giả Tố Hữu nói lên cung bậc cảm xúc vô cùng chân thành sâu sắc của tác giả. Nhịp thơ vô cùng nhẹ nhàng sâu sắc, thể hiện một tình cảm vô cùng gắn bó keo sơn giữa người lính cách mạng và người dân vùng núi Tây Bắc nơi các chiến sĩ đóng quân.</p> <p><strong>Tham khảo thêm:</strong></p> <ul> <li><strong>Những bài văn mẫu: Cảm nhận về hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc lớp 12</strong></li> <li><strong>Những bài văn mẫu Phân tích 20 câu thơ đầu trong bài thơ Việt Bắc lớp 12 chọn lọc hay nhất</strong></li> <li><strong>Những bài văn mẫu Phân tích bài thơ Việt Bắc lớp 12 chọn lọc hay nhất</strong></li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sun, 05 Jul 2026 22:12:30 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-4-cau-dau-viet-bac.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-4-cau-dau-viet-bac.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Văn mẫu lớp 12: Phân tích 4 câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc hay nhất</media:title>
                        <media:keywords>Văn mẫu lớp 12: Phân tích 4 câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc hay nhất</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/ngu-van-12-a110362.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/ngu-van-12-a110362.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/ngu-van-12-a110362.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/ngu-van-12-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Liên quan đến sai sót trong đề thi học kỳ 2 môn ngữ văn khối 12 năm học 2015-2016 “đưa tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận thuộc miền Tây”, ngày 13-4, Sở GD&amp;ĐT tỉnh Đồng Nai đã họp Hội đồng ra đề thi và xem xét xử lý đối với người ra đề thi.</p> <p>Theo người phát ngôn của Sở GD&amp;ĐT tỉnh Đồng Nai, đây là sai sót của cán bộ ra đề thi khi không kiểm chứng kiến thức địa lý. Dù có sai sót, song điều này không ảnh hưởng đến phần trả lời và bài thi của thí sinh, kết quả thi môn ngữ văn vẫn không thay đổi.</p> <figure> <img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/ngu-van-12-1.jpg" alt="" /> </figure> <p>Đề thi môn ngữ Văn lớp 12 có sự sai sót. </p> <p>"Chúng tôi đã họp Hội đồng ra đề và xác định nguyên nhân dẫn đến sai sót là do cán bộ ra đề thi trích dẫn nội dung từ một tờ báo, tuy nhiên, người ra đề đã không kiểm chứng kiến thức địa lý được nêu trong bài báo. Đây là sự việc ngoài ý muốn, gây dư luận không tốt đối với ngành giáo dục, sau khi rút kinh nghiệm, Sở Giáo dục đang xem xét kiểm điểm, xử lý đối với người ra đề thi". </p> <p>Như tin đã đưa, ngày 12-4, tại đề thi trong câu số 1 phần II (phần làm văn) có nội dụng: “Tính đến nay, đã có 12 tỉnh công bố tình trạng thiên tai hạn hán, xâm nhập mặn, trong đó có mười tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long là: Tiền Giang, Bến Tre, Kiên Giang, Sóc Trăng, Long An, Cà Mau, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bình Thuận, Ninh Thuận và hai tỉnh Tây Nguyên là Gia Lai và Kon Tum. </p> <p>Từ thông tin trên, anh/chị hãy viết một bài luận khoảng 400 từ trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng biến đổi khí hậu nghiêm trọng đang diễn ra ở nước ta hiện nay”.</p> <p>Theo nhiều thí sinh, sau khi phát hiện ra lỗi này, các em bất ngờ nhưng do phải tập trung vào làm bài nên không thắc mắc. Kết thúc buổi thi, học sinh bàn tán rất sôi nổi về kiến thức địa lý trong đề thi.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sun, 05 Jul 2026 19:36:36 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/ngu-van-12-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/ngu-van-12-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                                    <media:keywords></media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/ba-cu-thi-dien-a110359.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/ba-cu-thi-dien-a110359.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/ba-cu-thi-dien-a110359.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/ba-cu-thi-dien-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Con sông Vàm Cỏ vào buổi sáng đầu tháng Chạp tha thiết chảy, chở theo từng mảng lục bình. Bãi bồi của nó được che chắn bởi hàng bần lâu năm, chi chít rễ con đâm lên tua tủa như bãi chông. Thử một lần xắn quần lội xuống bãi sông, cảm nhận cái lạnh ngắt của đất sình trong tiết trời cuối đông. Tránh được đám rễ bần đã khó, nhấc được từng bước chân bị sình lún ngập quá gối càng khó hơn.</p> <p><strong>Hơn 30 năm bắt cá ở bãi sông</strong></p> <p>Xa ra ngoài hàng bần, gần mép nước vẳng lên giọng hò run run: Hò… hơ… ơ… Gió đẩy gió đưa cho vừa lòng bạn… Khúc sông giang hà chỗ cạn chỗ sâu… Hò… ơ… Hóa ra người vừa cất lên câu hò là bà Nguyễn Thị Dẫu, người trong vùng quen gọi là bà Sáu Dẫu. Bà đang vừa hò vừa khòm người bắt cá. Đồ nghề của bà chỉ là một cái đụp và một cái xô nhựa.</p> <p>Hồi còn khỏe mạnh, ngày nào bà cũng đi bắt cá từ sáng tinh mơ. Cá bà bắt được thường gồm có cá kèo, cá bống dừa, bống sao, bống sệ, tôm tích, cua còng… mỗi ngày khoảng ký rưỡi. Buổi tối, có người đến tận nhà mua, trả cho bà 15.000-20.000 đồng. Nhưng từ khoảng ba năm trở lại đây, khi tuổi già hụt hơi, bà phải thường xuyên chịu đựng những cơn chóng mặt. Cho nên phải lâu lâu, khi cảm thấy trong người thật khỏe như hôm nay thì bà mới chống gậy lần dò ra sông bắt cá.</p> <p>Quãng đường từ bãi sông Vàm Cỏ về đến nhà của bà Sáu dài hơn một cây số, băng qua hai quãng đồng và cây cầu khỉ. Quần xắn ống thấp ống cao, nắm chặt cây gậy trong tay, bà phải ngồi xuống nghỉ ba lần giữa quãng đường. Cá bà bắt cũng không còn được nhiều, đem về bán chỉ được 5.000-10.000 đồng. Còn những ngày thường khi cảm thấy trong người tạm ổn, bà ra cánh đồng gần nhà bắt cua, bắt ốc, mót lúa cho bầy vịt, bầy gà.</p> <figure> <img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/ba-cu-thi-dien-1.jpg" alt="" /> </figure> <p> </p><p>Bà Sáu Dẫu bắt cá trên bãi sông Vàm Cỏ. Ảnh: H.THU</p> <p><strong>Ăn dưa leo chấm tương hột quanh năm</strong></p> <p>Nhà bà Sáu Dẫu nằm sâu trên con đường đất ngoằn ngoèo giữa rừng bạch đàn và những vuông tôm san sát. Nơi tưởng như là tận cùng thế giới, mảnh đất gần một thế kỷ qua đã chứng kiến một cuộc đời không thể lam lũ hơn, thuộc địa phận ấp Lạc Hòa, xã Bình Đông, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.</p> <p>Căn nhà nằm trên miếng đất khoảng 500 m2 do cha mẹ bà để lại. Đó là gian nhà gạch một mái lợp tôn do chương trình Căn nhà mơ ước của Đài Truyền hình HTV về xây cất cho bà cách đây gần bốn năm, cạnh căn chòi nát vốn là nơi ở của hai mẹ con bà từ mấy chục năm qua. Ở trong nhà bày lỉnh kỉnh cái tủ chén, bàn cơm, bộ giường. Tất cả đều cũ nát. Trên bếp củi chỉ có chỏng chơ một nồi tương hột - thức ăn duy nhất của hai mẹ con từ mấy hôm nay, chấm với dưa leo. 90 năm chứ có ít gì, no ấm đành đoạn phớt lờ sự tồn tại của bà. Như ngán ngại với khách cảnh nghèo của gia đình mình, bà cười giả lả và bất ngờ cất lên tiếng hò não ruột: Hò… hơ… ơ… nhà tui đã rách nát/ Công chuyện tôi bê bát quá nhiều/ Cô bác ơi gạo chạy sớm mơi thì có nấu… Hò ơ… gạo chạy sớm mơi thì có nấu còn chạy cái nồi chiều thì không…</p> <p>Hiện tại nguồn thu nhập căn bản của hai mẹ con bà Sáu vỏn vẹn gồm khoản tiền Nhà nước trợ cấp cho người già 180.000 đồng/tháng và 270.000 đồng/tháng tiền trợ cấp cho người bệnh tâm thần. Số tiền này chỉ đủ để bà mua gạo, mắm muối và thuốc men cho hai mẹ con. Lâu lâu bà đi bắt cá, chủ yếu cho đỡ nhớ bãi sông, chứ kỳ thực 5.000-10.000 đồng bà kiếm được chẳng thấm vào đâu. Muốn bữa ăn ngoài món tương chấm dưa leo trường kỳ còn có thêm chút thịt cá cho con gái mình đỏ da thắm thịt, bà cố gắng nuôi thêm bầy vịt, đàn gà. Thức ăn thì người ta thương tình bán “chịu” cho bà, đến khi bầy gà, bầy vịt lớn bà bán có tiền thì trả cho họ. Khoảng hơn hai tháng bà bán một lứa vịt, gần năm tháng thì bán lứa gà, mỗi đợt bà kiếm lời được khoảng 500.000 đồng.</p> <p><strong>Vui vẻ lo cho đứa con điên</strong></p> <p>Mùa xuân của mọi người đang kéo về đến tận cửa. Mùa xuân duy nhất của đời bà, hơn bốn chục năm qua cứ điên dại ở trong nhà. Con gái của bà Sáu tên Loan, bà gọi là “con Út”. Theo bà, chị sinh ra bình thường khỏe mạnh, được bà cho đến trường biết đọc biết viết nhưng đến năm 19 tuổi, sau trận cảm, bỗng dưng chị đâm ra ngơ ngẩn. Bệnh nặng dần, chị hay nói lảm nhảm, có khi khóc lóc, đập phá đồ đạc. Đi khám thì bác sĩ cho biết chị bị tâm thần phân liệt. Bà phải chạy vạy thuốc thang liên tục cho chị đến khi bệnh tạm thời ổn định. Nhưng cũng từ đó, người mẹ già phải chăm bẵm cô con gái ba, bốn chục tuổi không khác chăm một đứa trẻ. Chị bị nặng tai cũng từ đó, bà nói chị không nghe, mà dù có nghe cũng không hiểu. Công việc trong nhà như cơm nước, dọn dẹp, nuôi bầy vịt… bà sai một đằng, chị làm một nẻo nên rốt cuộc bà phải lọ dọ tự tay làm hết. Bà Chín, người hàng xóm đến chơi, nói góp: “Kỳ lạ là tui chưa bao giờ thấy bà Sáu quạu quọ, rầy la cô Út, ngược lại bả cứ lẳng lặng, vui vẻ lo cho cổ”. Thì đó, nhìn nồi gạo ngâm nước đầy tràn chị vừa đem vào nhà, bà bật cười: “Chèng ơi, vo gạo kiểu này ăn sao hết hả con? Thôi lỡ rồi…”.</p> <p><strong>Hò để quên khổ cực</strong></p> <p>Bà Sáu cũng từng có một gia đình sum vầy với chồng và bốn đứa con. Lấy chồng, bà theo chồng về Long Thành, Đồng Nai sinh sống. Chồng bệnh mất, bà dắt các con trở về quê ngoại, cất căn chòi trên mảnh đất này. Nhà không tài sản, ruộng vườn, con trai lớn bỏ đi làm ăn biệt xứ, đến nay bà không biết anh ở đâu mà tìm. Con trai giữa cũng bỏ bà mà đi rồi bệnh chết ở Vũng Tàu. Anh Đẹt, con trai út của bà, thì ở gần nhà. Anh nghèo xác nghèo xơ, theo ghe đi đánh cá thuê ở ngoài biển Vũng Tàu mươi bữa, nửa tháng mới về nhà một lần nên chẳng đỡ đần gì được cho bà. Gia đình còn lại một mẹ, một con gái, ngỡ có thể an ủi cho tuổi già của bà, nào ngờ gánh nặng cơm áo bà phải lo cho cả hai mà đau bệnh, vui buồn bà chỉ biết ôm vào thân một mình. Thương con, thương mình, bà ngó chị Út, bật lên câu hò không có trong sách vở: Hò… hơ.. ơ… ví dầu con có ẩm ương… mẹ đây cũng một lòng thương cho tròn…</p> <p>An ủi cho bà Sáu trong cảnh tuổi già cơ cực, cùng bà chống chọi lại nỗi sợ một ngày rất gần bà nằm xuống chị Út sẽ cù bất cù bơ là những câu hò đối đáp đã đi vào máu thịt của bà. Một thời con gái, nó là niềm vui của bà trên cánh đồng vào mùa cấy mạ, gặt lúa. Tuổi già, câu hò đỡ đần giùm bà mệt nhọc trên bãi sông, ngoài cánh đồng. “Coi vậy chớ vừa bắt cá, bắt ốc vừa hò vài ba câu, lần quần hết buổi lúc này không hay” - bà nói. Rồi say sưa, bà cất giọng run run hò như đang trở về thời con gái xa lắc: Hò… hơ… ơ… lưới thưa em bủa con cá duồng, ở nhà em mà có chuyện… hò… ơ… ở nhà em mà có chuyện… em bơi xuồng đi kiếm anh…</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sun, 05 Jul 2026 19:11:30 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/ba-cu-thi-dien-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/ba-cu-thi-dien-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                                    <media:keywords></media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Soạn bài Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ - Cánh diều]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/tho-lop-11-a110357.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/tho-lop-11-a110357.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/tho-lop-11-a110357.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Với soạn bài Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ trang 45, 46, 47, 48, 49 Ngữ văn lớp 11 Cánh diều sẽ giúp học sinh trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 11.</p> <h2>Soạn bài Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ - Cánh diều</h2> <p><strong>1. Định hướng</strong></p> <p>1.1 Nghị luận về một tác phẩm thơ</p> <p>Ở lớp 10, các em đã được làm quen với kiểu bài phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ (chủ yếu là bài thơ). Ở lớp 11, bên cạnh các thao tác và kĩ năng đã được giới thiệu, các em cần lưu ý.</p> <p>- Bài thơ là một cấu trúc mang tính chỉnh thể (các yếu tố nghệ thuật trong tác phẩm có sự gắn kết, tương tác làm nên một thể thống nhất để đem lại những thông điệp độc đáo, hàm súc)Nghị luận về một tác phẩm thơ đòi hỏi phải biết phân tích một cách tổng thể những yếu tố hình thức để qua đó nhận biết một cách toàn diện những thông điệp, những tầng ý nghĩa của tác phẩm.</p> <p>Ngoài ra, bài thơ hay luôn gắn với một cái nhìn, một cách cảm thụ độc đáo về thế giới của tác giả. Vì thế, khi nghị luận về một tác phẩm thơ nên đặt bài thơ trong sự so sánh với những bài thơ khác để làm rõ hơn nét độc đáo về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm cần nghị luận.</p> <p>- Nghị luận về một tác phẩm thơ có thể là phân tích, đánh giá toàn bộ tác phẩm nhưng cũng có thể chỉ tập trung phân tích một số yếu tố nội dung hoặc hình thức của tác phẩm. Ví dụ:</p> <p>+ Phân tích bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu. </p> <p>+ Cảm nhận của em về bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.</p> <p>+ Vẻ đẹp của những yếu tố tượng trưng trong bài thơ Tình ca ban mai của Chế Lan Viên.</p> <p>1.2. Để viết bài nghị luận về một tác phẩm thơ, các em cần lưu ý</p> <p>- Đọc kĩ bài thơ, đoạn thơ, chú ý xác định các yếu tố hình thức (tên bài thơ, thể thơ, vần, nhịp, nhân vật trữ tình, phép điệp, đối, hình ảnh, các biện pháp tu từ, cấu tứ,...) từ đó, phân tích để chỉ ra giá trị của chúng trong việc thể hiện nội dung, chủ đề của bài thơ, đoạn thơ.</p> <p>- Xác định các luận điểm trong bài viết, lựa chọn các dẫn chứng từ bài thơ cho mỗi luận điểm.</p> <p>- Liên hệ, so sánh với các tác giả, tác phẩm có cùng đề tài, chủ đề để nhận xét điểm gặp gỡ và sáng tạo riêng của tác giả bài thơ, đoạn thơ được nêu trong đề văn.</p> <p>- Biết cách sử dụng các từ ngữ để diễn tả chính xác, truyền cảm những cảm nhận và rung động của em với các chi tiết, hình ảnh.... đặc sắc trong bài thơ.</p> <p>- Suy nghĩ về giá trị, sự tác động của bài thơ, đoạn thơ đối với người đọc và với chính bản thân.</p> <p><strong>2. Thực hành </strong></p> <p>2.1 Thực hành viết theo các bước</p> <p><strong>Bài tập (trang 46 sgk Ngữ văn 11 Tập 2) </strong><b>Phân tích sự độc đáo về nội dung và hình thức của bài thơ “Đây mùa thu tới” (Xuân Diệu).</b></p> <p>a) Chuẩn bị</p> <p>- Xem lại nội dung đọc hiểu bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu.</p> <p>+ Trọng tâm cần làm rõ sự độc đáo về nội dung và hình thức của bài thơ Đây mùa thu tới.</p> <p>+ Kiểu văn bản chính: nghị luận về một tác phẩm thơ.</p> <p>+ Phạm vi dẫn chứng: văn bản Đây mùa thu tới và các bài thơ có cùng đề tài (đặc biệt là những bài thơ về mùa thu trong văn học trung đại của Nguyễn Khuyến, Đỗ Phủ).</p> <p>b) Tìm ý và lập dàn ý</p> <p>- Tìm ý cho bài viết bằng cách suy luận từ khái quát đến cụ thể theo sơ đồ sau:</p> <p>- Lập dàn ý cho bài viết:</p> <p>Mở bài</p> <p>Nêu vấn đề bằng một trong các cách: phản đề, so sánh, đặt câu hỏi,...</p> <p>Thân bài</p> <p>Giải quyết vấn đề, ví dụ:</p> <p>- Phân tích khổ 1: Mùa thu về</p> <p>+ Vẻ đẹp tang tóc: Tiễn đưa mùa hạ</p> <p>+ Vẻ đẹp kiêu sa của một giai nhân: Mùa thu với sắc vàng mơ kiều diễm (so sánh với sắc xanh của mùa thu truyền thống trong thơ Nguyễn Khuyến).</p> <p>+...</p> <p>- Phân tích khổ 2: Mùa thu ngấm sâu vào thế giới cảnh vật.</p> <p>+ Phân tích khổ 3:...</p> <p>+ Phân tích khổ 4:...</p> <p>Kết bài</p> <p>Tổng hợp vấn đề bằng một trong các cách: tóm lược, phát triển, phối hợp giữa tóm lược và phát triển,...</p> <p>c) Viết</p> <p>Dựa vào dàn ý đã chuẩn bị để thực hành viết với những yêu cầu khác nhau:</p> <p>- Viết đoạn mở bài, kết bài hoặc một số đoạn trong phần thân bài (chọn viết về một hoặc một số ý mà em thấy hứng thú và tâm đắc).</p> <p>+ Có thể viết mở bài theo nhiều cách (trực tiếp hay gián tiếp, phản đề hay so sánh. dẫn dắt,...). Tuy nhiên, dù mở bài theo cách nào cũng cần nêu được sự độc đáo trong nội dung và hình thức của bài thơ (gắn với phong cách của Xuân Diệu)</p> <p>+ Đối với phần thân bài: Xác định rõ nội dung đoạn cần viết là gì, các dẫn chứng nào cần đưa ra và những lí lẽ, lập luận nào cần triển khai. Vì viết về ý mà em tâm đắc, hứng thú nên cần tập trung làm nổi bật được nét riêng trong cảm thụ và phân tích của mình. Ở đây, thao tác so sánh, liên tưởng là rất cần thiết. Dù chỉ viết về một ý nhưng các em cũng nên lưu ý về mối quan hệ của ý đó với các ý trước và sau nó.</p> <p>- Viết bài văn hoàn chỉnh (làm ở nhà hoặc trên lớp nếu có thời gian)</p> <p><strong>Trả lời</strong></p> <p><strong>- Đoạn văn mẫu mở bài:</strong></p> <p>Xuân Diệu (1916-1985) là nhà thơ tình, viết hay nhất và nhiều nhất trong thời đại chúng ta. Thi sĩ đã để lại trên 400 bài thơ tình,; là nhà thơ "mới nhất trong những nhà thơ mới". Xuân Diệu cũng là thi sĩ của mùa thu. Với Xuân Diệu nếu "Tình không tuổi và xuân không ngày tháng" thì cảnh thu chứa đựng biết bao tình thu, bao rung động xôn xao, bởi lẽ "Thu đến - nơi nơi động tiếng huyền”.</p> <p><strong>- Đoạn văn phân tích khổ 2:</strong></p> <p>Phân tích bài thơ Đây mùa thu tới đến khổ thơ 2, chúng ta càng thấm thía hơn khung cảnh ảm đạm của mùa thu. Dưới con mắt nhạy cảm, tinh tế nhưng đầy u uất của nhà thơ, mùa thu tới mang theo sự chia lìa, khi các loài hoa thay nhau rụng xuống. Thay vì sắc xanh tươi trẻ của mùa hè thì giờ đây sắc đỏ đã chiếm chỗ và xua đuổi màu xanh đi để chiếm trọn không gian thu cho riêng mình. Không những thế, mùa thu tới mang theo những cơn gió heo may se se lạnh, khiến cho cành lá rung rinh một cách run rẩy chứ không phải rung rinh vui vẻ như khi mùa hè. Cùng với đó là những cành cây rụng hết là chỉ còn trơ xương gầy mỏng mảnh thiếu sức sống.</p> <p>“Hơn một loài hoa đã rụng cành</p> <p>Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh;</p> <p>Những luồng run rẩy rung rinh lá…</p> <p>Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”.</p> <p>Cả khổ thơ, tác giả đã dùng màu sắc và các nét chấm phá để khắc họa lên bức tranh thu đầy xơ xác và khô héo. Dường như nó ẩn chứa dáng vẻ thất vọng, chán chường của tâm trạng con người. Con người trước Cách mạng tháng tám hay chính nhà thơ đang thấy mình thiếu sức sống, không biết bấu víu vào đâu và cảm thấy run rẩy trước dòng chảy của thời gian. Bốn câu thơ đều sử dụng phép đảo ngữ, nhằm nhấn mạnh những thay đổi của thiên nhiên khi mùa thu tới và cũng nhằm làm nổi bật nét thu đầy buồn thương.</p> <p><strong>- Đoạn văn mẫu kết bài:</strong></p> <p>Bút pháp tạo hình trong Đây mùa thu tới là sự tác động đến các giác quan con người ở hàng thông báo mang tính cái có giá trị trong đời sống đang bị hủy diệt, đang bị lụi tàn giá lạnh. Tất cả chỉ mới bắt đầu thật sự không phải mọi đóa hoa đều rụng mà chỉ “một loài hoa ” Không phải tất cả tán cây lá xanh đều bị tuyệt diệt sắc xanh mà là màu đó đang rua rủa màu xanh. Không phải tất cả mọi cành đều khô héo mà “đôi nhánh khô già). Không phải luồng gió nào cũng lạnh lẽo mà “rét mướt”chỉ mới ngấm ngầm trong luồng gió. Tính giao mùa hấp hối đó càng thấm thía hơn bởi những vùng màu nghĩa của áo mơ phai, luổng run rẫy, đã nghe rét mướt. Người đọc nhiều lúc có cảm giác mùa thu đã thực sự chiếm hữu cảnh vật, thậm chí mùa đông đã có mặt trong thu… Tất cả những điều ấy là một phiến âm bài: Trong phong cách tư tưởng của nhà thơ Xuân Diệu. Vì yêu cuộc sống, Xuân Diệu rất sợ từng giây từng phút của cuộc sống bị gặm nhấm, tàn phai, rất sợ tuổi trẻ lại càng làm tâm hồn già. Nói tóm lại, về mặt tư tưởng Đây mùa thu tới là sự dị ứng với Xuân không tuổi của Xuân Diệu, xuân mới kì diệu mới là bản chất của ông.</p> <p><strong>* Bài văn mẫu tham khảo</strong></p> <p>Xuân Diệu ông hoàng của thơ tình yêu, chưa kể những bài thơ của ông đều mang những quan niệm rất mới về cuộc sống, tuổi trẻ và về tình yêu. Ông cũng được xem là thi sĩ của mùa thu, cũng chính vì cái lãng mạn, khoảnh khắc xao xuyến của thu mà những vần thơ của nhà thơ hồn hậu và có hồn biết bao nhiêu. Đây mùa thu tới là một trong số những sáng tác tiêu biểu của Xuân Diệu. Mùa thu đó hiện ra thật đáng yêu, làm cho tâm hồn thi sĩ như dây đàn rung lên những điệu nhạc xao xuyến lòng người.</p> <p>Rút từ tập “ Thơ Thơ”, sáng tác "Đây mùa thu tới" là một bài thơ thu tuyệt bút của Xuân Diệu, xuất bản năm 1938. Thu đến, những chiếc lá rụng, gió hắt hiu làm xốn xang lòng người đặc biệt là một tâm hồn của một người thi sĩ, vốn đã có chút nhạy cảm với những thay đổi của đất trời dù là nhỏ nhất.</p> <p>Nhưng có lẽ hình ảnh mùa thu tới trong tác phẩm khiến cho người đọc cảm nhận một không khí tang thương bi ai,những hình ảnh không phải hoa lá, không phải gió đưa cần trúc, không phải mặt nước xanh biếc mà gắn với hình ảnh những cành liễu</p> <p>"Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,</p> <p>Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng".</p> <p>Không gian hiện ra với vẻ "đìu hiu", buồn và vắng vẻ. Rặng liễu trầm mặc như "đứng chịu tang". Lá liễu buông dài như tóc nàng cô phụ "buồn buông xuống". Sương thu ướt đẫm trên những nhánh liễu khiến tác giả ngâm nga một câu khiến chúng trở nên có hồn. Những cành liễu giống như những cô giá thướt tha, nhưng mắt buồn đẫm lệ. Biện pháp láy âm được Xuân Diệu vận dụng tài tình để tạo nên vần thơ giàu âm điệu, nhạc điệu: "đìu hiu - chịu", "tang - ngàn - hàng", "buồn - buông - xuống". Đây tạo nên những nét thú vị của thơ Xuân Diệu những năm đầu thế kỉ 20.</p> <p>Ngắm nhìn rặng liễu, đột nhiên tác giả chợt nhận ra màu thu đã tới, với cách ngắt nhịp 4/3 với điệp ngữ "mùa thu tới" đã diễn tả bước đi của mùa thu và niềm mong đợi thu về bấy lâu nay trong lòng thi sĩ.</p> <p>"Đây mùa thu tới mùa thu tới</p> <p>Với áo mơ phai dệt lá vàng".</p> <p>Cách hiệp vần lưng thần tình: "tới - với", một chữ "dệt" tinh tế trong miêu tả và cảm nhận. Thu tới cũng chính muôn nơi được nhuộm bởi một màu vàng của cây đổi lá, nó được dệt một cách tỉ mỉ mang tới một vẻ đẹp không phải tự dưng mà có. "Với áo mơ phai dệt lá vàng" là một câu thơ thi vị biết bao, nói lên cái hồn thu với sắc lá, gợi lên cảm giác thanh nhẹ, tươi sáng về mùa thu đáng yêu vô cùng. Tuy nhiên mùa thu đó lại bắt đầu với một nỗi buồn ảm đạm hắt hiu.</p> <p>Thu về cũng chính là lúc cảnh vật đổi khác, khoác lên mình những màu sắc rực rỡ. Thu đã về và thu dần trôi,thời gian trôi nhanh không tưởng. Cảnh vật một lúc một khác, hoa rơi, màu đỏ lấm chấm dần và rủa màu xanh. Cây cối cảnh vật bắt đầu rụng lá trơ cành như đang "run rẩy", khẽ "rung rinh" trước những làn gió thu lành lạnh, se sắt.</p> <p>"Hơn một loài hoa đã rụng cành</p> <p>Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh.</p> <p>Những luồng run rẩy, rung rinh lá,</p> <p>Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh".</p> <p>Ở khổ thơ này, tác giả sử dụng những từ láy như: "run rẩy", "rung rinh”, "mỏng manh" là những nét vẽ thần diệu gợi tả cái run rẩy, cái rùng mình của cây lá buổi chiều thu. Đặc biệt hình ảnh sắc đỏ “ rủa “ màu xanh khiến cho câu thơ mang một nét đẹp nghệ thuật độc đáo. Màu xanh đó không mướt như ngọc mà từ từ từ lan rộng ra, và mọi thứ như ngấm chất thu vào đó.</p> <p>Thi liệu vừa hiện thực vừa ước lệ tượng trưng, vừa kế thừa vừa cách tân sáng tạo ở khổ thơ thứ 3 được sử dụng một cách triệt để: là "nàng trăng tự ngẩn ngơ" trên bầu trời. Một hình ảnh đẹp, thơ mộng tả vầng trăng thu. Hình ảnh núi nhấp nhô trong làn sương mờ cành làm nổi bật những hình ảnh của mùa thu. Trăng và núi trong thơ Xuân Diệu chứa đựng cái hồn thu muôn thuở của xứ sở quê hương, gần gũi và thân thuộc từ bao đời nay được vẽ lên thật đẹp:</p> <p>“Thỉnh thoang nàng trăng tự ngẩn ngơ</p> <p>Non xa khởi sự nhạt sương mờ… "</p> <p>"Đã nghe rét mướt luồn trong gió,</p> <p>Đã vắng người sang những chuyến đò”</p> <p>Hai tiếng "đã nghe", "đã vắng" gợi tả cái không gian bao la, vắng vẻ của những buổi chiều thu với không khí se se lạnh. Chúng ta thấy có chuyển đổi cảm giác giữa xúc giác và thính giác. Sự cảm nhận của thi nhân về rét, về gió, về cái xa vắng không chỉ bằng giác quan mà còn bằng cả linh hồn nữa. Như chính tác giả dang đứng giữa chiều gió thu, se se lạnh,chữ "luồn" đã cụ thể hóa cái rét, cảm nhận được nó bằng trực giác.</p> <p>Đâu đẹp bằng hình ảnh thiên nhiên đẹo đẽ ở khổ thơ cuối.Có vẻ đẹp của thiên nhiên, của mây trời, cánh chim, xuất hiện vẻ đẹp thiếu nữ. Cảnh đẹp, người đẹp nhưng mà thoáng buồn mơ hồ mênh mông. Mây và cánh chim gợi lên nỗi buồn đẹp chia li như "bèo dạt mây trôi" của tình ca!</p> <p>"Mây vẩn từng không chim bay đi,</p> <p>Khí trời u uất hận chia li"…</p> <p>"Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói,</p> <p>Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì"</p> <p>Bao giờ trong thơ Xuân Diệu luôn xuất hiện hình bóng của giai nhân. Đây mùa thu tới cũng vậy, xuất hiện hình bóng một giai nhân trong tương tư, đang mộng tưởng. Đó cũng là một nét mới nói về mùa thu trong thơ Xuân Diệu.</p> <p>Bài thơ “Đây mùa thu tới” lắng đọng trong độc giả những cảm xúc rất riêng, không những vậy cách cảm nhận của tác giả cũng rất mới mẻ. Mọi cảnh vật trong bài thơ mặc dù có thiên nhiên nhưng không thể thiếu được trong thơ Xuân Diệu là hình bóng giai nhân. Bao nhiêu nét thu là bấy nhiêu nét vẽ tài hoa. Dáng thu, sắc thu, tình thu đều đẹp đều hiện ra với nỗi buồn mênh mang không biết từ đâu đến.</p> <p>d) Kiểm tra và chỉnh sửa</p> <p>Tham khảo các yêu cầu đã nêu ở Bài 5, phần Viết, mục d (trang 26), đối chiếu với dàn ý đề văn đã làm ở bài này.</p> <p>2.2 Rèn kĩ năng viết: Phân tích tác dụng của hình thức thơ</p> <p>a. Cách thức</p> <p>- Bài văn phân tích tác dụng của hình thức thơ là bài nghị luận về tác dụng của một hoặc toàn bộ yếu tố hình thức của tác phẩm thơ như: nhan đề, thể loại, cấu tứ, nhân vật trữ tình, giọng điệu, bối cảnh, hình tượng, bút pháp....</p> <p>- Mỗi yếu tố hình thức trong một bài thơ có tác dụng nghệ thuật riêng. Ví dụ: nhan đề có tác dụng gợi dẫn về chủ đề của bài thơ, tạo cảm xúc hay đánh thức trường liên tưởng cho người đọc, cũng có khi chỉ là để gây tò mò, thu hút người đọc đến với bài thơ, cấu tứ giúp người đọc nhận thấy được sự vận động và biến đổi trong mạch cảm xúc của bài thơ, nhân vật trữ tình và giọng điệu có tác dụng đem đến một cách nhìn, một cách cảm thụ về thế giới, qua đó bộc lộ chủ đề và ý nghĩa của bài thơ....</p> <p>Cần lưu ý là các yếu tố hình thức thơ không tồn tại biệt lập mà luôn tương tác, gắn bó với nhau để làm thành một chỉnh thể. Vì thế, khi phân tích, cần chú ý sự hô ứng, thống nhất của các yếu tố hình thức trong việc biểu đạt ý nghĩa, chủ đề của tác phẩm.</p> <p>- Để viết được bài văn (hoặc đoạn văn) phân tích tác dụng của hình thức thơ, các em cần xác định rõ: Yếu tố hình thức đó là gì? Biểu hiện như thế nào? Yếu tố đó có mối hệ gì với các yếu tố hình thức khác? Yếu tố có vai trò như thế nào trong quan việc thể hiện chủ đề, ý nghĩa của bài thơ? Yếu tố đó đem lại ấn tượng gì, gợi ra những liên tưởng và so sánh gì cho người đọc? Một điều đặc biệt quan trọng là phải chọn đúng được yếu tố hình thức độc đáo, có giá trị thẩm mĩ.</p> <p><strong>b) Bài tập: (trang 48 sgk Ngữ văn 11 Tập 2):</strong> Trong các đoạn văn sau, người viết đã tập trung phân tích yếu tố hình thức nào trong bài "Vội vàng" của Xuân Diệu (Trích theo Chu Văn Sơn, “Thơ, điệu hẩu và cấu trúc". NXB Giáo dục, 2007),</p> <p>- Đoạn 1: Cái động thái bộc lộ đầy đủ nhất thần thái Xuân Diệu có lẽ là Vội vàng. Ngay từ hồi viết Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã thấy Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt. Cho nên, đặt cho bài thơ rất đặc trưng của mình cái tựa để Vội vàng, hẳn đó phải là một cách tự bạch, tự hoạ của Xuân Diệu. Nó cho thấy thi sĩ rất hiểu mình.".</p> <p>- Đoạn 2: </p> <p>Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều</p> <p>Và non nước, và cây và cỏ rạng</p> <p>Có thể nói, câu thơ Và non nước, và cây, và cỏ rạng là không thể có đối với thi pháp trung đại vốn coi trọng những chữ đúc. Thậm chí, đối với người xưa, đó sẽ là câu thơ vụng. Tại sao lại thừa thãi liên từ và đến thế? Vậy mà, đó lại là sáng tạo của nhà thơ hiện đại Xuân Diệu. Những chữ và hiện diện cần cho sự thể hiện nguyên trạng cái giọng nói, cái khẩu khí của thi sĩ. Nó thể hiện đậm nét sắc thái riêng của cái tôi Xuân Diệu. Nghĩa là thể hiện một cách trực tiếp, tươi sống cái cảm xúc ham hố, tham lam đang trào lên mãnh liệt trong lồng ngực yêu đời của thi sĩ!”</p> <p>- Đoạn 3: Là người đã tiếp thu ở mức nhuần nhuyễn phép tương giao (correspondence) của lối thơ tượng trưng, Xuân Diệu đã phát huy triệt để sự tương giao về cảm giác để cảm nhận và mô tả thế giới (...). Có những câu thơ mà cảm giác được liên tục chuyển qua các kênh khác nhau. Thời gian được cảm nhận bằng khứu giác. Mùi tháng năm — thời gian của Xuân Diệu được làm bằng hương - chẳng thế mà thi sĩ cứ muốn buộc gió lại ư- thương bay đi là thời gian trôi mất, là phải nhạt phôi pha! Một chữ rớm cho thấy khứu giác đã chuyển thành thị giác. Nó nhắc ta nhớ đến hình ảnh giọt lệ. Chữ vị liền đó lại cho thấy cảm giác thơ đã chuyển qua vị giác. Và đây là một thứ vị hoàn toàn phi vật chất: vị chia phôi!. Thì ra chữ rớm và chữ vị đều từ một hình ảnh ẩn hiện trong cả câu thơ là giọt lệ chia phôi đó.".</p> <p><strong>Trả lời:</strong></p> <p>Trong các đoạn văn, người viết đã tập trung phân tích yếu tố hình thức trong bài:</p> <p>- Đoạn 1: Người viết tập trung phân tích yếu tố hình thức về nhan đề trong bài "Vội vàng" của Xuân Diệu.</p> <p>- Đoạn 2: Người viết tập trung phân tích yếu tố hình thức về bút pháp trong bài "Vội vàng" của Xuân Diệu.</p> <p>- Đoạn 3: Người viết tập trung phân tích yếu tố hình thức về bút pháp trong bài "Vội vàng" của Xuân Diệu.</p> <p>Bài giảng: <b>Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ - Cô Hoàng Hồng (Giáo viên VietJack)</b></p> <p>Xem thêm các bài Soạn văn lớp 11 Cánh diều hay nhất, ngắn gọn khác:</p> <ul> <li><p><b>Giới thiệu một tác phẩm thơ</b></p></li> <li><p><b>Tự đánh giá: Tràng giang</b></p></li> <li><p><b>Hướng dẫn tự học trang 53</b></p></li> <li><p><b>Kiến thức ngữ văn trang 54</b></p></li> <li><p><b>Thương nhớ mùa xuân</b></p></li> </ul> <p>Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 11 hay khác:</p> <ul> <li><b>Soạn văn 11 Cánh diều (hay nhất)</b></li> <li><b>Soạn văn 11 Cánh diều (ngắn nhất)</b></li> <li><b>Soạn Chuyên đề Văn 11 Cánh diều</b></li> <li><b>Giải lớp 11 Cánh diều (các môn học)</b></li> <li><b>Giải lớp 11 Kết nối tri thức (các môn học)</b></li> <li><b>Giải lớp 11 Chân trời sáng tạo (các môn học)</b></li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sun, 05 Jul 2026 18:42:32 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Soạn bài Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ - Cánh diều</media:title>
                        <media:keywords>Soạn bài Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ - Cánh diều</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[5+ Phân tích bài thơ Chiều tối (siêu hay)]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phan-tich-bai-mo-a110351.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phan-tich-bai-mo-a110351.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phan-tich-bai-mo-a110351.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><b>Đề bài:</b> Phân tích bài thơ “Chiều tối” của Hồ Chí Minh</p> <p>Bài giảng: <b>Chiều tối - Cô Thúy Nhàn (Giáo viên VietJack)</b></p> <h3><b>Dàn ý mẫu</b></h3> <h3>I. Giới thiệu sơ lược về tác giả, nêu cảm nhận chung về tác phẩm</h3> <p> - Hồ Chí Minh là nhà cách mạng vĩ đại đồng thời là nhà thơ lớn của dân tộc. Ngục trung nhật kí (Nhật kí trong tù) là tác phẩm tiêu biểu, được Bác viết trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt tại Quảng Tây (Trung Quốc), từ mùa thu năm 1942 đến mùa thu 1943. </p><p> - Mộ (Chiều tối) là bài thơ có giá trị nội dung và nghệ thuật độc đáo: Điều khác lạ là bài thơ được viết trong hoàn cảnh người bị giải đi trên đường, với gông cùm xiềng xích, nhưng không phải là một lời than vãn xót xa. Trái lại, đó là một nét hoan ca về cuộc sống, về con người, biểu hiện tâm hồn hết sức đẹp đẽ, nhân cách lớn lao của Hồ Chí Minh. </p><h3>II. Thân bài</h3> <p><b>1. Hai câu đầu</b></p> <p> Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ </p><p> Cô vân mạn mạn độ thiên không </p><p> - Hai câu đầu vẽ nên một bức tranh nên thơ, yên bình của cuộc sống, chim bay về rừng tìm chốn trú ngụ, đám mây trôi lững lờ trên bầu trời chiều, chỉ vài nét chấm phá, những bức họa (trong bài thơ có họa) của thơ xưa. Song, phong vị cổ thi ấy do gần gũi về bút pháp. Còn thực ra, đây vẫn là buổi chiều nay, với cảnh thật và người thật (người tù - nhà thơ) đang tận mắt nhìn ngắm. </p><p> Bức tranh phong cảnh kia tuy đẹp và nên thơ nhưng vẫn có nét buồn. Quyện nghĩa là mỏi, chán, mỏi mệt. Tầm là tìm kiếm. Cánh chim sau ngày rong ruổi, trong cái giờ khắc của ngày tàn, mỏi mệt, phải trở về rừng đặng tìm kiếm chỗ trú. Cô là lẻ loi, một mình. Mạn mạn là dài và rộng, không là trên bầu trời dài, rộng mênh mông. Bản thân bầu trời vẫn dài rộng như là triệu năm qua, nhưng đám mây đơn lẻ kia đã khiến nó càng trở nên mênh mang hơn. Hai câu thơ, theo đúng nghĩa đen cũng chỉ ra một cảnh buồn. Với người bình thường, thậm chí đang vui, trước cảnh ấy, lòng hẳn không sao tránh một cảm xúc man mác, bâng khuâng. Câu thơ khiến người ta liên tưởng đến một buổi chiều khác, trong thơ cổ: </p><p> Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn, </p><p> Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn </p><p> Gác mái ngư ông về viễn phố </p><p> Gõ sừng mục tử lại cô thôn </p><p> Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi </p><p> Dặm liễu sương sa khách bước dồn </p><p> Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ, </p><p> Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn </p><p> (Cảnh chiều hôm - Bà Huyện Thanh Quan) </p><p> Buổi chiều xưa không vắng lặng, nhưng lòng người đã tím ngát nỗi buồn. Còn cảnh ở đây, vốn là đơn chiếc. Cảnh ấy nói hộ lòng người, hẳn đang buồn. Đúng thôi, ngay đến cánh chim kia, khi chiều tắt đã vội trở về. Thế mà, giờ này, người tù mắt mờ, chân yếu, lại bị gông cùm, vẫn đang lê bước trên đường dài. Người đó không than vãn, do nhân cách vĩ đại, song ai không cảm được nỗi đau rất thật từ cảnh tình ấy? </p><p><b>2. Hai câu cuối</b></p> <p> Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc </p><p> Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng </p><p> - Hai câu kết chuyển hướng vận động của hình tượng thơ. Ở trên, cảnh vật mênh mông, vắng lặng, ánh nắng ngày đang dần tắt, nhường chỗ cho bóng đêm ập xuống. Còn ở đây, dù không tả nhưng ai cũng biết, đất trời đã vào đêm, bóng tối len dày muôn nơi. Vậy, điều gì khiến người ta cảm nhận được từng bước đi của thời gian, cảm nhận thấy được ánh sáng và bóng tối? Đó là cánh chim đơn lẻ bay về chốn cũ. Đặc biệt, đó là ánh rực hồng của lò than nơi xóm núi. Đây cũng là lối chấm phá, lấy ánh sáng tả bóng tối. </p><p> - Nhưng sự chuyển hướng đích thực của hình tượng thơ không chỉ có vậy. Nếu cảnh ở trên mang nét buồn của sự lẻ loi, hoang vắng, thì cảnh ở đây, dù là đêm tối nhưng ấm áp, giàu sức sống. Đôi mắt của người nghệ sĩ ở cảnh trước khi phóng nhìn ra xa và lên cao, càng nhìn càng mất hút và trống trải. Khi đôi mắt ấy nhìn gần, đã bắt gặp hình ảnh không ngờ: </p><p> Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc </p><p> - Vóc dáng người thôn nữ cùng với công việc lao động dường như là thường ngày ấy đã xua đi sự cô quạnh giữa miền sơn cước. Và, đến lúc công việc đã xong, thì ánh sáng tràn ngập. </p><p> Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng. </p><p> Trong bóng đêm, ánh sáng ấy càng có sức lan tỏa. Lòng người từng man mác buồn đã ấm lại cùng với ánh lửa kia. Đến đây thì sự vận động của hình tượng thơ được trọn vẹn. </p><h3>III. Kết bài</h3> <p> "Mộ" là bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Hồ Chí Minh Khi sử dụng thể thơ luật Đường, tác giả đã vận dụng khá nhuần nhuyễn bút pháp chấm phá để tả cảnh, lấy động tả tĩnh, đặc biệt là lấy cảnh tả tình. Trong bài thơ, không có từ hay chi tiết nói về chủ thể trữ tình, nhưng người đọc vẫn nhận ra đôi mắt, tấm lòng của con người ấy. Tuy nhiên, dù mang phong vị cổ điển, đây vẫn là bài thơ hiện đại. Chất hiện đại bộc lộ ở sự vận động hình tượng thơ, nhất là ở tấm lòng và tư tưởng của thi nhân. Dù bị gông cùm, xiềng xích, con người đó vẫn hết sức ung dung tự tại, luôn quên mình để nhìn ngắm cuộc sống và rung động với từng biểu hiện, dù chỉ nhỏ nhoi, tinh tế. </p><h3><b>Bài văn mẫu 1</b></h3> <p> Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng, một người chiến sĩ quốc tế luôn mang trong mình tình yêu quê hương đất nước và khát khao giải phóng dân tộc. Cả cuộc đời Bác dành cho sự nghiệp cách mạng không chỉ vậy Bác còn là một nhà văn hóa lớn có nhiều đóng góp trong lĩnh vực văn chương. Cảm hứng thi sĩ đến bất cứ lúc nào với người chiến sĩ cộng sản dù cho khi bị giam bắt, tù đày nhưng không thể giam cầm được tâm hồn của Người. Bài thơ “Chiều tối” là tác phẩm được sáng tác khi Bác bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ nhưng vẫn thể hiện tình yêu thiên nhiên, con người và tinh thần lạc quan, có niềm tin vào tương lai tươi sáng của Hồ Chí Minh. </p><p> Vào tháng 8 năm 1942 Bác sang Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, sau nửa tháng đi bộ đến Túc Vinh tỉnh Quảng Tây và bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam trong suốt mười ba tháng, những tháng ngày bị tù đày ấy Bác đã sáng tác tập thơ “Nhật kí trong tù” bằng chữ Hán với số lượng 134 bài. Trong đó bài thơ “Chiều tối” là bài số 31 khi Người bị thiên chuyển từ nhà lao Tĩnh Tây sang nhà lao Thiên Bảo năm 1942. Trong khoảnh khắc chiều tà mênh mông cùng với tâm hồn thi nhân đã tạo cảm hứng để người tù sáng tác gửi gắm vào thơ ca tâm trạng, tình cảm của mình. Nổi lên trong bài thơ là hình ảnh thiên nhiên và con người lao động nơi đất khách quê người. </p><p> “Chiều tối” được viết bằng chữ Hán theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Hai câu thơ đầu Bác đặc tả cảnh thiên nhiên núi rừng với hai hình ảnh tiêu biểu cánh chim mỏi mệt và đám mây cô đơn: </p><p> “Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ </p><p> Cô vân mạn mạn độ thiên không” </p><p> Chim mòi về rừng tìm chốn ngủ/Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không) </p><p> Với bút pháp chấm phá điểm nhãn, ước lệ trượng trưng mang đậm chất cổ điển của thi pháp phương Đông Bác đã khắc họa hình ảnh cánh chim mỏi mệt đang bay tìm chốn ngủ. Đó là chi tiết gợi không gian mênh mông, gợi ý niệm thời gian buổi chiều đã về. Trong thơ ca không ít lần ta có bắt gặp hình ảnh cánh chim ấy là “Truyện Kiều” của Nguyễn Du có viết: “Chim hôm thoi thóp về rừng” hay của bà Huyện Thanh Quan: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” rồi trong “Tràng Giang” của Huy Cận là hình ảnh “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều xa”. Từ “Quyện” trong câu thơ mang nghĩa mỏi mệt chỉ tâm thế tồn tại của con người, là định ngữ cho danh từ “điểu”, được dùng để đặc tả cho hình ảnh cánh chim. Cánh chim ở đây không chỉ được Bác quan sát trong sự vận động mà còn được cảm nhận từ bên trong là “Chim mỏi”. Nhà thơ đã dùng cái hữu hạn của cánh chim để nói cái vô hạn của bầu trời. Trong khoảng trời mênh mông ấy chỉ có cánh chim nhỏ nhoi bay với đôi cánh mệt mỏi. Bác đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tả hoạt động của tự nhiên để gợi thân phận, tâm trạng của mình. Ở đây vừa có sự đối lập vừa có nét tương đồng. Đối lập là nếu con chim bị lạc đàn, bay mỏi sau một ngày kiếm ăn vất vả nhưng vẫn thoải mái tự do vào rừng tìm chốn ngủ còn nhà thơ vẫn bị kìm kẹp, giam cầm. Tương đồng tâm trạng giữa người tù và cánh chim chiều. Phải chăng sau một ngày đi đường dài cổ đeo gông chân vướng xiềng Bác đã thấm mệt nên nhìn cánh chim bay Bác cũng cảm nhận được điều ấy, Bác cũng muốn được nghỉ ngơi sau ngày tù dài lê bước “Năm mươi ba cây số một ngày/Áo mũ dầm mưa rách hết giày”. Cội nguồn của sự đồng điệu ấy là tình yêu vô bờ mà Bác dành cho sự sống của vạn vật. </p><p> Không chỉ vậy Người còn quan sát thấy hình ảnh đám mây trôi chầm chậm trên nền trời mênh mông, bao la gợi ý niệm lứ thứ, cô đơn. Đây cũng là một thi liệu rất quen thuộc trong thơ xưa. Thôi Hiệu đã từng viết: “Bạch vân thiên tải không du du” (Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay) hay đó là đám mây xanh ngắt trong thơ Nguyễn Khuyến với câu “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt”. Tuy nhiên mây trong thơ Bác không gợi sự vĩnh viễn mà mang tâm trạng cô đơn, lẻ loi của người khách băn khoăn không biết tương lai sẽ đi đâu về đâu nhưng trong bản dịch chưa thực sự lột tả được ý nghĩa của từ “cô”. Chỉ với vài nét đặc tả, chấm phá lấy linh hồn của thiên nhiên mà vẽ nên một bức tranh buổi chiều tối ảm đạm, yên ả. Cánh chim và đám mây đã từng xuất hiện trong thơ Lí Bạch: “Chúng điểu cao phi tận/ Cô vận độc khứ nhàn”. Đó là nét cổ điển mà Hồ Chí Minh kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại thể hiện ước muốn được tự do, được nghỉ ngơi như cánh chim, như đám mây trên trời cao. </p><p> Trong hai câu thơ đầu chỉ đặc tả cảnh thiên nhiên nhưng ẩn đằng sau lớp ngôn từ đó là tư thế và tâm hồn của thi nhân. Ta không thấy có chân dung của người tù khổ ải mà chỉ thấy phong thái ung dung, tao nhã của thi nhân mặc khách dù chân vướng xiềng lê từng bước trên đường đi, cảnh chiều mênh mông rợn ngợp nhưng tâm hồn Bác vẫn hướng về thiên nhiên, quát sát từng chi tiết vận động của cảnh vật. Nếu không phải là một người yêu thiên nhiên tha thiết, một con người có nghị lực phi thường, bản lĩnh kiên cường vượt lên trên hoàn cảnh làm sao có được sự tự do về tinh thần. Nhà lao, xiềng xích có thể giam cầm thân thể Bác chứ không thể trói buộc được tâm hồn thi nhân. </p><p> Trên nền cảnh của thiên nhiên hình ảnh con người bỗng hiện lên trong thơ Bác. Con người ở đây là thiếu nữ đang lao động giữa chốn núi rừng mênh mông như một điểm sáng làm cho bức tranh đời sống trở nên có hồn có thần sắc vui tươi hơn: </p><p> “Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc </p><p> Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng” </p><p> (Cô em xóm núi xay ngô tối/ Xay hết lò than đã rực hồng) </p><p> Hình ảnh cón người và cuộc sống được nối tiếp hiện lên qua hai câu thơ. Thiếu nữ ở đây là người con gái (bé gái) trong lứa tuổi dưới thanh nữ chứ không phải như bao bài phân tích khác là cô gái. Hình ảnh bé gái đang xay ngô trong đêm tối là để hô ứng với cánh chim cô đơn, lẻ loi bên trên cô độc đối diện với cối xay. Ngòi bút của Bác hướng đến sự vận động của con người. Đây là một nét hiện đại, mới mẻ trong thơ Hồ Chí Minh. Thiếu nữ miền sơn cước toát giữa núi rừng mênh mông không những không bị hòa tan với thiên nhiên mà nổi bật chói lòa trong không gian ấy. Không giống như những bài phân tích khác tôi nhận thấy qua cấu trúc liên miên đối ở các từ “ma bao túc” câu trên và “bao túc ma hoàn” câu dưới cho thấy con người ở đây đang phải lao động vất vả, nặng nề, triền miên, kéo dài trong đêm. Trong mạch vận động của của thời gian ở nguyên tác không hề nhắc đến chữ “tối” nhưng với bản dịch thơ người dịch cho thêm vào làm mất đi sự thú vị của ý thơ, khiến cho câu thơ mất đi nét đẹp của ý tại ngôn ngoại không cần nhắc đến nhưng vẫn hiện ra là một đêm tối bao phủ. Trong câu thơ “Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng” theo tôi đó là sự nối tiếp công việc, kết thúc một công việc lại mở ra một công việc mới, nhà thơ đã dùng hình ảnh bếp lửa được đốt lên để nói sự vận động của thời gian. Từ xưa nay đa số mọi người đều hiểu theo nghĩa là hồng tính từ, làm sáng rực lên hình ảnh con người trong đêm nhưng theo nguyên tác chữ Hán đó hồng của động từ mang ý nghĩa hành động là đốt để đối với từ “ma” (xay). Đây là hiện tượng đồng âm trong tiếng Hán, nếu không cẩn thận tìm hiểu sẽ khiến cho mọi người nhầm lẫn với ý nghĩa khác. Qua hình ảnh con người trong đêm cho thấy cuộc sống nơi đây cơ cực, khó khăn khiến cho tác giả đồng cảm, đồng điệu. Bác đã dùng vòng xoay của cối xay để nói lên tâm trạng nặng nề của mình, dùng hình ảnh bé gái để nói lên cảm nhận cuộc sống. Nam Cao đã từng viết: “Khi người ta đau chân, người ta không còn tâm trí đâu để nghĩ đến người khác” nhưng đối với Hồ Chí Minh thì đi ngược lại với điều đó. Bác là một con người có tấm lòng thương yêu đồng loại đến vô cùng không chỉ là đối với nhân dân Việt Nam mà còn là biết bao những con người cơ cực trên hành tinh này. Đúng như Tố Hữu đã từng viết: “Bác ơi tim Bác mênh mông thế/ Ôm cả non sông mọi kiếp người”. </p><p> Bài thơ là thành công của nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa bút pháp cổ điển và sự cách tân hiện đại trong ý thơ. Đặc biệt là chữ “hồng” ở cuối bài thơ được coi là nhãn tự, là con mắt thần của tác phẩm mang ý nghĩa sâu sắc được Hoàng Trung Thông nhận xét rằng: “Với một chữ "hồng", Bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mệt mỏi, sự uể oải, sự vội vã, sự nặng nề đã diễn ra trong ba câu đầu, đã làm sáng rực lên khuôn mặt của cô em sau khi xay xong ngô tối”. Đồng thời chữ “hồng” ấy cũng thể hiện cho niềm tin, hy vọng của Bác vào một tương lai tươi sáng ở ngày mai, đó là điều đáng quý, đáng trân trọng. Dù ở trong hoàn cảnh ngục từ nhưng con người ấy không bao giờ chịu khuất phục trước hoàn cảnh, số phận. Trong thơ Hồ Chí Minh luôn có sự vận động từ bóng tối ra ánh sáng, từ hồng được xuất hiện rất nhiều lần như trong bài “Tảo giải” hiện lên: “Phương Đông màu trắng chuyển sang hồng/ Bóng tối đêm tàn sớm sạch không” hay có câu Bác viết: “Trong ngục giờ đây còn tối mịt/ Ánh hồng trước mặt đã bừng soi” đó là sự lạc quan, niềm tin của Bác vào con đường cách mạng nước nhà, vào cuộc sống tốt đẹp hơn ở tương lai. </p><p> Như vậy chỉ với 28 câu thơ thất ngôn tứ tuyệt được kết hợp hài hòa giữa chất cổ điển và hiện đại, giữa tâm hồn thi sĩ với trái tim thép người chiến sĩ, bài thơ đã làm xúc động người đọc trước tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu tha thiết cuộc sống và sự cảm thông, thương yêu con người của vị cha già dân tộc. Con người Bác là tấm gương sáng để cho biết bao thế hệ đồng bào Việt Nam học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. </p><h3><b>Bài văn mẫu 2</b></h3> <p> Bác Hồ khi xưa đã từng nói rằng: “Làm thơ ta vốn không ham/ Nhưng mà trong ngục biết làm chi đây/ Ngày dài ngâm ngợi cho khuây/ Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do”. Trong lời giãi bày bác vốn không ham làm thơ, nhưng khoảng thời gian trong ngục làm thơ ngâm ngợi để vơi đi nỗi buồn, đồng thời làm thơ cũng là để thể hiện ý chí sắt đá của người chiến sĩ cách mạng. Trong tập Nhật kí trong tù ta không thể không nhớ đến bài thơ Chiều tối, tác phẩm được sáng tác khi bác chuyển từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo. Bài thơ đã làm bật lên tinh thần kiên cường của người tù cách mạng. </p><p> Mở đầu tác phẩm mở ra khung cảnh, bức tranh thiên nhiên chiều tối: </p><p> Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ </p><p> Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không </p><p> Bức tranh chiều tối được gợi lên từ hai hình ảnh: cánh chim, chòm mây. Cánh chim vốn là thi liệu quen thuộc trong thơ xưa như: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” (Bà Huyện Thanh Quan) hay “Chim hôm thoi thót về rừng” (Nguyễn Du). Những cánh chim thường gợi về nỗi cô đơn, gợi nhắc, gợi nhớ về một quãng thời gian nào đó. Còn cánh chim trong thơ bác lại xuất hiện hoàn toàn khác, sau một ngày kiếm ăn mệt mỏi, chúng trở về tìm chốn nghỉ ngơi. Chúng bay đi có mục đích, phương hướng, không hề vô định như trong thơ cổ. Cánh chim ấy gợi liên tưởng về sự tương phản với hoàn cảnh của bác. Chòm mây trên trời cô đơn, lững lờ trôi giữa không gian mênh mông, cái cô độc của chòm mây cũng như chính sự cô đơn, lẻ loi của Bác. Bức tranh thiên nhiên không còn dừng lại ở miêu tả bề ngoài mà nó còn là bề sâu của tâm cảnh, ta thấy được tình yêu thiên nhiên của người tù. Bằng những quan sát hết sức tinh tế Bác đã nắm bắt được cái thần, cái hồn của cảnh vật, một không gian chiều mơ màng, thanh bình. Không chỉ vậy ta còn thấy được nỗi cô đơn, mệt mỏi của người tù nhân, khi phải trải qua một hành trình dài, di chuyển từ nhà lao này đến nhà lao khác. Nhưng đằng sau nỗi cô đơn ấy còn là một bản lĩnh kiên cường, sắt đá của người chiến sĩ. </p><p> Bức tranh của Bác không dừng lại ở đó, từ không gian của thiên nhiên, người tù di chuyển điểm nhìn để thấy hơi thở của cuộc sống sinh hoạt bình dị, đời thường mà vô cùng ấm áp: </p><p> Cô em xóm núi xay ngô tối </p><p> Xay hết, lò than đã rực hồng. </p><p> Đến đây con người đã trở thành trung tâm của bức tranh. Hiển hiện trong khung cảnh sinh hoạt là người thiếu nữ xóm núi đang xay ngô. Hình ảnh chân thực, bình dị và vô cùng đời thường nhưng lại lấp lánh tỏa sáng. Đó là ánh sáng của tuổi trẻ, của sức sống hừng hực nơi người con gái; ánh sáng tỏa ra từ công việc lao động bình dị; đồng thời còn là vẻ đẹp của mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên: con người là trung tâm, là chủ thể của vũ trụ. Trước thiên nhiên bao la con người không bị lu mờ mà được làm rõ nổi bật hơn. </p><p> Câu thơ cuối là sự kết hợp hài hòa giữa nét vẽ cổ điển và nét vẽ lãng mạn. Tính cổ điển được thể hiện ở bút pháp dùng ánh sáng để nói bóng tối. Hình ảnh lò than rực hồng, tỏa rạng một khoảng không gian đã tái hiện thành công bóng tối bao phủ xung quanh đây. Nhưng đồng thời đây cũng là câu thơ hết sức hiện đại. Chữ hồng là nhãn tự của bài thơ, làm bừng sáng cả không gian tăm tối đang bao trùm. “Hồng” thể hiện sự vận động theo hướng từ chiều đến tối, từ lạnh lẽo đến ấm áp (ấm của sự sống, của sinh hoạt lao động con người), từ sự cô đơn đến sum họp và từ nỗi buồn đến niềm vui. Đây là sự vận động từ bóng tối ra ánh sáng thể hiện niềm tin, lạc quan vào tương lai tương sáng của người chiến sĩ cách mạng. </p><p> Bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, ngôn ngữ cô đọng, hàm súc. Bút pháp gợi tả thiên nhiên giản dị, tự nhiên mà vô cùng chân thực. Có sự đan xen, hòa quyện một cách nhuần nhuyễn giữa màu sắc cổ điển và hiện đại. </p><p> Chiều tối đã khắc họa thành công bức tranh thiên nhiên và bức tranh cuộc sống của con người nơi núi rừng hoang dã. Đằng sau bức tranh ấy là vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh: luôn mang trong mình tinh thần lạc quan, tin tưởng dù gặp khó khăn vẫn luôn tin rằng ánh sáng đang đợi dân tộc, đất nước nơi cuối con đường. </p><p>Xem thêm các bài Văn mẫu phân tích, dàn ý tác phẩm lớp 11 khác:</p> <ul> <li><b>30+ Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ Chiều tối</b> </li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sun, 05 Jul 2026 16:26:23 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">5+ Phân tích bài thơ Chiều tối (siêu hay)</media:title>
                        <media:keywords>5+ Phân tích bài thơ Chiều tối (siêu hay)</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Lòng Chế Lan Viên từ độ ai qua?]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/anh-di-qua-trai-dat-de-lai-chung-tho-ay-a110341.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/anh-di-qua-trai-dat-de-lai-chung-tho-ay-a110341.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/anh-di-qua-trai-dat-de-lai-chung-tho-ay-a110341.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/anh-di-qua-trai-dat-de-lai-chung-tho-ay-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<ul> <li>Dùng thơ Chế Lan Viên bàn về thị phi giải thưởng</li> <li>Những kỷ niệm sâu đậm với nhà thơ Chế Lan Viên</li> <li>Nhà thơ Chế Lan Viên: Dịu dàng qua những lá thư</li> <li>Về một chuyện ngắn hiếm hoi của Chế Lan Viên</li> </ul> <p>Năm 2020, người yêu thơ không thể không nhớ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chế Lan Viên (1920-1989). Công chúng thường nhắc đến Chế Lan Viên cùng dòng thơ thế sự và dòng thơ suy tưởng, mà ít để ý đến dòng thơ tình yêu của ông. Đặc biệt, qua những vần điệu âu yếm, giới mộ điệu có thể hiểu được những ngày hạnh phúc của Chế Lan Viên với hai người vợ: Bà Nguyễn Thị Giáo sinh năm 1925 và bà Vũ Thị Thường sinh năm 1930.</p> <p>Chế Lan Viên là một trường hợp độc đáo của thi ca Việt. Năm 17 tuổi, Chế Lan Viên đã thành danh với tập thơ “Điêu tàn”, và sau khi ông qua đời thì “Di cảo thơ” vẫn tiếp tục dậy sóng văn đàn. Có thể khẳng định, Chế Lan Viên là người sáng tác tận tụy đến hơi thở cuối cùng, mà mỗi giai đoạn đều có sắc thái riêng. Nhiều người say mê Chế Lan Viên vì những câu thơ hào sảng và giục giã trong các bài “Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi”, “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?” hoặc “Con mắt Bạch Đằng, con mắt Đống Đa”. Nhiều người lại say mê Chế Lan Viên vì những câu thơ triết lý “Anh tồn tại mãi/ Không bằng tuổi tên, mà như tro bụi/ Như ngọn cỏ tàn đến tiết lại trồi lên”.</p> <img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/anh-di-qua-trai-dat-de-lai-chung-tho-ay-1.jpg" alt="Chân dung nhà thơ Chế Lan Viên (1920-1989)." /> Chân dung nhà thơ Chế Lan Viên (1920-1989). <p>Chế Lan Viên sớm có ý thức về công việc làm thơ và vai trò nhà thơ. Trong tập “Đối thoại mới” xuất bản năm 1973, Chế Lan Viên đã nghĩ về thơ khá kỳ vĩ: “Thơ, thơ đong từng ngao nhưng tát bể/ Là cái cân nhỏ xíu lại cân đời/ Thơ không phải đưa ru mà còn thức tỉnh/ Không phải chỉ ơ hời mà còn đập bàn quát tháo, lo toan…/ Anh phải làm cho thời đại đến sớm hơn là nó đến/ Anh là gió đưa hương, nhưng chính ra anh lại phải là hương”.</p> <p>Tầm vóc của Chế Lan Viên như một nhà diễn thuyết về nhân sinh và nhân quần, thì còn chỗ nào dành cho những rung động yêu đương không? Có đấy, chính Chế Lan Viên cam đoan “sau hoa là cô Kiều e lệ nép vào hoa/ rẽ vần điệu ngôn từ, sự sống nấp đằng sau đó” thì tại sao không mở thơ ông để hiểu tình ông?</p> <p>Chế Lan Viên luôn hướng thơ đến những đề tài lớn lao và luôn giấu kín chuyện riêng tư. Đó là chọn lựa đáng tôn trọng của ông. Thế nhưng, ông đã viết “Như cốm mùa thu nằm mát giữa tờ sen/ Màu xanh của nắng trời chừng dịu lại/ Những yêu thương của lòng tôi, tôi gói/ Trong lá thơ vừa háu ở đời lên”, thì chắc chắn cũng tìm thấy nỗi phập phồng và niềm xao xuyến của ông hé lộ trong thi ca.</p> <p>Người vợ đầu tiên của Chế Lan Viên vốn là học trò của ông, khi ông dạy học ở Trường Chấn Thanh - Đà Nẵng. Thời đôi mươi, Chế Lan Viên đã nổi tiếng, nên người thầy giáo hào hoa trên bục giảng cũng hớp hồn không ít nữ sinh mơ mộng.</p> <p>Trong số những học trò thầm thương trộm nhớ thầy giáo Phan Ngọc Hoan (tên thật của Chế Lan Viên) có cô Nguyễn Thị Giáo. Nét hiền thục và dịu dàng của Nguyễn Thị Giáo đã chinh phục trái tim thi sĩ Chế Lan Viên.</p> <p>Nhờ sự mai mối giúp đỡ tận tình của nhà thơ Quách Tấn, đám cưới của họ được tổ chức ngày 26/9/1943. Hạnh phúc kéo dài được 15 năm, bà Nguyễn Thị Giáo sinh cho Chế Lan Viên ba người con, Phan Lai Triều, Phan Trường Định và Phan Thị Chấn Thanh. Và trong 15 năm mặn nồng phu thê ấy, Chế Lan Viên công khai với độc giả một bài thơ tình có tên gọi “Tình ca ban mai”. Dù không ghi tặng bà Nguyễn Thị Giáo, nhưng hình bóng hiền thê hiển thị rất rõ trong bài thơ tình hiếm hoi của Chế Lan Viên: “Em đi, như chiều đi/ Gọi chim vườn bay hết/ Em về, tựa mai về/ Rừng non xanh lộc biếc/ Em ở, trời trưa ở/ Nắng sáng màu xanh che/ Tình em như sao khuya/ Rải hạt vàng chi chít/ Sợ gì chim bay đi/ Mang bóng chiều bay hết/ Tình ta như lộc biếc/ Gọi ban mai lại về/ Dù nắng trưa không ở/ Ta vẫn còn sao khuya/ Hạnh phúc trên đầu ta/ Mọc sao vàng chi chít/ Mai, hoa em lại về…”.</p> <p>Cũng trong giai đoạn chung sống với bà Nguyễn Thị Giáo, có một bài thơ tình nữa có Chế Lan Viên có tên gọi “Hoa đào nở sớm” cũng thật nôn nao: “Rặng đào trước ngõ em qua/ Sáng nay bỗng ướm cành hoa vào mùa/ Đầy vườn lộc biếc cây tơ/ Năm đi chưa hết, đã ngờ xuân đâu/ Bỗng dưng một đóa hoa đầu/ Nghe như đất lạ năm nào gặp em/ Phải rằng xê xích thời gian/ Vầng dương bên ấy mọc sang bên này/ Nắng hoe. Bướm trở mình bay/ Cánh non nở vội kịp ngày chào hoa/ Lòng anh từ độ em qua/ Hoa bay bướm dạo, cùng ta vào đời”.</p> <p>Năm 1958, hôn nhân giữa Chế Lan Viên và bà Nguyễn Thị Giáo đổ vỡ. Hôm ra tòa làm thủ tục ly dị, Chế Lan Viên ngậm ngùi: “Đến chỗ đông người anh biệt em/ Quay đi thôi chớ để anh nhìn/ Mày em trăng mới in ngần thật/ Cắt đứt lòng anh trăng của em”. Cuộc tình ấy ngỡ khép lại vĩnh viễn trong thơ Chế Lan Viên, thì sau khi ông từ giã nhân gian, người vợ thứ hai là nhà văn Vũ Thị Thường đã công bố di cảo của chồng có bài thơ “Những mảnh trời xưa” viết khoảng năm 1959 như một lời tiễn biệt đau đớn: “Người mang lại ái tình không ở cùng tôi nữa/ Nhưng em còn quẩn mỗi câu thơ/ Trời xanh của sông Hàn nay đã vỡ/ Mỗi câu thơ là một mảnh trời xưa/ Hạnh phúc em đong cho ta bằng đôi mắt nhỏ/ Đôi chén đắng cay làm lòng nức nở/ Mỗi bức thư như gạch lỡ đầu tường/ Nhưng đạn xé vào thịt non không lấp nổi/ Thơ anh viết những lời anh chẳng sống/ Chiều nay anh viết: Yêu em/ Thức ăn cũ biến thành thuốc độc/ Lối cỏ hoa xưa nay đã gài mìn”.</p> <img src="https://cdn.cand.vn/images/9e984feb7e37c492eb3c1bd15dee55e84d94e528202a766147674e2b0b788d79a7dc3479dfa4d9f226a837a662046e24311d261d9fb65f0e085b6531d50c33f091e4a0879cd8285e56bd0f79253e249c/03dd2aa0-84ac-4982-90a5-95a49515cf14.jpg" alt="Nhà văn Vũ Thị Thường tuổi 90." /> Nhà văn Vũ Thị Thường tuổi 90. <p>Một địa chỉ đáng chú ý trong bài thơ: sông Hàn! Đó là nơi Chế Lan Viên đã gặp gỡ và nên duyên cùng bà Nguyễn Thị Giáo. Khi biên soạn di cảo, nhà văn Vũ Thị Thường thừa khả năng nhận ra tín hiệu đó để lưỡng lự hoặc để ghen tuông, nhưng bà vẫn nâng niu như một báu vật trên hành trình thơ của Chế Lan Viên. Cũng vì vậy, bài thơ “Những mảnh trời xưa” chứng minh mối quan hệ cao đẹp giữa ba người Chế Lan Viên - Nguyễn Thị Giáo - Vũ Thị Thường!</p> <p>Nhà văn Vũ Thị Thường làm vợ Chế Lan Viên khi ông đã là bậc trưởng thượng trên văn đàn. Trong hai con gái mà bà Vũ Thị Thường sinh cho Chế Lan Viên, có một tài nữ Phan Thị Vàng Anh được di truyền cá tính sắc sảo của cha.</p> <p>Chế Lan Viên có một bài thơ ghi rõ “Tặng Vũ Thị Thường” là bài “Hoa những ngày thường” viết năm 1965: “Em ơi, chớ cười anh nhé/ Sao đi sông rộng đèo cao/ Mà tấm lòng riêng vẫn nhớ/ Hoa ngày ta ở bên nhau? Căn phòng nho nhỏ hai ta/ Hoa hồng mọc bên cửa sổ…”.</p> <p>Những năm trước và sau sự ra đời của bài thơ “Hoa những ngày thường”, Chế Lan Viên viết khá nhiều thơ tình. Tuy ông không nêu cụ thể nhân vật nữ tạo cảm hứng, thì công chúng cũng có thể đoán ra sự có mặt của nhà văn Vũ Thị Thường trong đời ông: “Mùa thu chừng biết ta xa cách/ Gió nửa đêm từng lúc gọi ta hoài/ Nhắc anh biết miền xa em chẳng ngủ/ Nhớ những ngày chăn mỏng đắp chung đôi”.</p> <p>Thập niên 60 của thế kỷ trước, khi nhà văn Vũ Thị Thường đi thực tế sáng tác dài ngày tại Tiền Hải - Thái Bình thì Chế Lan Viên ở Hà Nội viết hai bài tứ tuyệt bày tỏ sự mong ngóng. Nếu bài “Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể” nồng nàn: “Cái rét đầu mùa anh rét xa em/ Đêm dài lạnh, chăn chia làm hai nửa/ Một đắp cho em ở vùng sóng bể/ Một đắp cho mình ở phía không em”, thì bài “Gió đầu mùa” khắc khoải: “Trận gió đầu mùa nửa đêm đập cửa/ Lá bàng già rào rạt rụng ngoài sân/ Anh nghe xong không đành nằm lại nữa/ Gió về từ nơi sơ tán của em chăng”.</p> <p>Sống với nhà văn Vũ Thị Thường, Chế Lan Viên như tìm được người tri âm tri kỷ văn chương. Năm 1970, với bài thơ “Hoa trắng đỏ”, ông viết: “Anh tặng em yêu chùm hoa sắc trắng/ Như khi yêu, anh yêu đỏ hoa hồng/ Tuổi năm mươi lòng yêu như lửa đỏ/ Nhưng bên ngoài vẫn cứ trắng như không”. Năm 1973, với bài thơ “Trận đánh”, ông viết: “Em ra đi, anh dọn lòng anh lại/ Một mình anh, trận đánh chẳng cân bằng/ Một mình anh chống với cả mùa mưa lũ/ Với cả màu mây trắng, chỉ mình anh”.</p> <p>Trong di cảo của Chế Lan Viên, dễ dàng phát hiện nhiều bài thơ tình mà ông viết riêng cho người đầu ấp tay gối. Lúc nghĩ về “Táo Niu Tơn”, ông cũng dắt díu: “Phải đâu cứ táo rụng là tìm ra quy luật/ Anh dễ gì thành được Niu Tơn/ Hút về em, đâu phải hút về trái đất/ Rụng hết cây tình yêu, chưa hiểu hết tâm hồn”. Lúc bỗng dưng “Giật mình”, ông cũng bần thần: “Giật mình một bóng trăng ngang cửa/ Mới nhớ rằng em ở nơi xa/ Những đêm trăng bay ngang đời như thế/ Những đêm vàng ta bỏ phí đi bay qua”. Mái ấm thứ hai của mình, có lần được Chế Lan Viên miêu tả rành mạch: “Về Tả Thanh Oai quê vợ/ Cả gia đình ngồi trên xe ngựa/ Như là digan! Nắng reo trên đầu các con/ Cây chạy đón ta hai bên đường…”.</p> <p>Suốt cuộc đời 69 năm giữa “ánh sáng và phù sa”, Chế Lan Viên không chỉ hứng thú “Đối thoại mới” hoặc “Hái theo mùa”, mà ông cũng chấp chới vui buồn bóng hồng đời thường. Chế Lan Viên có một tập nháp, đặt tên “Thơ cho em” đầy tâm sự: “Anh đi qua trái đất để lại chừng thơ ấy/ Hãy thương anh! Anh nào có chi nhiều/ Một chút nắng tàn, một dòng nước chảy/ Trái tim nghèo, nhưng cũng đã tin yêu”.</p> <p>Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chế Lan Viên, nhà lưu niệm dành cho ông được xây dựng tên quê hương ông, thôn An Xuân, xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Thơ của ông còn đồng hành nhiều thế hệ nữa, và độc giả càng ngày càng thêm yêu Chế Lan Viên trữ tình: “Thân thể quên những châm ngôn từ ngữ/ Cho môi nghe tà giáo của hoa mời/ Cho răng cắn trái mùa yêu chín nũng/ Địa đàng hơn thiên đàng vì có lứa đôi…”.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sun, 05 Jul 2026 12:22:31 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/anh-di-qua-trai-dat-de-lai-chung-tho-ay-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/anh-di-qua-trai-dat-de-lai-chung-tho-ay-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Lòng Chế Lan Viên từ độ ai qua?</media:title>
                        <media:keywords>Lòng Chế Lan Viên từ độ ai qua?</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[&quot;Lạ kỳ&quot; đề thi môn văn vào lớp 10 giống với lớp 9?]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/ngu-van-lop-9-a110332.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/ngu-van-lop-9-a110332.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/ngu-van-lop-9-a110332.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Ngày 3-6, hơn 6.400 thí sinh của tỉnh Quảng Bình bước vào tham dự kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT và THPT chuyên Võ Nguyên Giáp.</p><p>Tuy nhiên, kết thúc buổi thi môn Ngữ văn diễn ra vào trưa cùng ngày, nhiều người cho rằng đề thi văn lớp 10 giống hệt với đề kiểm tra môn ngữ văn kết thúc học kỳ 2 năm học 2018 - 2019 của Phòng GD-ĐT TP Đồng Hới diễn ra cách đây chưa lâu. </p><p>Theo quan sát, hai đề thi giống nhau từ cấu trúc đến nội dung. Đề thi văn lớp 10 do Sở GD-ĐT tỉnh Quảng Bình ra đề, còn đề văn lớp 9 do Phòng GD-ĐT TP Đồng Hới ra đề đều có 2 phần chính là "ĐỌC HIỂU và LÀM VĂN". </p><p>Ở câu thứ nhất, cả hai đề thi đều dùng chung ngữ liệu từ một đoạn trích trong cuốn "Quà tặng cuộc sống" của Nhà xuất bản Trẻ năm 2002. </p><p>Một đề yêu cầu rút ra bài học mình tâm đắc nhất, đề còn lại yêu cầu rút ra thông điệp của văn bản. Ở câu số 2, một đề yêu cầu viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ của thí sinh về lòng hiếu thảo, trong khi đề còn lại yêu cầu viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về tình mẫu tử - đều dựa vào nội dung đoạn trích ở câu trên. </p><p>Câu hỏi số 3 gần như "coppy" khi cả hai đề đều yêu cầu phân tích nhân vật Phương Định trong tác phẩm "Những ngôi sao xa xôi" của nhà văn Lê Minh Khuê. </p><p>Trong khi đó, đề kiểm tra học kỳ 2 năm học 2018-2019, của Phòng GD-ĐT Đồng Hới cũng có phần 1 đọc - hiểu đoạn văn trên và cũng có 4 câu hỏi với những nội dung tương tự, như: thông điệp của văn bản trên là gì? và có phần 2 cũng yêu cầu viết đoạn văn nghị luận ngắn (khoảng 100 chữ) trình bày suy nghĩ về tình mẫu tử. </p><p>Chiều 3-6, ông Đinh Qúy Nhân, Giám đốc Sở GD-ĐT tỉnh Quảng Bình, cho biết đã nắm được thông tin trên và đang tiến hành rà soát lại việc "trùng đề" thi môn văn vào lớp 10 của học sinh toàn tỉnh với đề thi học kỳ của học sinh lớp 9 tại TP Đồng Hới trước đó. </p><p>Ông Nhân nói rằng 2 đề thi tương đối giống nhau đó chỉ là sự trùng hợp "ngẫu nhiên" và phủ nhận sự bất thường tiêu cực trong việc ra đề. </p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sun, 05 Jul 2026 09:16:36 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">&quot;Lạ kỳ&quot; đề thi môn văn vào lớp 10 giống với lớp 9?</media:title>
                        <media:keywords>&quot;Lạ kỳ&quot; đề thi môn văn vào lớp 10 giống với lớp 9?</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Đồng chí Lê Quốc Phong trao Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng đến đảng viên]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/tho-dong-chi-a110313.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/tho-dong-chi-a110313.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/tho-dong-chi-a110313.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Trao Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng đến đồng chí Nguyễn Văn Thơ, tại nhà riêng ở phường Hiệp Bình, đồng chí Lê Quốc Phong bày tỏ sự trân trọng trước những đóng góp của đồng chí Nguyễn Văn Thơ trong sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ và xây dựng đất nước.</p><p>Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM ân cần thăm hỏi sức khỏe, sinh hoạt thường ngày của đồng chí Nguyễn Văn Thơ và chúc đồng chí trường thọ, sống vui, sống khỏe, là điểm tựa tinh thần của gia đình.</p><p>Đồng chí Nguyễn Văn Thơ (quê tỉnh Ninh Bình), từng là đoàn viên công đoàn và thanh niên tiền phong Đakao Sài Gòn. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí trở về địa phương, tham gia các hoạt động công đoàn, sau đó làm quản lý xí nghiệp, doanh nghiệp tại Hà Nam, Nam Định. Đồng chí từng giữ chức Phó Trưởng ban Công nghiệp Tỉnh ủy Nam Hà, Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính thành phố Nam Định. Năm 1989, đồng chí nghỉ hưu hưởng chế độ.</p><p>Trong quá trình công tác, đồng chí được tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất cùng nhiều bằng khen, giấy khen, huy hiệu khác.</p><p>Tại lễ trao Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng đến đồng chí Lê Thị Vĩnh Cửu, đồng chí Lê Quốc Phong ân cần thăm hỏi sức khỏe, tình hình đời sống và dành thời gian trò chuyện cùng đồng chí Lê Thị Vĩnh Cửu cùng các thành viên trong gia đình. Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM chúc đồng chí Lê Thị Vĩnh Cửu sống vui, sống khỏe cùng con cháu; mãi là tấm gương sáng để các thế hệ trẻ noi theo.</p><p>Đồng chí Lê Thị Vĩnh Cửu sinh năm 1928, tham gia cách mạng từ năm 1945, từng nhiều lần bị địch bắt giam nhưng vẫn kiên trung hoạt động cách mạng, đảm nhiệm nhiều vị trí công tác sau ngày đất nước thống nhất.</p><p>Sau ngày đất nước thống nhất, đồng chí tiếp tục tham gia công tác tại các địa phương ở TPHCM. Từ năm 1982 đến nay, đồng chí nghỉ hưu theo chế độ.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sun, 05 Jul 2026 02:06:31 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Đồng chí Lê Quốc Phong trao Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng đến đảng viên</media:title>
                        <media:keywords>Đồng chí Lê Quốc Phong trao Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng đến đảng viên</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/tho-doan-thuyen-danh-ca-a110295.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/tho-doan-thuyen-danh-ca-a110295.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/tho-doan-thuyen-danh-ca-a110295.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tho-doan-thuyen-danh-ca-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Bước ra từ phòng thi, nhiều thí sinh cảm thấy bất ngờ khi đề thi lần này lại tiếp tục ra về bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá”.</p> <figure> <img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tho-doan-thuyen-danh-ca-1.jpg" alt="" /> </figure> <p>Học sinh rời phong thi sau môn văn chiều nay. ẢNH: THỦY TRÚC</p> <p>Em Nguyệt Hà, Trường THCS Kim Đồng, cho biết là học sinh chuyên văn thế nhưng em cũng hơi bất ngờ về đề thi này. </p> <p>Theo Nguyệt Hà, “Đoàn thuyền đánh cá” là bài thơ em không bao giờ nghĩ đến bởi bài thơ này đã từng được đưa vào đề thi năm ngoái. Phần nghị luận xã hội em làm khá tốt. Em hy vọng sẽ đạt được điểm tuyệt đối trong phần này. Còn phần nghị luận văn học, em chỉ mong được 2 điểm để được trên trung bình. “Em sẽ cố gắng hết sức vào môn chuyên ngày mai. Sau khi thi văn xong, em thấy mình có 50% cơ hội để đậu vào trường, trong khi đó lúc sáng khi mới thi toán xong là 80%” - em Nguyệt Hà nói.</p> <figure> <img src="https://image.plo.vn/w850/Uploaded/2026/yrfjpybfjpy/2018_06_05/de-thi-tieng-van-truong-trung-hoc-thuc-hanh_ZXGN.jpg" alt="" /> </figure> <p>Đề thi văn chiều nay. </p> <p>Ra khỏi phòng thi từ sớm, em Nguyễn Diên Thảo, Trường THCS Nguyễn Du, cho biết những bạn ôn theo chương trình ở trường thì khó làm tốt câu 2 về phân tích bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”. Bài này đã được ra từ năm ngoái nên đa phần thầy cô không tập trung ôn. Cho nên nếu bạn nào chủ quan không xem lại sẽ không thể làm tốt.Về phần nghị luận xã hội, em thấy cũng khá hay vì nó đề cập đến tính tự chủ trong cuộc sống. Đây là một vấn đề cần thiết trong xã hội hiện nay. “Em tập trung hết sức vào câu 1 nên hy vọng sẽ đạt được điểm tuyệt đối ở câu này” - Diên Thảo nói.</p> <figure> <img src="https://image.plo.vn/w850/Uploaded/2026/yrfjpybfjpy/2018_06_05/de-thi-mon-van-truong-trung-hoc-thuc-hanh-su-pham-1_CTQF.jpg" alt="" /> </figure> <p>Học sinh trao đổi sau môn thi chiều nay. ẢNH: THỦY TRÚC</p> <p>Trong tâm trạng thoải mái vì đi thi để thử sức, em Thiên Bảo, thi chuyên Anh, trường THCS Nguyễn Gia Thiều, cho hay em thấy đề văn không khó, chỉ hơi bất ngờ khi lại tiếp tục ra về bài “Đoàn thuyền đánh cá”. Bài này sẽ có nhiều bạn không thuộc và rất dễ trích dẫn sai thơ. Riêng về phần nghị luận xã hội thì em làm khá ổn. Em nghĩ em được khoảng 6 điểm với đề văn này.</p> <figure> <img src="https://image.plo.vn/w850/Uploaded/2026/yrfjpybfjpy/2018_06_05/de-thi-mon-van-truong-trung-hoc-thuc-hanh-su-pham-2_VZHJ.jpg" alt="" /> </figure> <p>Nhiều thí sinh cảm thấy bất ngờ khi ra lại bài thơ "Đoàn thuyền đánh cá". ẢNH: THỦY TRÚC</p> <p>Đề cập đến đề thi, cô Nguyễn Ngọc Thảo, Hiệu trưởng Trường THCS Phú Thọ, xét về cấu trúc đề, đề văn này khó hơn tuyển sinh 10. Thế nhưng đề vẫn bám sát chương trình. </p> <p>Theo cô Thảo, đề gồm hai câu, câu nghị luận xã hội bàn về tư tưởng đạo lý. Đây là dạng quen thuộc của học sinh khối 9. Các em cần nắm được các bước làm bài. Ngay phần thân bài, các em phải tập trung giải thích, ý nghĩa của câu danh ngôn, biểu hiện của nó rồi lý giải được tại sao như thế. Nói chung, câu danh ngôn mang hàm ý những lời từ chối giúp đỡ chúng ta trong cuộc sống chưa hẳn là không tốt, mặt khác đó là cơ hội để rèn luyện ý chí, tự chủ, độc lập của mỗi người. </p> <p>Còn về phần nghị luận văn học, bài thơ ra nằm trong chương trình. Bài thơ viết về hình ảnh người lao động trong thời kỳ xây dựng đất nước. Học sinh cần phải phân tích bài này theo hướng làm rõ hình ảnh người lao động với tinh thần hăng say, tự chủ. “Nói chung, đề bám sát chương trình, vừa sức, có gắn thực tiễn, có hướng mở khi đề cập đến tinh thần tự chủ độc lập của học sinh trong cuộc sông hiện nay” - cô Thảo nhấn mạnh. </p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 04 Jul 2026 19:41:36 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tho-doan-thuyen-danh-ca-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tho-doan-thuyen-danh-ca-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                                    <media:keywords></media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/nhung-li-luan-van-hoc-hay-a110279.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/nhung-li-luan-van-hoc-hay-a110279.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/nhung-li-luan-van-hoc-hay-a110279.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Cùng với sự phát triển của một thế kỉ văn học dân tộc, lí luận văn học ở Việt Nam cũng đã có những thành tựu, khẳng định sự trưởng thành của tư duy lí luận văn học hiện đại.</p> <p> </p> <p> </p> <p>Tuy nhiên, sự phát triển của lí luận văn học mácxít ở Việt không thể tách rời những thành tựu của các nền lí luận văn học mácxít trên thế giới. Nó là bộ phận của một hệ thống. Ở mỗi nước, sự phát triển của lí luận văn học mác xít đều có những sắc thái riêng, nhưng nếu nhìn trong hệ thống, chúng ta sẽ thấy có những đặc điểm chung. Việc chỉ ra những đặc điểm đó sẽ soi sáng nhiều vấn đề còn tồn tại bên trong hệ thống (và ngoài hệ thống), giúp chúng ta có cái nhìn khách quan, khoa học hơn về những thành tựu và cả những hạn chế của toàn bộ hệ thống cũng như từng bộ phận. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi không thể đề cập hết toàn bộ sự phát triển của hệ thống lí luận văn học mác xít ở tất cả các nước. Để làm rõ những đặc điểm cơ bản, chúng tôi sẽ nghiên cứu các mô hình lí luận mác xít với những tác gia, tác phẩm tiêu biểu có liên hệ với đời sống lí luận văn học ở Việt Nam như là bộ phận của một hệ thống đã góp phần làm nên những đặc điểm đó. Nói đến tính hệ thống của mĩ học và lí luận văn học mác xít không có nghĩa là chỉ thừa nhận sự thống nhất tuyệt đối của mọi quan điểm tạo nên hệ thống đó. Bên trong mỗi hệ thống triết học hay mĩ học đều có những khác biệt nhất định do mỗi nhà triết học hay mĩ học đều có hệ thống riêng của mình. Ở mỗi hệ thống riêng này đều có những hạn chế không tránh khỏi. Trên cơ sở triết học Marx-Lenin và những ý kiến của Marx-Engel-Lenin bàn về văn học, có thể nói từ những năm 1870 đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất và thời gian sau đó, cho đến hết thế kỷ XX, lí luận văn học mác xít, từ những nước có truyền thống mĩ học đến những nước không có truyền thống đó, đã hình thành và phát triển với nhiều sắc thái đa dạng. Sự đa dạng này không chỉ thể hiện ở từng nước với những mô hình lí luận văn học khác nhau trên cùng một vấn đề, mà còn thể hiện ngay trong cách xây dựng từng mô hình lí luận với những quan điểm khác nhau. Trước hết chúng tôi muốn đề cập đến vấn đề mối quan hệ giữa văn bản (văn học) và hiện thực, hay như các nhà lí luận văn học ở Việt Nam vẫn thường nói là mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Đây là một trong những vấn đề cơ bản mà lí luận văn học mác xít đã nói đến nhiều. Tuy nhiên về vấn đề này lí luận văn học mác xít đã cho thấy những quan điểm tương đồng và khác biệt. Bắt đầu bằng mối liên hệ giữa các quan điểm của chủ nghĩa thực chứng với các quan điểm của Plêkhanốp, khi Plêkhanốp phát triển lí thuyết của H. Taine bằng việc hợp nhất các quan điểm lí luận của Taine với một số phạm trù cơ bản của chủ nghĩa Marx. Plêkhanốp đã gắn quyết định luận của H. Taine với đấu tranh giai cấp, với các quan điểm mác xít về hình thức của các mối quan hệ giữa người với người. Ông lí giải điều đó bằng khái niệm tinh thần đạo đức và đồng nhất nó với tâm lí giai cấp. Như vậy, văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực cuộc sống, cái hiện thực mà, theo Plêkhanốp, nội dung đấu tranh giai cấp quy định. Với sự xuất hiện của G. Lukacs, lí luận văn học mác xít đã có thêm những công trình lí luận quan trọng nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Tiếp thu những thành tựu triết học và mĩ học tư sản, Lukacs đã có cái nhìn sâu hơn, toàn diện hơn vào một số vấn đề lí luận văn học, nhất là vấn đề mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Những năm ba mươi của thế kỷ XX là thời kì phát triển quan trọng của mĩ học Lukacs, khi ông bắt đầu xây dựng hệ thống các quan điểm mĩ học của mình về phản ánh nghệ thuật trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Xuất phát từ phản ánh luận của Lenin, Lukacs nhấn mạnh quan điểm văn học phản ánh hiện thực "bằng các hình thức của đối tượng": Ông khẳng định văn học nghệ thuật như là ý thức của sự phát triển nhân loại, và cũng như Plêkhanốp, ông luôn trung thành với quan điểm văn học nghệ thuật không tách rời đời sống xã hội. Tuy vậy, so với Plêkhanốp, Lukacs đã xác lập được hệ thống quan điểm mĩ học của mình về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực qua đặc trưng của phản ánh nghệ thuật. Trong khi Plêkhanốp cho rằng "muốn hiểu nghệ thuật phản ánh cuộc sống như thế nào thì cần phải hiểu cơ cấu của cuộc sống đó"(1) thì Lukacs nhấn mạnh đến thế giới riêng của sáng tạo nghệ thuật, ông cho rằng mọi tác phẩm nghệ thuật có giá trị đều tạo ra "thế giới riêng", các nhân vật, tình huống đều hoàn toàn khác với thực tế hàng ngày, thậm chí không giống với bất kì nhân vật tình huống nào của tác phẩm khác. Lukacs chỉ ra rằng sự say mê của người tiếp nhận là sự say mê hoàn toàn vào đặc trưng của cái "thế giới riêng" của tác phẩm, do tác phẩm đã phản ánh hiện thực trung thực hơn, hoàn thiện hơn, sinh động hơn cái mà người tiếp nhận có được về hiện thực. Thế giới riêng của tác phẩm chỉ là cái tưởng như, như thể tác phẩm văn học, nghệ thuật không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan, như thể người tiếp nhận không hình dung ra "cái thế giới riêng" đó của tác phẩm chỉ là sự phản ánh hiện thực. Lukacs viết: "Nghịch lí ảnh hưởng của tác phẩm là ở chỗ chúng ta trao mình cho một hiện thực dâng sẵn bên ta, ta coi nó là hiện thực và tiếp nhận nó, mặc dù ta vẫn biết chính xác rằng nó không phải là hiện thực mà chỉ là hình thức đặc biệt của sự phản ánh hiện thực"(2). Lukacs còn nhấn mạnh một luận điểm có ý nghĩa khoa học, đó là chân lí nghệ thuật tồn tại không phụ thuộc vào sự tương xứng hay không với chân lí khách quan theo tinh thần "nghệ thuật không đòi hỏi người ta phải thừa nhận các tác phẩm nghệ thuật là hiện thực" mà Lenin từng nói. Như vậy, chỉ đề cập đến những quan điểm của Lukacs về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực thể hiện trong công trình Nghệ thuật và chân lí khách quan viết năm 1934, chúng ta đã thấy đối tượng nghiên cứu của nhà lí luận văn học mác xít này không phải là lí luận văn học chung chung mà là văn học hiện thực, là tiểu thuyết. Lí luận văn học của G. Lukacs không phải là lí luận mô tả mà là lí luận đánh giá. Dựa vào mô hình phản ánh, ông diễn đạt những phán xét về các giá trị cơ bản, độc lập với việc một tác phẩm văn học có hiện thực hay không. Tuy không dành cho chủ thể sáng tạo cái vai trò rõ ràng, nhưng khi nhấn mạnh sự phản ánh thế giới của tác phẩm văn học, Lukacs cũng không phủ nhận sự hiện hữu của người sáng tác, thậm chí nhiều lần ông nhắc đến sự vĩ đại của người nghệ sĩ thể hiện qua việc phản ánh trung thực đời sống xã hội. Trong một công trình nghiên cứu so sánh hai nhà mĩ học mác xít là C.Caudwell (Anh) và G.Lukacs (Hungary)(3), chúng tôi đã nêu lên những điểm tương đồng và khác biệt trong các quan điểm của hai nhà mĩ học này về đặc trưng của phản ánh nghệ thuật mà cũng chính là về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, mặc dù cả hai đều là những nhà mĩ học mác xít. So sánh tác phẩm Ảo ảnh và hiện thực của C.Caudwell với tác phẩm Đặc trưng mĩ học của G.Lukacs, ta thấy sự đa dạng trong các quan điểm của họ, trước hết trong việc xác định đối tượng của phản ánh nghệ thuật. Theo Caudwell thì đối tượng của phản ánh nghệ thuật là "hiện thực bên trong" của con người, còn "hiện thực bên ngoài" là đối tượng của phản ánh khoa học. Caudwell viết: Nghệ thuật thể hiện sự tự do của con người trong cái thế giới nhận thức, bởi vì cả hai (khoa học và nghệ thuật -T.Đ.D) đều nhận ra một cách có ý thức tính tất yếu của thế giới, và cả hai đều biết làm thay đổi thế giới của mình. Nghệ thuật có thể thay đổi thế giới cảm xúc, tức là thế giới hiện thực bên trong, còn khoa học thay đổi thế giới của các hiện tượng, tức là thế giới hiện thực bên ngoài" (4). Còn Lukacs thì cho rằng nghệ thuật cũng như khoa học đều phản ánh cùng một hiện thực. Lukacs gắn bó với yêu cầu về chủ nghĩa hiện thực, về tính chân thực của sự phản ánh; còn Caudwell nhấn mạnh tính chân thực lịch sử của thái độ và tư tưởng của nhà văn, tức là nhấn mạnh vai trò của chủ thể sáng tạo. Liên quan đến vấn đề chủ nghĩa hiện thực, cần nói thêm rằng giữa Ernst Fischer, R. Garaudi và G. Lukacs cũng có những quan điểm khác nhau. Không phải ngẫu nhiên mà khi bàn về chủ nghĩa hiện thực, hoặc về các sáng tác của Franz Kafka, R. Garaudi đã không cùng chung quan điểm với G. Lukacs, còn Ernst Fischer thì mặc dù rất kính trọng Lukacs, vẫn xem ông là người bảo thủ! Có thể nói lí luận văn học mác xít đã nghiên cứu nhiều đến mối quan hệ giữa văn học và hiện thực; đến xuất xứ, nguyên nhân và các yếu tố khác liên quan tới sự ra đời của văn học nghệ thuật. Phương thức tiếp cận văn học theo hướng này là mô hình phát sinh mà một trong những biến thể hiện đại của nó đã gắn liền với tên tuổi của nhà lí luận xã hội học, gốc Rumani là Lucien Goldman. Xuất phát từ quan niệm cho rằng nghĩa khách quan của một tác phẩm văn học hay triết học nhiều khi ngay cả tác giả của nó cũng không ý thức được (Hume và Descartes đều tin ở Chúa Trời nhưng các công trình triết học của họ đều toát lên sự ngờ vực, duy lí) việc tiếp cận tiểu sử tác giả để nghiên cứu các mối liên hệ giữa tác phẩm văn học và cuộc đời tác giả theo L. Goldman, cần phải dựa trên cơ sở nghiên cứu các mối liên kết giữa cấu trúc tác phẩm và cấu trúc thuộc về ý thức của cái nhóm xã hội mà tác giả là thành viên. Cách hình dung này của Goldman phản ánh ảnh hưởng của G. Lukacs, người cho rằng hiện thực và tư duy tạo nên sự thống nhất biện chứng trong đó tất cả đều liên kết với nhau. Các quan điểm của L. Goldman trong cuốn sách quan trọng nhất của ông, Chúa trời ẩn náu (1955)(5) đều có cơ sở từ những quan điểm của Lukacs trong cuốn Lịch sử và ý thức giai cấp. Goldman cho rằng nguồn gốc của các tác phẩm có thể tìm thấy trong ý thức và trong cách ứng xử xã hội. Tác phẩm văn học không thể hiện cái tôi của tác giả mà thể hiện cái giai cấp xã hội mà nó lệ thuộc. Lucien Goldman nhấn mạnh rằng cấu trúc ý thức của một tác phẩm có thể tìm về với ứng xử xã hội, nhưng ứng xử xã hội lại không phải là ý muốn của từng cá thể mà là do hành động thống nhất của hai hoặc nhiều cá thể qui định, giống như một vật nặng được nâng bởi nhiều người. Do đó, theo Goldman, các tác phẩm văn học là những sản phẩm tập thể của các nhóm xã hội. Từng nhóm xã hội riêng biệt đều trang bị cho mình cái hình thức có đẳng cấp cao nhất của tư tưởng mà Goldman gọi là cái nhìn thế giới. "Cái nhìn thế giới" là sự thể hiện của các nhóm xã hội mà tư duy, cảm xúc và ứng xử của họ đều hướng tới sự hệ thống hóa các mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên. Các quan điểm trên của L. Goldman được ông thể hiện trong tác phẩm chính Chúa trời ẩn náu và vận dụng vào thực tiễn nghiên cứu văn học. Công trình này nghiên cứu các mối liên hệ giữa một nhóm xã hội và một phong trào tôn giáo, giữa triết học của Pascal và các vở bi kịch của Racine . Ở mỗi bên Goldman đều gặp "một cái nhìn thế giới" đặc trưng trong đó con người đang vật lộn giữa những trách nhiệm trái ngược mà sự hòa đồng của chúng không được thế giới tạo điều kiện. Nghiên cứu cấu trúc ý thức của cái nhìn bi kịch và cấu trúc của tác phẩm văn học, Goldman đã mở ra sự tương đồng thuộc về hình thức của chúng. Sự tương đồng hình thức này sau đó được ông gọi là sự đồng đẳng. Một khi cấu trúc của tác phẩm văn học và cấu trúc ý thức của cái nhóm xã hội là "đồng đẳng" thì cái gì tạo nên tính đặc thù của tác phẩm văn học? Theo Goldman đó là sư liên kết mà tác giả phủ lên cấu trúc ý thức có sẵn. So sánh những quan điểm lí luận ở mô hình phát sinh của L. Goldman với những quan điểm ở mô hình phản ánh của G. Lukacs, chúng ta rất dễ nhận ra những tương đồng và khác biệt. Có thể nhận thấy ảnh hưởng của những tác phẩm của Lukacs trong thời kỳ đầu đến với chủ nghĩa Marx đối với L. Goldman, thậm chí cả khái niệm "đồng đẳng" mà Goldman sử dụng cũng có từ Lukacs. Cả hai người đều đặt điều kiện trực tiếp về sự tương ứng hình thức giữa tác phẩm văn học và hiện thực xã hội. Nhưng ở Goldman, thay cho phản ánh là quá trình biểu hiện nằm ở trung tâm. Lukacs nghiên cứu việc một tác phẩm văn học có phản ánh (hay không phản ánh) cái tổng thể biện chứng của hiện thực và tư duy, còn Goldman thì nghiên cứu những mối quan hệ có thể cảm nhận được giữa tác phẩm và nhóm xã hội của tác giả. Phương pháp tiếp cận của Goldman mang tính xã hội học hơn của Lukacs, vì Goldman trước hết nghiên cứu từng nhóm xã hội, không phải toàn bộ xã hội. Ông quan niệm về giai cấp xã hội có phần hẹp hơn và cụ thể hơn Lukacs. Mô hình sinh thành của Goldman cũng khác với mô hình sản xuất của P.Macherey(6), nhà lí luận văn học mác xít người Pháp, trên những điểm cơ bản. Ở Goldman sự thể hiện là trung tâm chứ không phải là sự sản xuất. Và những cái nhìn thế giới là những biểu hiện của các giai cấp xã hội, các tác phẩm văn học lớn đều gắn liền với những cái nhìn thế giới. Những cái nhìn thế giới là những hình thức tư tưởng tổng quan mà nhờ sự liên kết chúng có thể tạo ra hình thức tư tưởng trong văn học. Còn Macherey thì cho rằng bản thân tư tưởng tự nó hoàn toàn thỏa mãn trong đời sống thực tiễn nhưng lại không đủ khi được xây dựng trong một văn bản văn học, nơi luôn có những khoảng trống cần được người đọc lấp đầy... Khi ở châu Âu, trong đời sống mĩ học và lí luận văn học mác xít đang đặt ra những vấn đề liên quan đến chủ nghĩa hiện thực thì ở Việt Nam xa xôi đã xuất hiện Hải Triều, một chiến sĩ cách mạng đầy nhiệt huyết trong việc truyền bá chủ nghĩa Marx, đấu tranh cho một nền văn nghệ cách mạng. Qua các cuộc tranh luận về Duy tâm hay duy vật và Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh diễn ra trong những năm ba mươi của thế kỷ, Hải Triều đã có những đóng góp kịp thời và thiết thực cho sự nghiệp của Đảng trên lĩnh vực văn nghệ. Những quan điểm của Hải Triều về văn học nghệ thuật thể hiện chủ yếu trong các bài viết tranh luận với Phan Khôi, Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều, Thiếu Sơn... Trên lĩnh vực triết học, cuốn Chủ nghĩa Macxít phổ thông của Hải Triều xuất bản năm 1938 là một đóng góp có ý nghĩa trong bối cảnh chính trị và đời sống học thuật của đất nước lúc đó. Nếu các nhà lí luận văn học mác xít ở các nước châu Âu trước khi đến với mĩ học và lí luận văn học, họ được thừa hưởng những di sản triết học và mĩ học đồ sộ thì ở Việt Nam, các nhà lí luận văn học trước hết là những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, văn nghệ, lấy việc truyền bá quan điểm văn nghệ của Đảng làm mục đích. Đây là một đặc điểm không nên bỏ qua khi nghiên cứu sự phát triển của nền lí luận văn học mác xít ở Việt và các nước có hoàn cảnh tương tự. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của cách mạng, Hải Triều đã nhìn nhận vai trò của văn học nghệ thuật trong đời sống xã hội theo tinh thần của Plêkhanốp. Ông viết: "Một công trình văn nghệ hay mĩ thuật càng diễn đạt được rõ ràng cái tính cách xã hội thì lại càng có giá trị. Nói một cách khác, nếu một tác phẩm mà có thể biểu hiện được cái tình cảm tư tưởng phổ biến của số đông người trong một thời đại (cái số đông người đã biết thưởng thức nghệ thuật) thì cái công trình đó sẽ được hoan nghênh"(7). Điều đáng nói ở đây là Hải Triều đã không đơn giản hóa những quan điểm của Plêkhanốp đến mức chỉ xem tác phẩm nghệ thuật là sự diễn dịch đời sống kinh tế, xã hội ra ngôn ngữ hình tượng nghệ thuật như trường phái xã hội học ở Nga đã làm những năm sau Cách mạng tháng Mười. Ông viết: "Cái giá trị của nghệ thuật trong xã hội này chỉ tương đối và hữu hạn thôi. Vì tác phẩm với giai cấp này, thời đại này, xứ sở này thì dù cho là có giá trị, mà đối với giai cấp khác, thời đại khác, xứ sở khác thì chả ra gì (8). Quan điểm này làm chúng ta nhớ lại quan điểm xem văn nghệ luôn phát triển theo đời sống xã hội, theo lịch sử tiến hóa mà Plêkhanốp đã từng nói khi ông phân tích những điểm chưa đúng ở cả hai phái "Nghệ thuật vị nghệ thuật" và "Nghệ thuật vị nhân sinh" thời đó. Như vậy, đến đây chúng ta có thể kết luận rằng cùng với những tương đồng và khác biệt trong các quan điểm của các nhà lí luận văn học mác xít về một số vấn đề lí luận văn học, đã làm nên sự đa dạng của một hệ thống lí luận, là sự tiếp nối và phát triển của những quan điểm thống nhất trên cơ sở một học thuyết về chính trị, kinh tế, xã hội xuất hiện từ thế kỷ XIX ở châu Âu. Và đây chính là điều mà tư duy lí luận văn học mác xít hiện đại của thế kỉ mới không thể bỏ qua trong quá trình đổi mới để có thể tiếp tục phát triển. Trong một bài viết gần đây (9) chúng tôi đã có dịp nói về vai trò độc lập của lí luận văn học hiện đại trong hệ thống các khoa học văn học. Tính chất độc lập của lí luận văn học hiện đại chỉ có được nếu lí luận văn học hiện đại trong khi phát triển đồng hành với các khoa học văn học vẫn giữ được tính chất siêu khoa học của nó, không để bị chi phối bởi bất kỳ hệ thống những qui ước thực dụng nào khác, phi Ií luận. Chúng tôi cũng đã nói đến nguy cơ lí luận văn học sẽ bị mờ nhạt trước các khoa học văn học khác nếu nó không khoanh vùng được đối tượng nghiên cứu với những vấn đề riêng, không lí giải và soi sáng được những vấn đề đó trên bình diện lí luận. Điều quan trọng để lí luận văn học phát triển độc lập là ngoài phương pháp nghiên cứu mới, lí luận văn học cần phải xác lập được bản chất tự nhiên của đối tượng nghiên cứu. Sự phát triển của hệ thống lí luận văn học mác xít từ sau Cách mạng tháng Mười cho thấy ở đâu lí luận văn học xác lập được bản chất tự nhiên đặc trưng của đối tượng nghiên cứu thì ở đó lí luận văn học khẳng định được vai trò độc lập của nó trong quan hệ với lịch sử và phê bình văn học. Ở phương Tây hiện nay, vấn đề này hầu như không cần phải đặt ra vì nghiên cứu lịch sử văn học và phê bình văn học ở phương Tây đã có sau lưng cả một truyền thống triết học và mĩ học, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học không còn phải đối diện với tình trạng "suy lí luận", hoặc tình trạng "khó xử" trong việc lựa chọn đối tượng và phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học. Một khi ý thức văn học đã phân biệt được đối tượng và cấp độ nghiên cứu của lý luận, nghiên cứu, phê bình văn học thì không cần phải đặt ra yêu cầu riêng cho mỗi ngành trong việc khẳng định vị thế độc lập của nó. Lí luận văn học mác xít thường lẩy ra những vấn đề cấp thiết nhất có khả năng hướng văn học phục vụ kịp thời những mục đích xã hội. Như vậy nhu cầu đáp ứng kịp thời những mục đích thực tiễn đã qui định đối tượng nghiên cứu của lí luận văn học, làm cho lí luận văn học phải từ bỏ bản chất đặc trưng, trở nên "năng động", xông xáo" như phê bình văn học để "nhanh chóng trả lời" những vấn đề bức xúc của đời sống văn học!. Chính từ đây lí luận văn học đã đánh mất cái bản chất tự nhiên đặc trưng của đối tượng nghiên cứu, tự xóa đi cái ranh giới rất cần thiết khu biệt lĩnh vực tư duy trừu tượng với các lĩnh vực tư duy cụ thể khác. Trong thực tế, việc không phân định rõ ranh giới giữa lí luận và phê bình văn học chẳng những không mang lại hiệu quả khoa học cao mà còn có ảnh hưởng xấu đến lợi ích của khoa học văn học. Trước hết nó làm cho khoa học văn học không phát triển một cách bình thường vì đối tượng của lịch sử văn học và phê bình văn học cũng bị lí luận văn học xâm phạm, trong khi lẽ ra lí luận văn học với đối tượng và mục đích riêng, phải là chỗ dựa cho nghiên cứu và phê bình văn học. Chúng ta biết rằng đặc trưng của mọi công việc nghiên cứu khoa học là sự triển khai, phân tích và tổng hợp đối tượng nghiên cứu. Muốn thực hiện được điều đó, mọi ngành khoa học đều phải tiếp cận đối tượng trên hai bình diện là kinh nghiệm và lí luận. Chính các mối quan hệ giữa cụ thể và trừu tượng, riêng và chung sẽ bổ sung những điểm nhìn từ các phía khác nhau, đến một đối tượng chung nhất có tên gọi là văn học. Điều đó nói lên sự gắn bó, liên kết giữa lí luận văn học và nghiên cứu, phê bình văn học. Nhưng nếu hiểu sự gắn bó đó như là sự hòa trộn của ba ngành nghiên cứu này thì thật là sai lầm về nhận thức khoa học. Ở Việt không biết từ bao giờ cụm từ lí luận-phê bình luôn đi với nhau. Và đương nhiên nhà phê bình cũng đồng thời là nhà lí luận, và nhà lí luận cũng phải là... nhà phê bình. Khi nói đến tình trạng yếu kém của nghiên cứu lí luận văn học người ta cũng nghĩ luôn sự yếu kém đó là của phê binh văn học và ngược lại. Do đó không một ngành khoa học nào tự ý thức rõ về sự yếu kém của mình. Lâu dần trong đời sống văn học ở nước ta xuất hiện hai đặc điểm: một là người ta thậm chí không muốn chấp nhận những người làm lí luận thuần túy, cho đó là kinh viện, trừu tượng, xa rời đời sống văn học; làm cho không ít những nhà lí luận tự rời bỏ "lãnh địa" của mình, tham gia phê bình văn học để nhanh chóng được "đóng góp" cho sự nghiệp văn học nước nhà! (Không phải ngẫu nhiên mà G.Lukacs, nhà mĩ học và lí luận văn học mác xít lớn nhất thế kỉ XX, sau năm 1945 cũng đã bị phê phán là coi thường văn học dân tộc vì không trực tiếp tham gia vào đời sống nghiên cứu, phê bình văn học Hungary). Hai là các nhà phê bình ít quan tâm đến lí luận văn học, nhất là những thành tựu mới của lí luận văn học trên thế giới. Tình hình trên dẫn đến tình trạng nhiều vấn đề cơ bản của mĩ học và lí luận văn học không được nghiên cứu từ gốc một cách triệt để nên bất kì ai, bất kì lúc nào cũng có thể lẩy ra một vấn đề nào đó không có gì là mới mẻ nhưng cũng đủ làm "bùng nổ" những cuộc tranh luận kéo dài mà không rõ chân lí cuối cùng thuộc về ai. Người ta tranh luận ríu rít ở trên ngọn của vấn đề, nhưng cái gốc của nó bị bỏ qua. Do không có được cái bản sắc riêng của đối tượng, lí luận văn học ở Việt không thoát khỏi thế nhập nhằng trong quan hệ với phê bình văn học. Với tình trạng đó lí luận văn học chẳng những không thể làm chỗ dựa cho nghiện cứu, phê bình văn học, mà bản thân nó cũng tự triệt tiêu dần theo thời gian. Rốt cục người ta chỉ còn thấy những bài viết mang tính chất tổng kết hoặc phát biểu ý kiến về tình hình văn học hơn là các bài nghiên cứu lí luận văn học được xây dựng bằng các luận điểm lí luận có hệ thống. So với trình độ phát triển của lí luận văn học hiện đại của một số nước trên thế giới mấy chục năm qua, chúng ta mới chỉ có được những thành tựu nhất định. Tính từ Văn học khái luận (1944) của Đặng Thai Mai, sự vận động của tư duy lí luận văn học hiện đại ở Việt luôn cho thấy những nỗ lực tiếp nhận cái mới và hội nhập với bên ngoài. Tuy nhiên, những nỗ lực đó xuất hiện không đều và không phải lúc nào cũng tạo ra được những cú hích thật sự, có thể tạo nên trường phái học thuật. Điều đó có nhiều nguyên nhân mà theo chúng tôi, một trong những nguyên nhân có ở trong quan niệm của chúng ta về đối tượng nghiên cứu của lí luận văn học. Có được quan niệm đúng về bản sắc của đối tượng thì lí luận văn học mới có thể khẳng định được vị thế độc lập của nó bên trong hệ thống các khoa học văn học, từ đó mới có quan niệm đúng về tính ứng dụng của lí luận văn học trong khoa học văn học nói chung và trong đời sống văn học nói riêng. Một đặc điểm nữa rất dễ nhận thấy trong hệ thống lí luận văn học mác xít là sự mờ nhạt của mô hình ngôn ngữ. G. Lukacs chỉ thấy ở ngôn ngữ cái công cụ của một nguyên tắc hình thức cao nhất mà thôi, ông không xem ngôn ngữ là thực thể của tác phẩm. Nghiên cứu các công trình của L.Goldman, chúng ta thấy nhà lí luận này cũng không xem cấu trúc ý thức là cấu trúc ngôn ngữ, và ngôn ngữ cũng không có vai trò gì riêng biệt. Trong tác phẩm Chúa trời ẩn náu, ông cho rằng ngôn ngữ chỉ thể hiện và thông báo những nội dung đặc trưng nhất định, những nội dung này chính là những cái nhìn thế giới. Quan điểm này khác với quan điểm cấu trúc xem bản thân nghĩa là sản phẩm của ngôn ngữ. Theo Goldman ngôn ngữ và cả văn học, đều là công cụ thể hiện một hiện thực đang tồn tại. Chính hiện thực đã mang lại hình thức trước cho tác phẩm văn học trong cái nhìn thế giới và trong cấu trúc của cái nhìn thế giới, theo tinh thần của chủ nghĩa cấu trúc sinh thành. Để mô hình ngôn ngữ có được vai trò mới trong lí luận văn học mác xít, cần phải có quan niệm mới về vai trò của ngôn ngữ trong quá trình xã hội. Ở giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa hình thức Nga, trong những năm hai mươi, xuất hiện một nhóm các nhà khoa học Xô viết chịu ảnh hưởng của các nhà hình thức Nga và chủ nghĩa Marx. Đó là các tên tuổi M. Bakhtin, P. Medvegyev, và V. Volosinov. Các nhà lí luận này đã đưa ngôn ngữ vào trung tâm nghiên cứu vì theo họ ngôn ngữ không thể tách rời đời sống xã hội. V. Volosinov viết Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ khi các nhà ngôn ngữ học duy tâm xem ngôn ngữ là hoạt động cá thể. Bakhtin cùng các đồng nghiệp của ông đã nghiên cứu ngôn ngữ trong các tình huống xã hội và nhận thấy rằng lời nói luôn có tính đối thoại: "Đối thoại là bản chất của ý thức, bản chất của cuộc sống con người... Sống tức là tham gia đối thoại: hỏi, nghe, trả lời, đồng ý v.v... Con người ra đi khi đã nói lời của mình, nhưng bản thân lời nói ấy còn lại mãi mãi trong cuộc đối thoại không bao giờ kết thúc"(10). Theo Bakhtin việc phổ cập tính hội thoại và phiếm thoại làm nên sự thống nhất của ngôn ngữ chứ không phải là lời nói cá thể hay các yếu tố sáng tạo của câu. (Chúng ta nhớ lại những quan điểm của M. Heideger về ngôn ngữ khi ông cho rằng ngôn ngữ là ngôi nhà của hữu thể và mỗi thông điệp của người nói phát ra đều đòi hỏi ở người nhận nó những nỗ lực lớn để hiểu (11). Như vậy thông điệp của lời nói còn phụ thuộc vào người đối thoại chứ không chỉ phụ thuộc vào người nói. Quan điểm của Bakhtin về tính đối thoại nội tại của lời nói không chỉ soi sáng những đặc điểm của ngôn ngữ tiểu thuyết mà còn giúp chúng ta có cái nhìn khoa học hơn về tác phẩm văn học nói chung. Cơ sở lí luận văn học của trường phái Bakhtin có ba hướng vận dụng: lí luận tác phẩm văn học; phân tích phiếm thoại; lí luận sáng tác. Hướng thứ ba này có ý nghĩa nhất đối với lí luận văn học mácxít. Có thể nói cách tiếp cận của Bakhtin đối với tác phẩm văn học không giống với những mô hình lí luận văn học mácxít khác. Bakhtin không xem văn học là sự nhận thức thực tại, mà chỉ là việc sử dụng ngôn ngữ trong thực tế. Điều này phân biệt mô hình lí luận của Bakhtin với mô hình của Lukacs và Adorno, những người luôn khẳng định tác phẩm văn học mang lại sự nhận thức thế giới hiện thực. Và việc sử dụng ngôn ngữ là hoàn toàn khác so với sự biểu hiện của các tư tưởng thông qua môi trường ngôn ngữ. Các quan điểm của Bakhtin khác xa so với quan điểm của P.Macherey, người cũng đã ít nhiều nhận ra vai trò của ngôn ngữ. Macherey trước hết nghiên cứu xem bằng cách nào mà văn học tạo ra được cái gì đó nằm ngoài văn học. Điều ông quan tâm là phải chỉ ra được sự khác biệt giữa tư tưởng xuất hiện trong một tác phẩm và sự thực hiện nó trong văn bản. Trường phái Bakhtin không muốn thừa nhận văn học là sự phản ánh trực tiếp hiện thực, cũng như vai trò quan trọng của tư tưởng trong văn học. Bakhtin cũng không xem văn học là hình thức hiểu biết hay thể hiện mà chỉ là phương thức hoạt động mà thôi. Mặc dù các nhà lí luận của trường phái Bakhtin không xuất phát từ quan điểm ngôn ngữ của Saussure nhưng trong cách tiếp cận của họ chúng ta thấy có nhiều yếu tố hoà đồng với quan điểm cấu trúc. Ơ Việt Nam lí luận văn học vẫn chưa vận dụng hết những thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại, mặc dù trong một số bài nghiên cứu kí hiệu học, lý thuyết thông tin, thi pháp học... các tác giả đã chú ý đến ngôn ngữ học. Những thành tựu của trường phái Bakhtin hay sau này của Julia Kristéva không được thừa nhận ngay là do quan niệm về sự khác biệt giữa thế giới kí hiệu và thế giới vật chất, về cấu trúc xã hội v.v... Tuy nhiên, việc vận dụng mô hình ngôn ngữ một cách hệ thống sẽ mang lại nhiều kết quả, chúng ta có thể đưa ngôn ngữ làm xuất phát điểm của việc nghiên cứu xã hội học văn học với phạm vi rộng hơn, hay ở các lĩnh vực nghiên cứu khác như ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ tiểu thuyết v.v... Nghiên cứu lí luận văn học không thể tách rời những thành tựu của triết học và mĩ học, đó là điều người ta đã nói đến nhiều, nhưng cần phải nhấn mạnh thêm rằng lí luận văn học hiện đại chỉ có thể phát triển tương xứng với những đòi hỏi mới nếu nó cũng biết dựa vào những thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại. Hà Nội, 2001 T.Đ.D - (1) Plêkhanốp; Nghệ thuật và đời sống xã hội, Nxb.Văn hoá nghệ thuật, Hà Nội, 1963, tr.283-284. (2) G.Lukacs Nghệ thuật và chân lí khách quan, <strong>Trương Đăng Dung</strong> dịch, <strong>Tạp chí Văn học</strong> nước ngoài, số 6-1999, tr.127. (3) Xem: <strong>Trương Đăng Dung</strong>: Về đặc trưng của phản ảnh nghệ thuật trong mĩ học C.Caudwell và G.Lukacs, trong Văn học và hiện thực, Nxb.KHXH, 1990. (4) C.Caudwell: Ảo ảnh và hiện thực, <strong>Trương Đăng Dung</strong> dịch, <strong>Tạp chí Văn học</strong> nước ngoài, số 5-2000, tr.180. (5) Chúng tôi nghiên cứu tác phẩm này qua bản dịch tiếng Hung của Pôdôr László. Nxb. Gondolat, Budapest 1977. (6) Xem: <strong>Trương Đăng Dung</strong>: Hai mô hình lí luận trên một vấn đề. Trong sách Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học. Nxb.KHXH, Hà Nội, 2001. (7) (8) Hải Triều: Toàn tập, Nxb.Văn học, Hà nội, 1996, Tập I, tr.315. (9) Xin xem <strong>Trương Đăng Dung</strong>: Hai mô hình lí luận trên một vấn đề, trong sách "Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học", Nxb.KHXH, Hà Nội, 2001. (10) Dẫn theo Phạm Vĩnh Cư trong sách M.Bakhtin Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường Viết văn Nguyễn Du, 1992, tr.12. (11) Xem Martin Heideger: Trên đường đến với ngôn ngữ <strong>Trương Đăng Dung</strong> dịch. Tạp chí VHNN, số 1-1999.</p><ul> <li> Tưởng niệm Trịnh Công Sơn - 2011-04-01 - 07:00:00 </li> <li> Lê Đình Kỵ trong lý luận - phê bình văn học - 2008-09-13 - 11:45:20 </li> <li> Sinh viên Khoa Văn học và Ngôn ngữ đạt giải nhất ... - 2008-09-17 - 10:46:00 </li> <li> Giới thiệu Khoa - 2012-04-07 - 07:00:00 </li> <li> Bộ môn Văn học Việt Nam - 2008-12-28 - 02:54:30 </li> <li> Bộ môn Lý luận và Phê bình văn học - 2008-12-28 - 02:54:57 </li> <li> Bộ môn Văn học nước ngoài và Văn học so sánh - 2008-12-28 - 02:55:44 </li> <li> Bộ môn Nghệ thuật học - 2008-12-28 - 02:56:18 </li> <li> Bộ môn Hán Nôm - 2008-12-28 - 02:56:32 </li> <li> Về một người bạn đã đi xa - 2009-01-16 - 08:42:39 </li> <li> Thời trung đại trong văn học các nước khu vực ... - 2009-01-16 - 09:01:49 </li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 04 Jul 2026 15:28:30 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                                    <media:keywords></media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[10+ Nghị luận về bài thơ Sang thu (điểm cao)]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/viet-bai-van-sang-thu-a110274.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/viet-bai-van-sang-thu-a110274.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/viet-bai-van-sang-thu-a110274.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Nghị luận về bài thơ Sang thu điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.</p> <h2>10+ Nghị luận về bài thơ Sang thu (điểm cao)</h2> <h3><strong>Dàn ý Nghị luận về bài thơ Sang thu</strong></h3> <p>1. Mở bài</p> <p>Giới thiệu tác giả Hữu Thỉnh và bài thơ Sang thu.</p> <p>Lưu ý: Học sinh tự lựa chọn cách viết mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân mình.</p> <p>2. Thân bài</p> <p>a. Khổ thơ đầu</p> <p>Bỗng: chợt giật mình, không có sự chuẩn bị từ trước, cảm giác sững sờ, ngạc nhiên.</p> <p>Hương ổi: đặc trưng của mùa thu, báo hiệu mùa thu đã về.</p> <p>Phả: động từ chỉ hành động mạnh mẽ.</p> <p>Chùng chình: tính từ, tạo cảm giác chậm chạp, lững thững.</p> <p>Bức tranh mùa thu được tác giả Hữu Thỉnh khắc họa qua hình ảnh, cách nhìn, cảm nhận và cả tận hưởng: hương ổi, gió, sương,… đây là sự kết hợp của nhiều giác quan khác nhau mang qua bốn câu thơ ngắn ngủi nhưng cũng đủ làm cho bạn đọc hình dung ra những đặc trưng của mùa thu và bức tranh mùa thu nơi quê nhà thanh bình như được hiện ra rõ nét hơn, đẹp đẽ hơn.</p> <p>b. Khổ thơ thứ hai</p> <p>Dòng sông: không còn mang dòng chảy vội vã, hối hả mà giờ đây đi chậm lại để cảm nhận, tận hưởng vẻ đẹp yên bình của mùa thu.</p> <p>Đàn chim: trong mùa thu tươi đẹp này, hình ảnh đàn chim nang nét đối lập với dòng sông. Nếu dòng sông lững thững, dềnh dàng để cảm nhận thời tiết mát mẻ, dịu dàng thì đàn chim lại vội vã, hối hả đi tìm thức ăn và sửa soạn lại tổ ấm của mình để đón chờ mùa đông khắc nghiệt sắp đến.</p> <p>Đám mây: không còn mang màu xanh biếc của mùa hè oi bức, mây như trở nên dịu dàng hơn, hiền hòa hơn và uốn mình thành một đường cong mềm mại để chuyển dần sang mùa thu.</p> <p>Động từ “vắt” thể hiện sư nghịch ngợm, dí dỏm của đám mây đồng thời làm cho đám mây như có hồn hơn, hình ảnh chuyển đổi như mềm mại hơn, thú vị hơn. Đám mây mới chỉ “nửa mình sang thu” vì vẫn còn lưu luyến mùa hè rộn rã.</p> <p>→ Bốn câu thơ đã khắc họa những biến chuyển tinh tế của cảnh vật từ mùa hè sang mùa thu. Mỗi cảnh vật lại có một đặc trưng riêng nhưng tất cả đã làm cho bức tranh mùa thu thêm thi vị hơn.</p> <p>c. Khổ thơ cuối</p> <p>Những dư âm của mùa hạ vẫn còn: đó là ánh nắng, là những cơn mưa, là tiếng sấm giòn. Tuy nhiên, tất cả đã trở nên dịu dàng hơn, hiền hòa hơn, không còn bất ngờ và gắt gỏng nữa.</p> <p>Hai câu thơ cuối: Hình tượng sấm thường xuất hiện bất ngờ đi liền với những cơn mưa rào chỉ có ở mùa hạ. Đó cũng là những vang động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời. “Hàng cây đứng tuổi” gợi tả những con người từng trải đã từng vượt qua những khó khăn, những thăng trầm của cuộc đời. Qua đó, con người càng trở nên vững vàng hơn.</p> <p>3. Kết bài</p> <p>Khái quát lại nội dung, nghệ thuật của bài thơ đồng thời nêu cảm nghĩ về giá trị của tác phẩm.</p> <h3><strong>Nghị luận về bài thơ Sang thu - mẫu 1</strong></h3> <p> Thu về mang bao mật ngọt cho đời, thu khiến đất trời chao đảo mông lung trong những hoài niệm đong đầy và trong cả những cảm xúc chẳng thể gọi thành tên. Mùa thu luôn là đề tài khiến các thi nhân phải động lòng yêu thương. Bài thơ Sang Thu được sáng tác năm 1977 của Hữu Thỉnh đã lột tả trọn vẹn cái chất thu trầm ngâm, sâu lắng cùng sự chuyển đổi mượt mà của đất trời và của lòng người.</p> <p>Thu se lạnh, man mác buồn gợi ra bao suy tư. Bài thơ Sang Thu được sáng tác năm 1977 của Hữu Thỉnh đã lột tả trọn vẹn cái chất thu trầm ngâm, sâu lắng cùng sự chuyển đổi mượt mà của đất trời và của lòng người. Sang thu” là bài thơ ngũ ngôn của, từng được nhiều người ưa thích.</p> <p>Dấu hiệu gợi báo mùa thu đến của Hữu Thỉnh không phải là con gió nồng nàn mùi hoa sữa, cũng không “Đây mùa thu tới, mùa thu tới / Với áo mơ phai dệt lá vàng” của Xuân Diệu. Mà là những hình ảnh vô cùng đơn sơ, mộc mạc của quê hương. Cái hương ổi chím đượm đã “phả”, bốc ra, tỏa ra mãnh mẽ vào cơn gió se. Mùa thu vốn là mùa của trái ngọt, hoa thơm và giữa muôn ngàn sắc hương, Hữu Thỉnh vẫn nhận ra trong gió hương thơm giản dị của từng quả ổi xanh, giòn rụm, phải yêu lắm xứ sở, làng quê, yêu lắm cái nơi mình đã “chôn rau cắt rốn” thì ông mới có thể nhận ra chuyển biến dù là rất nhỏ của cảnh sắc quê hương và đối đãi với nó bằng tất cả tình thương yêu, trân trọng. Hương ổi của làng quê đồng bằng Bắc bộ, mùi hương thấm đẫm bao kỷ niệm tuổi ấu thơ cùng tình yêu quê hương đã hòa quyện trong cốt cách, tâm hồn của người thi sĩ ấy. Và khi tác giả trông thấy từng làn sương trắng mờ ảo đi ngang qua ngõ mà có vẻ chậm chạp như đôi phần luyến tiếc, ông đã phải thốt lên :”Hình như thu đã về”.</p> <p>Từ “xúc giác” để cảm nhận cơn gió nhẹ , thoáng hơi sương thổi lướt qua da thịt, đến “khứu giác” để nhận ra mùi ổi chín thơm lừng, nồng đượm yêu thương và rồi Hữu Thỉnh đã dùng đến thị giác của mình, đôi mắt ông trìu mến quan sát dòng sông, đàn chim sải cách và thậm chí là mây, cả một vùng trời, một khung cảnh bao la của sắc thu dịu dàng, quyến rũ như được thu gọn trong tầm mắt ông. Mỗi nhà thơ đều mang vào trong tác phẩm của mình cũng câu từ rất riêng, khó lẫn vào đau được, và ở Hữu Thỉnh, cái chất riêng biệt đó chính là “đám mây mùa hạ vắt nửa mình sang thu”.. Dường như mùa hạ vẫn còn bâng khuâng luyến tiếc thì thu đã đến tự bao giờ, sự chuyển mình của bốn mùa, trời đất được tác giả phát hiện và miêu tả vô cùng ấn tượng, từ “vắt” khiến người đọc lien tưởng mây như kéo dài ra, vắt lên, đặt ngang trên bầu trời, buông thõng xuống. Câu thơ tả đám mây mùa thu của Hữu Thỉnh khá hay và cách chọn từ và dùng từ rất sáng tạo. Quả là một hình ảnh bất ngờ, độc đáo nhưng cũng không kém phần sâu lắng - “một nửa” của đám mây vẫn còn luyến tiếc mùa hạ, là một nửa ký ức, quá khứ đã ngủ yên, và “một nửa” còn lại đang dần chuyển sang mùa thu, sẵn sàng chào đón những biến chuyển mới mẻ của đất trời, cuộc sống.</p> <p>Vẫn còn bao nhiêu nắng,</p> <p>Đã vơ dần cơn mưa</p> <p>Sấm cũng bớt bất ngờ</p> <p>Trên hàng cây đứng tuổi.</p> <p>Ấn tượng về cái ào ạt, mạnh mẽ của những cơn mưa mùa hạ vẫn còn đó, nhưng nỗi bâng khuâng, xao xuyến trước vẻ dịu dàng, êm mát của mùa thu đã len nhẹ vào tâm hồn từ lúc nào. Nắng cuối hạ đã bớt nồng nàn, rực rỡ và những cơn mưa xối xả cũng đã thưa dần. Từ hiện tượng thiên nhiên ấy mà nhà thơ suy ngẫm về cuộc đời. ở hai câu thơ cuối: “ Sấm… hàng cây đứng tuổi”. Nhìn chuyển biến của sự vật khi sang thu mà Hữu Thỉnh nhận ra rằng mình đã đứng tuổi. Có lẽ “mùa thu” của đời người là sự khép lại của những năm tháng tuổi trẻ đầy sôi nổi, tràn trề nhiệt huyết để mở ra một giai đoạn mới, một mùa mới trong tâm hồn con người với những gì nhẹ nhàng, tĩnh lặng và trầm lắng hơn.</p> <p>Hai câu thơ cuối mang 2 tầng ý nghĩa, tầng ý nghĩa thứ nhất là tả thực hiện tượng thiên nhiên - lúc sang thu, tiếng sấm dữ dội và những cơn mưa giông cũng bớt đi, hàng cây không còn bị rung giật vì những tiếng sấm bất ngờ nữa; còn tầng ý nghĩa thứ 2, “sấm” tượng trưng cho những phong ba, bão táp, biến động của cuộc đời, còn “hàng cây đứng tuổi” là ẩn dụ của lớp người đã từng trải, được tôi luyện qua nhiều gian khổ khó khăn. Phải chăng con người càng sống lâu, càng chiêm nghiệm được nhiều điều thì biến cố, thay đổi của cuộc đời cũng không còn là gì đáng ngại?</p> <p>12 câu thơ, câu nào cũng đẹp, cũng hay Hữu Thỉnh đã thể hiện cảm xúc, trạng thái rất thành công bằng những từ ngữ: “bỗng”,” phả”, “hình như”, “dềnh dàng”, “vội vã”, “vắt”,… khiến cho bài thơ của ông sống động, ngập tràn sự sống cùng bao cảm xúc ngượng ngùng, bâng khuâng khi thu tới.</p> <h3><strong>Nghị luận về bài thơ Sang thu - mẫu 2</strong></h3> <p>Nhà thơ Hữu Thỉnh (1942), tên thật là Nguyễn Hữu Thỉnh, là một nhà thơ nổi tiếng của nhà thơ Việt Nam. Ông là hội viên hội nhà văn Việt Nam và là Chủ tịch hội Nhà văn Việt Nam, kiêm nhiệm tổng biên tập báo Văn Nghệ. Ông có rất nhiều tác phẩm tiêu biểu như Âm vang chiến hào, Đường tới thành phố, Thư mùa đông… Trong đó, bài thơ Sang Thu đem đến cho chúng ta một sự bất ngờ, một ấn tượng sâu sắc về tác giả khi ông làm toát lên được hồn của mùa thu êm đềm, mênh mang.</p> <p>Sang thu được tác giả viết theo thể ngũ ngôn, gồm ba khổ thơ, mỗi câu thơ đều diễn tả một nét thu êm đềm, hình ảnh của mùa thu trong buổi đầu thu, thu mới về, thu chợt đến. Bài thơ là bút pháp nghệ thuật tinh tế, tài hoa của tác giả khi thể hiện cảnh sắc mùa thu ở đồng quê miền Bắc. Và mùa thu được cảm nhận qua “hương ổi” được phả vào làn gió thu se lạnh, một mùi hương nồng nàn, khó quên:</p> <p>Bỗng nhận ra hương ổi</p> <p>Phả vào trong gió dịu.</p> <p>Ở đây, nhà thơ không tả mà chỉ gợi cho người đọc liên tưởng về những trái ổi vàng ươm, thơm lừng tỏa ra từ những vườn ổi quê vào những ngày giao mùa cuối hạ, đầu thu. Gió thu nhè nhẹ, se lạnh, đưa hương ổi nồng nàn phả vào không gian. Hương ổi trong thơ Hữu Thỉnh thật dân dã và gần gũi.</p> <p>Sau hương ổi và gió thu se, tác giả miêu tả đến sương thu. Những giọt sương chứa đầy tâm trạng chùng chình, như cố ý để kéo dài thêm thời gian:</p> <p>Sương chùng chình qua ngõ</p> <p>Hình như thu đã về.</p> <p>Tác giả sử dụng nghệ thuật nhân hóa. Hai chữ “chùng chình” diễn tả bước đi chầm chậm của mùa thu đang về. Từ ngữ “hình như” thể hiện sự phỏng đoán nét thu mơ hồ, như vừa chợt phát hiện và cảm nhận.</p> <p>Ở khổ thơ tiếp theo, không gian của bức tranh sang thu được mở rộng cả về chiều cao, độ rộng của bầu trời với cánh chim bay và đám mây trôi, ở chiều dài của dòng sông mênh mang:</p> <p>Sông được lúc dềnh dàng</p> <p>Chim bắt đầu vội vã</p> <p>Có đám mây mùa hạ</p> <p>Vắt nửa mình sang thu.</p> <p>Dòng sông mùa thu nước xanh trong vắt, nhẹ nhàng êm đềm trôi. Sông nước “dềnh dàng” như cố tình chậm chạp, thiếu khẩn trương. Thì những đàn chim lại bay vội vã, có lẽ chúng đang bay về phương Nam để tránh cái rét sắp tới. Trong cả đoạn thơ, dòng sông, những đàn chim hay đám mây đều được tác giả sử dụng nghệ thuật nhân hóa. Bức tranh thu trở nên thật hữu tình và thi vị.</p> <p>Có đám mây mùa hạ</p> <p>Vắt nửa mình sang thu.</p> <p>Nhà thơ không dùng những từ ngữ nào khác, mà lại dùng từ vắt để miêu tả về đám mây. Đám mây như được kéo dài ra, vắt lên đặt ngang với bầu trời rồi thả mình xuống mùa thu. Câu thơ này thật sự rất hay và độc đáo, sáng tạo.</p> <p>Đến khổ thơ cuối, những cảm nhận, suy ngẫm của tác giả về mùa thu được Hữu Thỉnh gửi gắm qua những câu thơ:</p> <p>Vẫn còn bao nhiêu nắng</p> <p>Đã vơi dần cơn mưa</p> <p>Sấm cũng bớt bất ngờ</p> <p>Trên hàng cây đứng tuổi.</p> <p>Những hiện tượng thiên nhiên của mùa thu vào thời điểm giao mùa như nắng, mưa, sấm được tác giả cảm nhận rất tinh tế. Những từ ngữ được dùng như vẫn còn, đã vơi dần, cũng bớt bất ngờ…gợi cho ta cảm nghĩ về thời lượng và sự hiện hữu của sự vật, của thiên nhiên, đó là nắng mùa thu, mưa mùa thu, và cả tiếng sấm ngày đầu thu. Thời điểm này, mùa hạ có lẽ vẫn còn muốn níu giữ lại chút gì đó, nên những nắng, mưa mùa hạ vẫn còn vương vấn đất trời.</p> <p>Từ cảnh vật và không gian này, tác giả bỗng có những suy ngẫm về cuộc đời. Sấm và hàng cây đứng tuổi chính là những biến động của thiên nhiên, và ở đây tác giả muốn nói đến những biến cố của cuộc đời. Hàng cây đứng tuổi chính là bản thân chúng ta, những ai đã từng trải, được rèn luyện qua thử thách, khó khăn nhưng vẫn đứng vững.</p> <p>Hai câu kết của bài thơ có lẽ tác giả dùng để khẳng định thêm về bản lĩnh, cùng những phẩm chất tốt đẹp của người dân Việt Nam ta trong thời kỳ đất nước đổi mới, còn nhiều khó khăn thử thách. Dù vậy nhưng mọi người vẫn đứng vững để cùng nhau vượt qua.</p> <p>Có thể nói, bằng những biện pháp nghệ thuật như nhân hóa và ẩn dụ, cùng những từ ngữ tinh tế, Hữu Thỉnh đã làm nên thành công của Sang thu. Bài thơ như tiếng lòng của tác giả gửi gắm đến bao người về mùa thu tươi đẹp, tương lai tương sáng của đất nước đang đợi chờ chúng ta ở phía trước.</p> <h3><strong>Nghị luận về bài thơ Sang thu - mẫu 3</strong></h3> <p>Về bước đi của thời gian, ta đã từng biết hai câu thơ tuyệt vời của Nguyễn Du: “Sen tàn, cúc lại nở hoa - Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân” (Truyện Kiều). Điệu thơ tuy uyển chuyển, nhưng mùa nọ mùa kia tiếp nối nhau bằng sự ngắt nhịp rõ ràng. Đó là dạng thức của bước đi thời gian trong thơ tự sự. Với thể loại trữ tình, sự chuyển động của thời gian không vận hành theo quy luật ấy. Giãi bày cái tôi chủ thể, ấn tượng về thời gian được khắc họa sâu hơn, ở tâm trạng và cả ở sự kết tinh, có khi chỉ trong một khoảnh khắc của phút giao mùa. Lại nữa, nói về bốn mùa xuân hạ thu đông, trong thơ Việt Nam nói riêng và thơ phương Đông nói chung không hẳn có sự bình quân, dàn trải. Có thể có những lí do để mùa thu được chú ý nhiều hơn. Vậy có gì khác nhau giữa những bài thơ viết về mùa thu ấy? Trước Hữu Thỉnh, hình như trong thơ, mùa thu đã sớm định hình, sự định hình trong trạng thái ổn định (như Nguyễn Khuyến, Nguyễn Du) hoặc có vận động cũng là sau một cái mốc tuy vô hình nhưng có một cái gì đó đã phân chia (như Xuân Diệu, Huy Cận). Còn đến Sang thu, cách lựa chọn khoảnh khắc thời gian đã khác. Chưa có một sự định hình, nó bắc cầu giữa cái không và cái có. Chính cái cảm giác mơ hồ và tinh tế này chuyên chở hồn thu theo cái cách của mùa thu. Nhạy cảm, nhẹ nhàng, mùa thu đến vừa lạ vừa quen, nó đánh thức nơi ta những gì da diết lắm.</p> <p>Nếu đặt tiêu đề cho khổ một bài thơ thì có thể gọi tên : bước chân của mùa thu đang ngập ngừng trước cửa.</p> <p>Bỗng nhận ra hương ổi</p> <p>Phả vào trong gió se</p> <p>Nó ngập ngừng “hương ổi” trong cơn gió đầu mùa (gió se). Cái ấm và cái lạnh giao nhau. Còn gì ấm áp nồng nàn bằng hương, hoa vườn tược, với trái ngọt mùa màng. Nó đánh thức tuổi thơ. Nó xôn xao hoài niệm. Đột ngột và trẻ trung, câu thơ mang hai tầng nghĩa : tầng thứ nhất là từ những gì nhận thấy (hướng ngoại), tầng thứ hai là những gì cảm thấy tự thân (hướng nội). Nhưng một thứ hương ổi hào phóng vô tư bỗng vì sao chững lại ở ngay câu sau đó “Phả vào trong gió se”? Vì mùa hạ đã lặn vào quả ngọt, đã dâng hiến hết mình.Cơn gió bây giờ chỉ còn xào xạc, hắt hiu. Nó se lạnh, hao gầy. Trạng thái phân đôi là tất yếu. Hai câu thơ như một thoáng chốc bâng khuâng. Sự bối rối tràn cả sang câu dưới, dù không còn “hương ổi”, “gió se” mà là:</p> <p>Sương chùng chình qua ngõ</p> <p>Thấp thoáng một vạt sương thu mờ ảo nhưng không phải thức ngủ chập chờn. Nó “chùng chình” nửa ở nửa đi, nghĩa là chính nó cũng phân tâm, vô định. “Sương” đang lưu luyến đợi chờ ai hay nuối tiếc một cái gì. Chính cái mơ hồ ấy có sức khám phá và gợi khơi một toạ độ thời gian không rõ nét : “Hình như thu đã về”. Thành công của khổ thơ không phải là tả cảnh, mà chính là sự rung rinh cảm nhận một cái gì như có như không mà chúng ta đã nói. Ay là những giờ phút đầu tiên của mùa thu chợt tới, nó chợt tới trong rất nhiều ngơ ngác, bâng khuâng. Cái hay trong cảm nhận ấy lại kết hợp một cách hồn nhiên với vẻ đẹp làng quê của ngàn năm cổ tích đầy ắp những hương ổi, hương cau, đường làng ngõ xóm,… thân mật đơn sơ.</p> <p>Hai khổ còn lại của bài thơ mới đúng là thơ tả cảnh. Nhưng “cảnh” trong thơ hiện đại không giống với thơ xưa. Cảnh không “tĩnh”, mà rất có hồn. Biện pháp đối lập ở đây cũng khác:</p> <p>Sông được lúc dềnh dàng</p> <p>Chim bắt đầu vội vã</p> <p>Chất hiện thực hiện ra thật rõ. Cái “dềnh dàng” của sông là sau lúc vượt ghềnh leo thác nhọc nhằn. Còn giờ đây là thời khắc thơ thới, nghỉ ngơi hiếm có. Tính chất “thân phận” rất đáng cảm thương của dòng sông đồng cảnh ngộ với cánh chim trời. Mùa thu chợt đến, nó phải gấp gáp làm tổ, tha mồi chuẩn bị cho mùa đông rét mướt. Hai tốc độ trái chiều nhau giữa chậm và nhanh là quy luật không đồng đều ở vào thời điểm giao thoa của muôn loài, muôn vật. Ở đây, ta nhận ra cái nhìn của nhà thơ không phải dửng dưng của một người ngoài cuộc. Phải gắn bó với cuộc đời, phải “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” cùng những buồn vui nhân thế đến đâu mới viết được những câu thơ không hời hợt ấy. Chỉ có điều : cả hai câu thơ là đặc trưng cho mùa thu ở vào cái lúc khởi đầu. Nó không phẳng lặng, trôi xuôi, êm đềm như cách nhìn trước đây của những bậc tao nhân mặc khách. Cái nhìn vừa đặc trưng vừa hiện đại ấy phải đến hai câu sau mới thật thần tình:</p> <p>Có đám mây mùa hạ</p> <p>Vắt nửa mình sang thu</p> <p>Mùa hạ, mùa thu là hai đầu bến và đám mây là nhịp cầu Ô Thước vắt qua. Nhịp cầu thật duyên dáng nối hai bờ thời gian bằng vẻ đẹp mềm mại, trữ tình. Tứ thơ này thật ra không hoàn toàn mới mẻ. Chẳng hạn trong thơ Nguyễn Khuyến: “Trước đèn nâng chén rốn ngồi - Một câu thơ vịnh kéo đôi năm liền” (Trừ tịch, Đỗ Ngọc Toại dịch). Nhưng ở đây, Hữu Thỉnh có một sáng tạo. Ông đã lấy không gian miêu tả thời gian. Câu thơ do vậy sống động hơn, hình ảnh hơn, cảm xúc thị giác nhiều hơn. Mà phần nổi của câu thơ vẫn có được phần chìm của nó, ấy là cái sắc độ kiều diễm trữ tình đầy ắp phù sa nội lực.</p> <p>Sự thống nhất như một mạch liền xuyên suốt nửa hạ, nửa thu tạo được tâm thế lửng lơ không chỉ ở khổ hai, mà còn khổ ba như một lời kết:</p> <p>Vẫn còn bao nhiêu nắng</p> <p>Đã vơi dần cơn mưa</p> <p>Sấm cũng bớt bất ngờ</p> <p>Trên hàng cây đứng tuổi.</p> <p>Những thi liệu như nắng, sấm, mưa là đặc trưng của mùa hạ. Nhưng với độ giảm dần để gay gắt chuyển hoá thành dịu êm, thì đó là dấu hiệu của mùa thu. Sự phân hoá giữa hai mùa có một đường ranh giới rất mong manh. Điều duy nhất có thể xác định ở đây là nhờ vào độ nhạy cảm khó lường của giác quan mách bảo. Vì làm sao có thể đong đếm đầy vơi những nhiều ít, mau thưa ? Khác cả với ca dao trong cách bấm đốt ngón tay “Một ông sao sáng, hai ông sáng sao…". Ở đây là một thứ ước lượng trong hồn, mà hồn thơ lại chỉ như mây bay, gió thổi. Nó nặng nhẹ không cữ, không chừng mà thiên nhiên nhiều khi chỉ là một cái cớ rất bâng quơ. Nhưng trong thơ, cái cớ bâng quơ ấy lại làm nên chuyện, ở bài thơ này, “hàng cây đứng tuổi” giống như một chứng nhân. Sự bất định đầy trải nghiệm ấy đang quan sát, lắng nghe. Nó cũng đang thấu hiểu những lặng lẽ, âm thầm, khách quan chuyển động những gì bên ngoài nó, đồng hành với dòng nhựa tự nó đang hút mật nuôi cây. Chỉ có điều, hoà điệu đấy mà vẫn cứ so le : hàng cây chớm già mà mùa thu rất trẻ. Hàng cây ấy là nhà thơ đã hoá thân vào đó chăng nên giọng thơ, lời thơ nhẹ nhàng mà tình thơ đầy ắp yêu thương, trìu mến? Bởi cuộc sống thật đẹp sao, đẹp ở tầm vĩ mô đã đành, mà còn đẹp ở những bước đi lặng lẽ thầm thì của nó. Trong những trường hợp ấy, thơ cần độ rộng, nhưng cũng rất cần độ sâu. Mà ở đây là sự thẳm sâu tinh tế của hồn người, một thứ dây tơ mà theo Xuân Diệu “Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu” (Chiều).</p> <p>Về nghệ thuật bài thơ, cùng với sự phát sáng bất ngờ từ bao nhiêu giác quan cảm nhận, Sang thu có một cốt cách riêng : vừa cổ điển, vừa hiện đại. Tính cổ điển của bài thơ là ở độ hàm súc, gợi khơi, ở thể thơ năm chữ vốn có từ lâu trong văn học phương Đông. Chỉ cần một thứ hương cây mùa vụ, một cơn gió se se khẽ chạm vào cây đàn mẫn cảm của hồn thơ là tự nó rung lên thành nhạc thành lời. Nhưng, một mặt kế thừa thơ ca truyền thống, một mặt thi phẩm đã mở rộng đề tài, thi liệu, đem đến chất hiện thực mới cho thơ. “Đi suốt cả ngày thu - vẫn chưa về tới ngõ - Dùng dằng hoa quan họ - Nở tím bên sông Thương” (Chiều sông Thương). Chất hiện thực trong thơ Hữu Thỉnh kết hợp làm một với chất trữ tình. Đằng sau cái cách kể tả của ông là nhịp đập của con tim lúc trầm tư, khi rộn rã. Và nhất là những ý tưởng triết luận bất ngờ với “hàng cây đứng tuổi” trước cuộc sống non tơ. Sự chắt lọc, hàm súc đến mức hồn hậu làm cho người đọc lúc đầu thì rất đỗi ngạc nhiên, còn sau đó là thán phục, đồng tình. Sang thu, trong một chừng mực nào đó đã đạt đến cái chân, cái ảo, những phẩm chất của thơ từ xưa vốn có.</p> <h3><strong>Nghị luận về bài thơ Sang thu - mẫu 4</strong></h3> <p>Hữu Thỉnh là thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ, thơ ông thường chứa đựng cảm xúc tha thiết, chân thành và rất giàu chất suy tư, triết lý. Sang thu cũng là một tác phẩm như vậy. Bài thơ được khơi nguồn cảm xúc từ khoảnh khắc giao mùa nhưng đằng sau đó còn là cảm xúc của tác giả về đời người lúc sang thu.</p> <p>Tính chất suy tư, triết lí trong thơ Hữu Thỉnh được thể hiện ngay từ nhan đề bài thơ. Sang thu không chỉ là khoảnh khắc giao mùa của đất trời khi hè đã qua và mùa thu đang cựa mình đi tới. Mà sang thu còn ẩn dụ về cuộc đời con người. Đây là thời điểm con người đã sang thu, đã trải qua biết bao sóng gió, bởi vậy cũng trở nên vững vàng hơn trước mọi cơn giông bão của cuộc đời.</p> <p>Bỗng nhận ra hương ổi</p> <p>Phả vào trong gió se</p> <p>Sương chùng chình qua ngõ</p> <p>Hình như thu đã về</p> <p>Tín hiệu đầu tiên mà tác giả cảm nhận được chính là hương ổi, một mùi hương thật dung dị, đậm chất thôn quê. Hương ổi thật chủ động, tự nhiên “phả vào trong gió se”. Với động từ “phả” tác giả đã miêu tả được hương thơm đậm đà như sánh lại, quyện lại và ùa vào gió se đầu thu. Sau sự cảm nhận về thính giác, tác giả tiếp tục cảm nhận mùa thu bằng thị giác với những đám sương chùng chình đi qua ngõ.</p> <p>Nghệ thuật nhân hóa cùng từ láy “chùng chình” đã làm cho làn sương trở nên sinh động, có hồn. Câu thơ như gợi ra trước mắt người đọc hình ảnh những hạt sương li ti, bé nhỏ, giăng mắc với nhau tạo thành màn sương mỏng nhẹ. Dáng đi của nó cũng thật chậm rãi, thong thả trước cửa ngưỡng mùa thu, như còn đang lưu luyến, bịn rịn với mùa hè.</p> <p>Trong giờ phút giao mùa ấy, lòng nhà thơ như đắm chìm vào không gian bàng bạc chất thu. Đó là cảm giác bất ngờ khi gặp tín hiệu thu về “bỗng” - là sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng, một niềm vui, một thoáng xúc động trước những khoảnh khắc thu thật thu, con người thoát khỏi bộn bề cuộc sống để hòa mình vào thiên nhiên.</p> <p>Và tiếp đến là những mong manh cảm xúc, một chút bối rối tự hỏi mình “hình như”. Tình thái từ thể hiện rõ sự bâng khuâng, xao xuyến trong lòng thi nhân khi nhận ra những tín hiệu mùa thu. Hữu Thỉnh quả là người có giác quan vô cùng nhạy cảm thì ông mới có những cảm nhận tinh tế đến vậy về phút giao mùa.</p> <p>Sang đến khổ thơ thứ hai, bức tranh mùa thu đã có những chuyển biến rõ ràng, đậm nét hơn. Từ không gian ngõ vườn nhỏ bé, Hữu Thỉnh vươn ngòi bút của mình đến không gian rộng lớn hơn, không gian bầu trời, sông nước. Dòng sông hiền hòa, thong thả chảy không còn cuồn cuộn, đỏ ngầu như những ngày nước lũ mùa hè.</p> <p>Đối lập với hình ảnh dòng sông là hình ảnh những cánh chim vội vã. Dường như những cơn gió se lạnh đã đâu đó len lỏi trong không gian bởi vậy những loài chim phải vội vã bay về phương nam tránh rét. Cách ông dùng từ cũng hết sức tinh tế: “bắt đầu”, chỉ mới là bắt đầu chứ chưa hẳn là vội vã bởi thu cũng chỉ mới chớm sang thôi. Mọi sự vật hiện tượng chuyển động thật thong thả, khẽ khàng bởi vậy chỉ có những tâm hồn tinh tế mới nhận thấy được.</p> <p>Hai câu thơ sau là một điểm nhấn, tạo nên sự độc đáo cho bức tranh mùa thu: “Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu”. Đây là trường liên tưởng hết sức mới mẻ, độc đáo, gợi ra khung cảnh một làn mây mỏng nhẹ, đang uyển chuyển cựa mình chuyển bước sang thu. Đồng thời cũng có thấy tâm trạng lưu luyến, bịn rịn của đám mây: nửa lưu luyến mùa hạ, nửa háo hức nghiêng mình hẳn sang thu.</p> <p>Ở đoạn này tác giả tỏ ra hết sức tài tình khi mượn cái hữu hình của đám mây để gợi ra cái vô hình của không gian, ranh giới giao mùa. Thể hiện trường liên tưởng thú vị này không chỉ là cảm nhận bằng thị giác mà còn được cảm nhận chính bằng tâm hồn tinh tế nhạy cảm và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của nhà thơ.</p> <p>Bức tranh mùa thu dường như được hoàn chỉnh, rõ nét hơn qua hai câu thơ tiếp theo: “Vẫn còn bao nhiêu nắng/ Đã vơi dần cơn mưa”. Mùa thu hiện ra rõ nét hơn qua sự thay đổi của các hiện tượng thiên nhiên: mưa, sấm - vốn là những dấu hiệu đặc trưng của mùa hạ, nay cũng “vơi dần”, “bớt bất ngờ”, mùa thu ngày một đậm nét hơn. Sau những cảm nhận ấy, lắng lại là những suy tư chiêm nghiệm của tác giả về con người về cuộc đời:</p> <p>Sấm cũng bớt bất ngờ</p> <p>Trên hàng cây đứng tuổi</p> <p>Câu thơ trước hết mang ý nghĩa tả thực: sang thu những cơn mưa lớn kèm sấm đã vơi dần, bớt dần, đồng thời trải qua một mùa hè đầy giông bão những hàng cây đã không còn giật mình bởi những tiếng sấm mùa hạ nữa. Nhưng bên cạnh đó, câu thơ còn mang ý nghĩa biểu tượng: “sấm” là những vang động, những biến cố mà con người đã trải qua trong cuộc đời; “hàng cây đứng tuổi” là những con người trưởng thành đã từng trải qua bao thăng trầm, biến cố.</p> <p>Từ ý nghĩa đó nhà thơ gửi gắm suy tư, chiêm nghiệm của mình: khi con người đã trải qua những giông bão của cuộc đời sẽ bình tĩnh hơn trước những bất thường, những tác động của ngoại cảnh. Câu thơ chất chứa biết bao suy tư, chiêm nghiệm của tác giả về cuộc đời, về con người.</p> <p>Hữu Thỉnh sử dụng thể thơ năm chữ tài hoa, giàu nhịp điệu. Bài thơ có nhịp điệu chậm, nhẹ nhàng, sâu lắng như chính bước đi chậm rãi của thời gian trong khoảnh khắc giao mùa từ hạ sang thu. Lớp ngôn từ giản dị, giàu giá trị tạo hình: phả, vắt, chùng chình, dềnh dàng, vội vã, … diễn tả tinh tế những dấu hiệu mùa thu. Ngoài ra ông còn có những trường liên tưởng bất ngờ, độc đáo làm tứ thơ sinh động, hấp dẫn hơn. Hình ảnh thơ có chọn lọc, đặc sắc mang nét đặc trưng của thời tiết lúc giao mùa: hạ - thu.</p> <p>Tác phẩm đã đem đến cho thi ca Việt Nam một bức tranh phong cảnh sang thu thật đặc biệt, ý nghĩa. Đồng thời qua bài thơ ta còn thấy được những cảm nhận tinh tế của tác giả trong việc tái hiện khoảnh khắc chuyển mùa từ hạ sang thu với sự giao thoa của nhiều lớp nghĩa: đất trời khi sang thu, đời sống sang thu và đời người sang thu.</p> <h3><strong>Nghị luận về bài thơ Sang thu - mẫu 5</strong></h3> <p>Khoảnh khắc giao mùa có lẽ là khoảnh khắc đẹp đẽ nhất của tự nhiên, nó gieo vào lòng người những rung động nhẹ nhàng khiến ta như giao hòa, đồng điệu. Khi chúng ta chưa hết ngỡ ngàng bởi một Xuân Diệu “tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì ” thì đã gặp một Hữu Thỉnh tinh tế, sâu sắc đến vô cùng qua một thoáng “Sang Thu”.</p> <p>Bài thơ là những cảm nhận, những rung động man mác, bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kỳ diệu của thiên nhiên trong buổi giao mùa. Không phải là sắc “mơ phai” hay hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” mà là hương ổi thân quen nơi vườn mẹ đã đánh thức những giác quan tinh tế nhất của nhà thơ:</p> <p>Bỗng nhận ra hương ổi</p> <p>Phả vào trong gió se,</p> <p>Câu thơ có hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ. Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra mùa thu là “hương ổi”. Mùi hương quê nhà mộc mạc “phả” trong gió thoảng bay trong không gian. Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ: “bỗng nhận ra” - một sự bất ngờ mà như đã chờ đợi sẵn từ lâu lắm. Câu thơ không chỉ tả mà còn gợi liên tưởng đến màu vàng ươm, hương thơm lừng, vị giòn, ngọt, chua chua nơi đầu lưỡi của trái ổi vườn quê. Và không chỉ có thế, cả sương thu như cũng chứa đầy tâm trạng, thong thả, chùng chình giăng mắc trên khắp nẻo đường thôn:</p> <p>Sương chùng chình qua ngõ</p> <p>Hình như thu đã về</p> <p>Sương thu đã được nhân hoá, hai chữ “chùng chình” diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu. Nếu ở câu thơ đầu tiên nhà thơ “bỗng nhận ra” thu về khá bất ngờ và đột ngột thì sau khi cảm nhận sương thu, gió thu, thi sĩ vẫn ngỡ ngàng thốt lên lời thầm thì như tự hỏi: Hình như thu đã về? Tâm hồn thi sĩ nắm bắt những biến chuyển nhẹ nhàng, mong manh của tạo vật trong phút giao mùa cũng êm đềm, bâng khuâng như bước đi nhỏ nhẹ của mùa thu.</p> <p>Không gian nghệ thuật của bức tranh thu được mở rộng hơn, cái bỡ ngỡ ban đầu vụt tan biến đi nhường chỗ cho những rung cảm mãnh liệt trước không gian thu vời vợi:</p> <p>Sông được lúc dềnh dàng</p> <p>Chim bắt đầu vội vã</p> <p>Sông nước đầy nên mới “dềnh dàng” nhẹ trôi như cố tình chậm lại, những đàn chim vội vã bay về phương nam … Không gian thu thư thái, hữu tình và chứa chan thi vị, đặc biệt là hình ảnh:</p> <p>Có đám mây mùa hạ</p> <p>Vắt nửa mình sang thu</p> <p>Câu thơ giúp ta hình dung về đám mây mỏng nhẹ, trắng xốp, kéo dài như tấm khăn voan duyên dáng của người thiếu nữ thảnh thơi, nhẹ nhàng “vắt nửa mình sang thu”. Câu thơ có tính tạo hình không gian những lại có ý nghĩa diễn tả sự vận động của thời gian: thu bắt đầu sang, hạ chưa qua hết, mùa thu vừa chớm, rất nhẹ, rất dịu, rất êm, mơ hồ như cả đất trời đang rùng mình thay áo mới …</p> <p>Khổ thơ thứ ba diễn tả rất rõ sự biến chuyển của không gian và cũng là một thoáng suy tư của nhà thơ trước cảnh vật, đất trời:</p> <p>Vẫn còn bao nhiêu nắng</p> <p>Đã vơi dần cơn mưa</p> <p>Sấm cũng bớt bất ngờ</p> <p>Trên hàng cây đứng tuổi</p> <p>Vẫn là nắng, mưa, sấm, chớp của mùa hạ vương lại đâu đây, song chỉ là “vẫn còn”, “đã vơi dần”, “cũng bớt bất ngờ” bởi mùa thu đã đến. Ý thơ còn gợi liên tưởng đến con người khi đã lớn tuổi và từng trải thì những giông gió, thăng trầm của cuộc đời ít làm con người ta bất ngờ, bị động. Những suy tư đó của tác giả có lẽ đã góp phần làm cho “Sang thu” trở nên giàu ý nghĩa.</p> <h3><strong>Nghị luận về bài thơ Sang thu - mẫu 6</strong></h3> <p>Khi những cơn gió heo may bắt đầu lả lướt trên những cành cao, khi giọt nắng vàng ươm rơi rớt qua từng kẽ lá, khi cỏ hoa rủ nhau khoe sắc một khung trời là ta biết thời tiết đã sang thu. Thu về mang bao mật ngọt cho đời, thu khiến đất trời chao đảo mông lung trong những hoài niệm đong đầy và trong cả những cảm xúc chẳng thể gọi thành tên. Mùa thu luôn là đề tài khiến các thi nhân phải động lòng yêu thương. Bài thơ Sang Thu được sáng tác năm 1977 của Hữu Thỉnh đã lột tả trọn vẹn cái chất thu trầm ngâm, sâu lắng cùng sự chuyển đổi mượt mà của đất trời và của lòng người. </p> <p>Mùa thu là đề tài khiến thi nhân phải động lòng thương yêu. Bởi đó là mùa của những gì nhẹ nhàng và em dịu nhất, mùa của những rung động sâu sắc. Thu se lạnh, man mác buồn gợi ra bao suy tư. Bài thơ Sang Thu được sáng tác năm 1977 của Hữu Thỉnh đã lột tả trọn vẹn cái chất thu trầm ngâm, sâu lắng cùng sự chuyển đổi mượt mà của đất trời và của lòng người.</p> <p>Sang thu” là bài thơ ngũ ngôn của, từng được nhiều người ưa thích. Bài thơ gồm có ba khổ thơ; mỗi khổ thơ bốn câu là một nét thu đẹp êm đềm của đất trời, tạo vật trong buổi đầu thu - thu mới về, thu chợt đến. “Sang thu” thể hiện một bút pháp nghệ thuật thanh, nhẹ, tài hoa, diễn tả những cảm nhận, những rung động man mác, bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kì diệu của thiên nhiên trong buổi chớm thu. Đối tượng được cảm nhận là cảnh sắc mùa thu nơi đồng quê trên miền Bắc đất nước ta.</p> <p>Bỗng nhận ra hương ổi</p> <p>Phả vào trong gió se</p> <p>Sương chùng chình qua ngõ</p> <p>Hình như thu đã về</p> <p>Cụm từ “bỗng nhận ra” giống như một ngạc nhiên, thú vị khi phát hiện ra điều gì đó mới mẻ. Đây là cụm từ diễn tả trạng thái ngỡ ngàng của tác giả khi hương ổi chín vô tình xộc vào khóe mũi ông, ông bất giác nhận ra mùa thu đã chạm ngõ từ bao giờ. Dấu hiệu gợi báo mùa thu đến của Hữu Thỉnh không phải là con gió nồng nàn mùi hoa sữa, cũng không “Đây mùa thu tới, mùa thu tới / Với áo mơ phai dệt lá vàng” của Xuân Diệu. Mà là những hình ảnh vô cùng đơn sơ, mộc mạc của quê hương. Cái hương ổi chím đượm đã “phả”, bốc ra, tỏa ra mãnh mẽ vào cơn gió se. Mùa thu vốn là mùa của trái ngọt, hoa thơm và giữa muôn ngàn sắc hương, Hữu Thỉnh vẫn nhận ra trong gió hương thơm giản dị của từng quả ổi xanh, giòn rụm, phải yêu lắm xứ sở, làng quê, yêu lắm cái nơi mình đã “chôn rau cắt rốn” thì ông mới có thể nhận ra chuyển biến dù là rất nhỏ của cảnh sắc quê hương và đối đãi với nó bằng tất cả tình thương yêu, trân trọng. Hương ổi của làng quê đồng bằng Bắc bộ, mùi hương thấm đẫm bao kỉ niệm tuổi ấu thơ cùng tình yêu quê hương đã hòa quyện trong cốt cách, tâm hồn của người thi sĩ ấy. “Sương chùng chình qua ngõ… thu đã về”, hai câu thơ sau rất duyên, rất tinh tế nhưng cũng rất sâu sắc đã gợi lên sự mơ hồ của giây phút chuyển mùa. Hình ảnh “sương chùng chình qua ngõ” khiến người đọc tương tưởng ra khung cảnh sương đang ngập ngừng giăng mắc ở đầu ngõ. Và khi tác giả trông thấy từng làn sương trắng mờ ảo đi ngang qua ngõ mà có vẻ chậm chạp như đôi phần luyến tiếc, ông đã phải thốt lên: “Hình như thu đã về”. Các từ ngữ “bỗng” và “hình như” làm tăng thêm cảm giác bâng khuâng, xao xuyến rất đúng với tâm trạng của nhà thơ trước khung cảnh mùa thu. Chữ “se” vần với chữ “về" (vần chân, vần bằng, vần cách) đã góp phần tạo nên sự phong phú về vần điệu và nhạc điệu, làm cho giọng thơ thêm nhẹ nhàng, mênh mông và gợi cảm.</p> <p>Không gian nghệ thuật của bức tranh “Sang thu” được mở rộng, ở chiều cao, độ rộng của bầu trời với cánh chim bay và đám mây trôi, ở chiều dài của dòng sông qua khổ thơ thứ hai tiếp theo:</p> <p>Sông được lúc dềnh dàng</p> <p>Chim bắt đầu vội vã</p> <p>Có đám mây mùa hạ</p> <p>Vắt nửa mình sang thu</p> <p>Nhà thơ đã cảm nhận mùa thu bằng tất cả giác quan. Từ “xúc giác” để cảm nhận cơn gió nhẹ, thoáng hơi sương thổi lướt qua da thịt, đến “khứu giác” để nhận ra mùi ổi chín thơm lừng, nồng đượm yêu thương và rồi Hữu Thỉnh đã dùng đến thị giác của mình, đôi mắt ông trìu mến quan sát dòng sông, đàn chim sải cách và thậm chí là mây, cả một vùng trời, một khung cảnh bao la của sắc thu dịu dàng, quyến rũ như được thu gọn trong tầm mắt ông. ông mùa thu trên miền Bắc nước ta nước trong xanh, êm đềm trôi ông nước đầy nên mới “dềnh dàng”, nhẹ trôi như cố tình chậm chạp, thiếu khẩn trương, để mất nhiều thì giờ. Còn chim bay “vội vã", đó là những đàn cu ngói, những đàn sâm cầm, những đàn chim đối mùa, tránh rét, từ phương Bắc xa xôi bay về phương Nam. Trong số đàn chim bay “vội vã" ấy phải chăng có những đàn ngỗng trời mà nhà thơ Nguyễn Khuyến đã nói tới trong “Thu vịnh”:</p> <p>“Một tiếng trên không ngỗng nước nào?"</p> <p>Dòng sông, cánh chim, đám mây mùa thu đều được nhân hóa. Bức tranh thu trở nên hữu tình, chứa chan thi vị. Để miêu tả áng mây trắng trong trên nền trời cao thăm thẳm, Hữu Thỉnh đã không dùng những từ ngữ như: lang thang, lơ lửng, bồng bềnh, nhẹ trôi,... mà lại dùng chữ “vắt”. Mỗi nhà thơ đều mang vào trong tác phẩm của mình cũng câu từ rất riêng, khó lẫn vào đau được, và ở Hữu Thỉnh, cái chất riêng biệt đó chính là “đám mây mùa hạ vắt nửa mình sang thu”.. Dường như mùa hạ vẫn còn bâng khuâng luyến tiếc thì thu đã đến tự bao giờ, sự chuyển mình của bốn mùa, trời đất được tác giả phát hiện và miêu tả vô cùng ấn tượng, từ “vắt” khiến người đọc liên tưởng mây như kéo dài ra, vắt lên, đặt ngang trên bầu trời, buông thõng xuống. Câu thơ tả đám mây mùa thu của Hữu Thỉnh khá hay và cách chọn từ và dùng từ rất sáng tạo. Quả là một hình ảnh bất ngờ, độc đáo nhưng cũng không kém phần sâu lắng - “một nửa” của đám mây vẫn còn luyến tiếc mùa hạ, là một nửa ký ức, quá khứ đã ngủ yên, và “một nửa” còn lại đang dần chuyển sang mùa thu, sẵn sàng chào đón những biến chuyển mới mẻ của đất trời, cuộc sống.</p> <p>Vẫn còn bao nhiêu nắng,</p> <p>Đã vơ dần cơn mưa</p> <p>Sấm cũng bớt bất ngờ</p> <p>Trên hàng cây đứng tuổi</p> <p>Ấn tượng về cái ào ạt, mạnh mẽ của những cơn mưa mùa hạ vẫn còn đó, nhưng nỗi bâng khuâng, xao xuyến trước vẻ dịu dàng, êm mát của mùa thu đã len nhẹ vào tâm hồn từ lúc nào. Nắng cuối hạ đã bớt nồng nàn, rực rỡ và những cơn mưa xối xả cũng đã thưa dần. Từ hiện tượng thiên nhiên ấy mà nhà thơ suy ngẫm về cuộc đời. ở hai câu thơ cuối: “Sấm… hàng cây đứng tuổi”. Giọng thơ trầm hẳn xuống, câu thơ không đơn thuần chỉ là giọng kể, là sự cảm nhận mà còn là sự suy nghĩ chiêm nghiệm về đời người. Mùa thu của thiên nhiên, hay “mùa thu” của con người? Nhìn chuyển biến của sự vật khi sang thu mà Hữu Thỉnh nhận ra rằng mình đã đứng tuổi. Có lẽ “mùa thu” của đời người là sự khép lại của những năm tháng tuổi trẻ đầy sôi nổi, tràn trề nhiệt huyết để mở ra một giai đoạn mới, một mùa mới trong tâm hồn con người với những gì nhẹ nhàng, tĩnh lặng và trầm lắng hơn. Hai hình ảnh "sấm" và "hàng cây đứng tuổi" vừa có ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩa tượng trưng cho thấy một Hữu Thỉnh rất đỗi tinh tế, nhạy bén trong cảm nhận và liên tưởng. Hai câu thơ cuối mang 2 tầng ý nghĩa, tầng ý nghĩa thứ nhất là tả thực hiện tượng thiên nhiên - lúc sang thu, tiếng sấm dữ dội và những cơn mưa giông cũng bớt đi, hàng cây không còn bị rung giật vì những tiếng sấm bất ngờ nữa; còn tầng ý nghĩa thứ 2, “sấm” tượng trưng cho những phong ba, bão táp, biến động của cuộc đời, còn “hàng cây đứng tuổi” là ẩn dụ của lớp người đã từng trải, được tôi luyện qua nhiều gian khổ khó khăn. Phải chăng con người càng sống lâu, càng chiêm nghiệm được nhiều điều thì biến cố, thay đổi của cuộc đời cũng không còn là gì đáng ngại?</p> <p>Mùa thu thường không rạo rực, ấm áp như mùa xuân, không sôi động rộn ràng như mùa hạ, hay lạnh lẽ, thê lương như mùa đông. Thu đến rất nhẹ nhàng và đi rất lặng lẽ. Thu không đánh thức ta bằng những âm thanh vang động, màu sắc lộng lẫy, hương vị ngọt ngào mà gieo vào lòng ta những thoáng xao động, mơ màng, gợi trong ta những suy nghĩ sâu xa về cuộc sống. Có lẽ vì thế mà thơ thu, trong đó có Sang thu của Hữu Thỉnh rất giàu ý nghĩa. Cả bài thơ là một bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ. 12 câu thơ, câu nào cũng đẹp, cũng hay Hữu Thỉnh đã thể hiện cảm xúc, trạng thái rất thành công bằng những từ ngữ: “bỗng”, “phả”, “hình như”, “dềnh dàng”, “vội vã”, “vắt”,… khiến cho bài thơ của ông sống động, ngập tràn sự sống cùng bao cảm xúc ngượng ngùng, bâng khuâng khi thu tới.</p> <p>Bằng cảm nhận tinh tế và cách dùng từ tự nhiên chân thật, cùng biện pháp nhân hóa, ẩn dụ đặc sắc, Hữu Thỉnh đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên mùa thu ở nông thôn Bắc bộ một cách rất có hồn. Ông đã ghi lại dấu ấn riêng của mình vào kho tàng thơ ca phong phú của Việt Nam, dẫu năm tháng có qua đi nhưng vẻ đẹp của Sang Thu vẫn sẽ luôn làm rung động tâm hồn bao bạn đọc.</p> <h3><strong>Nghị luận về bài thơ Sang thu - mẫu 7</strong></h3> <p>Văn học Việt Nam đã ghi dấu ấn của nhiều nhà văn, nhà thơ. Trong đó chúng ta không thể không nhắc đến nhà thơ Hữu Thỉnh với bài thơ Sang thu. Bài thơ tuy ngắn gọn nhưng vô cùng hàm súc, chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa đáng để ta suy ngẫm.</p> <p>Mở đầu bài thơ là hình ảnh thiên nhiên chuyển mình chuẩn bị bước vào mùa thu:</p> <p>“Bỗng nhận ra hương ổi</p> <p>Phả vào trong gió se</p> <p>Sương chùng chình qua ngõ</p> <p>Hình như thu đã về”</p> <p>Từ “Bỗng” thể hiện thái độ chợt giật mình, không có sự chuẩn bị từ trước, cảm giác sững sờ, ngạc nhiên của tác giả khi ngửi thấy hương ổi - đặc trưng của mùa thu, báo hiệu mùa thu đã về. Phả là động từ chỉ hành động mạnh mẽ. Mùi hương của ổi chín theo làn gió đi khắp mọi nơi, chạm vào mũi của nhà thơ khiến cho tâm hồn nhanh nhạy ấy giật mình. Những làn sương chùng chình chậm chạp, lững thững trôi đi như muốn từ từ tận hưởng vẻ đẹp của tiết trời mùa thu. Bức tranh mùa thu được tác giả Hữu Thỉnh khắc họa qua hình ảnh, cách nhìn, cảm nhận và cả tận hưởng: hương ổi, gió, sương,… Đây là sự kết hợp của nhiều giác quan khác nhau mang qua bốn câu thơ ngắn ngủi nhưng cũng đủ làm cho bạn đọc hình dung ra những đặc trưng của mùa thu và bức tranh mùa thu nơi quê nhà thanh bình như được hiện ra rõ nét hơn, đẹp đẽ hơn.</p> <p>Cảnh vật đã có sự chuyển mình từ hạ sang thu vô cùng đáng yêu:</p> <p>Sông được lúc dềnh dàng</p> <p>Chim bắt đầu vội vã</p> <p>Có đám mây mùa hạ</p> <p>Vắt nửa mình sang thu</p> <p>Dòng sông không còn mang dòng chảy vội vã, hối hả mà giờ đây đi chậm lại để cảm nhận, tận hưởng vẻ đẹp yên bình của mùa thu. Trong mùa thu tươi đẹp này, hình ảnh đàn chim nang nét đối lập với dòng sông. Nếu dòng sông lững thững, dềnh dàng để cảm nhận thời tiết mát mẻ, dịu dàng thì đàn chim lại vội vã, hối hả đi tìm thức ăn và sửa soạn lại tổ ấm của mình để đón chờ mùa đông khắc nghiệt sắp đến. Đám mây không còn mang màu xanh biếc của mùa hè oi bức, mây như trở nên dịu dàng hơn, hiền hòa hơn và uốn mình thành một đường cong mềm mại để chuyển dần sang mùa thu. Động từ “vắt” thể hiện sư nghịch ngợm, dí dỏm của đám mây đồng thời làm cho đám mây như có hồn hơn, hình ảnh chuyển đổi như mềm mại hơn, thú vị hơn. Đám mây mới chỉ “nửa mình sang thu” vì vẫn còn lưu luyến mùa hè rộn rã. Bốn câu thơ đã khắc họa những biến chuyển tinh tế của cảnh vật từ mùa hè sang mùa thu. Mỗi cảnh vật lại có một đặc trưng riêng nhưng tất cả đã làm cho bức tranh mùa thu thêm thi vị hơn.</p> <p>Khép lại bài thơ là hình ảnh đáng để ta suy ngẫm:</p> <p>Vẫn còn bao nhiêu nắng,</p> <p>Đã vơi dần cơn mưa</p> <p>Sấm cũng bớt bất ngờ</p> <p>Trên hàng cây đứng tuổi</p> <p>Vẫn là nắng, mưa, sấm, chớp của mùa hạ vương lại đâu đây nhưng đã bớt nồng nàn, rực rỡ và những cơn mưa xối xả cũng đã thưa dần bởi mùa thu đã đến. Có lẽ “mùa thu” của đời người là sự khép lại của những năm tháng tuổi trẻ đầy sôi nổi, tràn trề nhiệt huyết để mở ra một giai đoạn mới, một mùa mới trong tâm hồn con người với những gì nhẹ nhàng, tĩnh lặng và trầm lắng hơn. Hai hình ảnh "sấm" và "hàng cây đứng tuổi" vừa có ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩa tượng trưng. Tiếng sấm dữ dội và những cơn mưa giông cũng bớt đi, hàng cây không còn bị rung giật vì những tiếng sấm bất ngờ nữa. Bên cạn đó, sấm tượng trưng cho những phong ba, bão táp, biến động của cuộc đời, còn “hàng cây đứng tuổi” là ẩn dụ của lớp người đã từng trải, được tôi luyện qua nhiều gian khổ khó khăn. Phải chăng con người càng sống lâu, càng chiêm nghiệm được nhiều điều thì biến cố, thay đổi của cuộc đời cũng không còn là gì đáng ngại?</p> <p>Bằng cảm nhận tinh tế và cách dùng từ tự nhiên chân thật, cùng biện pháp nhân hóa, ẩn dụ đặc sắc, Hữu Thỉnh đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên mùa thu ở nông thôn Bắc bộ một cách rất có hồn. Bài thơ đã góp phần làm rõ nét hình ảnh làng quê lúc vào thu cũng như làm phong phú thêm cho kho tàng văn học Việt Nam.</p> <h3><strong>Nghị luận về bài thơ Sang thu - mẫu 8</strong></h3> <p>Mùa thu vẫn luôn là một đề tài bất tận cho những sáng tạo nghệ thuật. Nếu ta từng chìm đắm trước bức tranh “Mùa thu vàng” của Levintan, chìm trong “áo mơ phai dệt lá vàng” của Xuân Diệu thì chắc hẳn ta cũng không thể không say mê trước “Sang thu” trong trẻo của nhà thơ Hữu Thỉnh.</p> <p>Khổ thơ đầu là cảm nhận ban đầu của nhà thơ về thời khắc sang thu của đất trời. Tín hiệu báo hiệu những bước chân đầu tiên của nàng thu là hương ổi chín trong làn gió se lạnh:</p> <p>Bỗng nhận ra hương ổi</p> <p>Phả vào trong gió se</p> <p>Sương chùng chình qua ngõ</p> <p>Hình như thu đã về</p> <p>Nhà thơ đã đón nhận mùa thu bằng rất nhiều các giác quan: khứu giác, thính giác, thi giác, xúc giác. Hữu Thỉnh đã lựa chọn những hình ảnh rất mộc mạc, quen thuộc để tạo nên sự mới mẻ cho tứ thơ. Làn hương ổi kết hợp với từ “Bỗng” đặt ở đầu câu thơ cho thấy thái độ bất ngờ, ngạc nhiên của nhân vật trữ tình. Động từ “phả” rất giàu sức gợi cảm, đem đến cảm giác hương thơm nồng nàn như lắng lại. “gió se” là cơn gió đặc trưng của mùa thu đất Bắc, làm giảm đi cái oi ả gắt gỏng của nắng hè.Hai câu thơ mở ra trong tâm trí người đọc không gian quen thuộc, rất đỗi thân thương của làng quê Việt. Nghệ thuật nhân hóa “Sương chùng chình” ở câu thơ thứ ba khiến thiên nhiên trở nên sinh động, có hồn. Làn sương như một con người bước từng bước chậm rãi, dùng dằng đầy lưu luyến. Từ trạng thái ngỡ ngàng, nhân vật trữ tình đã mở lòng đón nhận niềm hạnh phúc khi mùa thu sang: “Hình như thu đã về”. Sự đón nhận ấy cũng vô cùng tinh tế hệt như bước chuyển mình nhẹ nhàng, từ tốn của mùa thu.</p> <p>Sông được lúc dềnh dàng</p> <p>Chim bắt đầu vội vã</p> <p>Có đám mây mùa hạ</p> <p>Vắt nửa mình sang thu</p> <p>Ở khổ thơ thứ hai, bức tranh mùa thu được khắc họa cụ thể hơn với sự xuất hiện của dòng sông, cánh chim và đám mây. Trong đó, hai câu thơ đầu có cấu trúc đối rất tự nhiên cho thấy sự vận động nhịp nhàng của tạo vât. Dòng sông được nhân hóa với từ láy “dềnh dàng” là một chi tiết vô cùng đặc sắc. Nó vừa mang tính chất tả thực con sông mùa thu trong veo, chảy trôi êm ái lại vừa khiến hình ảnh dòng sông như có sức sống, đang tranh thủ khoảng thời gian này để ngẫm ngợi suy tư điều gì trong lòng. Hữu Thỉnh còn rất tài tình khi sử dụng hình ảnh đối lập “Chim bắt đầu vội vã” ở câu thơ dưới. Từ láy “vội vã” gợi ra tâm thế gấp gáp, khẩn trương của những đàn chim chuẩn bị bay về phương Nam tránh rét. Hai động thái trái ngược được đặt cạnh nhau diễn tả sự vận động của tự nhiên lúc giao mùa. Tuy nhiên, nhà thơ phải là người nhạy bén lắm mới có thể cảm nhận rõ sự biến chuyển ấy bởi lẽ tất cả mới chỉ chớm nở, “được lúc”, “bắt đầu”. Điều này được thể hiện rõ qua chi tiết “Có đám mây mùa hạ/Vắt nửa mình sang thu”. Câu thơ gợi lên không gian khoáng đạt, cao vời vợi của bầu trời. Đám mây bồng bềnh kia chính là bước đi của thời gian, là cầu nối giữa hạ và thu. Làn mây mềm mại “vắt nửa mình” tựa như chiếc khăn mỏng quàng ngang lưng trời. Câu thơ đem đến cho người đọc cảm giác mây trời cũng vương vấn, luyến tiếc mùa hè nên mới chỉ chạm một nửa sang cửa ngõ mùa thu.</p> <p>Vẫn còn bao nhiêu nắng</p> <p>Đã vơi dần cơn mưa</p> <p>Sấm cũng bớt bất ngờ</p> <p>Trên hàng cây đứng tuổi.</p> <p>Bức tranh thiên nhiên sang thu không chỉ là bức tranh của cảnh sắc thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm cảnh, đậm chất suy tư của con người. Nhà thơ lại sử dụng nghệ thuật đối rất tài tình giữa “Vẫn còn” và “vơi dần” để tái hiện sự vận động trái chiều của các hiện tượng tự nhiên. Ở đây, nhân vật trữ tình cảm nhận thu một cách trực tiếp hơn. Vẫn là nắng, mưa mùa hạ nhưng đã bớt gay gắt, dữ dội. Những từ chỉ mức độ được sắp xếp theo thứ tự giảm dần đem đến cho người đọc những hình dung cụ thể, đậm nét hơn về sự xuất hiện của mùa thu. Câu thơ thứ ba là hình ảnh của “sấm” - một nét đặc trưng cho những cơn mưa rào tháng năm, tháng sáu. Khi thu đến, những tiếng sấm ấy cũng nhỏ lại, không còn đủ sức làm rung động đất trời, cây cối. Hoặc ta cũng có thể rằng hàng cây ấy đã “đứng tuổi”, trải qua nhiều lần giông tố nên không còn thảng thốt, sợ hãi trước những đợt sấm rền.</p> <p>Thời xưa, đại thi hào Nguyễn Du từng viết: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” để cho thấy sự giao thoa, hòa quyện giữa cõi lòng con người với khung cảnh bên ngoài. Điều này cũng đúng với “Sang thu”. Khung cảnh của bài thơ nhuốm màu suy tư, tâm trạng. Dường như vẻ trầm lặng của hàng cây kia cũng chính là sự sâu sắc, điềm đạm của con người khi đã trở nên dạn dĩ với những tác động bất thường của ngoại cảnh. Không chỉ câu thơ cuối mà tất cả các hình ảnh thiên nhiên trong bài đều gợi ra dáng vẻ con người trong những thời khắc khác nhau của cuộc đời. Con người từng trải ở độ tuổi xế chiều đã mất đi vẻ sôi nổi, táo bạo của thanh xuân nhưng lại chín chắn, trưởng thành, biết chiêm nghiệm hơn. Khi ấy, người ta vừa quyến luyến, bịn rịn những gì đã qua nhưng cũng cần gấp gáp, vội vã hòa nhịp với cuộc sống mới. “Mỗi con người là một tiểu vũ trụ”. Với bài thơ sang thu, “tiểu vũ trụ” của tác giả đã hòa hợp với vũ trụ rộng lớn của trời đất.</p> <p>Như vậy, bài thơ đã thể hiện những cảm nhận tinh tế của tác giả về mùa thu, cho thấy tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước cùng tầm tư duy sâu sắc của nhà thơ Hữu Thỉnh. Để làm nên sự thành công của tác phẩm, nhà thơ đã sử dụng thể thơ năm chữ với nhiều hình ảnh thơ gần gũi mà giàu sức gợi, ngôn ngữ trong sáng cùng các biện pháp nhân hóa, ẩn dụ.</p> <p>“Sang thu” thực sự là một trong những thi phẩm đặc sắc nhất viết về mùa thu. Tác phẩm khép lại nhưng những dư vị, âm vang của mùa thu vẫn ngân mãi trong lòng người đọc.</p> <p>Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:</p> <ul> <li><b>Bài văn nghị luận về trò chơi điện tử</b></li> <li><b>Bài văn nghị luận về truyện ngắn Làng của Kim Lân</b></li> <li><b>Nghị luận về vấn đề bảo vệ môi trường</b></li> <li><b>Nghị luận về tầm quan trọng to lớn của việc đọc sách</b></li> <li><b>Nghị luận về hiện tượng nghiện game online</b></li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 04 Jul 2026 14:25:22 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">10+ Nghị luận về bài thơ Sang thu (điểm cao)</media:title>
                        <media:keywords>10+ Nghị luận về bài thơ Sang thu (điểm cao)</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[u30aau30f3u30e9u30a4u30f3u30abu30b8u30ceu5b8cu5168u30acu30a4u30c9uff1au30ecu30d3u30e5u30fcu8a18u4e8bu3001u7279u5178u3001u305du3057u3066u52ddu5229u3078u306eu6226u7565]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/van-hoc-tre-com-a110271.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/van-hoc-tre-com-a110271.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/van-hoc-tre-com-a110271.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>u30aau30f3u30e9u30a4u30f3u30abu30b8u30ceu306eu4e16u754cu306fu3001u591au6570u306eu30d7u30e9u30c3u30c8u30d5u30a9u30fcu30e0u3068u81a8u5927u306au6570u306eu30b2u30fcu30e0u3067u6e80u3061u3066u304au308au3001u3069u308cu3092u9078u629eu3059u308cu3070u3044u3044u304bu8ff7u3046u3053u3068u3082u591au3005u3042u308au307eu3059u3002u3057u304bu3057u3001u3059u3079u3066u306eu30abu30b8u30ceu304cu540cu3058u30ecu30d9u30ebu306bu3042u308bu308fu3051u3067u306fu306au3044u306eu3067u3059u3002u4fe1u983cu3067u304du308bu6a5fu80fdu304cu5145u5b9fu3057u305fu30d7u30e9u30c3u30c8u30d5u30a9u30fcu30e0u3092u63a2u3059u3053u3068u304cu3001u6700u3082u91cdu8981u306au5224u65adu3068u306au308au307eu3059u3002u305du3053u3067u4f7fu3048u308bu306eu304cu3001u30abu30b8u30ceu30e9u30c3u30adu30fcTAROu3067u3059u3002u30abu30b8u30ceu30e9u30c3u30adu30fcu305fu308du3046u306fu9577u3044u9593u3001u65e5u672cu306eu30d7u30ecu30a4u30e4u30fcu304cu672cu5f53u306bu4fe1u983cu3067u304du308bu30abu30b8u30ceu3060u3051u3092u7cbeu9078u3057u3001u89aau3057u307fu3084u3059u304fu7d39u4ecbu3057u3066u304du307eu3057u305fu3002</p> <p>u30abu30b8u30ceu30e9u30c3u30adu30fcTAROu3067u306fu3001u5168u3066u306eu30abu30b8u30ceu63a8u85a6u306bu8a73u7d30u306au30c1u30a7u30c3u30afu3092u5b9fu884cu3057u3066u3044u307eu3059u3002u30e9u30a4u30bbu30f3u30b9u306eu30b9u30c6u30fcu30bfu30b9u3001u30eau30bfu30fcu30f3u7387u3001u30abu30b9u30bfu30deu30fcu30b5u30ddu30fcu30c8u306eu54c1u8ceau3001u305du3057u3066u30dcu30fcu30cau30b9u6761u4ef6u306eu516cu6b63u3055u3092u7d30u304bu304fu691cu8a3cu3057u305fu3046u3048u3067u3001u30e9u30f3u30adu30f3u30b0u306bu63b2u8f09u3059u308bu3053u3068u3092u6c7au5b9au3057u3066u3044u307eu3059u3002u30b2u30fcu30deu30fcu304cu5b89u5fc3u3057u3066u30b2u30fcu30e0u3092u697du3057u3080u3053u3068u304cu3067u304du308bu74b0u5883u3092u63d0u4f9bu3059u308bu3053u3068u304cu3001u30e9u30c3u30adu30fcTAROu306eu4f7fu547du3067u3059u3002 u041fu043eu0434u0440u043eu0431u043du0435u0435: https://casinoluckytaro.com/.</p> <h2>u7279u5178u306eu9078u3073u65b9</h2> <p> u30abu30b8u30ceu306eu30dcu30fcu30cau30b9u306fu30a4u30f3u30bfu30fcu30cdu30c3u30c8u30abu30b8u30ceu306eu6700u5927u306eu9b45u529bu306eu3072u3068u3064u3067u3059u3002 <strong>u8fceu3048u30dcu30fcu30cau30b9</strong> u306fu5165u91d1u984du30922u500du306bu3057u3001u305fu3068u3048u30701u4e07u5186u3092u5165u91d1u3059u308bu30682u4e07u5186u5206u306eu30d7u30ecu30a4u8cc7u91d1u306bu306au308au307eu3059u3002 <strong>u7121u6599u56deu8ee2</strong> u306fu81eau5206u306eu30a2u30abu30a6u30f3u30c8u6b8bu9ad8u3092u4f7fu308fu305au306bu30b2u30fcu30e0u3092u8a66u305bu308bu6a5fu4f1au3067u3059u3002 <strong>u30ceu30fcu5165u91d1u30dcu30fcu30cau30b9</strong> u306fu30eau30b9u30afu306au304fu30b5u30fcu30d3u30b9u3092u8a66u3057u305fu3044u30d3u30aeu30cau30fcu306bu7279u306bu6709u76cau3067u3059u3002u30a6u30a7u30fcu30b8u30e3u30fcu6761u4ef6u306eu4f4eu3044u6709u5229u306au30dcu30fcu30cau30b9u3092u304au63a2u3057u306au3089u3001u30abu30b8u30ceu30e9u30c3u30adu30fcTAROu306eu30dcu30fcu30cau30b9u4e00u89a7u30dau30fcu30b8u3092u3054u78bau8a8du304fu3060u3055u3044u3002u30abu30b8u30ceu30e9u30c3u30adu30fcu3067u306fu3001u6761u4ef6u304cu660eu78bau3067u516cu6b63u306au30aau30f3u30e9u30a4u30f3u30abu30b8u30ceu3060u3051u3092u63b2u8f09u3057u3066u3044u307eu3059u3002 </p> <h2>u4ebau6c17u306eu3042u308bu30b2u30fcu30e0u3068u9084u5143u7387</h2> <p>u30aau30f3u30e9u30a4u30f3u30b9u30edu30c3u30c8u306fRTPu304cu9ad8u3044u3082u306eu3092u9078u3076u3053u3068u304cu809du5fc3u3067u3059u3002u30e9u30c3u30adu30fcTAROu30abu30b8u30ceu3067u7d39u4ecbu3055u308cu3066u3044u308bu30b9u30edu30c3u30c8u306fu3001RTPu3068u30dcu30e9u30c6u30a3u30eau30c6u30a3u3092u8003u616eu3057u3066u9078u5b9au3055u308cu3066u304au308au3001u53c2u52a0u8005u306fu5e38u6642u30b2u30fcu30e0u30d7u30ecu30a4u306eu5c5eu6027u3092u628au63e1u3057u3066u9078u629eu3067u304du307eu3059u3002u30d6u30e9u30c3u30afu30d0u30c3u30afu30b8u30e3u30c3u30afu306fu57fau672cu30b9u30c8u30e9u30c6u30b8u30fcu3092u5229u7528u3059u308cu3070u30abu30b8u30ceu306eu6709u5229u5deeu304c0.5%u4ee5u4e0bu306bu4f4eu304fu306au308bu6975u3081u3066u6709u5229u306au30b2u30fcu30e0u3067u3059u3002u30e9u30a4u30d6u30c7u30a3u30fcu30e9u30fcu3067u306fu3001u30e9u30c3u30adu30fcTAROu304cu52e7u3081u308bu30abu30b8u30ceu3092u901au3057u3066u3001u30a8u30dcu30eau30e5u30fcu30b7u30e7u30f3u306au3069u306eu4e3bu8981u30d7u30edu30d0u30a4u30c0u30fcu306bu3088u308bu81e8u5834u611fu3042u3075u308cu308bu30eau30a2u30ebu30bfu30a4u30e0u4f53u9a13u3092u697du3057u3080u3053u3068u304cu3067u304du307eu3059u3002</p> <h2>u78bau5b9fu306au5165u51fau91d1u624bu6bb5</h2> <p>u4fe1u983cu3067u304du308bu30abu30b8u30ceu306fu3001u30d3u30b6u30fbMastercardu306au3069u306eu30afu30ecu30abu3001u30dau30a4u30d1u30ebu30fbSkrillu30fbu30cdu30c3u30c6u30e9u30fcu306au3069u306eeu30a6u30a9u30ecu30c3u30c8u3001u3055u3089u306bBitcoinu306au3069u306bu3082u5bfeu5fdcu3057u3066u3044u307eu3059u3002u30c7u30b8u30bfu30ebu30a6u30a9u30ecu30c3u30c8u306fu901au5e38u4e8cu56dbu6642u9593u4ee5u5185u306bu6255u3044u623bu3057u304cu51e6u7406u3055u308cu307eu3059u3002u30e9u30c3u30adu30fcTAROu306fu3001u9001u91d1u901fu5ea6u30fbu30d5u30a3u30fcu30fbu5bfeu5fdcu6c7au6e08u65b9u6cd5u306eu3059u3079u3066u306bu304au3044u3066u826fu3044u8a55u4fa1u3092u5f97u305fu30abu30b8u30ceu306eu307fu3092u63a8u5968u3057u3066u304au308au3001u5fc3u914du306au304fu5165u91d1u3068u51fau91d1u3067u304du308bu4f53u5236u3092u63d0u4f9bu3057u3066u3044u307eu3059u3002</p> <p>u8aa4u60c5u5831u304cu3042u3075u308cu308bu3053u306eu696du754cu3067u3001u30abu30b8u30ceu30e9u30c3u30adu30fcTAROu306fu516cu5e73u306au304bu3064u4e8bu5b9fu306bu57fau3065u304fu30ecu30d3u30e5u30fcu3092u63d0u4f9bu3057u3066u3044u307eu3059u3002u30ecu30d3u30e5u30fcu62c5u5f53u30c1u30fcu30e0u306fu5168u30abu30b8u30ceu3092u81eau3089u306eu624bu3067u5b9fu969bu306bu30c6u30b9u30c8u3057u3001u63b2u8f09u306eu305fu3081u306eu8cbbu7528u3092u53d7u3051u308bu3053u3068u3082u3001u5546u696du7684u306au7406u7531u3067u63a8u5968u3059u308bu3053u3068u3082u3042u308au307eu305bu3093u3002u6700u9ad8u306eu30aau30f3u30e9u30a4u30f3u30abu30b8u30ceu4f53u9a13u306fu3001u30abu30b8u30ceu30e9u30c3u30adu30fcTAROu304bu3089u30b9u30bfu30fcu30c8u3057u307eu3059u3002u4ecau3059u3050u78bau8a8du3057u3066u307fu307eu3057u3087u3046u3002</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 04 Jul 2026 14:11:39 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">u30aau30f3u30e9u30a4u30f3u30abu30b8u30ceu5b8cu5168u30acu30a4u30c9uff1au30ecu30d3u30e5u30fcu8a18u4e8bu3001u7279u5178u3001u305du3057u3066u52ddu5229u3078u306eu6226u7565</media:title>
                        <media:keywords>u30aau30f3u30e9u30a4u30f3u30abu30b8u30ceu5b8cu5168u30acu30a4u30c9uff1au30ecu30d3u30e5u30fcu8a18u4e8bu3001u7279u5178u3001u305du3057u3066u52ddu5229u3078u306eu6226u7565</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[5+ Phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích (học sinh giỏi)]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phan-tich-tac-pham-kieu-o-lau-ngung-bich-a110269.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phan-tich-tac-pham-kieu-o-lau-ngung-bich-a110269.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phan-tich-tac-pham-kieu-o-lau-ngung-bich-a110269.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích trích Truyện Kiều của Nguyễn Du hay nhất, ngắn gọn gồm dàn ý chi tiết, sơ đồ tư duy và các bài văn mẫu được tổng hợp và chọn lọc từ những bài văn hay đạt điểm cao của học sinh lớp 9.</p> <h2>5+ Phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích (học sinh giỏi)</h2> <p><b>Phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích - Cô Lê Minh Nguyệt (Giáo viên VietJack)</b></p> <h3><strong>Phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích - mẫu 1</strong></h3> <p>Truyện Kiều là kiệt tác văn học của thiên tài Nguyễn Du và của nền văn học Việt Nam. Tác phẩm không những thể hiện tài năng văn chương kiệt xuất của thi hào Nguyễn Du mà còn thể hiện tấm lòng yêu thương con người thiết tha của ông. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” thuộc phần Gia biến và lưu lạc, miêu tả nỗi buồn nhớ người yêu, nhớ cha mẹ, trong cảnh sầu thương, buồn tủi, cô đơn của nhân vật Thúy Kiều khi bị giam lỏng ở lầu ngưng bích. Đây là một trong những đoạn thơ miêu tả tâm lý xuất sắc nhất của Nguyễn Du trong tuyệt tác “Truyện Kiều”. Sau khi bị Mã Giám Sinh lừa gạt, làm nhục, bị Tú Bà mắng nhiếc, Kiều nhất quyết không chịu tiếp khách làng chơi, không chịu chấp nhận cuộc sống lầu xanh. Đau đớn, tủi nhục, phẫn uất, nàng định tự tử. Tú Bà sợ mất vốn bèn lựa lời khuyên giải, dụ dỗ Kiều. Mụ vờ chăm sóc thuốc thang hứa hẹn khi nàng bình phục sẽ gả chồng cho nàng về nơi tử tế. Tú Bà đưa Kiều ra sống riêng ở lầu Ngưng Bích, thực chất là giam lỏng nàng để thực hiện âm mưu mới đê tiện hơn, tàn bạo hơn. Lầu Ngưng Bích là một điểm dừng chân của Kiều trên con đường lưu lạc đầy máu và nước mắt, cay đắng và tủi nhục suốt 15 năm trời.</p> <p>“Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân</p> <p>Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung</p> <p>Bốn bề bát ngát xa trông</p> <p>Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia”</p> <p>Phong cảnh rất hữu tình, thơ mộng.Không gian được mở ra ba chiều, vừa có chiều xa, chiều cao, chiều rộng: “non xa”, “trăng gần”, “cát vàng cồn nọ”, “bụi hồng dặm kia”. Nghệ thuật liệt kê, đối lập tương phản “non xa”/”trăng gần”, đảo ngữ, từ láy “bát ngát” gợi không gian rợn ngợp, vắng lặng không một bóng người.Đối diện với cảnh ấy, Kiều cảm thấy trống trải cô đơn.Cảnh hoang vắng, rợn ngợp, nhuốm màu tâm trạng. Khung cảnh mênh mông “bát ngát xa trông” nhưng lại thiếu vắng hơi ấm của con người. Chỉ có một mình Kiều cô độc, ngày đêm đối diện với chính mình. Bút pháp chấm phá đặc sắc, khung cảnh làm nền cho Kiều thổ lộ tâm tình. Thiên nhiên rộng lớn mà con người nhỏ bé, đơn côi.Nàng đau buồn vì cảnh ngộ bị đày vào chốn lầu xanh, đau buồn vì bị giam giữ cô độc trước lầu Ngưng Bích hoang vắng:</p> <p>“Bẽ bàng mây sớm đèn khuya</p> <p>Nửa tình, nửa cảnh, như chia tấm lòng”</p> <p>Bẽ bàng: Sự xấu hổ tủi thẹn với đèn khuya, mây sớm, với lòng mình và những người thân yêu, nỗi buồn đau không người chia sẻ. Chia tấm lòng: Sự ngổn ngang của tâm trạng không biết đi đâu về đâu.</p> <p>“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng</p> <p>Tin sương luống những rày trông mai chờ</p> <p>Bên trời góc bể bơ vơ</p> <p>Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?”</p> <p>Nàng nhớ về đêm trăng thề hẹn: “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng”. Nhớ chàng Kim, nàng còn hình dung cảnh Kim Trọng đợi chờ tin nàng ờ quê nhà mà thấp thỏm không yên: “tin sương luống những rày trông mai chờ”.Tấm son gột rửa bao giờ cho phai? biểu hiện tâm trạng đau đớn, xót xa bởi tấm lòng nhớ thương Kim Trọng không bao giờ nguôi quên, bởi hoàn cảnh bị dập vùi hoen ố, biết bao giờ gột rửa được. Câu thơ là một câu hỏi tu từ thể hiện sự dằn vặt đau khổ của nàng khi phải chia li với Kim Trọng. Dù có li biệt nhưng tình cảm của nàng đối với Kim Trọng vẫn thủy chung son sắt. “Tấm lòng son” ấy bất biến trước không gian và thời gian. Trong bi kịch tình yêu, Thúy Kiều có nỗi đau về nhân phẩm.</p> <p>“Xót người tựa cửa hôm mai</p> <p>Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?</p> <p>Sân Lai cách mấy nắng mưa?</p> <p>Có khi gốc tử đã vừa người ôm”</p> <p>Xót thương cảnh ngộ cha mẹ ngày ngày tựa cửa ngóng trông. Nàng tưởng tượng cảnh nơi quê nhà tất cả đã đổi thay mà sự đổi thay lớn nhất là “gốc tử đã vừa người ôm”, nghĩa là cha mẹ ngày một thêm già yếu, hiện thời không ai người trông nom, mà mình lại ở xa không làm tròn bổn phận của người con. Tâm hồn cao đẹp của nàng luôn luôn lo nghĩ cho người khác trong lúc bản thân mình đang tan nát và đớn đau..Các từ ngữ chỉ thời gian xa cách: “hôm mai”, “cách mấy nắng mưa”, các thi liệu, điển cố văn học Trung Hoa như “sân lai gốc tử”và thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh”đã cực tả nỗi nhớ thương cha mẹ, nỗi đau buồn, tấm lòng hiếu thảo của Kiều, của đứa con gái đầu lòng đã không thể, không được chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ, khi song thân đã già yếu. Nguyễn Du đã sử dụng ngôn ngữ độc thoại kết hợp hài hoà giữa phong cách cổ điển và phong cách dân tộc, tạo nên những vần thơ biểu cảm thể hiện một tâm trạng bi kịch, một cảnh ngộ đầy bi kịch của Thúy Kiều. Giọng thơ rưng rưng lệ, nỗi đau của nàng Kiều như thấm vào cảnh vật, thời gian và lòng người…</p> <p>Trong cảnh ngộ ở lầu Ngưng Bích, Thúy Kiều là người đáng thương nhất, nhưng nàng đã quên cảnh ngộ bản thân để nghĩ về Kim Trọng, nghĩ về cha mẹ. Kiều là người tình thuỷ chung, người con hiếu thảo, người có tấm lòng vị tha đáng trọng.Ở đây, Nguyễn Du đã miêu tả khách quan tâm trạng của Thúy Kiều vượt qua những định kiến của tư tưởng phong kiến: đặt chữ tình trước chữ hiếu. Trong cảnh ngộ khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất nhưng nàng vẫn quên mình để nghĩ đến người yêu, nghĩ đến cha mẹ. Đầu tiên Kiều nhớ Kim Trọng. Điều này phù hợp với quy luật tâm lý, vừa thể hiện sự tinh tế của ngòi bút Nguyễn Du khi thể hiện khách quan tâm cảnh của Kiều.Nguyễn Du là người ngợi ca thiên diễm tình tự do từ khi chớm nở, sau này khi Kiều lâm nạn, ty dang dở, ông cũng là người thông cảm với những đổ vỡ, tan nát của một mối tình mà trái tim Kiều lúc nào cũng như chảy máu, vì đau thương và hối hận. Cho nên khi viết về tâm trạng nhớ thương của Kiều, ông đã đặt tình trước hiếu, đảo ngược trật tự của đạo lí phong kiến để Thúy Kiều trước hết nghĩ đến người yêu.Mặt khác đối với cha mẹ, Thúy Kiều đã bán mình chuộc cha, ơn sinh thành đã có phần được đền đáp, còn đối với người yêu, Kiều vẫn coi mình là kẻ lỗi hẹn, bạc tình, khi Mã Giám Sinh làm nhục, lại bị ép phải tiếp khách làng chơi nên nỗi đau nhất của Kiều lúc này là “tấm son gột rửa bao giờ cho phai”.. Trong tâm cảnh như thế, khi một mình một bóng, Nguyễn Du đã để nàng trước hết nghĩ tới chàng Kim. Cực kì tinh tế khi thể hiện tính biện chứng của tâm hồn nhân vật, Nguyễn Du thật xứng đáng là một thiên tài.</p> <p>“Buồn trông cửa bể chiều hôm</p> <p>Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?</p> <p>...</p> <p>Buồn trông gió cuốn mặt duềnh</p> <p>Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.”</p> <p>Chiều hôm là khoảng thời gian gợi buồn, cửa bể mênh mông lúc ngày tàn chiều hôm càng làm tăng nỗi buồn đau cô đơn của kiếp người lưu lạc, bơ vơ. Cánh buồm thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện nơi cửa bể chiều hôm như một ảo ảnh đầy ám ảnh, gợi lên những hành trình lưu lạc mờ mịt không biết đâu là bến bờ, khát vọng trong lòng người tha hương nhớ về gia đình, quê hương, người yêu….Cánh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa gợi thân phận nhỏ bé, mỏng manh, lênh đênh trôi dạt trên dòng đời vô định không biết đi đâu về đâu. Kiều nhìn cánh hoa trôi trên mặt nước mà cảm thương cho số phận hoa trôi bèo nổi của mình, vô định không phương hướng, băn khoăn không biết cuộc đời mình sẽ ra sao? Phân người con gái như gió thổi đầu non, như hoa lạc giữa dòng, phận nhỏ mà nạn lớn, không biết bao gì mới đực đoàn viên. Càng nghĩ, Kiều càng đớn đau, vô vọng.Nội cỏ rầu rầu, úa tàn héo hắt một màu xanh nhợt nhạt, trải rộng nơi chân mây mặt đất gợi cuộc sống úa tàn, bi thương, vô vọng kéo dài không biết đến bao giờ. Nhìn màu sắc tê tái thê lương ấy, Kiều đau tê tái khi nghĩ đến tương lai mờ mịt, héo tàn của mình không biết kéo dài đến bao giờ? Sắc cỏ dầu dầu ấy, nàng đã một lần nhìn thấy mới ngày nào trên nấm mồ Đạm Tiên:</p> <p>“Sè sè nấm đất bên đường</p> <p>Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”</p> <p>Nhìn xa rồi nhìn gần, vừa “buồn trông”vừa lắng tai nghe. Nghe tiếng gió gào, gió cuốn mạnh làm cho sóng nước duềnh lên dữ dội, xô đập vào bờ hết lớp nọ đến lớp kia. Không phải sóng reo mà là “sóng kêu”. Gió và sóng đang bủa vây “xung quanh ghế ngồi”. Một tâm trạng cô đơn lẻ loi đang trải qua những giờ phút hãi hùng, ghê sợ, lo âu. Phải chăng âm thanh dữ dội ấy của gió và sóng là biểu tượng cho những tai hoạ khủng khiếp đang bủa vây, sắp giáng xuống số phận người con gái nhỏ bé, đáng thương.Hình ảnh “gió cuốn mặt duềnh” và âm thanh ầm ầm của tiếng sóng “kêu quanh ghế ngồi”gợi tâm trạng lo sợ hãi hùng như báo trước,chỉ ngay sau lúc này, giông bão của số phận sẽ nổi lên, xô đẩy, vùi dập cuộc đời Kiều. Tâm trạng cô đơn, dự cảm hãi hùng về tương lai và số phận chìm nổi của Kiều. Đến đây, nàng gần như bấn loạn tinh thần, hoàn toàn tuyệt vọng trước nghịch cảnh trớ trêu.Điệp ngữ “buồn trông” (buồn mà nhìn ra xa, buồn mà trông ngóng, mong đợi một điều gì đó mơ hồ, xa xôi) tạo một âm hưởng trầm buồn, khiến nỗi buồn bủa vây từ phía bao trùm lên cả không gian. “Buồn trông” đã trở thành điệp khúc của đoạn thơ và cũng là điệp khúc của tâm trạng buồn tê tái, đau thương, cô đơn của nàng Kiều. Các cặp từ láy: xa xa, thấp thoáng, man mác, rầu rầu, xanh xanh, ầm ầm … xô đẩy nhau như những con sóng tâm tư cuộn trào lên trong lòng người. Giọng thơ tha thiết não nùng.Kiều “buồn trông” mà lo âu sợ hãi về một cuộc đời đầy biến động, đầy cạm bẫy, nhiều máu và nước mắt đang rình rập ở chặng đường đời phía trước. Và quả thực ngay sau lúc này, Kiều đã mắc lừa Sở Khanh để rồi phải lâm vào cảnh “thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”Hình ảnh tăng tiến càng lúc càng dữ dội. Đặc biệt là 8 câu cuối tiếng sóng ở đây không vỗ, không đập mà kêu, không đến từ một phía mà từ nhiều phía, không một kẻ hở nào. “Kêu quanh” gợi lên sự hãi hùng, sự dự báo về cuộc đời đầy sóng gió đang chờ đợi nàng Kiều ở phía trước.Đây là tâm cảnh chứ không phải là ngoại cảnh, mỗi cảnh có một nét riêng nhưng đều là diễn tả một khía cạnh trong tâm trạng của nàng Kiều, cảnh nhuộm màu tê tái: cánh buồm nhỏ phía trời xa xăm vô định, cánh hoa lìa cành tan tác không biết đi đâu về đâu, những ngọn cỏ phai tàn héo úa và mặt duềnh cuộn sóng hãi hùng.Bằng nghệ thuật ẩn dụ, hệ thống câu hỏi tu từ, các từ láy “thấp thoáng”, “xa xa”, “man mác”,“rầu rầu”,”xanh xanh”,”ầm ầm”… vừa gợi tả màu sắc, hình ảnh, âm thanh lại vừa diễn tả tâm trạng con người.</p> <p> Điệp từ điệp ngữ liên hoàn nhấn mạnh, khắc sâu trạng thái vô vọng, cô đơn, bế tắc đến vô tận đang chao đảo trong tâm trạng của Kiều.Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du vô cùng điêu luyện. Tác giả lấy ngoại cảnh để bộc lộ tâm cảnh. Cảnh được miêu tả từ xa đến gần; màu sắc từ nhạt đến đậm; âm thanh từ tĩnh đến động; nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ, dồn đến cơn bão táp của nội tâm, cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều. Thiên nhiên thấm đẫm tâm trạng, bộc lộ tâm trạng theo quy luật tâm lí “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Mỗi câu thơ, mỗi hình ảnh, ngôn ngữ miêu tả thiên nhiên, miêu tả ngoại cảnh mang ý nghĩa và giá trị như một ẩn dụ, một tượng trưng về tâm trạng đau khổ và số phận đen tối của một kiếp người trong bể trầm luân. Có thể nói đoạn thơ “Kiều ở lầu NB”như chứa đầy lệ: lệ của người con gái lưu lạc, đau khổ vì cô đơn lẻ loi, buồn thương chua xót vì mối tình đầu tan vỡ, xót xa vì thương nhớ cha mẹ, lo sợ cho thân phận, số phận mình; lệ của nhà thơ, một trái tim nhân đạo bao la đồng cảm, xót thương, chia sẻ cho nỗi đau của người thiếu nữ tài sắc, hiếu thảo mà bạc mệnh: “Tố Như ơi! Lệ chảy quanh thân Kiều”</p> <p>Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những đoạn miêu tả nội tâm nhân vật thành công nhất của Truyện Kiều, đặc biệt là bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình. Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Thúy Kiều. Với đoạn thơ trên, Nguyễn Du đã đạt đến trình độ biện chứng tâm hồn. Nhà thơ thấu hiểu con người đến tận thẳm sâu tiềm thức, làm lộ rõ sự vận động bên trong tâm hồn đớn đau, khổ nhục của Thúy Kiều trong những ngày đầu lưu lạc phải chịu nhiều khổ nhục, đắng cay. Lời thơ xiết mạnh vào từng giác quan người đọc, khiến người đọc càng thêm cảm thương cho số kiếp bèo dạt mây trôi của thiếu nữ tài sắc vẹn toàn mà bất hạnh, từ đó làm toát lên tấm lòng cảm thương vô hạn của tác giả đối với kiếp người nhỏ bé trong xã hội phong kiến vốn tồn tại nhiều bất công.</p> <h3>Dàn ý Phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích</h3> <p><strong>1. Mở bài:</strong></p> <p>- Giới thiệu về tác phẩm và đoạn trích:</p> <p>+ Truyện Kiều là tác phẩm truyện thơ Nôm lớn nhất của tác giả Nguyễn Du.</p> <p>+ Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là đoạn trích hay, nằm trong phần “Gia biến, lưu lạc: Thúy Kiều bán mình chuộc cha và em trai, bị Mã Giám Sinh lừa, bị bán vào thanh lâu. Thúy Kiều đã định tự kết liễu đời mình, nhưng không thành, bị Tú Bà lừa nhốt ở lầu Ngưng Bích. lột tả được tâm trạng của Thúy Kiều trong cảnh xa nhà, bị giam lỏng.</p> <p><strong>2. Thân bài</strong>:</p> <p><strong>a, Cảnh cô đơn, tủi phận của Thúy Kiều (6 câu đầu)</strong></p> <p>- “Khóa xuân”: Kiều bị giam cầm, chôn vùi tuổi trẻ.</p> <p>- Cảnh sắc hoang vắng, lạnh lẽo: dãy núi ở xa, mảnh trăng gần, cồn cát nối tiếp với bụi hồng trải dài ở xa</p> <p>- Nghệ thuật liệt kê, đối lập tương phản “non xa”/”trăng gần”, đảo ngữ, từ láy “bát ngát” gợi không gian thiên nhiên mênh mông, vắng lặng không một bóng người.</p> <p>- Thúy Kiều đau đớn, tủi nhục cho thân phận của mình:</p> <p>+ “Mây sớm đèn khuya” gợi thời gian tuần hoàn khép kín, lặp lại. Kiều thấy tuyệt vọng, buồn tủi, trong nỗi cô đơn đến “bẽ bàng”.</p> <p>+ Bốn chữ “như chia tấm lòng”: sự chua xót, buồn đau của Kiều chỉ có cảnh vật nơi đây chứng kiến, chia sẻ.</p> <p>+ Sử dụng bút pháp chấm phá tạo nên khung cảnh hoang vắng, làm nền cho Kiều thổ lộ tâm tình.</p> <p><strong>b, Nỗi thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ</strong>: Trong cảnh cô đơn, tâm trạng của Kiều chuyển từ buồn sang nhớ:</p> <p>- Kiều nhớ đến Kim Trọng (4 câu tiếp theo)</p> <p>+ Nhớ cảnh cùng Kim Trọng uống rượu thề nguyền dưới ánh trăng: tác giả dùng từ “tưởng” - vừa là nhớ đến, vừa là tưởng tượng ra người yêu đang ở trước mắt, qua đó thể hiện nỗi nhớ nhung day dứt của Kiều.</p> <p>+ Hình dung rằng Kim Trọng cũng đang chờ tin mình: “Tin sương luống những rày trông mai chờ”.</p> <p>+ Rồi Kiều lại giật mình nhớ đến hiện thực đang “bơ vơ” chưa biết ngày mai sẽ ra sao của mình. Kiều càng nhớ Kim Trọng thì càng tủi phận: tình yêu của nàng sẽ không bao giờ phai mờ, nhưng danh dự, phẩm giá của nàng đã bị vùi dập, hoen ố, khó mà gột rửa, không xứng với tình yêu của Kim Trọng nữa.</p> <p>+ Tâm trạng buồn nhớ, tuyệt vọng, tủi phận của nhân vật. Đây vừa là bi kịch tình yêu khi Thúy Kiều và Kim Trọng không thể nên duyên, vừa là nỗi đau về nhân phẩm của một cô gái tài sắc.</p> <p> - Kiều nhớ và lo lắng cho cha mẹ:</p> <p>+ Dùng từ “xót người”: Kiều lo lắng xót xa nghĩ đến cha mẹ sớm hôm tựa cửa nhớ thương nàng.</p> <p>+ “Quạt nồng ấp lạnh”: Kiều lo lắng không biết ai sẽ chăm sóc tốt cho cha mẹ khi thời tiết đổi thay.</p> <p>+ Tác giả sử dụng các từ ngữ chỉ thời gian như: “hôm mai”, “cách mấy nắng mưa”, và các điển cố văn học Trung Quốc: “sân Lai”, “gốc tử” để nói lên tâm trạng nhớ thương, lo lắng và tấm lòng hiếu thảo của Kiều dành cho cha mẹ.</p> <p>+ Kiều đã bán mình để trả nợ chữ Hiếu nhưng vẫn luôn một lòng đau đáu nhớ thương, lo lắng cho cha mẹ già, đồng thời lo sợ mình khó trở về gặp cha mẹ.</p> <p><strong>c, Tâm trạng của Thúy kiều trở về với thực tại, lo lắng cho tương lai</strong></p> <p>- Điệp từ “buồn trông”: được lặp lại 4 lần tạo âm hưởng trầm buồn cho đoạn thơ, miêu tả nỗi buồn đang dâng lên như từng lớp sóng trong lòng Thúy Kiều.</p> <p>- Cảnh vật thiên nhiên qua con mắt của Kiều gợi nỗi buồn da diết</p> <p>+ Cánh buồm ẩn hiện: gợi lên hành trình lưu lạc không biết bến bờ.</p> <p>+ Cánh hoa trôi: gợi tả thân phận nhỏ bé, yếu đuối, lênh đênh trôi dạt (liên hệ so sánh với ca dao: sử dụng hình ảnh bèo dạt, hoa trôi để nói về số phận thăng trầm, yếu đuối, không thể tự định đoạt của người phụ nữ xưa).</p> <p>+ Nội cỏ rầu rầu: gợi cuộc sống héo hon, bi thảm, vô vọng kéo dài.</p> <p>+ Hình ảnh “gió cuốn”, âm thanh của sóng: thiên nhiên như lo sợ báo trước, số phận Thúy Kiều sẽ gặp giông bão xô đẩy, vùi dập.</p> <p>- Nghệ thuật:</p> <p>+ Tả cảnh ngụ tình: lấy cảnh bên ngoài lầu Ngưng Bích để bộc lộ tâm trạng Thúy Kiều. Cảnh được miêu tả từ xa đến gần; màu sắc từ nhạt đến đậm; âm thanh từ tĩnh đến động, thể hiện nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ của Kiều.</p> <p>+ Hệ thống câu hỏi tu từ: cảm xúc bế tắc, hoang mang, sợ hãi của Kiều, lo sợ cho tương lai không biết đi về đâu.</p> <p>- Từ láy: “thấp thoáng”, “xa xa”, “man mác”,“rầu rầu”,”xanh xanh”,”ầm ầm”, tạo cảm giác cảnh vật u ám, trầm buồn.</p> <p><strong>3. Kết bài:</strong></p> <p>- Đoạn trích thể hiện tâm trạng buồn thương của Thúy Kiều: nhớ nhà, thương cha mẹ, người yêu, thương cho thân phận mình.</p> <p>- Những biện pháp nghệ thuật Nguyễn Du sử dụng (điệp từ, độc thoại nội tâm, tả cảnh ngụ tình, hệ thống tính từ - động từ, điển tích kết hợp thành ngữ…) đã lột tả chân thực nỗi buồn nhớ, vô vọng và dự đoán số phận lênh đênh của Thúy Kiều.</p> <h3>Sơ đồ tư duy Phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích</h3> <h3><strong>Phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích - mẫu 2</strong></h3> <p>Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, cũng là người đã mang văn học của Việt Nam vươn xa ra thế giới qua tác phẩm Truyện Kiều. Tác phẩm là lời phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội phong kiến với bộ mặt tàn bạo của tầng lớp thống trị, là tiếng kêu đau thương của những số phận bị áp bức trong thời kì ấy. Và thông qua đó, ta có thể thấy được lòng thương cảm, tình yêu thương con người sâu sắc của tác giả. Đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" là một trong những đoạn trích hay nhất được trích từ tác phẩm này.</p> <p>Đoạn trích nằm ở phần thứ hai "Gia biến và lưu lạc". Sau khi biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn. Tú Bà sợ mất vốn, bèn lựa lời khuyên giải, cho người mua thuốc thang và hứa hẹn khi nàng bình phục, sẽ gả nàng cho một người đàn ông tốt nhưng thực chất là giam lỏng Kiều ở lầu Ngưng Bích, chờ thời cơ thực hiện âm mưu mới. Đoạn trích là những lời tự bộc bạch, là nỗi lòng cô đơn, buồn tủi của Kiều khi nhớ về người yêu, khi nghĩ về số phận đớn đau của đời mình.Sáu câu thơ đầu gợi tả thiên nhiên nơi lầu Ngưng Bích với không gian và thời gian:</p> <p>"Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân</p> <p>Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung</p> <p>Bốn bề bát ngát xa trông</p> <p>Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia</p> <p>Bẽ bàng mây sớm, đèn khuya</p> <p>Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng"</p> <p>Khung cảnh thiên nhiên được nhìn dưới con mắt của Thúy Kiều. Lầu Ngưng Bích, nơi giam lỏng nàng chính là nơi khóa tuổi xuân của Kiều lại. Hai chữ "khóa xuân" mà Nguyễn Du dành cho Kiều sao mà đớn đau, buồn bã đến thế! Một mình nơi lầu Ngưng Bích bao la, rộng lớn, Kiều chỉ có đám mây cùng với ngọn đèn bầu bạn. Nghệ thuật đối lập: "non xa" - "trăng gần" gợi một không gian rợn ngợp, không một bóng người, chỉ có mình Kiều với nỗi cô đơn, trống trải. Những cồn cát vàng gối đầu lên nhau, những bụi hồng ở xa kia dù biết Kiều đang chơi vơi, trơ trọi nhưng cũng không thể nào đến gần, bầu bạn với nàng được. Trước khung cảnh đượm buồn của buổi chiều tà, Kiều cảm thấy lòng mình như chia đôi, diễn tả nỗi chua xót, đau đớn của Kiều trong một vòng tuần hoàn khép kín của "mây sớm đèn khuya". Ngày nào cũng như vậy, vẫn những cảnh vật đó không hề thay đổi, chỉ có lòng người ngày càng buồn hơn.Chính trong hoàn cảnh cô đơn nơi đất khách quê người, Kiều càng thấy nhớ người yêu:</p> <p>"Tưởng người dưới nguyệt chén đồng</p> <p>Tin sương luống những rày trông mai chờ"</p> <p>Nhớ người yêu, Kiều nhớ đến khi nàng cùng Kim Trọng uống chén rượu thề dưới ánh trăng, nguyện ở bên nhau đến trọn đời. Ấy vậy mà giờ đây, tất cả chỉ còn là quá khứ. Nàng không thể ở bên người mình yêu, cũng không thể cùng chàng thực hiện lời nguyện ước. Ở bên ngoài kia, Kim Trọng vẫn luôn chờ đợi nàng, chàng đâu hề hay biết lời hứa năm nào đã tan thành mây khói, mà vẫn ngóng trông tin tức về Thúy Kiều. Càng thương Kim Trọng, Kiều càng đau xót cho thân phận của chính mình, bởi lẽ tấm lòng thủy chung, son sắt của nàng giờ không thể nào gột rửa được:</p> <p>"Bên trời góc bể bơ vơ</p> <p>Tấm son gột rửa bao giờ cho phai"</p> <p>Sau khi nhớ người yêu, nàng nhớ tới cha mẹ của mình:</p> <p>"Xót người tựa cửa hôm mai</p> <p>Quạt lồng ấp lạnh những ai đó giờ?</p> <p>Sân Lai cách mấy nắng mưa</p> <p>Có khi gốc tử đã vừa người ôm"</p> <p>Ở đây, người đọc có thể cảm thấy một điều vô lí, rằng tại sao Kiều lại nhớ đến người yêu trước khi nhớ về cha mẹ của nàng? Ta có thể hiểu được khi Kiều phải bán mình chuộc cha, hy sinh chữ "Tình" để làm tròn chữ "Hiếu" thì hẳn là ở đây, Kim Trọng là người đau đớn hơn cả. Do đó, Kiều nhớ tới Kim Trọng trước tiên, là áy náy, cảm thấy có lỗi đối với chàng. Khi nhớ về cha mẹ, Nguyễn Du cho Kiều được thể hiện sự đau xót của nàng "Xót người tựa cửa hôm mai". Kiều đau đớn bởi vì nàng không thể phụng dưỡng cha mẹ, chăm sóc cha mẹ khi về già. Ở nơi quê nhà, không biết đã có ai thay Kiều quạt cho cha mẹ những khi trời nóng, chăm sóc cha mẹ khi ốm đau hay chưa? Một loạt thành ngữ "quạt nồng ấp lạnh", "cách mấy nắng mưa" cùng điển cổ "Sân Lai", "gốc tử" cho thấy tài năng tuyệt vời của tác giả.</p> <p>Sau khi nhớ tới người thân, Kiều nghĩ về thân phận của mình. Tám câu thơ cuối là bức tranh thiên nhiên mang âm hưởng trầm buồn:</p> <p>"Buồn trông cửa bể chiều hôm</p> <p>Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa</p> <p>...</p> <p>Buồn trông gió cuốn mặt duềnh</p> <p>Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi."</p> <p>Điệp từ "buồn trông" được lặp lại bốn lần ở các câu thơ sáu chữ như trở thành điệp khúc, diễn tả nỗi buồn như đang dâng lên thành từng đợt, tạo thành con sóng lòng của Kiều. Nàng nhìn ra cửa bể, thấy thấp thoáng một bóng người bên cánh buồm của họ. Bóng người cô độc giữa non sông rộng lớn giống như sự đơn côi một mình của Kiều nơi lầu Ngưng Bích này. Chỉ có điều, nếu Kiều phải ở mãi nơi đây một mình, chưa biết ngày mai, thì người ngư dân đó đang bận rộn trở về đoàn tụ với gia đình sau một ngày làm việc vất vả. Hướng tầm mắt lại gần, Kiều trông thấy những cánh hoa đang trôi dạt, như là lênh đênh, là vô định trước cuộc đời. Những cánh hoa kia y hệt như cuộc đời của Kiều vậy. Cảnh vật cũng như buồn hơn dưới con mắt của Kiều, nàng nhìn đâu đâu cũng thấy bóng dáng những sự vật đơn độc, lẻ loi...Hai câu thơ cuối là tâm trạng hoang mang, lo lắng, là khi những đợt sóng lòng của nàng trở nên dữ dội hơn:</p> <p>"Buồn trông gió cuốn mặt duềnhẦm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi"</p> <p>Âm thanh của tiếng sóng dồn đến như cơn bão táp của nội tâm, là cực điểm cảm xúc trong lòng Kiều. Kiều sẽ phải làm gì với cuộc đời phía trước đây? Tám câu thơ cuối quả thực là tám câu thơ rất hay, mở ra một bức tranh thiên nhiên đối sóng với tâm trạng của Kiều, qua đó thấy được tài năng tả cảnh cũng như miêu tả tâm lí của nhà thơ.Đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" với đoạn mở đầu là bức tranh thiên nhiên, kế đến là lời độc thoại của nhân vật và kết thúc lại bằng một bức tranh thiên nhiên. Điệp khúc vòng cho thấy cái nét độc đáo trong cách làm thơ của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, đồng thời gieo vào lòng ta niềm thương cảm sâu sắc trước số phận của nhân vật Kiều.</p> <h3><strong>Phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích - mẫu 3</strong></h3> <p>Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa, một đại thi hào của dân tộc ta. Ông đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam ta một kiệt tác của nền văn học trung đại - tác phẩm Truyện Kiều. Ngoài hai giá trị lớn là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo, Truyện Kiều còn rất thành công về mặt nghệ thuật. Chỉ xét riêng về nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật và bút pháp tả cảnh ngụ tình, Nguyễn Du đã đạt đến đỉnh cao chói lọi nhất trong lịch sử bằng trích đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích miêu tả thành công cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Kiều.Đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" nằm trong phần "Gia biến và lưu lạc". Đoạn thơ dài 22 câu, không chỉ biểu lộ tình cảm xót thương của Nguyễn Du đối với kiếp người bạc mệnh mà còn thể hiện bút pháp đặc sắc về tự sự, về tả cảnh ngụ tình với ngôn ngữ độc thoại nội tâm để biểu đạt nỗi lòng và tâm trạng của Kiều. Cảnh ngộ của Kiều ở lầu Ngưng Bích vô cùng cô đơn, buồn tủi:</p> <p>“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,</p> <p>Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.</p> <p>Bốn bề bát ngát xa trông,</p> <p>Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.</p> <p>Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,</p> <p>Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”</p> <p>Bằng nét bút tả cảnh ngụ tình điêu luyện, Nguyễn Du đã miêu tả thành công nội tâm của Kiều. Từ ngữ "khóa xuân" đã cho thấy tình cảnh Kiều lâm vào cảnh cá chậu chim lồng, bị giam lỏng nơi lầu cao, khóa kín tuổi xuân của nàng. "Khóa xuân" ở đây không phải nói tới những cô gái còn cấm cung mà là sự mỉa mai, chua xót cho thân phận nàng Kiều. Nàng trơ trọi giữa thời gian mênh mông, không gian hoang vắng trong hoàn cảnh tha hương, cô đơn, giờ lại bị đày vào chốn lầu xanh ô nhục. "Lầu Ngưng Bích" vốn là một nơi phong cảnh tuyệt đẹp, khung cảnh trữ tình, thơ mộng được mở ra cả ba chiều cao, xa và rộng qua các từ ngữ "non xa", "trăng gần", "cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia". Thế nhưng "người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!", trong tình cảnh giam cầm Kiều khung cảnh thật buồn thảm, vắng lặng, nhìn trăng nàng chỉ thấy vầng trăng đơn côi, nhìn mặt đất thì bên là cồn cát nhấp nhô lượng sóng bên là bụi hồng cuốn xa hàng vạn dặm hoang vu, vắng lặng. Lầu Ngưng Bích chỉ là là một chấm nhỏ giữa thiên nhiên trơ trọi, giữa mênh mang trời nước. Trong cái không gian quẩn quanh "mây sớm đèn khuya" gợi vòng tuần hoàn khép kín của thời gian, tất cả như giam hãm tuổi xuân mơn mởn của tuyệt sắc giai nhân, sự sống của Kiều như bị những bàn tay tàn bạo bóp nghẹt. Từ đó khắc sâu thêm nỗi đơn côi khiến Kiều càng thấy "bẽ bàng" chán nản, buồn tủi, không ai chia sẻ nàng chỉ biết là bạn với mây, với đèn, với cảnh vật hoang vu, nhạt nhòa.Trong nỗi cô đơn tuyệt đối ấy, Kiều cảm thấy xa cách, hoang vắng, một mình một bóng bơ vơ, bị giam cầm cách biệt nơi đất khách quê người, xa quê hương, xa người yêu của mình:</p> <p>“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,</p> <p>Tin sương luống những rày trông mai chờ.</p> <p>Bên trời góc bể bơ vơ,</p> <p>Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.”</p> <p>Ở lầu Ngưng Bích Kiều đã nhớ về Kim Trọng trước, đó là một nét bút đặc sắc, độc đáo và phù hợp với tâm lý, thể hiện tấm lòng chung thủy của Kiều. Các từ ngữ "tưởng", "trông", "chờ" trong ngôn ngữ độc thoại nội tâm của Kiều đã làm bật lên nỗi nhớ Kim Trọng khôn nguôi của nàng. Kiều càng nhớ về lời thề đôi lứa, lời hẹn ước trăm năm ở vườn Thúy lại càng thương cho Kim Trọng. Chén rượu thề như còn đây mà nay mỗi người như mỗi ngả khiến nàng ân hận, xót xa như kẻ phụ tình. Nàng tưởng tượng Kim Trọng đang hướng về mình, "rày trông mai chờ" uổng công vô ích khiến nàng càng thêm xót xa, càng thấp thỏm lo âu. Dù cho mỗi người một phương nhưng tình cảm, tấm lòng son của nàng dành cho Kim Trọng là mãi mãi, không thể phai mờ. Càng nghĩ Kiều càng lo lắng, khiến nàng bật lên câu hỏi tu từ không biết trên bước đường trôi dạt nơi "bên trời góc bể", bao giờ nàng mới có thể gột rửa sạch những hoen ố của tấm lòng son chung thủy để có thể đáp lại tình yêu của Kim Trọng dành cho nàng. Ở nơi lầu cao ấy, nàng cũng không nguôi nhớ thương, lo lắng cho cha mẹ của mình:</p> <p>“Xót người tựa cửa hôm mai,</p> <p>Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?</p> <p>Sân Lai cách mấy nắng mưa,</p> <p>Có khi gốc tử đã vừa người ôm”</p> <p>Với ngôn ngữ độc thoại, kết hợp với lối viết cổ, tâm trạng ngổn ngang của Kiều hiện lên thật rõ nét. Các từ ngữ "hôm mai", "cách mấy nắng mưa" chỉ nỗi nhớ mong cha mẹ dài theo năm tháng của nàng. Kiều xót thương cha mẹ mình ngày đêm lo lắng, "tựa cửa hôm mai" mong ngóng tin nàng, sợ cha mẹ già yếu ở nhà, không ai chăm sóc, phụng dưỡng. Thành ngữ "quạt nồng ấp lạnh", cùng với điển tích "Sân Lai", "Gốc tử" đã nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm lòng hiếu thảo của Kiều với cha mẹ mình. Nàng lo sợ ở nơi quê hương, mọi thứ đã đổi thay, cha mẹ nàng lại ngày càng già yếu nên nàng vô cùng day dứt, áy náy vì chưa làm tròn bổn phận phụng dưỡng cha mẹ của người con. Từ đó tấm lòng vị tha và hiếu thảo của Kiều đã hiện lên thật rõ nét. Trong cảnh ngộ bị giam lỏng nơi lầu Ngưng Bích, lưu lạc nơi chân trời góc bể, Kiều là người đáng thương nhất. Thế nhưng với tâm hồn cao đẹp của mình, nàng luôn hi sinh bản thân, quên đi cảnh ngộ của bản thân để lo lắng, nghĩ về Kim Trọng, nghĩ về cha mẹ của mình. Nỗi nhớ của Kiều rất thực và có chiều sâu, từ đó cho thấy Kiều là một đứa con hiếu thảo, một người tình thủy chung và là một con người giàu lòng vị tha.Tâm trạng buồn tủi của Kiều đã thể hiện rõ nét qua cảnh vật bên ngoài. Mỗi cảnh vật là một nét riêng nhưng đều diễn tả một khía cạnh trong tâm trạng của Kiều. Cánh buồm trên biển giữa mênh mông trời chiều hoàng hôn thật cô độc, lẻ loi:</p> <p>“Buồn trông cửa bể chiều hôm,</p> <p>Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?”</p> <p>Khung cảnh mở ra vào thời điểm chiều hôm, thời điểm của những lưu luyến khó tả. "Cửa bể chiều hôm" gợi trước mắt ta hình ảnh những tia nắng leo lắt cuối ngày phản chiếu lên mặt biển xanh thẳm rồi lan ngay ra không gian xung quanh, khiến mọi thứ nhuốm màu sẫm tối, có cái gì da diết như đêm luyến ngày, như niềm lưu luyến tha thiết của Kiều về ngày tháng êm đềm xưa kia. Các từ ngữ "thấp thoáng", "xa xa" gợi sự lẻ loi, đơn độc như chính niềm hy vọng mong manh, leo lét của Kiều. Một mình bơ vơ ở nơi đó, Kiều chỉ mòn mỏi nhớ về quê hương, nhớ về cha mẹ, chờ mong một con thuyền đến cứu, thế nhưng những chiếc thuyền ấy chỉ thấp thoáng ở xa rồi mất hút về phía chân trời. "Thuyền ai" lênh đênh rồi mất hút về phía chân trời xa như cuộc đời Kiều, chẳng biết đến bao giờ có thể về được quê nhà, báo hiếu cho cha mẹ. Ánh nhìn của Kiều vẫn ở mặt nước nhưng đã gần hơn:</p> <h3><strong>Phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích - mẫu 4</strong></h3> <p>Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một tác gia văn học tài hoa và lỗi lạc của văn học Việt Nam. Ông được mệnh danh là thi sĩ của các nhà thi sĩ. Truyện Kiều là một tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Du là đỉnh cao chói lọi nhất của nghệ thuật thi ca. Đọc tác phẩm, chúng ta không thể quên được đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích".</p> <p>Sau bao biến cố khủng khiếp: tai bay vạ gió, cha và em bị tù tội, gia sản bị cướp hết, Kiều phải hi sinh chữ tình để báo hiếu với cha mẹ. Bị Mã giám Sinh lừa gạt bán vào lầu xanh của Tú Bà, Kiều tự tử nhưng không chết. Tú Bà dỗ dành Kiều ra ở lầu Ngưng Bích để kén chồng nhưng thật chất đó là cuộc giam lỏng, chờ cơ hội mụ sẽ bắt Kiều trở lại lầu xanh.Lầu Ngưng Bích chơi vơi giữa biển khơi là điểm dừng chân đầu tiên trên con đường lưu lạc đầy cay đắng và tủi nhục của Thúy Kiều. Đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" là nỗi cô đơn buồn tủi, niềm nhớ thương da diết về quê hương gia đình và người thân của Kiều. Đó cũng là thể hiện tấm lòng thủy chung hiếu thảo của nàng.Trước hết với sáu câu thơ mở đầu của đoạn trích, là không gian nghệ thuật chứa đầy tâm trạng của Kiều. Trước mặt, là biển khơi từ trên lầu cao nàng cảm nhận được một không gian mênh mông rợn ngợp. Xa xa là dãy núi, hai bên bờ là cồn cát bụi mù bay. Chỉ có lầu Ngưng Bích đang giảm lòng một thân phận mỏng manh đơn côi. Đó là một không gian hoàn toàn khép kín. Một mình đối diện với "mây sớm đèn khuya". Khiến Kiều đau khổ đến tủi nhục bẽ bàng cho cái kiếp vô duyên lạc loài của mình:</p> <p>"Bẽ bàng mây sớm đèn khuya</p> <p>Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng"</p> <p>Không gian đã vậy thời gian cũng hoàn toàn khép kín khiến Kiều buồn tủi, lủi thủi một mình cô đơn đến tuyệt đối.Đến với tám câu thơ tiếp theo là tâm trạng nhớ thương da diết của Kiều về gia đình và người thân. Trước hết, Nguyễn Du để cho Kiều nhớ Kim Trọng (điều này khác hẳn với Thanh Tâm tài nhân). Nàng đã từng uống rượu ăn thề cùng Kim Trọng dưới ánh trăng nhưng rồi đã phải xót xa trao mối tình ngọt ngào ấy cho Thúy Vân.Trên đường về Lâm Tri theo Mã giám Sinh nàng vẫn thương cho Kim Trọng trong cô đơn buồn tủi: "Một trời thu để riêng ai một người". Giờ đây trong lúc mà thời gian cứ trôi đi Kiều nhớ Kim Trọng là tưởng nhớ tới lời thề đôi lứa:</p> <p>"Tưởng người dưới nguyệt chén đồng</p> <p>Tin sương luống những rày trông mai chờ</p> <p>Bên trời góc bể bơ vơ</p> <p>Tấm son gột rửa bao giờ cho phai."</p> <p>Những lời thề nguyền đâu còn nữa, cái cây cầu trần thế mà Kiều và Kim Trọng phải bước qua thật là éo le. Nàng tưởng tượng cái cảnh Kim Trọng đang hướng về mình, đêm ngày đau đáu chờ tin mà uổng công vô ích "Tin sương luống những rày trông mai chờ". Trong nỗi nhớ ấy người đọc nhận ra một tâm trạng xót xa đau đớn. Nàng tự hứa "Tấm son gột rửa bao giờ cho phai". Đó là tấm lòng thủy chung son sắt thề non ước biển của kẻ chung tình. Tiếp đó, là Kiều nhớ tới cha mẹ. Nghĩ tới song thân Kiều vô cùng thương xót.</p> <p>Nàng nghĩ tới cái cảnh cha mẹ ngồi tựa cửa ngóng con lúc sáng sớm hay buổi chiều tà. Vậy mà vẫn bặt vô âm tín. Nàng xót xa lúc cha mẹ già yếu không có ai chăm sóc phụng dưỡng chăm nom. Tâm trạng nhớ thương vời vợi cùng với nỗi xót xa thể hiện sâu sắc tấm lòng hiếu thảo của nàng. Rất nhiều từ ngữ lấy từ điển cố cùng với từ ngữ dân gian vừa nói được thời gian xa cách, vừa nói đến sự tàn phai khốc liệt của thiên nhiên đối với con người.Ngôn ngữ độc thoại nội tâm, phong cách cổ điển hài hòa với phong cách dân tộc tạo nên những vần thơ biểu cảm thể hiện một tâm trạng bi kịch, một cảnh ngộ đầy bi kịch của Kiều. Trong cảnh bình rơi trâm gãy Kiều là người đáng thương nhất nhưng nàng không nghĩ đến mình mà vẫn nhớ thương cha mẹ và người thân. Kiều thực sự là người tình thủy chung một người con hiếu thảo có tấm lòng vị tha đáng trân trọng. Tám câu cuối, là cảnh xế chiều cảnh vật dễ làm cho con người buồn thương da diết:</p> <p>"Buồn trông cửa biển chiều hôm</p> <p>Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa</p> <p>...</p> <p>Buồn trông gió cuốn mặt duềnh</p> <p>Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi"</p> <p>Mỗi biểu hiện của cảnh vật bên bờ biển lúc này đều thể hiện một tâm trạng và một cảnh ngộ đáng thương. Nhìn cánh buồm thấp thoáng giữa biển khơi rồi dần dần khuất bóng "càng trông" lại càng thấy buồn, nàng liên tưởng tới cuộc đời nho nhỏ bơ vơ trơ trọi trên đất khách. Nhìn những cánh hoa tàn nát trôi giữa dòng nước lũ. Nàng tự hỏi rồi nó sẽ trôi về đâu về phương trời nào mà hoàn toàn vô định.</p> <p>Bài giảng: <b>Kiều ở lầu Ngưng Bích - Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)</b></p> <p>Xem thêm các bài văn mẫu lớp 9 hay, ngắn nhất khác:</p> <ul> <li><p><b>Cảm nhận đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích</b></p></li> <li><p><b>Cảm nhận về 8 câu thơ cuối trong Kiều ở lầu Ngưng Bích</b></p></li> <li><p><b>Kể về một lần trót xem trộm nhật kí của bạn </b></p></li> <li><p><b>Kể lại cuộc gặp gỡ người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính </b></p></li> <li><p><b>Kể lại kỉ niệm đáng nhớ giữa mình và thầy cô giáo cũ nhân ngày 20/11</b></p></li> </ul> <ul> <li><b>Hơn 20.000 câu trắc nghiệm Toán,Văn, Anh lớp 9 có đáp án</b></li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 04 Jul 2026 13:30:28 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">5+ Phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích (học sinh giỏi)</media:title>
                        <media:keywords>5+ Phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích (học sinh giỏi)</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/mo-bai-nghi-luan-van-hoc-cho-hoc-sinh-gioi-a110267.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/mo-bai-nghi-luan-van-hoc-cho-hoc-sinh-gioi-a110267.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/mo-bai-nghi-luan-van-hoc-cho-hoc-sinh-gioi-a110267.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/mo-bai-nghi-luan-van-hoc-cho-hoc-sinh-gioi.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Những ngày qua, sau khi kết thúc kỳ thi học sinh (HS) giỏi lớp 9 cấp thành phố (30-3), công tác chấm thi đã được Sở GD&amp;ĐT TP.HCM triển khai khẩn trương và kỹ lưỡng để chọn lọc những bài thi xứng đáng được giải. </p> <p>Đáng chú ý trong đó là bài thi môn Ngữ văn, bởi đề thi năm nay được nhiều giáo viên lẫn học sinh khen ngợi khi đề cập đến chủ đề “sự thay đổi”. Trong đó, câu nghị luận xã hội chiếm 8 điểm với yêu cầu viết một bài văn đối thoại với bé tuổi 15 ghét sự thay đổi như trong đoạn trích đề đưa ra. Và phần nghị luận văn học chiếm 12 điểm, nói về văn học khiến người đọc thay đổi.</p> <p>Với đề thi rất mở này, bài làm của các em cũng khiến giám khảo chấm thi có nhiều điều suy ngẫm.</p> <figure> <img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/mo-bai-nghi-luan-van-hoc-cho-hoc-sinh-gioi.jpg" alt="" /> </figure> <p>Nội dung đề thi học sinh giỏi Ngữ văn lớp 9 cấp thành phố năm nay</p> <p>Trao đổi với <i>PLO</i>, một giám khảo là giáo viên dạy Ngữ văn tại một trường THPT nổi tiếng ở TP.HCM, chia sẻ rằng có khoảng hơn 400 bài thi môn Ngữ văn, được chia từng nhóm chấm. Mỗi bài thi sẽ có hai giám khảo chấm để chọn ra được những bài xứng đáng có giải.</p> <p>Khi chấm thi, giám khảo này cho biết với nhận thức và suy nghĩ, cảm nhận của HS lớp 9 trong điều kiện học bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh nhưng nhiều em có lực viết khá tốt. Có những em trong 120 phút có thể viết đến bốn đôi giấy thi, cách nhìn nhận vấn đề ở cả nghị luận xã hội lẫn văn học khá tốt.</p> <p>Theo giám khảo này, thực ra, đề thi năm nay khá hay và đáp án đưa ra cũng hay. Tuy nhiên, đáp án là do người lớn xây dựng với góc nhìn toàn diện hơn. Còn với các em đi thi, dù là HS giỏi nhưng góc nhìn của các em cũng chỉ ở tuổi 15 nên không thể đòi hỏi sự tròn trịa theo đáp án. </p> <p>“Nhưng chỉ cần các em có điểm sáng, có sự sáng tạo, có góc nhìn riêng và thể hiện bài làm một cách sắc sảo, phù hợp với lứa tuổi là những bài xứng đáng được giải” - vị này nói.</p> <p>Cảm nhận qua các bài làm của các em, giám khảo này cho biết ở phần nghị luận xã hội, đại dịch trở thành nỗi ám ảnh của các em HS. Bởi hầu hết các dẫn chứng của các em đưa ra đều lấy từ đại dịch COVID-19.</p> <p>“Tất nhiên, bản thân trong đề cũng có một ý về đại dịch như vì dịch bệnh khiến chúng ta phải thay đổi, phải đeo khẩu trang, phải 5K, phải chuyển từ học trực tiếp sang online…nhưng trong quá trình làm bài nói về sự thay đổi chung, hầu hết các dẫn chứng các em đưa ra để làm sáng tỏ cho bài làm của mình thì đều lấy những câu chuyện trong đại dịch. Trong khi lẽ ra thông thường, các em sẽ nói về những hình ảnh tươi vui hơn, những hoạt động mới mẻ, những cơ hội trải nghiệm….của các em</p> <p>Dường như đại dịch đã thành ký ức khó phai mờ của các em nên khi chấm bài, tôi thấy rất thương các em vì bốn năm học cấp 2 mà hết ba năm trời các em phải học trong đại dịch. Điều này đã ảnh hưởng ít nhiều đến tâm lý của các em, các em sẽ không được bình thường so với những lứa HS khác” - giám khảo cảm nhận.</p> <p>Hơn nữa, theo vị giám khảo này, HS lớp 9 năm nay đi thi HS giỏi không có bất kỳ ưu tiên nào khi có giải (như cộng điểm tuyển sinh...) nên việc các em mất thời gian đi bồi dưỡng, đi dự thi trong điều kiện dịch bệnh đều rất xứng đáng được trân trọng.</p> <p>Được biết, kỳ thi HS giỏi cấp thành phố khối lớp 9 vừa diễn ra ngày 30-3 vừa qua. Những em dự thi là những em trong các đội tuyển thi HS giỏi của quận, huyện và có học lực, hạnh kiểm trong học kỳ 1 năm học 2021-2022 từ loại khá trở lên. </p> <p>Khi chấm thi, TP.HCM chỉ xét các giải nhất, nhì, ba theo từng môn thi cho cá nhân. Trong đó, tổng số giải không vượt quá 60% số thí sinh dự thi. Trong số này, giải nhất không vượt quá 5% và giải nhì không quá 35%. </p> <p>Đặc biệt, năm nay, theo Nghị quyết mới của Hội đồng nhân dân TP.HCM về khuyến khích giáo viên, HS đoạt các giải, TP sẽ trao thưởng cao cho những em đạt giải nhất cấp thành phố. Cụ thể ở THCS có mức thưởng 10 triệu đồng/giải, THPT là 12 triệu đồng/giải.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 04 Jul 2026 12:11:34 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/mo-bai-nghi-luan-van-hoc-cho-hoc-sinh-gioi.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/mo-bai-nghi-luan-van-hoc-cho-hoc-sinh-gioi.jpg" 
            width="120" 
            />
                                    <media:keywords></media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/cam-nhan-cua-em-ve-nhung-ngoi-sao-xa-xoi-a110262.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/cam-nhan-cua-em-ve-nhung-ngoi-sao-xa-xoi-a110262.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/cam-nhan-cua-em-ve-nhung-ngoi-sao-xa-xoi-a110262.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Mới đây, Ban Thường vụ Đoàn trường Đại học Sư phạm TP.HCM phối hợp với Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ văn, Hội Nhà văn TP.HCM và Cục Truyền thông Công an Nhân dân (CAND) Việt Nam tổ chức chương trình giao lưu tác giả giả và giới thiệu tác phẩm “Đường 1C huyền thoại - Những bờ vai con gái” của tác giả Trầm Hương. </p> <p>Tại chương trình, hơn 800 sinh viên và học viên cao học cùng với các khách mời đã được gặp gỡ và giao lưu với nữ tác giả Trầm Hương để tìm hiểu về quá trình từ “phôi thai” đến hoàn thiện việc sáng tác tác phẩm.</p> <p><i>Các cô chú cựu thanh niên xung phong cùng nhà văn Trầm Hương (ngoài cùng bên trái) cùng giao lưu với khách mời và các bạn sinh viên. Ảnh: PHƯƠNG THẢO</i></p> <p><b>Kỷ niệm 46 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước</b></p> <p>Chúng ta đã đi qua những hồi âm xáo động trong những lời kể thật nhất về quá khứ. Những tưởng niệm. Những hào hùng. Những mất mác. Những đau thương. Và rồi là những động lực. </p> <p>Để có thể hiểu rằng, tác phẩm “Đường 1C huyền thoại - Những bờ vai con gái” không chỉ là lời kể xúc động của những điều chỉ là dư âm của thời đã qua, mà nó đích thực là sự lay động rõ ràng nhất. Qua đó để mỗi con người yêu văn chương lại có cơ hội được nhìn lại một vết tích huyền thoại từng thúc đẩy những bà, những cô, những chị vì tình yêu và bản lĩnh, quyết tâm xung phong làm nên những chiến công ghi dấu một góc trời.</p> <p>Nhân kỷ niệm 46 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đoàn trường Đại học Sư phạm TP.HCM phối hợp cùng Cơ quan đại diện Cục Truyền thông CAND, Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức buổi giao lưu, giới thiệu tác phẩm truyện ký: “Đường 1C huyền thoại - Những bờ vai con gái” của tác giả Trầm Hương.</p> <p>Tại đây, tất cả mọi người đã có cơ hội bước chân vào không gian rất riêng của tác phẩm. Họ như cùng nhau thực hiện chuyến đi vào sâu hơn trong tâm khảm của chính mình, hồi tưởng lại cuộn phim của thời chinh chiến để hòa mình vào tiết điệu ngôn ngữ của trái tim thông qua lời kể của những nhân vật vô cùng đặc biệt. </p> <p>Đó chính là các cô chú cựu thanh niên xung phong - những nhân chứng sống một thời làm nên trang sách sử trung kiên tại con đường 1C khói lửa miền quê Nam Bộ.</p> <p><b>Các nhân chứng sống kể lại một thời anh dũng </b></p> <p>Mọi trải nghiệm dù là đau thương hay hạnh phúc, khổ lụy hay sướng vui đều là những kho báu nhân sinh vô giá của chúng ta và chúng ta cất giữ nó ở một góc riêng của tâm hồn mình. </p> <p>Như vậy, khi được hỏi về những câu chuyện từng trải, khi quá khứ được lay động và khi nỗi niềm được nhắc lại trong quyển sách “Đường 1C huyền thoại - Những bờ vai con gái”, các cô có những cảm nhận như thế nào khi từng dòng chữ miêu tả một thời thanh xuân của mình bỗng chợt hiện về.</p> <p><i>Cô Nguyễn Hồng Phận (bên trái) xúc động chia sẻ. Ảnh: PHƯƠNG THẢO</i></p> <p> Cô Nguyễn Hồng Phận (Cà Mau) - Đại đội Nguyễn Việt Khái vô cùng xúc động chia sẻ lúc đó tôi còn nhỏ mới 15 tuổi nhưng nghe tiếng gọi thanh niên phát động tôi cũng không biết phải làm gì nhưng vẫn đi. Khi đến đường 1C ở Hà Tiên, tôi được phân công vác hàng bằng xuồng. Lúc đó sao lạ, chúng tôi không biết sợ là gì, chỉ biết phải cố gắng hết sức để hoàn thành nhiệm vụ đưa hàng về đến miền Tây.</p> <p>“Đạn bom cũng kệ, chỉ biết cố gắng chèo xuồng mang hàng về. Chị em chúng tôi có khi 31 ngày đêm không biết ngủ ngon giấc là gì. Máy bay bom đạn đầy trời chúng tôi vẫn thay phiên nhau chèo xuồng, quần áo chỉ mang 2 3 bộ không khô kịp phải bận đồ ướt. Cơm cũng đâu có đủ để ăn, nhắc lại thấy tủi nhưng cũng vô cùng tự hào vì đã hoàn thành nhiệm vụ và nhận được giấy khen”- cô Nguyễn Hồng Phận chia sẻ.</p> <p>Tiếp lời cô Nguyễn Hồng Phận, nhà văn Trầm Hương tiết lộ một điều khá đặc biệt: “Lúc đó mấy chị nào được phong là “Dũng sĩ kiện hàng” thì phần thưởng là bức ảnh của anh Nguyễn Văn Trỗi và chị Quyên. Đó là giá trị tinh thần rất lớn đối với các chị, nhận được phần thưởng đó các chị vô cùng sung sướng”.</p> <p>Trước sự xúc động của mọi người, cô Nguyễn Thanh Hồng - Đại đội Nguyễn Việt Khái cho biết: “Tôi rất cám ơn nhà văn Trầm Hương đã tái dựng lại thanh xuân của chúng tôi ở chiến trường 1C. Đúng như nhà văn đã miêu tả, tôi tham gia thanh niên xung phong lúc tôi chỉ mới 14 tuổi. </p> <p>Trong thời gian chúng tôi ở chiến trường, trước sự ác liệt của kẻ thù, chúng tôi không những rất kiên cường mà còn làm đủ mọi cách để có thể hoàn thành nhiệm vụ. Chị em chúng tôi đã cắt phăng mái tóc dài của mình, thậm chí cạo trọc đầu để dễ dàng chiến đấu”.</p> <p>Những ai đã đọc qua cuốn truyện ký, chắc hẳn vô cùng ấn tượng đến độ rơi vào trạng thái ám ảnh bởi các phân đoạn miêu tả về khoảnh khắc mà các cô phải chứng kiến các thi hài của đồng đội mình đắp chồng lên nhau trên những cù lao của miền đất Nam Bộ, và trôi nổi trên mặt sông ngay tại “tọa độ lửa” của bom đạn.</p> <p>Truyện ký “Đường 1C huyền thoại - Những bờ vai con gái” của nhà văn Trầm Hương. <i>Ảnh: PHƯƠNG THẢO</i></p> <p>Khi được hỏi các cô chú - là những thanh niên xung phong tận mắt chứng kiến những thực cảnh như thế đã cảm thấy như thế nào. Chú Cao Long Phiêu - Đại đội Nguyễn Việt Khái cho biết bất cứ lúc nào nhắc lại chú cũng cảm thấy sợ hãi, thậm chí không đủ can đảm đọc hết cuốn sách ấy.</p> <p>Chú Cao Long Phiêu chia sẻ: “Kể ra ở đây thì cả ngày cũng không hết, lúc đó cũng đi vận tải chuyển hàng, có khi 2 3 năm mới được trang bị quần áo một lần, cơm thì chắc chắn đã thiếu thốn hằng ngày. Lúc đó còn nhỏ nên những khổ cực như vậy là quá sức đối với chúng tôi, chứng kiến đồng đội chết trước mặt cũng vô cùng sợ hãi nhưng không được lùi bước. </p> <p>Con đường 1C chi viện cho cả 3 chiến trường: quân khu 8, quân khu 9 và cả miền Tây Nam Bộ nên giặc luôn luôn muốn triệt phá. Để bám trụ được đến ngày giải phóng đất nước là cả một quá trình gian nan mà nhắc đến bất cứ ai cũng phải rùng mình”.</p> <p>Đúng như vậy, muôn vàn ác liệt của chiến tranh, tất thảy hi sinh anh dũng của các chiến sĩ nơi “đầu sóng ngọn gió” vẫn luôn luôn ghi dấu trong lòng mỗi con người Việt Nam.</p> <p>Trước khi biết đến tác phẩm truyện ký “Đường 1C huyền thoại - Những bờ vai con gái” của nhà văn Trầm Hương, chúng ta hẳn đã biết đến các chiến sĩ thanh niên xung phong qua các tác phẩm khác như: “Mảnh trăng cuối rừng” của nhà văn Nguyễn Minh Châu và “Những ngôi sao xa xôi” của nhà văn Lê Minh Khuê trong chương trình sách giáo khoa.</p> <p><i>Nhà văn Trầm Hương chia sẻ. Ảnh: PHƯƠNG THẢO</i></p> <p>Dù ở đâu, được tái hiện lại như thế nào thì những chiến sĩ thanh niên xung phong ấy trong lòng chúng ta vẫn luôn là những anh hùng đã vượt qua hành trình gian khổ, hi sinh, đã yêu nước, đã quyết tâm chiến đấu với niềm tin về một ngày cách mạng thắng lợi, thống nhất nước nhà.</p> <p>Và hôm nay, “Những ngôi sao xa xôi” ấy đã đến Sài Gòn, cùng tất cả chúng ta sống lại quá khứ, hô vang khẩu hiệu vì một niềm tự hào dân tộc muôn đời!</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 04 Jul 2026 10:04:30 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                                    <media:keywords></media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Văn bản Vợ chồng A Phủ]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/doan-trich-vo-chong-a-phu-a110256.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/doan-trich-vo-chong-a-phu-a110256.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/doan-trich-vo-chong-a-phu-a110256.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>Vợ chồng A Phủ</strong></p><p>(trích)</p><p>Tô Hoài</p><p>Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước của, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi công nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Người ta thường nói: nhà Pá Tra làm thống lí, ăn của dân nhiều, đồn Tây lại cho muối về bán, giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng. Thế thì con gái nó còn bao giờ phải xem cái khổ mà biết khổ, mà buồn. Nhưng rồi hỏi ra mới rõ có ấy không phải con gái nhà Pá Tra : cô ấy là vợ A Sử, con trai thống lí Pá Tra. Có Mị về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm. Từ năm nào, có không nhớ,cũng không ai nhớ. Nhưng người nghèo ở Hồng Ngài thì vẫn còn kể lại câu chuyện Mị về làm người nhà quan thống lí. Ngày xưa, bố Mị lấy mẹ Mị không có đủ tiền cưới, phải đến vay nhà thống lí, bố của thống lí Pá Tra bây giờ. Mỗi năm đem nộp lãi cho chủ nợ một nương ngô. Đến tận khi hai vợ chồng về già rồi mà cũng chưa trả được nợ. Người vợ chết, cũng chưa trả hết nợ.</p><p>Cho tới năm ấy Mị đã lớn, Mị là con gái đầu lòng. Thống lí Pá Tra đến bảo bố Mị :</p><p>- Cho tao đứa con gái này về làm dâu thì tao xoá hết nợ cho.</p><p>Ông lão nghĩ năm nào cũng phải trả một nương ngô cho người ta, thì tiếc ngô, nhưng cũng lại thương con quá. Ông chưa biết nói thế nào thì Mị bảo bố rằng :</p><p>- Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu.</p><p>Đến Tết năm ấy, Tết thì vui chơi, trai gái đánh pao, đánh quay rồi đêm đem rủ nhau đi chơi. Những nhà có con gái thì bố mẹ không thể ngủ được vì tiếng chó sủa. Suốt đêm, con trai đến nhà người mình yêu, đứng thổi sáo xung quanh vách. Trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị. Một đêm khuya, Mị nghe tiếng gõ vách. Tiếng gõ vách hò hẹn của người yêu. Mị hồi hộp lặng lẽ quơ tay lên thì gặp hai ngón tay lách vào khe gỗ, sờ một ngón thấy có đeo nhẫn. Người yêu của Mị thường đeo nhẫn ngón tay ấy. Mị bèn nhấc tấm vách gỗ. Một bàn tay dắt Mị bước ra. Mị vừa bước ra, lập tức có mấy người choàng đến, nhét áo vào miệng Mị rồi bịt mắt, cõng Mị đi.</p><p>Sáng hôm sau, Mị mới biết mình đang ngồi trong nhà thống lí Pá Tra Họ nhốt Mị vào buồng Ngoài vách kia, tiếng nhạc sinh tiền cúng ma đương rập ròn nhảy múa.</p><p>Trong khi đó, A Sử đến nhà bố Mị. A Sử nói:</p><p>- Tôi đã cướp được con gái bố làm vợ, tôi đem về cúng trình ma nhà tôi rồi bây giờ tôi đến trình cho bố biết Tiền bạc để cưới thì bố tôi bão đã đưa cả cho bố. Rồi A Sử về. Ông lão nhớ ngay câu nói của thống lí Pá Tra dạo trước: cho con gái về nhà thống lí Pá Tra thì được trừ nọ. Chao ôi! Thế là cha mẹ ăn bạc của nhà giàu từ kiếp trước, bây giờ người ta bát bán con trừ nợ. Không thể làm thế nào khác được rồi!</p><p>Có đến hàng mấy tháng đêm nào Mị cũng khóc. Một hôm, Mị trốn về nhà, hai trong mất còn đỏ hoe. Trông thấy bố, Mị quỳ lay, úp mặt xuống đất, nức nở. Bố Mị cũng khóc, đoán biết lòng con gái:</p><p>- Mày về lạy chào tao để mày đi chết đấy à ? Mày chết nhưng nợ tao vẫn còn, quan lại bắt tao trả nọ. Mày chết rồi thì không lấy ai làm nương ngô giả được nợ người ta, tao thì ốm yếu quá rồi Không được, con ơi!</p><p>Mị chi bưng mặt khóc. Mị ném nắm lá ngón xuống đất, nám lá ngón Mị đã tìm hái trong rừng Mị vẫn giấu trong áo. Thế là Mị không đành lòng chết Mị chết thì bố Mị còn khổ hơn bao nhiều lần bay giờ nữa. Mị đành trở lại nhà thống lí.</p><p>Lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau, bố Mị chết. Nhưng Mị cũng không còn tưởng đến Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa. Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đối ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi. Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa, mà lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại : Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế. Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đúng gãi chân, đúng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đem cả ngày.</p><p>Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi.</p><p>Trên đầu núi, các nương ngô, nương lúa gặt xong, ngô lúa đã xếp yên đầy các nhà kho. Trẻ con đi hái bí đỏ, tinh nghịch, đã đốt những lều canh nương để sưởi lửa. Ở Hồng Ngài người ta thành lệ cứ ăn Tết khi gặt hái vừa xong, không kể ngày, tháng nào. Ăn Tết như thế cho kịp lúc mưa xuân xuống thì đi vỡ nương mới. Hồng Ngài năm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gianh vàng ủng, gió và rét rất dữ dội.</p><p>Nhưng trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ [...]. Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà. Ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bối hối. Mị ngồi nhẩm thầm bài hát của người đang thổi.</p><p>Mày có con trai con gái rồi</p><p>Mày đi làm nương</p><p>Ta không có con trai con gái</p><p>Ta đi tìm người yêu.</p><p>Tiếng chó sủa xa xa. Những đêm tình mùa xuân đã tới.</p><p>Ở mỗi đầu làng đều có một mỏm đất phẳng làm cái sân chơi chung ngày Tết. Trai gái, trẻ con ra sân chơi ấy tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy.</p><p>Cả nhà thống lí Pá Tra vừa ăn xong bữa cơm Tết cúng ma. Xung quanh, chiêng đánh ầm ĩ, người ốp đồng vẫn còn nhảy lên xuống, run bần bật. Vừa hết bữa cơm lại tiếp ngay bữa rượu bên bếp lửa.</p><p>Ngày Tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị.</p><p>Rượu đã tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vẫn cả. Mị không biết, Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau Mị mới đúng dậy, nhưng Mị không bước ra đường chơi, mà từ từ bước vào buồng. Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Mị cũng chẳng buồn đi. Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết.</p><p>Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau ! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ</p><p>lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường.</p><p>Anh ném pao, em không bắt</p><p>Em không yêu, quả pao rơi rồi...</p><p>Lúc ấy, A Sử vừa ở đâu về, lại đang sửa soạn đi chơi. A Sử thay áo mới, khoác thêm hai vòng bạc vào cổ rồi bịt cái khăn trắng lên đầu. Có khi nó đi mấy ngày mấy đêm. Nó còn muốn rình bắt mấy người con gái nữa về làm vợ.</p><p>Cũng chẳng bao giờ Mị nói gì.</p><p>Bây giờ Mị cũng không nói. Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Trong đầu Mị đang rập ròn tiếng sáo. Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi. Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách. A Sử đang sắp bước ra, bỗng quay lại, lấy làm lạ. Nó nhìn quanh, thấy Mị rút thêm cái áo. A Sử hỏi:</p><p>- Mày muốn đi chơi à ?</p><p>Mị không nói. A Sử cũng không hỏi thêm nữa. A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà. Tóc Mị xoã xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột, làm cho Mị không cúi không nghiêng được đầu nữa. Trói xong vợ, A Sử thắt nốt cái thắt lưng xanh ra ngoài áo rồi A Sử tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng lại.</p><p>Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi. “Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào...”. Mị vùng bước đi. Nhung tay chân đau không cựa được. Mị không nghe tiếng sáo nữa. Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa. Chó sủa xa xa. Chùng đã khuya. Lúc này là lúc trai đang đến bên vách làmhiệu, rủ người yêu dỡ vách ra rừng chơi. Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi.</p><p>Cả đêm ấy Mị phải trói đúng như thế. Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức. Lúc lại nồng nàn tha thiết nhớ. Hơi rượu toả. Tiếng sáo. Tiếng chó sủa xa xa. Mị lúc mê, lúc tỉnh. Cho tới khi trời tang tảng rồi không biết sáng từ bao giờ.</p><p>Mị bàng hoàng tỉnh. Buổi sáng âm sâm trong cái nhà gỗ rộng. Vách bên cũng im ắng. Không nghe tiếng lửa réo trong lò nấu lợn. Không một tiếng động. Không biết bên buồng quanh đấy, các chị vợ anh, vợ chú của A Sử có còn ở nhà, không biết tất cả những người đàn bà khốn khổ sa vào nhà quan đã được đi chơi hay là họ cũng đang phải trói như Mị. Mị không thể biết. Đời người đàn bà lấy chồng nhà giàu ở Hồng Ngài thì một đời con người chỉ biết đi theo đuôi con ngựa của chồng”. Mị chợt nhớ lại câu chuyện người ta vẫn kể: đời trước, ở nhà thống lí Pá Tra có một người trói vợ trong nhà ba ngày rồi đi chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi. Nhớ thế, Mị sợ quá, Mị cựa quậy, xem mình còn sống hay chết. Cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói siết lại, đau dứt từng mảnh thịt.</p><p>Có tiếng xôn xao phía ngoài, rồi một đám đông vào nhà. Thống lí Pá Tra xuống ngựa, cho thị sống (một chức việc đi hầu thống lí như người làm mỗ thời trước) dắt ngựa vào tàu. Nghe như bọn họ có khiêng theo con lợn, hoặc một người phải trói, vừa vất huỵch xuống đất, cứ thở phè phè.</p><p>A Sử chệnh choạng vào buồng. Áo nó rách toạc một mảnh vai. Cái khăn xéo trắng loang lổ đầy máu, sụp xuống quanh trán. A Sử nằm lăn ra giường. Lát sau, thống lí Pá Tra bước vào. Theo sau thống lí là một lũ thống quán (một chức việc như phó lí), xéo phải (như trưởng thôn) và một bọn thị sống vẫn thường ra vào hầu hạ, ăn thịt uống rượu, hút thuốc phiện nhà thống lí. Có người bấy giờ mới nhìn thấy Mị phải trói đứng trong cột. Nhưng cũng không ai để ý, họ xúm cả lại quanh giường A Sử. Pá Tra, tay vẫn cầm cái roi ngựa, lại từ từ đi ra. Mị nhắm mắt lại, không dám nhìn. Mị chỉ nghe hình như có tiếng bố chồng gọi ra ngoài. Mị hé nhìn ra, thấy chị dâu bước vào. Người chị dâu ấy chưa già, nhưng cái lung quanh năm phải đeo thồ nặng quá, đã còng rạp xuống. Người chị dâu đến cởi trói cho Mị. Sợi dây gai dưới bắp chân vừa lỏng ra, Mị ngã sụp xuống. Chị dâu nói khẽ vào tai Mị :</p><p>- Mị! Đi hái thuốc cho chồng mày.</p><p>Mị quên cả đau, đứng lên. Nhưng không nhích chân lên được, Mị phải ôm vai chị dâu, hai người khổ sở dìu nhau bước ra. Trong khi đi vào rừng tìm lá thuốc, Mị nghe chị dâu nói lại, mới biết chuyện A Sử đi chơi bị đánh vỡ đầu.</p><p>Nửa đêm qua, A Sử vào làng tìm đến đám chơi có tiếng sáo, tiếng khén Nhiều trai làng ấy và các làng khác đã tới, chơi quay, thổi sáo suốt ngày, chập tối vừa xong chầu rượu trong nhà, bay giờ vẫn còn chưa chịu tan vẻ. Lúc A Sử và chúng bạn kéo đến thì không còn ai chơi trong nhà nữa, vì bố mẹ và người trong nhà ấy đã đi ngủ Nhưng người ra người vào còn dập dìu quanh ngõ. A Sử đúng ngoài tức làm. Nó bàn với một lũ khác, doạ đánh bọn con trai lạ vẫn bám quanh nhà đã khiến cho bọn A Sử bị vướng không thể vào được. Bọn A Sử ném đá vào vách. Ông bố trong nhà ra chửi. Bọn A Sử vẫn ném. Ông lão không dám ra nữa, liền vào trong của, bán ra hai phát súng. Thế là tan những đám hẹn Nhưng cũng chưa người trai nào chịu về.</p><p>Họ lại lẩn vào các nhà quen trong xóm. Để đợi sáng mai lại lên sân đánh pao với con gái trong xóm. Bọn A Sử cũng không chịu để cánh kia yên Sáng sớm, khi họ vừa kéo ra đầu ngõ, bè lũ bạn.</p><p>A Sử đã kéo đến gây sự A Sứ đi trước, nạm vòng bạc ở cố rủ xuống những tua chỉ xanh đỏ mà chỉ riêng con cái nhà quan trong làng mới được đeo. A Sử hùng hổ bước ra. Bọn kia đứng dồn cả lại xôn xao :</p><p>- Lũ phá đám ta đêm qua đây rồi</p><p>− A Phủ đâu ? A Phủ đánh chết nó đi!</p><p>Một người to lớn chạy vụt ra vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử Con quay gỗ ngát lang vào giữa mặt Nó vừa kịp bung tay lên, A Phủ đã xộc tối, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống xé vai áo, đánh tới tấp. Người làng nghe tiếng hò hét đổ ra Thấy vậy, bọn trai làng lạ tăn hết lên rừng. Máy người đuổi đón đầu A Phủ A Phủ bị bắt sống trói gỗ chân tay lại Vừa lúc thống lí Pá Tra tối Chúng nó xọc ngang cái gây, khiêng A Phủ mang về ném xuống giữa nhà thống lí.</p><p>Mị đi hái được lá thuốc về, thấy trong nhà càng đông hơn lúc nãy. Ngoài</p><p>sân, dưới gốc đào lại buộc thêm mấy con ngựa lạ. Mị đi cửa sau vào, lé mắt</p><p>nhìn thấy một người to lớn quý trong góc nhà. Mị đoán đấy là A Phủ.</p><p>Bọn chức việc khắp vùng Hồng Ngài đến nhà thống lí Pá Tra dự đám xử</p><p>kiện. Các lí dịch, quan làng, thống quán, xéo phải đội mũ, quấn khăn, xách</p><p>gậy, cưỡi ngựa kéo đến xử kiện và ăn cỗ.</p><p>Trong nhà thống lí đã bày năm cái bàn đèn. Khói thuốc phiện tuôn ra các lỗ cửa sổ tun hút xanh như khói bếp. Cả những người chúc việc bên làng A Phủ cũng tới. Nhưng chỉ bọn con trai làng ấy phải ngồi khoanh tay cạnh A Phủ vì họ bị gọi sang hầu kiện, còn bọn chức việc thì nằm dài cả bên khay đèn. Suốt từ trưa cho tới hết đêm, mấy chục người hút. Trên nhất là thống lí Pá Tra, thống lí Pá Tra hút xong một lượt năm điếu, đến người khác hút, lại người khác hút, cứ thế lần lượt xuống tới bọn đi gọi người về dự kiện. Chỉ có đàn bà ngồi trong buồng hoặc đi lại bên ngoài dòm ngó đám xử kiện và A Phủ quỳ chịu tội ở xó nhà, là không được dự tiệc hút ấy. Lúc một loạt người vừa hút xong, Pá Tra ngồi dậy, vuốt ngược cái đầu trọc dài, kéo đuôi tóc ra đằng trước, cất giọng lè nhè gọi :</p><p>- Thằng A Phủ ra đây.</p><p>A Phủ ra quỳ giữa nhà. Lập tức, bọn trai làng xô đến, trước nhất, chắp tay lạy lia lịa tên thống lí Pá Tra rồi quay lại đánh A Phủ. A Phủ quỳ chịu đòn, chỉ im như cái tượng đá.</p><p>Cứ mỗi đợt bọn chức việc hút thuốc phiện xong, A Phủ lại phải ra quý giữa nhà, lại bị người xô đến đánh. Mặt A Phủ sung lên, mỏi và đuôi mắt giập chảy máu. Người thì đánh, người thì quỳ lạy, kể lể, chửi bới. Xong một lượt đánh, kể, chửi, lại hút. Khói thuốc phiện ngào ngạt tuôn qua các lỗ cửa sổ. Rồi Pá Tra lại ngóc cổ lên, vuốt tóc, gọi A Phủ... Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chủi, càng hút.</p><p>Trong buồng bên cạnh, Mị cũng thức suốt đêm im lặng ngồi xoa thuốc dấu cho chồng. Lúc nào Mị mỏi quá, cựa mình, thì những chỗ lần trói trong người lại đau ê ẩm. Mị lại gục đầu nằm thiếp đi. Khi đó, A Sử bèn đạp chân vào mặt Mị. Mị choàng thức, lại nhặt nắm lá thuốc, xoa đều đều trên lưng chồng. Ngoài nhà vẫn rên lên từng con kéo thuốc phiện, như những con mọt nghiến gỗ kéo dài, giữa tiếng người khóc, tiếng người kể lào xào, và tiếng đấm đánh huỳnh huỵch.</p><p>Sáng hôm sau thì đám kiện đã xong. Một số người, chẳng biết từ bao giờ, đã ngủ ngáy ngay bên khay đèn. Bọn xéo phải đang bắc cái chảo đồng và xách ấm nước ra nấu thêm lạng thuốc để hút thêm ban ngày cho các quan làng thật tỉnh, các quan làng còn một tiệc ăn cỗ nữa.</p><p>Thống lí Pá Tra mở tráp, lấy ra một trăm đồng bạc hoa xoè bày lên mặt tráp, rồi nói:</p><p>- Thằng A Phủ đánh người thì làng xử mày phải nộp vạ cho người phải mày đánh là hai mươi đồng, nộp cho thống quán năm đồng, mỗi xéo phải hai đồng, mỗi người đi gọi các quan làng về hầu kiện năm hào. Mày phải mất tiền mời các quan hút thuốc từ hôm qua tới nay. Lại mất con lợn hai mươi cân, chốc nữa mổ để các quan làng ăn vạ mày. A Phủ, mày đánh con quan làng, đáng nhẽ làng xử mày tội chết, nhưng làng tha cho mày được sống mà nộp vạ. Cả tiền phạt, tiền thuốc, tiền lợn, mày phải chịu một trăm bạc trắng. Mày không có trăm bạc thì tao cho mày vay để mày ở nợ. Bao giờ có tiền giả thì tao cho mày về, chưa có tiền giả thì tao bắt mày ở làm con trâu, con ngựa cho nhà tao. Đời mày, đòi con, đòi cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi. A Phủ! Lại đây nhận tiền quan cho vay.</p><p>A Phủ lê hai cái đầu gối sưng bạnh lên như mặt hổ phù. A Phủ cúi sờ lên đồng bạc trên tráp, trong khi Pá Tra đốt hương, lầm rầm khấn gọi ma về nhận mặt người vay nợ. Pá Tra khấn xong, A Phủ cũng nhặt xong bạc, nhưng nhặt xong lại để ngay cả xuống mặt tráp. Rồi Pá Tra lại trút cả bạc vào trong tráp.</p><p>Con lợn vừa mua về cho A Sứ thết làng ăn vạ đã kêu eng éc ngoài sân Từ lúc đếm tiền rồi A Phủ không phải quỳ, phải đánh nữa A Phủ đứng lên cầm con dao, chân đau bước tập tễnh, cùng với mấy trai làng ra chọc tiết làm thịt lợn hầu làng. Trong nhà, thuốc phiện vẫn hút rào rào.</p><p>Thế là từ đấy A Phủ phải đi ở trừ nợ cho nhà quan thống lí Pá Tra. Đốt rừng cày nương cuốc nương săn bò tót bẫy hổ, chăn bò, chân ngựa quanh năm một thân một mình bôn ba rong ruổi ngoài gò ngoài rừng A Phủ đương tuổi sức lực. Công việc làm hay đi săn, cái gì cũng làm phong phẳng. Không còn có lúc nào trở về làng bên. Nhưng A Phủ cũng chẳng muốn trở về làm gì bên ấy nữa.</p><p>A Phủ cũng không phải người làng bên ấy. Bố mẹ đề A Phủ ở Hang-bla Nam xưa, làng Hàng-bla phải một trận bệnh đậu mùa, nhiều trẻ con, cả người lớn chết có nơi chết cả nhà Anh của A Phủ em A Phủ chết, bố mẹ A Phủ cũng chết. Còn sót lại có một mình A Phủ Làng chết và đói nhiều quá, có người làng đói bụng bát A Phủ đem xuống bán đổi lấy thóc của người Thái dưới cánh đồng A Phủ mới mười tuổi, nhưng A Phủ gan bướng, không chịu ở dưới cánh đồng thấp. A Phủ trốn lên núi lưu lạc đến Hồng Ngài Đi làm cho nhà người lần lữa mùa này sang mùa khác, chẳng bao lâu A Phủ đã lớn, đã biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và đi săn bò tốt rất bạo. A Phủ khoẻ, chạy nhanh như ngựa, con gái trong làng nhiều người mê, nhiều người nói: “Đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà chẳng mấy lúc mà giàu”.</p><p>Người ta ao ước đùa thế thôi chứ phép rượu cũng chẳng to hơn phép làng còn tục lệ cuối xin, mà A Phủ thì không có bố mẹ, không có ruộng không có bạc, A Phủ không thể lấy nổi vợ. Tuy nhiên, đang tuổi chơi, trong ngày Tết đến, dù A Phủ chẳng có quản áo mới như nhiều trai khác, A Phủ chỉ có độc một chiếc vòng vía” làn trên cổ, A Phủ cũng cú cùng trai làng đem sáo, khển, đem con quay và quả pao, quả yến đi tìm người yêu ở các làng trong vùng.</p><p>Vì thế mà sinh sự đánh nhau ở Hồng Ngài.</p><p>(Lược một đoạn : Khi đó đang đòi rừng, hổ gấu từng đàn ra phá nương, bắt bò ngựa. A Phủ trong lúc trông bò ngựa vì mải mê bẫy nhím đã để hổ bắt mất một con bò. A Phủ bị thống lí Pá Tra bắt trói đúng vào một cây cột trong góc nhà bằng dây mây quấn từ chân đến vai, chờ khi nào bắn được hổ mới tha. Nhưng A Sử và lính đồng của thống lí không lùng bắn được hổ, A Phủ vẫn bị trói.</p><p>Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, nếu không có bếp lửa sưởi kia thì Mị cũng đến chết héo. Mỗi đêm, Mị đã dậy ra thổi lửa hơ tay, hơ lưng, không biết bao nhiêu lần.</p><p>Thường khi đến gà gáy sáng Mị ngồi dậy ra bếp sưởi một lúc thật lâu thì các chị em trong nhà mới bắt đầu dậy ra dóm lò bung ngô, nấu cháo lợn. Chỉ chợp mắt được từng lúc, Mị lại thức sưởi lửa suốt đêm. Mỗi đêm, khi nghe tiếng phù phù thổi bếp, A Phủ lại mở mắt. Ngọn lửa sưởi bùng lên, cùng lúc ấy thì Mị cũng nhìn sang, thấy mắt A Phủ trùng trùng, mới biết A Phủ còn sống.</p><p>Mấy đêm nay như thế. Nhưng Mị vẫn thản nhiên thói lửa, hơ tay. Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi. Mị vẫn trở dậy, vẫn suỏi, chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa. Có đêm A Sử chợt về, thấy Mị ngồi đấy, A Sử đánh Mị ngã ngay xuống của bếp. Nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước.</p><p>Lúc ấy đã khuya. Trong nhà đã ngủ yên, thì Mị trở dậy thổi lửa. Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại. Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợt nhớ lại đem năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Cơ chừng này chỉ đem mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi... Người kia việc gì mà phải chết thế. A Phủ... Mị phảng phất nghĩ như vậy.</p><p>Đám than đã vạc hẳn lửa. Mị không thổi, cũng không đúng lên. Mị nhớ lại đời mình, Mị lại tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị đã cởi trói cho nó, Mị liền phải trói thay vào đấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ...</p><p>Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại... Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phê từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng “Đi ngay...”, rồi Mị nghẹn lại. A Phủ bỗng khuỵu xuống, không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy.</p><p>Mị đứng lặng trong bóng tối.</p><p>Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc, Mị nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:</p><p>− A Phủ cho tôi đi.</p><p>A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói:</p><p>- Ở đây thì chết mất.</p><p>A Phủ chợt hiểu.</p><p>Người đàn bà chê chồng đó vừa cứu sống mình.</p><p>A Phủ nói: “Đi với tôi”. Và hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi.</p><p>(Lược phần cuối : Hai người thành vợ chồng và trốn sang Phiềng Sa. Quân Pháp tràn tới, dân Phiềng Sa lại hoang mang lo sợ. A Châu, cán bộ Đảng đã tìm đến. A Phủ kết nghĩa anh em với A Châu. Rồi A Phủ trở thành tiểu đội trưởng du kích, cùng với Mị và đồng đội bảo vệ quê hương)</p><p>1953</p><p>(Theo Truyện Tây Bắc, NXB Văn học, Hà Nội 1960)</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 04 Jul 2026 08:53:20 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Văn bản Vợ chồng A Phủ</media:title>
                        <media:keywords>Văn bản Vợ chồng A Phủ</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Gia đình là gì? Vai trò và chức năng của gia đình]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/gia-dinh-la-j-a110253.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/gia-dinh-la-j-a110253.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/gia-dinh-la-j-a110253.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/gia-dinh-la-j-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>Khái niệm, chức năng, vai trò của gia đình là gì mà khiến nó trở thành nền tảng không thể thay thế trong xã hội loài người? Đây được ví như là nơi nuôi dưỡng tình yêu thương và môi trường định hình nhân cách, truyền thụ giá trị văn hóa qua các thế hệ. Vậy gia đình 2 thế hệ, gia đình 4 thế hệ là gì và làm sao để những mối quan hệ này duy trì sự hòa hợp, hãy cùng Sforum tìm hiểu nhé!</strong></p> <h2><strong>Gia đình là gì?</strong></h2> <p><strong>Gia đình</strong> là tổ ấm nơi con người sinh ra, lớn lên và gắn bó suốt cuộc đời. Trong xã hội, gia đình là một đơn vị xã hội nhỏ nhất. Gia đình cũng là nơi bắt đầu mọi giá trị về tình yêu thương, trách nhiệm và sự sẻ chia. Gia đình không chỉ bao gồm những mối quan hệ ruột thịt mà còn được ví như nơi mọi thành viên cùng nhau xây dựng hạnh phúc, cùng vượt qua khó khăn. Với mỗi người, khái niệm về gia đình luôn mang ý nghĩa đặc biệt cũng như không thể thay thế.</p> <figure><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/gia-dinh-la-j-1.jpg" alt="Gia đình là gì" /> <figcaption>Khái niệm của gia đình</figcaption> </figure> <p>Trong cuộc sống hiện đại, công nghệ đã trở thành cầu nối giúp gia đình gần gũi hơn, dù khoảng cách địa lý có xa xôi. Và các sản phẩm điện thoại tại CellphoneS không chỉ là công cụ liên lạc mà còn là phương tiện để lưu giữ kỷ niệm, chia sẻ yêu thương và kết nối mọi thế hệ trong gia đình.</p> <p>[Product_Listing categoryid="3" propertyid="" customlink="https://cellphones.com.vn/mobile.html" title="Danh sách điện thoại đang được quan tâm nhiều tại CellphoneS"]</p> <h2><strong>Nguồn gốc hình thành của gia đình</strong></h2> <p>Khái niệm gia đình là gì đã rõ ràng, vậy nguồn gốc hình thành của gia đình từ đâu? Gia đình là một thiết chế xã hội xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử loài người. Nó gắn liền với nhu cầu sống chung và bảo vệ lẫn nhau từ đời này qua đời khác.</p> <p>Ban đầu, gia đình được hình thành từ các nhóm người sống quần tụ để cùng săn bắt, hái lượm, chống lại thiên nhiên khắc nghiệt. Qua thời gian, khi xã hội phát triển, loại hình này chuyển từ cấu trúc bộ lạc sang mô hình ruột thịt, với mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Từ đó, trở thành nền tảng của mọi cộng đồng cho đến hiện nay. </p> <figure><img src="https://cdn-media.sforum.vn/storage/app/media/thanhhuyen/gia%20%C4%91%C3%ACnh%20l%C3%A0%20g%C3%AC/gia-dinh-la-gi-2.jpg" alt="Nguồn gốc hình thành của gia đình" /> <figcaption>Gia đình xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người</figcaption> </figure> <h2><strong>Vai trò của gia đình là gì?</strong></h2> <p>Gia đình là nơi khởi nguồn và duy trì các giá trị cốt lõi, định hình nhân cách mỗi con người. Vậy nên, gia đình đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc đời của chính ta. Các vai trò chính của gia đình có thể kể đến là: </p> <ul> <li><strong>Nuôi dưỡng và giáo dục:</strong> Cung cấp môi trường sống để con cái phát triển thể chất, tinh thần và nhân cách một cách tốt nhất.</li> <li><strong>Chăm sóc và bảo vệ:</strong> Là chỗ dựa vững chắc về cả tinh thần và vật chất khi các thành viên gặp khó khăn trong cuộc sống.</li> <li><strong>Truyền thụ văn hóa:</strong> Giữ gìn và truyền lại các giá trị, phong tục truyền thống qua các thế hệ.</li> <li><strong>Hỗ trợ xã hội:</strong> Đóng góp vào sự ổn định và phát triển của cộng đồng, xã hội.</li> </ul> <figure><img src="https://cdn-media.sforum.vn/storage/app/media/thanhhuyen/gia%20%C4%91%C3%ACnh%20l%C3%A0%20g%C3%AC/gia-dinh-la-gi-3.jpg" alt="Vai trò của gia đình là gì?" /> <figcaption>Gia đình có nhiều vai trò với mỗi người và xã hội</figcaption> </figure> <h2><strong>Chức năng của gia đình trong xã hội</strong></h2> <p>Gia đình không chỉ là nơi khởi nguồn của tình yêu thương mà còn thực hiện những chức năng quan trọng giúp duy trì và phát triển xã hội. Từ việc giáo dục, kinh tế đến chăm sóc và bảo vệ, mỗi chức năng đều góp phần xây dựng nền tảng vững chắc cho cuộc sống cá nhân và cộng đồng.</p> <h3><strong>Chức năng kinh tế</strong></h3> <p>Gia đình không chỉ là tế bào của xã hội mà còn là một cộng đồng kinh tế nhỏ, nơi mọi người sẽ cùng nhau vun đắp, san sẻ và làm giàu. Đây cũng là nơi tiêu dùng, phân phối nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Ngoài việc cung cấp hỗ trợ tài chính, gia đình còn đóng vai trò là người thầy đầu đời, định hướng cho con cái về các giá trị kinh tế.</p> <h3><strong>Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục</strong></h3> <p>Nuôi dưỡng và giáo dục con người là yếu tố quan trọng mỗi khi nhắc đến chức năng của gia đình là gì? Trong cuộc đời mỗi người, gia đình sẽ là môi trường đầu tiên và quan trọng nhất để nuôi dưỡng và giáo dục con người. Tại đây, các thành viên được chăm sóc cả về thể chất lẫn tinh thần, đồng thời học hỏi những giá trị, chuẩn mực đạo đức. Gia đình là ngôi nhà đầu tiên, nơi gieo mầm những hạt giống tốt đẹp, nuôi dưỡng tâm hồn và trí tuệ của mỗi người.</p> <figure><img src="https://cdn-media.sforum.vn/storage/app/media/thanhhuyen/gia%20%C4%91%C3%ACnh%20l%C3%A0%20g%C3%AC/gia-dinh-la-gi-5.jpg" alt="Chức năng của gia đình" /> <figcaption>Gia đình giáo dục mỗi cá nhân</figcaption> </figure> <h3><strong>Chức năng sinh sản và duy trì nòi giống</strong></h3> <p>Gia đình đóng vai trò duy trì nòi giống thông qua việc sinh sản và nuôi dạy thế hệ mới. Đây là một chức năng mang tính quyết định, ảnh hưởng sâu sắc đến sự tồn vong và thịnh vượng của xã hội. Ngoài việc sinh sản, gia đình còn chịu trách nhiệm truyền thụ các giá trị văn hóa cũng như giữ gìn truyền thống cho con cháu. Vậy nên chức năng này đóng vai trò mấu chốt trong xã hội hiện nay.</p> <h3><strong>Các chức năng khác</strong></h3> <p>Bên cạnh chức năng chính, gia đình còn là nơi giải tỏa cảm xúc, hỗ trợ tinh thần và gắn kết các thành viên. Gia đình và các thành viên trong gia đình luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho chúng ta mỗi khi gặp khó khăn, vấp ngã. Đây cũng là nơi bảo tồn văn hóa, tín ngưỡng, góp phần xây dựng một xã hội hài hòa. Gia đình còn đóng vai trò tham gia vào các hoạt động xã hội, cuộc sống tạo nên sự liên kết và ổn định cho cộng đồng.</p> <figure><img src="https://cdn-media.sforum.vn/storage/app/media/thanhhuyen/gia%20%C4%91%C3%ACnh%20l%C3%A0%20g%C3%AC/gia-dinh-la-gi-7.jpg" alt="Chức năng của gia đình" /> <figcaption>Gia đình có nhiều chức năng quan trọng trong việc phát triển xã hội</figcaption> </figure> <h2><strong>Một số câu hỏi được quan tâm</strong></h2> <p>Gia đình luôn là chủ đề nhận được sự quan tâm sâu sắc bởi ý nghĩa và vai trò đặc biệt trong cuộc sống. Nhiều câu hỏi như gia đình 2 thế hệ là gì, gia đình 4 thế hệ là gì thường được đặt ra, phản ánh mối bận tâm của mỗi người hiện nay về tổ ấm của mình. Hãy cùng Sforum tìm kiếm lời giải đáp về gia đình dưới đây nhé!</p> <h3><strong>Giá trị gia đình là gì?</strong></h3> <p>Giá trị gia đình là những nguyên tắc, niềm tin được hình thành qua nhiều thế hệ. Từ đó, tạo nên nền tảng bền vững cho mối quan hệ giữa các thành viên. Đây là tổ ấm chan chứa tình yêu thương, nơi nuôi dưỡng tâm hồn và kết nối những trái tim. Giá trị gia đình không chỉ giúp gắn kết mọi người mà còn định hướng hành vi, lối sống, góp phần xây dựng xã hội nhân văn và hạnh phúc.</p> <p><img src="https://cdn-media.sforum.vn/storage/app/media/thanhhuyen/gia%20%C4%91%C3%ACnh%20l%C3%A0%20g%C3%AC/gia-dinh-la-gi-8.jpg" alt="Giá trị gia đình là gì" /></p> <h3><strong>Gia đình 2 thế hệ là gì?</strong></h3> <p>Gia đình 2 thế hệ là mô hình bao gồm cha mẹ và con cái sống cùng nhau dưới một mái nhà. Mô hình gia đình này đang trở nên ngày càng phổ biến, nhất là ở các khu vực đô thị. Với sự gọn nhẹ cũng như linh hoạt, tổ ấm 2 thế hệ phù hợp với lối sống năng động, giúp các thành viên dễ dàng hỗ trợ và chăm sóc lẫn nhau trong cuộc sống hàng ngày.</p> <h3><strong>Gia đình 4 thế hệ là gì?</strong></h3> <p>Gia đình 4 thế hệ là một đại gia đình, nơi các thành viên từ nhiều độ tuổi, trải nghiệm sống khác nhau cùng chung sống dưới một mái nhà. Đây là kiểu tổ ấm truyền thống mang giá trị gắn kết cao, tạo điều kiện để các thế hệ học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm sống. Tuy nhiên, kiểu hình này đòi hỏi sự thấu hiểu, chia sẻ và tổ chức hợp lý để duy trì sự hài hòa giữa các thành viên.</p> <figure><img src="https://cdn-media.sforum.vn/storage/app/media/thanhhuyen/gia%20%C4%91%C3%ACnh%20l%C3%A0%20g%C3%AC/gia-dinh-la-gi-9.jpg" alt="Gia đình 4 thế hệ là gì?" /> <figcaption>Gia đình 4 thế hệ với ý nghĩa truyền thống</figcaption> </figure> <p>Khái niệm <strong>gia đình là gì </strong>cũng như vai trò, chức năng của gia đình đã được làm rõ qua những khía cạnh cơ bản mà chúng ta vừa khám phá. Mỗi hình thức từ gia đình 4 thế hệ, gia đình 2 thế hệ là gì cho đến các mô hình khác, đều mang đến những giá trị và chức năng quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Đối với mỗi cá nhân, đây chính là chỗ dựa vững chắc và nền tảng để xây dựng một cuộc sống ý nghĩa và hạnh phúc.</p> <ul> <li><strong>Xem thêm các bài viết tại: Wiki - Thuật ngữ , Thuật ngữ </strong></li> </ul>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 04 Jul 2026 08:33:27 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/gia-dinh-la-j-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/gia-dinh-la-j-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Gia đình là gì? Vai trò và chức năng của gia đình</media:title>
                        <media:keywords>Gia đình là gì? Vai trò và chức năng của gia đình</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Phân tích 2 khổ đầu bài Sóng hay nhất]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phan-tich-2-kho-tho-dau-bai-song-a110252.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phan-tich-2-kho-tho-dau-bai-song-a110252.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phan-tich-2-kho-tho-dau-bai-song-a110252.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Phân tích hai khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh vừa được VnDoc.com tổng hợp và xin gửi tới bạn đọc cùng tham khảo để có thêm tài liệu học Ngữ văn 11 nhé. Bài viết gồm có dàn ý và bài phân tích về 2 khổ thơ đầu của bài thơ Sóng - Xuân Quỳnh. Mời các bạn cùng tham khảo chi tiết và tải về tại đây nhé.</p> <h2>Dàn ý phân tích 2 khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh</h2> <p><strong>1. Mở bài</strong></p> <p>Giới thiệu tác phẩm: Bằng tâm hồn nhạy cảm, nữ tính Xuân Quỳnh đã mang đến hơi thở đầy mới mẻ cho thơ tình Việt Nam, đặc sắc nhất trong những sáng tác của bà có thể kể đến bài thơ “Sóng”.</p> <p><strong>2. Thân bài</strong></p> <p>- Thơ Xuân Quỳnh là tiếng nói đằm thắm, nữ tính của tâm hồn người phụ nữ đầy nhạy cảm, tinh tế.</p> <p>- Mượn hình ảnh con sóng ngoài tự nhiên, Xuân Quỳnh đã gợi ra biểu tượng tuyệt đẹp của tình yêu, những trạng thái của sóng đã trở thành những ẩn dụ về cảm xúc, tâm trạng và những khát khao của người con gái trong tình yêu.</p> <p>- Trong hai khổ thơ đầu, tác giả Xuân Quỳnh không chỉ thể hiện được những trạng thái đối lập của cảm xúc trong tình yêu mà còn là những khát khao vươn tới những điều vĩ đại, cao cả.</p> <p>- Nữ sĩ sử dụng liên từ “và” để thể hiện quan hệ cộng hưởng, nối tiếp của những trạng thái đối lập trong tình yêu để tạo nên chỉnh thể thống nhất về cảm xúc.</p> <p>- Khi yêu, người phụ nữ không chỉ có những giây phút nồng nhiệt, sôi nổi mà còn có những lúc bình lặng, lắng sâu.</p> <p>- Trong tình yêu, trái tim của chủ thể trữ tình thường có xu hướng tìm đến thế giới rộng lớn, nơi tình yêu có thể bộc lộ trọn vẹn những nồng nhiệt cũng như lắng sâu mà không chịu bó hẹp trong phạm vi nhỏ hẹp, tù túng.</p> <p>- “Hiểu nổi mình” là khát vọng muôn đời của con người, để hiểu được mình thì cần đặt bản thân trong phạm vi rộng lớn của cuộc đời</p> <p>- Tác giả khẳng định sự tồn tại bất biến của tình yêu trong cuộc đời</p> <p>- Tác giả đã khái quát về quy luật của tình cảm, tình yêu là thứ tình cảm thiêng liêng, cháy bỏng, là nỗi khát vọng muôn đời trong trái tim những con người trẻ tuổi, trẻ lòng.</p> <p><strong>3. Kết bài</strong></p> <p>Bằng hình tượng sóng đầy đặc sắc, Xuân Quỳnh đã mang đến hơi thở đầy mới mẻ cho thơ tình Việt Nam, tình cảm nhẹ nhàng đầy nữ tính trong sóng cũng như bông hoa dọc chiến hào có thể làm dịu đi cái khốc liệt của chiến tranh, làm đắm say độc giả bao thế hệ.</p> <h2>Phân tích hai khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh mẫu 1</h2> <p>“Làm sao sống được mà không yêuKhông nhớ không thương một kẻ nào”</p> <p>(Bài thơ tuổi nhỏ - Xuân Diệu)</p> <p>Đó cũng là lý do tình yêu được đưa rất nhiều vào trong thơ ca và nghệ thuật, trở thành nguồn cảm hứng bất tận với nhiều thi nhân. Có rất nhiều những nhà thơ, nhà văn từng viết về tình yêu trong đó không thể không kể đến cây bút thơ tình xuất sắc của nền văn học Việt Nam - Xuân Quỳnh - nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ đã thể hiện tình cảm người con gái qua bài thơ “Sóng”.</p> <p>Khi nhắc đến tên tuổi của Xuân Quỳnh, từ trong tiềm thức của mỗi người yêu văn chương đều biết tiếng thơ bà là tiếng nói nhân hậu, thủy chung, giàu trực cảm, tha thiết khát vọng hạnh phúc đời thường và Sóng là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách văn chương đặc trưng đó. Năm 1967, nhân một một chuyến đi thực tế ở biển Diêm Điền (Thái Bình), khi đứng trước biển khơi rộng lớn, những tâm tư tình cảm của bà được bộc bạch qua những vần thơ và đó là cơ sở để Sóng ra đời. Bài thơ được in trong tập “Hoa dọc chiến hào”. Bài thơ là sự đan xen giữa hình ảnh Sóng và hình ảnh “em” - người con gái trong tình yêu. Mở đầu bài thơ tác giả mang đến cho bạn đọc những trạng thái khác nhau của con sóng:</p> <p>“Dữ dội và dịu êmỒn ào và lặng lẽSông không hiểu nổi mìnhSóng tìm ra tận bể”</p> <p>“dữ dội - dịu êm, ồn ào - lặng lẽ” là những tính từ trái nghĩa thể hiện những thái cực đối lập của con sóng: có lúc hiền lành dịu dàng nhưng cũng có lúc vô cùng dữ dội. Đó cũng là những tâm trạng khác nhau của người con gái trong tình yêu, họ luôn dịu dàng, nhỏ nhẹ với tình yêu, với người yêu của mình nhưng cũng có lúc họ trở nên mạnh mẽ, cương trực trước tình yêu ấy. Hình ảnh dòng sông không hiểu chính mình nên tìm ra biển khơi rộng lớn tìm câu trả lời cũng chính là tâm tư của người con gái luôn trăn trở, suy tư nhiều điều và có ước muốn là khám phá được những điều lớn lao hơn trong tình yêu.</p> <p>Bốn câu thơ tiếp theo nỗi khát vọng của người con gái:</p> <p>“Ôi con sóng ngày xưaVà ngày sau vẫn thếNỗi khát vọng tình yêuBồi hồi trong ngực trẻ”</p> <p>Con sóng từ ngàn năm vẫn thế, vẫn tính chất, đặc điểm ấy không bao giờ thay đổi. Và người con gái cũng vậy khát vọng tình yêu luôn thường trực, rạo rực trong trái tim, bao nhiêu năm vẫn hướng về tình yêu, về người yêu.</p> <p>Xuân Quỳnh đã tìm được một cách nói riêng để bộc lộ tình yêu, những dung động của lòng mình với một giọng thơ kể lể, tâm tình vừa êm ái, nhẹ nhàng vừa thiết tha. Âm hưởng, nhịp điệu bài thơ ngân nga do sự phối âm, phối vần tài tình như những con sóng cứ nối nhau không dứt. Bài thơ vì thế có cả âm vang của sóng, gió thiên nhiên và sóng của tâm hồn.</p> <p>Sóng là bài thơ tiêu biểu của Xuân Quỳnh và của thơ ca Việt Nam hiện đại viết về đề tài tình yêu. Nhiều năm tháng qua đi nhưng bài thơ vẫn giữ nguyên giá trị ban đầu và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả.</p> <h2>Phân tích hai khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh mẫu 2</h2> <p>Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ trẻ xuất sắc trưởng thành từ kháng chiến chống Mỹ và là một trong số ít những nhà thơ nữ viết rất nhiều và rất thành công về đề tài tình yêu. Một trong những thành công xuất sắc về đề tài này của nữ sĩ là bài thơ “Sóng”, hai khổ thơ đầu bài thơ nữ thi sĩ viết:</p> <p>“Dữ dội và dịu êm</p> <p>Ồn ào và lặng lẽ</p> <p>Sông không hiểu nổi mình</p> <p>Sóng tìm ra tận bể</p> <p>Ôi con sóng ngày xưa</p> <p>Và ngày sau vẫn thế</p> <p>Nỗi khát vọng tình yêu</p> <p>Bồi hồi trong ngực trẻ”</p> <p>Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của tâm hồn người phụ nữ nhiều trắc ẩn, vần thơ của bà vừa chân thành đằm thắm, vừa nồng nàn mãnh liệt và hơn hết luôn bật lên khát vọng da diết về hạnh phúc bình dị đời thường. Bài thơ “Sóng” ra đời năm 1967 trong chuyến đi thực tế của nhà thơ về vùng biển Diêm Điền tỉnh Thái Bình và lúc này thì bản thân nhà thơ cũng vừa trải qua một sự đổ vỡ trong tình yêu. Bài thơ được in trong tập “Hoa dọc chiến hào” năm 1968. Tình yêu là điều bí ẩn nên ngàn đời vẫn cuốn hút con người, tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh chính là những bông hoa dọc chiến hào làm dịu đi sự khốc liệt của chiến tranh.</p> <p>Trong bài thơ “Sóng”, nhà thơ sử dụng thể thơ năm chữ, đây là thể thơ có nhịp điệu nhanh, mạnh, dồn dập. Thể thơ này thường dùng để diễn tả những dòng cảm xúc ào ạt, hối hả, mãnh liệt . Bài thơ sử dụng cách hiệp vần giãn cách, hiệp vần chân ở những tiếng cuối của các câu chẵn. Hơn nữa bài thơ có sự luân phiên về thanh điệu ở các tiếng cuối của các câu thơ. Như vậy những thủ pháp nghệ thuật sáng tạo đã tạo nên âm hưởng nhịp nhàng, uyển chuyển cho cả bài thơ. Âm hưởng của bài thơ là âm hưởng dạt dào của những con sóng mà mỗi câu thơ là một con sóng, chúng gối lên nhau chạy đều, chạy đều đến cuối bài thơ. Những con sóng là sự trào dâng mãnh liệt của dòng cảm xúc ào ạt trong lòng nữ sĩ. Có lẽ vì thế mà ấn tượng về con sóng trong bài thơ không chỉ là của sóng biển mà còn là của sóng tình. Đây cũng chính là hai hình tượng nghệ thuật mà tác giả đã tập trung xây dựng trong bài thơ. Sóng biển và sóng tình có lúc tồn tại song song để soi chiếu, tôn vinh vẻ đẹp cho nhau, có lúc lại hòa làm một, trong sóng biển có sóng tình, trong sóng tình ta lại thấy nhịp dào dạt của sóng biển. Suy cho cùng sóng biển và sóng tình là hai hình tượng nghệ thuật để biểu đạt cho cái tôi trữ tình của nhà thơ.</p> <p>Qua hai khổ thơ đầu nữ sĩ đã cho chúng ta cảm nhận được đặc điểm của những con sóng biển và những con sóng tình yêu, những con sóng luôn chứa đựng những trạng thái đối lập và luôn có những khát khao vươn tới những sự vĩ đại, bao la. Mở đầu, nhà thơ viết:</p> <p>“Dữ dội và dịu êm</p> <p>Ồn ào và lặng lẽ”</p> <p>Trong hai câu thơ mở đầu tác giả đã sử dụng tới hai cặp tính từ trái nghĩa để miêu tả đặc điểm của sóng biển: “dữ dội - dịu êm”, “ồn ào - lặng lẽ”. Thông thường đứng giữa những cặp tính từ trái nghĩa là quan hệ từ biểu đạt sự tương phản “tuy - nhưng”, thế nhưng ở đây nhà thơ nữ Xuân Quỳnh lại sử dụng quan hệ từ “và” vốn biểu đạt quan hệ cộng hưởng, cộng thêm, nối tiếp. Như vậy những đặc điểm tưởng như đối lập lại thống nhất với nhau và luôn tồn tại trong một chỉnh thể là sóng. Trong cái dữ dội có cái dịu êm, trong sự ồn ào lại chứa đựng sự lặng lẽ.Những trạng thái đối lập của sóng cũng chính là những trạng thái đối lập trong tâm hồn người phụ nữ khi yêu. Trong tình yêu, tâm hồn người phụ nữ không hề bình lặng mà đầy biến động: có khi sôi nổi cuồng nhiệt, cũng có khi e lệ, kín đáo, có lúc đằm thắm, lúc hờn ghen.</p> <p>Tác giả tiếp tục sử dụng biện pháp nhân hóa trong hai câu thơ tiếp theo, con sóng được nhân hóa qua động từ “tìm” trong hành trình từ sông ra tới biển:</p> <p>“Sông không hiểu nổi mình</p> <p>Sóng tìm ra tận bể”</p> <p>Tác giả đã khéo léo sử dụng động từ “tìm” trong việc nhân hóa con sóng đã cho ta thấy được sự chủ động của con sóng, con sóng chủ động chối bỏ những phạm vi chật hẹp “sông” để vươn tới những phạm vi rộng lớn bao la “bể”. Như vậy trong bốn câu thơ đầu nhà thơ đã giúp ta nhìn lại hai đặc điểm tự nhiên, vốn có của những con sóng và chính tác giả cũng đã phải sử dụng tới hai câu thơ để khẳng định sự hiển nhiên, vốn có này:</p> <p>“Ôi con sóng ngày xưa</p> <p>và ngày sau vẫn thế”</p> <p>Nữ sĩ đã khẳng định đặc điểm ngàn đời vốn có của sóng, từ quá khứ “ngày xưa” cho đến tương lai “ngày sau” con sóng vẫn luôn chứa đựng những trạng thái đối lập, vẫn luôn vận động theo quy luật trăm sông đều đổ về với biển. Trạng từ khẳng định “vẫn thế” một lần nữa biểu đạt một chân lí không bao giờ đổi thay.</p> <p>Thơ ca, nghệ thuật là những sự sáng tạo mang đến cho người đọc những cảm xúc mới, đem đến cho tâm hồn con người những sự trải nghiệm phong phú. Ta tự hỏi vì sao trong sáu câu thơ đầu tác giả chỉ cho chúng ta hai đặc điểm tự nhiên, vốn có của con sóng? Để giải đáp cho điều này nữ sĩ viết tiếp hai câu thơ:</p> <p>“Nỗi khát vọng tình yêu</p> <p>Bồi hồi trong ngực trẻ”</p> <p>Đến đây ta đã cảm nhận được sự xuất hiện của một con sóng nữa đó là con sóng của tâm hồn, là con sóng của tình yêu, mà lại là tình yêu của tuổi trẻ đang bồi hồi, đang thổn thức trong trái tim, trong lồng ngực. Khát vọng tình yêu cháy bỏng mãnh liệt đang trào dâng trong lòng nữ sĩ. Như vậy đứng trước biển, trước những con sóng ào ạt ạt vỗ bờ dòng cảm xúc trong lòng nữ sĩ cũng trào dâng. Những con sóng biển ở sáu câu thơ đầu đã gọi những con sóng tình trong lòng nhà thơ. Sóng biển đã gọi sóng tình hay sóng biển chính là yếu tố khơi nguồn cảm xúc trong lòng thi sĩ.</p> <p>Vì sao sóng biển lại gọi được sóng tình, lại có sức khơi gợi cảm xúc mãnh liệt như vậy? Có lẽ giữa sóng biển và sóng tình có sự tương đồng, nếu sóng biển biển chứa đựng những trạng thái đối lập thì tâm trạng người con gái đang yêu cũng có những lúc giận dỗi, hờn ghen, có những lúc yêu thương dịu dàng đằm thắm:</p> <p>“Em bảo anh đi đi</p> <p>Sao anh không đứng lại?</p> <p>Em bảo anh đừng đợi</p> <p>Sao anh vội về ngay?”</p> <p>Con gái khi yêu luôn là như thế, luôn mâu thuẫn, đối lập trong lời nói và hành động. Nếu yêu một người con gái mà không biết nhìn thẳng vào mắt người đó thì chắc chắn một điều rằng anh chàng sẽ khó lòng hiểu và yêu thương cô gái trọn vẹn.Hành trình của sóng chính là hành trình của tình yêu. Nếu con sóng luôn luôn chủ động chối bỏ những chật chội hẹp hòi để vươn tới những điều rộng lớn thì người con gái đang yêu cũng luôn luôn có khát khao như thế. Họ dũng cảm từ bỏ những ích kỉ, nhỏ nhen để vươn tới tình yêu bao dung. Việt Nam là một nước có lịch sử ơn một nghìn năm phong kiến và chế độ phong kiến đã đè nặng tư tưởng phụ nữ Việt. Thời kì những năm 1967 ảnh hưởng của tư tưởng hệ phong kiến chắc chắn còn, mà thậm chí còn rơi rớt đến một số thế hệ trẻ hiện nay thế nhưng ở Xuân Quỳnh ta bắt gặp một con người hiện đại, thông minh và sắc sảo,luôn khát khao hướng tới một tình yêu vĩ đại.</p> <h2>Phân tích hai khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh mẫu 3</h2> <p>Trong nền thơ ca Việt Nam nếu người ta thường nhắc Xuân Diệu trong danh xưng là ông hoàng thơ tình thì Xuân Quỳnh chính là bà hoàng thơ tình. Ở Xuân Quỳnh luôn đem đến cho độc giả những cái nhìn sâu sắc về tình yêu, nhà thơ thổn thức những lời thơ chân thành, có chút hồn nhiên, da diết của một trái tim khao khát yêu đương. Bài thơ Sóng không chỉ thành công trong cách truyền đạt ngôn ngữ mà còn ở việc nhà thơ tạo nên nhịp điệu riêng để thơ đi vào lòng người đọc một cách thú vị. Một người phụ nữ luôn da diết yêu và được yêu được nhà thơ mượn hình tượng sóng cùng nhịp điệu của sóng để nói về tiếng lòng mình. Vì thế mà bao trùm toàn bộ bài thơ là hình ảnh ẩn dụ độc đáo “Sóng”:</p> <p>“Dữ dội và dịu êm</p> <p>…</p> <p>Sóng tìm ra tận bể”</p> <p>Nhà thơ đã nhìn thấy chính lòng mình hiện tại trước đại dương bao la với những con sóng có lúc nổi lúc lại lặng yên kia. Đã bao lần chúng ta tìm về biển xanh để nói hết nỗi niềm, suy nghĩ trong bản thân, để khi đứng trước sự mênh mông, lớn lao kia, đợt sóng lần lượt va vào nhau dội lại mới thấy được trong nhà thơ những rung cảm đến thế. Biển mang khúc ca hát lên câu chuyện về con người, cuộc đời trong suy nghĩ của nhà thơ qua trái tim đa sầu đa cảm của thi sĩ. Với từ ngữ ngắn gọn ở khổ thơ đầu tiên nhưng lại khá lạ, tạo nên nét đặc biệt cho thơ Xuân Quỳnh. Nghệ thuật đối lập sử dụng linh hoạt ở các cặp từ: “Dữ dội - dịu êm”, “Ồn ào - lặng lẽ” đấy chính là những trạng thái trái ngược của con sóng biển hay chính là con sóng lòng. Đại dương, biển cả sẽ có lúc này lúc kia, khi hiền hòa thì ta sẽ thấy những đợt sóng nhẹ nhàng, thướt tha từng đợt nhưng một khi bão đến, biến động biển cả thì con sóng ấy bỗng nổi cơn hùng vĩ, va đập vào nhau. Nhìn thấy trạng tháo của sóng như thế nhà thơ thấy lòng mình trước tình yêu cũng có những lúc đối cực như vậy. Trái tim có lúc reo vui, bình yên nhưng không tránh khỏi những ngày buồn bã, rạo rực, đấu tranh bão tố. Trong tình yêu không phải lúc nào cũng êm ả niềm vui, hạnh phúc, tiếng cười mà sẽ có lúc dỗi hờn, giận dữ, trách móc, buồn phiền… và chính con sóng lúc êm đềm và dữ dội nói thay những cảm xúc đa dạng của người phụ nữ trong tình yêu. Bởi “Vì tình yêu muôn thuở/ Có bao giờ đứng yên”.</p> <p>Hình ảnh của dòng sông, bể chúng ta có thể mường tượng là biển và đaị dương. Dù chảy thể nào, trôi về đâu thì đích cuối cùng suối sẽ trở về sông, trăm sông lại timg đến biển lớn, đặc biệt con sóng kia không chịu những ràng buột, giới hạn nhỏ bé nên nó tìm về nơi thuộc về đó là biển lớn, đại dương. Nối liền mạch thơ ở đây chính là trái tìm của người con gái khi yêu luôn mong muốn có được một điểm tựa vững chắc, hứa hẹn sẽ làm , đích đến đúng nghĩa chứ không phải những lời hoa mỹ tầm thường rồi để đó. Xuân Quỳnh cho thấy nét hiện đại trong suy nghĩ và viết thơ của mình, một quan điểm táo bạo, hướng ngoại mới mẻ về người phụ nữ hiện đại luôn mãnh liệt chủ động, sống hết mình, vượt qua tất cả để có được tình yêu cho mình.</p> <p>Khổ thơ thứ hai không dừng lại trong khuôn khổ về trạng thái của sóng nữa, lúc này nhà thơ đặt cả lòng mình nương nhờ con sóng nói lên tất cả mọi điều:</p> <p>“Ôi con sóng… trong ngực trẻ”</p> <p>Trong con sóng ngoài kia tình yêu chứa đựng là những khát khao yêu và được yêu, cảm giác trong tình yêu của lứa đôi. Thán từ “ôi” ở ngay câu đầu của đoạn thơ đủ cho ta thấy được xúc cảm dâng trào nổi trội trong lòng nhà thơ. Rồi tiếp đến cặp từ “ngày xưa” - “ngày sau” tiếp tục đưa lối người đọc khám phá trạng thaí đối lập để khẳng định thời gian muôn đời của con sóng từ quá khứ đến tương lai và dù thế nào thì sóng vẫn vận hành theo quy luật của chính nó. Trạng từ “vẫn thế” theo cùng để một lần nữa khẳng định chắc nịch hơn chân lí đó mãi không đổi thay. Ở những dòng thơ trên nhà thơ muốn diễn tả những đặc điểm tự nhiên của con sóng chỉ để đến đây nhằm nói đến con sóng tâm hồn chứ không chỉ là sóng biển, sóng lòng nữa. Trái tim khát khao tình yêu nơi tác giả lúc này trào dâng đến đỉnh điểm, nó luôn thường trực, chất chứa trong trái tim tuổi trẻ.</p> <p>Câu chuyện tình yêu sẽ không là của riêng một ai, trong trái tim chúng ta đều tồn tại một tình yêu có lúc bình lặng rồi sẽ có lúc trào dâng mạnh mẽ, luôn muốn yêu và được yêu. Hai khổ thơ đầu bài Sóng cho thấy rõ hơn về phong cách thơ của Xuân Quỳnh và nét hiện đại của thi sĩ trước tình yêu nồng nàn, sôi nổi, chủ động.</p> <h2>Phân tích hai khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh mẫu 4</h2> <p>“Yêu là chết trong lòng một ít</p> <p>Vì mấy khi yêu mà chẳng được yêu”</p> <p>Tình yêu luôn là những cung bậc cảm xúc rất khó định hình, khó diễn tả. Tình yêu cho người ta cảm nhận rõ nhất những hỉ, nộ, ái, ố ở đời. Yêu là vui vẻ, đắm say, yêu là cả buồn đau, tủi hờn. Tiếng lòng tình yêu đã được nữ thi sĩ Xuân Quỳnh khắc họa rõ nét qua bài thơ Sóng, đặc biệt là trong hai khổ thơ đầu của bài thơ.</p> <p>Đặt tên cho tác phẩm bài thơ là Sóng. Tuy đơn giản về mặt chữ nghĩa nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn. Xuyên suốt bài thơ là hình tượng con sóng, đây là hình ảnh ẩn dụ cho cái tôi trữ tình và thi nhân của Xuân Quỳnh. Sóng và em tuy hai mà môt, khi tách rời khi lại hòa nhập cộng hưởng trầm bổng tạo ra những rung động mãnh liệt trong tình yêu. Sóng và em luôn quấn quýt đan hòa tô vẽ nên tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu.</p> <p>Mở đầu bài thơ tác giả soi mình vào sóng để thấy được những nét tương đồng:</p> <p>“Dữ dội và dịu êm</p> <p>Ồn ào và lặng lẽ”</p> <p>Xuân quỳnh đã rất tinh tế khi quan sát các tính chất của thực thể sóng: dữ dội; dịu êm; ồn ào; lặng lẽ. Hai cặp tính từ mang sắc thái tương phản được đặt liền kề cho thấy trong bản thân thực thể luôn tồn tại nhiều đối cực khác nhau; khi hiền hòa dịu êm, khi lại mãnh mẽ, ồn ào. Mượn hình ảnh sóng nhà thơ muốn nói lên nỗi niềm, tính khí thất thường của người phụ nữ trong tình yêu: khi nhiệt huyến đắm say khi lại giận hơn, trầm lặng. Tình yêu là thế, luôn chứa đựng biết bao cung bậc những xúc cảm thật khó lí giải. Tình yêu khiến cho bản tính con người vì thế cũng có sự giao hòa đan xen khác lạ.</p> <p>Để rồi khi đến những câu thơ thứ hai, không kìm nén được cảm xúc người phụ nữ đã xé tan mọi rào cản để vươn mình đến với cánh cửa của tình yêu đích thực:</p> <p>“Sông không hiểu nổi mình</p> <p>Sóng tìm ra tận bể”</p> <p>Ở đây ta thấy xuất hiện hai phạm trù không gian là sông và bể. Bể chính là thế giới rộng lớn, khoáng đạt, là khát vọng lớn lao, chân trời mơ ước của biết trăm ngàn con sóng; chỉ có bể mới có thể chứa đựng được tính khí thất thường của sóng. Còn sông, trong tương quan với bể, sông ở vị trí nhỏ hẹp hơn, sông có giới hạn, chật chội. Sông không thể hiểu hết tâm tư tình cảm không thể đồng cảm, chứa đựng với tính khí thất thường của sóng nên sóng phải buộc lòng tìm ra bể để được an ủi, sẻ chia, để được đắm say. Sóng là em, tình yêu của sóng cũng chính là tình yêu của em. Sóng tìm ra bể chính là hiện thân cho khát khao của em, khát khao được vươn ra biển lớn, kiếm tìm một bến bờ tình yêu trân thành, thấu hiểu. Từ “tận” mang sắc thái biểu trưng cho xa xôi, khó khăn. Soi chiếu đối sánh với sóng ta thấy được hành trình gian nan, xa xôi, trắc trở của người phụ nữ khi kiếm tìm tình yêu đích thực của cuộc đời mình. Thế nhưng câu thơ mang sắc thái manh mẽ thể hiện được sự kì công, quyết liệt của người phụ nữ trong tình yêu. Dám khát khao, dám mơ ước và dám hành động để đi tìm hạnh phúc cho cuộc đời mình. Con sóng tìn hcuar Xuân quỳnh thật phi thường có bản lixng và đầy cá tính. Đây là nét độc đáo của người phụ nữ hiện đại, vô cùng chủ động, táo bạo và đầy dũng cảm.</p> <p>Lúc này trong tâm hồn và trái tim người phụ nữ đang chan chứa biết bao hạnh phúc, bao ước niệm tươi đẹp về tình yêu:</p> <p>“Ôi con sóng ngày xưa</p> <p>Và ngày nay vẫn thế</p> <p>Trong câu thơ có sựu xuất hiện của cặp từ hô ứng : ngày xưa và ngày sau. Ngày xưa chỉ chiều sâu của quá khứ; Ngày sau lại biểu trưng cho tương lại cho ý niệm vĩnh cửu mãi mãi. Nối ngày xưa với ngày nay, quá khứ với hiện tại và tương lại tác giả muốn nói đến vấn đề muôn thuở, dài rộng của thời gian. Thời gian cứ chảy trôi không ngừng còn con sóng lại vẫn thế. “Vẫn” là ổn định, là bất biến chẳng đổi thay, thế là đại từ thay thế cho cả đoạn thơ trên. Du thời gian cứ tuân hoàn đổi thay nhưng những khát vọng tình yêu thì chẳng bao giờ thay đổi. Con người của trước và nay, của quá khứ hiện tại hay tương lai vẫn thủy chung, sắt son, kiên định với khát khao hạnh phúc trân thành.</p> <p>Bởi tình yêu cho con người ta sức hút diệu kì</p> <p>“Nỗi khát vọng tình yêu</p> <p>Bồi hồi trong ngực trẻ”</p> <p>Từ láy “Bồi hồi” khéo léo được đặt đầu dòng thơ nhấn mạnh cảm giác đắm chìm, si mê, rạo rực trong tình yêu. Yêu và được yêu là quãng thời gian đẹp nhất của cuộc đời mỗi người. Khát vọng tình yêu là khát vọng thổn thức, đặc trưng cho tuổi trẻ mỗi con người. Cũng giống như nhà thờ Tố Hữu đã từng ví:</p> <p>“Đời có gì đẹp hơn thế</p> <p>Người yêu người sống để yêu nhau.”</p> <p>Đứng trước không gian mênh mông rộng lớn là đại dương bao la, vị nữ sĩ tài hoa Xuân Quỳnh đã không ngại ngần mà thốt lên những câu thơ rạo rực cảm xúc về tình yêu. Đây là những khám phá hết sức tinh tế, mới mẻ, làm nên những nét rất riêng, đặc trưng cho hồn thơ Xuân Quỳnh. Tiếng thơ Xuân Quỳnh cũng là nỗi lòng chung của biết bao người phụ nữ Việt Nam son sắt, thủy chung, đức hạnh;</p> <p>“Nếu phải cách xa anh</p> <p>Em chỉ còn bão tố”</p> <h2>Phân tích hai khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh mẫu 5</h2> <p>Xuân Quỳnh vẫn qua từng câu thơ, từng giai điệu mà khát vọng được đồng cảm, đồng điệu với tâm hồn của người đọc muôn thế hệ, và Sóng dường như là bài thơ thể hiện tha thiết nhất chị gửi lại trước khi rời xa, là tiếng thơ đậm chất tâm hồn chị, và hai khổ thơ đầu bài Sóng chính là những khao khát tuổi trẻ, cháy bỏng từ hôn thơ của nữ sĩ về khát vọng được khám phá, được thấu hiểu bản thân, và đồng thời bày tỏ chân lý quy luật về tình yêu của tâm hôn tuổi trẻ.</p> <p>Dữ dội và dịu êmỒn ào và lặng lẽSông không hiểu nổi mìnhSóng tìm ra tận bể.</p> <p>Đoạn thơ mở đầu bài những thái cực đối lập "dữ dội - dịu êm" "ồn ào - lặng lẽ". Đó là hai vẻ đẹp đối chọi mà hòa điệu của con sóng biển khơi, hay chăng nó cũng đời thời là vẻ đẹp trong tâm hồn của người phụ nữ, vừa mang nét dịu dàng, êm đềm, vừa mang những khát khao mãnh liệt. Nhưng có một điều rằng, nếu chú ý kĩ ta mới thực sự nhận ra vẻ tinh tế trong cách đặt từ của Xuân Quỳnh, đó là dù ở hai thế cực đối lập nhau, nhưng chốt hạ ở cuối mỗi câu thơ đều là những gì rất đỗi êm dịu, đằm thắm. Phải chăng đó cũng là mong muốn của sóng với cội nguồn của mình, luôn hy vọng khát khao được tựa mình vào một nơi vững chắc, bình yên, bao nhiêu người phụ nữ khác, dẫu vinh quang với ánh đèn chói lọi, sân khấu xa hoa thì niềm khao khát mãnh liệt, bình dị nhất vẫn là khao khát tìm được bến đỗ bình yên, vững chắc, hạnh phúc ấm êm. Đó cũng là lâu đài mà bất kể người phụ nữ nào đều vun vén, xây dựng.</p> <p>Những người con gái ấy không phải chỉ vì khát khao hạnh phúc ấm êm mãnh liệt mà chấp nhận đánh mất bản thân, trái lại nếu sông không hiểu nổi mình, sóng chủ động tìm ra tận bể. Không phải đợi chờ một ai đến để dẫn đường chỉ lối cho chúng đi. Sóng chủ động hòa mình để kiếm tìm, chinh phục và đặc biệt là để thấu hiểu, khám phá những nội lực sâu thẳm trong bản thân. Từ đó, giúp người đọc nhận ra, hóa ra tình yêu không chỉ cần cảm giác yên bình của một điểm tựa, mà còn cần sự thấu hiểu, đồng cảm lẫn nhau, cần phải từ cả hai phía, có như vậy thì tình yêu mới bền chặt vĩnh cửu.</p> <p>Ôi con sóng ngày xưaVà ngày sau vẫn thếNỗi khát vọng tình yêuBồi hồi trong ngực trẻ</p> <p>Mượn sự vĩnh cửu, bất tử và bất biến của con sóng biển khơi để nói về nỗi khát khao được yêu cháy bỏng của tuổi trẻ, còn sự ví von nào giàu cảm xúc và giàu sức gợi đến thế. Trái tim ngực trẻ vẫn mãi mãi một tình yêu, vẫn mãi một niềm rong ruổi bất tận cho hạnh phúc của cuộc đời mình, bởi như Xuân Diệu cũng đã từng nói, tuổi trẻ là mùa xuân của đời người, và tình yêu của mùa xuân ấy trở nên sắc đượm hương hơn. Có thể thấy trong ý thơ của Xuân Quỳnh, cũng có sự gặp gỡ, đồng điệu với những gì Xuân Diệu đã từng miêu tả, nhưng chính hình tượng sóng đã giúp cách diễn đạt của Xuân Quỳnh trở nên mới mẻ, giàu chất thơ và tình cảm ơn.</p> <p>Hai khổ thơ đầu giống như một bản nhạc dạo nhưng đã mở ra toàn bộ mạch cảm xúc của bài thơ Sóng, đồng thời nó cũng gợi lên cho người đọc một cách diễn đạt trẻ trung, mà vô cùng sâu sắc, thiết tha hơn.</p> <h2>Phân tích hai khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh mẫu 6</h2> <p>Tình yêu là một trong những cung bậc cảm xúc khó diễn tả trong lòng con người. Những hỉ, nộ, ái, ố ở đời luôn được tình yêu diễn tả một cách rõ rệt. yêu không chỉ có vui vẻ sau đắm mà còn có cả những buồn đau. Bài Sóng của Xuân Quỳnh đã thể hiện rõ tiếng lòng của tình yêu. Nhất là trong hai khổ thơ đầu của bài thơ.</p> <p>Bài thơ được đặt tên là Sóng khá đơn giản nhưng lại mang ý nghĩa vô cùng lớn lao. Hình tượng con sóng xuyên suốt bài thơ là ẩn dụ cho cái tôi trữ tình của tác giả. Sóng và em tuy hai mà lại một, lúc tách rời khi lại hòa nhập. Tất cả tạo nên được những rung động mạnh mẽ mãnh liệt trong tình yêu. Chúng quấn quýt nhau hòa quyện với nhau như tô vẽ thêm tâm hồn của người phụ nữ.</p> <p>Mở đầu bài thơ ta thấy được sự tương đồng giữa sóng và em:</p> <p>“Dữ dội và dịu êmỒn ào và lặng lẽ”.</p> <p>Đó là các cặp tính từ mang một sắc thái tương phản cho thấy sự đối lập nhau. Lúc mạnh mẽ ồn ào khi thì hiền hòa dịu êm. Mượn hình ảnh của sóng để nói lên được nỗi niềm cảm xúc. Lúc lên xuống bất thường của người phụ nữ khi yêu. Khi thì đắm say vui vẻ khi lại buồn bã giận hờn. Tình yêu là như vậy luôn chứa đựng nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Hai câu thơ tiếp theo:</p> <p>“Sông không hiểu nổi mìnhSóng tìm ra tận bể”.</p> <p>Ở đây người phụ nữ đã không kìm nén được cảm xúc lòng mình. Vượt qua mọi rào cản để tiến tới cánh cửa tình yêu đích thực.</p> <p>Sông và bể là hai phạm trù không gian xuất hiện trong câu. Bể ở đây chính là một không gian rộng lớn hơn, khát vọng to lớn hơn. Đó chính là chân trời mơ ước của hàng ngàn con sóng. Sông chính là phạm trù không gian hẹp, có giới hạn và khá chật chội. Chính bởi vậy mà sông không thể nào hiểu hết được những tâm tư nỗi lòng của sóng. Vì thế mà sóng tìm đến bể để được sẻ chia an ủi. Sóng ở đây chính là em, tình yêu của sóng không ai khác chính là tình yêu của em. Sóng muốn tìm đến bể lớn chính là khát khao của em muốn tìm đến một bến bờ tình yêu chân thành.</p> <p>Từ “tận” trong câu thơ mang sắc thái thể hiện sự xa xôi. Cho thấy được hành trình kiếm tìm tình yêu hạnh phúc của người phụ nữ thật khó khăn và gian nan. Thế nhưng câu thơ thể hiện sự mạnh mẽ kiên trì không bỏ cuộc của người phụ nữ. Dám ước mơ, khát khao và dám hành động đi kiếm tìm hạnh phúc của đời mình. Con sóng trong thơ Xuân Quỳnh thật phi thường mạnh mẽ và đầy bản lĩnh. Đó là một trong những nét đẹp độc đáo của người phụ nữ hiện đại. Luôn chủ động, mạnh mẽ, dũng cảm và đầy cá tính.</p> <p>Người phụ nữ lúc này đang trong chan chứa hạnh phúc với biết bao ước nguyện về tình yêu: “Ôi con sóng ngày xưa/Và ngày nay vẫn thế”. Cặp từ hô ứng “ngày xưa-ngày nay” xuất hiện trong câu thơ. Ngày xưa dùng để chỉ chiều sâu của quá khứ. Còn ngày sau dùng để nói về tương lai. Ngày xưa và ngày nay cũng như quá khứ, hiện tại và tương lai được nối lại với nhau. Xuân Quỳnh muốn nói đến về độ dài của thời gian. Con sóng vẫn vậy nhưng thời gian thì luôn thay đổi. “Vẫn” ở đây là vẫn ổn định không đổi thay, nó là đại từ thay thế cho cả ddaonj thơ phía trên. Dù thời gian có trôi qua có thay đổi thì những khao mong ước luôn ở đó và không thay đổi. Dù là con người trong quá khứ hay hiện tại vẫn luôn thủy chung luôn kiên định với khát vọng của mình.</p> <p>Tình yêu mang đến cho con người một sức hút lạ kỳ: “Nỗi khát vọng tình yêu/Bồi hồi trong ngực trẻ”. “Bồi hồi” là từ láy dùng để nhấn mạnh cảm giác si mê trong tình yêu. Quãng thời gian đẹp nhất của mỗi con người có lẽ là yêu và được yêu. Tuổi trẻ luôn có mong ước và khát vọng riêng. Tố Hữu từng viết:</p> <p>"Đời có gì đẹp hơn thếNgười yêu người sống để yêu nhau”.</p> <p>Xuân Quỳnh đã thốt lên những câu thơ hay mang nhiều cảm xúc về tình yêu. Khi vị nữ sĩ tài hoa này đứng trước không gian bao la, mênh mông và rộng lớn. Đó là những khám phá mới mẻ và tính tế của tác giả tạo nên nét riêng biệt trong thơ của bà. Tiếng thơ của tác giả Xuân Quỳnh cũng là tiếng lòng chung của nhiều người phụ nữ Việt Nam thủy chung son sắt:</p> <p>“Nếu phải cách xa anhEm chỉ còn bão tố”.</p> <h2>Phân tích hai khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh mẫu 7</h2> <p>“Yêu là chết trong lòng một ít</p> <p>Vì mấy khi yêu mà chẳng được yêu”</p> <p>Tình yêu luôn là một chuỗi cung bậc cảm xúc khó định nghĩa và diễn tả. Tình yêu làm cho người ta biết đến những cảm xúc tầm thường hỉ, nộ, ái, ố trong cuộc đời. Tình yêu là niềm vui, sự mê đắm, tình yêu là cả nỗi buồn và sự tiếc nuối. Tiếng nói của tình yêu đã được nữ thi sĩ Xuân Quỳnh khắc họa rõ nét trong bài thơ Sóng, nhất là ở hai khổ thơ đầu của bài thơ.</p> <p>Đặt tên cho bài thơ Bài thơ là “Sóng” - rất đơn giản, ngắn gọn. Tuy đơn giản về mặt ngôn từ nhưng lại mang ý nghĩa rất lớn. Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh sóng, một ẩn dụ cho cái tôi trữ tình của Xuân Quỳnh. Sóng và em tuy hai mà một, khi tách ra, khi lại hòa quyện, âm vang trầm bổng tạo nên những rung động mạnh mẽ trong tình yêu. Sóng và em luôn quấn lấy nhau vẽ nên tâm hồn người phụ nữ đang yêu.</p> <p>Mở đầu bài thơ, tác giả nhìn sóng để thấy nét tương đồng:</p> <p>“Dữ dội và dịu êm</p> <p>Ồn ào và lặng lẽ”</p> <p>Xuân Quỳnh đã rất tinh tế khi quan sát các thuộc tính của thực thể sóng: dữ dội; dịu êm; ồn ào; lặng lẽ. Hai cặp tính từ mang sắc thái tương phản đặt cạnh nhau cho thấy trong bản thân thực thể bao giờ cũng tồn tại nhiều mặt đối lập khác nhau; đôi khi mềm mại và nhẹ nhàng, đôi khi mạnh mẽ và ồn ào. Mượn hình ảnh sóng, nhà thơ muốn diễn tả những cảm xúc, diễn biến tâm trạng của người phụ nữ khi yêu: khi nồng nàn say đắm, khi giận dữ, lặng lẽ hơn. Tình yêu là thế, luôn chất chứa biết bao cảm xúc khó giải thích. Tình yêu làm nên bản chất con người nên cũng có sự đồng điệu, hài hòa lạ lùng.</p> <p>Rồi đến câu thơ thứ hai, không kìm nén được cảm xúc, người phụ nữ đã phá bỏ mọi rào cản để đến với cánh cửa của tình yêu đích thực:</p> <p>“Sông không hiểu nổi mình</p> <p>Sóng tìm ra tận bể”</p> <p>Ở đây ta thấy có sự xuất hiện của hai phạm trù không gian: sông và hồ. Bể là thế giới rộng mở bao la, là khát vọng lớn lao, là chân trời mơ ước của trăm ngàn con sóng. Chỉ có chiếc xe tăng mới có thể chịu được tính khí thất thường của sóng biển. Còn sông xét về lưu vực thì sông nhỏ và hẹp hơn, lòng sông hẹp và chật chội hơn. Dòng sông không thể hiểu hết những tâm tư, tình cảm, không thể cảm thông trước tính khí thất thường của sóng nên sóng buộc phải tìm đến với bể để được vỗ về, sẻ chia và đắm say. Sóng là em, tình của sóng cũng là tình của em. Con sóng về bể là hiện thân cho khát vọng của tôi, khát vọng vươn ra đại dương, tìm đến bến bờ của tình yêu chân thành và sự thấu hiểu. Từ “hết” mang sắc thái tượng trưng cho sự xa cách, khó khăn. So với sóng biển, ta mới thấy được hành trình gian nan, xa xôi, khó khăn của người phụ nữ khi đi tìm tình yêu đích thực của đời mình. Tuy nhiên, bài thơ mang sắc thái mạnh mẽ thể hiện sự kì công và quyết tâm của người phụ nữ trong tình yêu. Hãy dám khát khao, dám ước mơ và dám hành động để tìm được hạnh phúc cho đời mình. Sóng tình của Xuân Quỳnh lạ với cái lạ và đầy cá tính. Đây chính là nét riêng của phụ nữ hiện đại, vô cùng năng động, táo bạo và đầy bản lĩnh.</p> <p>Lúc này, tâm hồn và trái tim người phụ nữ tràn ngập biết bao hạnh phúc, bao kỉ niệm đẹp của tình yêu:</p> <p>“Ôi con sóng ngày xưa</p> <p>Và ngày nay vẫn thế</p> <p>Trong câu thơ có cặp từ đối đáp: ngày xưa, ngày sau. Ngày cũ chỉ chiều sâu của quá khứ. Vế sau tượng trưng cho tương lai, tượng trưng cho khái niệm trường tồn, vĩnh cửu. Nối quá khứ với hôm nay, quá khứ với hiện tại và tương lai, tác giả muốn nói đến vấn đề vĩnh cửu, dài rộng của thời gian. Thời gian cứ trôi đi, nhưng sóng vẫn như cũ. “Vẫn” là ổn định, không thay đổi nên là đại từ thay thế cho cả khổ thơ trên. Du hành thời gian có thể thay đổi, nhưng khao khát tình yêu không bao giờ thay đổi. Con người xưa và nay, của quá khứ, hiện tại hay tương lai vẫn thủy chung, son sắt, kiên định với khát vọng hạnh phúc chân thành.</p> <p>Vì tình yêu mang đến cho con người ta một sức hút kỳ diệu</p> <p>“Nỗi khát vọng tình yêu</p> <p>Bồi hồi trong ngực trẻ”</p> <p>Từ “bồi hồi” được đặt khéo léo ở đầu dòng nhằm nhấn mạnh cảm giác mê đắm, mê đắm, cháy bỏng trong tình yêu. Yêu và được yêu là quãng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời mỗi người. Khát vọng tình yêu là khát vọng thổn thức, đặc trưng cho tuổi trẻ của mỗi con người. Như Tố Hữu đã từng so sánh:</p> <p>“Đời có gì đẹp hơn thế</p> <p>Người yêu người sống để yêu nhau.”</p> <p>Đứng trước không gian rộng lớn và đại dương bao la, nữ sĩ tài hoa Xuân Quỳnh đã không ngần ngại thốt lên những vần thơ nồng nàn về tình yêu. Đây là những khám phá hết sức tinh tế, mới mẻ, tạo nên những nét rất riêng, tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Quỳnh. Thơ Xuân Quỳnh cũng là tiếng nói chung của bao người phụ nữ Việt Nam gan dạ, can trường, nhân hậu:</p> <p>“Nếu phải cách xa anh</p> <p>Em chỉ còn bão tố”</p> <h2>Phân tích hai khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh mẫu 8</h2> <p>Không biết từ bao giờ nhịp sóng vỗ ngoài đại dương không chỉ làm thổn thức biển cả mà còn làm rung động biết bao trái tim người thi sĩ để làm nên con sóng nơi “gió cuốn mặt duềnh” mang bao dự cảm bất an trong thơ Nguyễn Du, “tiếng sóng cuốn bờ mây” của cuộc sống mới ấm no, bình an trong thơ Huy Cận (“Tiếng biển về khuya”), là tiếng lòng da diết của người con trai trong tình yêu trong cái nhìn Xuân Diệu (“Biển”),... Và càng không thể thiếu tiếng sóng vỗ nghìn đời như nhịp đập bền bỉ của người con gái khi yêu trong những câu thơ đầy nữ tính của Xuân Quỳnh- “Sóng”. Từ những câu thơ mở đầu đã cảm nhận được sức sống ấy:</p> <p>Không còn phân biệt được sóng tạo nên Xuân Quỳnh, hay Xuân Quỳnh đã tạo nên sóng. Chỉ biết rằng người con gái ấy sinh ra là để dành cho thơ. Mỗi bài thơ đều là tiếng nói chân thành nhất của một tâm hồn phụ nữ giàu trắc ẩn, vừa âu lo vừa da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường. Bài thơ “Sóng” được viết năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở biển Diêm Điền (Thái Bình), là tiếng thơ của những ngọt ngào, đắng cay từng trải trong tình yêu, khi đã vun đắp và trải nghiệm sự tan vỡ trong tình yêu mà vẫn thật tha thiết, tràn đầy khát vọng. Bài thơ có sự song hành hình tượng giữa “sóng” và “em”: “Sóng” và “em” có lúc tách ra để soi chiếu vào nhau, có lúc lại hòa hợp thống nhất. Sóng biển và sóng lòng, sóng nước và sóng tình ẩn hiện, đan nguyên vào nhau tạo ra những cảm xúc mới mẻ. Bởi thế, sóng có thể nói là một ẩn dụ không hoàn toàn cho em, cho vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu và trong cuộc sống.</p> <p>Bằng cái nhìn thơ và tâm hồn nhạy cảm, Xuân Quỳnh đã phát hiện thấy ở hiện tượng sóng của tự nhiên không ít những đặc tính của người phụ nữ. Nghe tiếng sóng vỗ mà như nghe được tiếng lòng của mình, của những người con gái đang yêu:</p> <p>“Dữ dội và dịu êmỒn ào và lặng lẽ”</p> <p>Trong người phụ nữ, luôn tồn tại những trạng thái đối cực. Hai câu thơ có thể đúng với bao người nhưng nó không phải là lời của một nhà nghiên cứu trong tình yêu đứng ngoài nhìn vào. Nó được viết ra trước hết là một lời tự thú chân thành và tự nhiên đến độ khiến ta phải ngỡ ngàng: thì ra, trái tim của người phụ nữ luôn có những đối cực như thế: “dữ dội” - “dịu êm”, “ồn ào” - “lặng lẽ”. Nhà thơ đặt liên từ “và” - không phải bức tường ngăn cách mà là sự kết hợp, chuyển hóa. Như vậy, tình yêu không bao giờ là trạng thái tâm lí tuần nhất mà là sự hòa kết của những trạng thái khác nhau, thậm chí là đối lập như những nốt thăng, trầm làm nên bản tình ca đôi lứa. Người phụ nữ có thể ồn ào, dữ dội nhưng cuối cùng cũng là sự trở về của thiên tính nữ: dịu êm, lặng lẽ. Đó chính là sự hiện diện của cái “tôi” Xuân Quỳnh và cũng là sự hiện diện của “thiên tính nữ” - điều đặc biệt của tác phẩm.</p> <p>Người phụ nữ luôn hướng tìm tới tự do:</p> <p>“Sông không hiểu nổi mìnhSóng tìm ra tận bể”</p> <p>Khám phá những không gian tồn tại của sóng, Xuân Quỳnh phát hiện ra: hành trình của sóng từ sông ra biển cũng là hành trình con người đến với tình yêu: phải biết vượt qua những giới hạn bản thân chật hẹp để hòa nhập vào biển đời rộng lớn, kiếm tìm hạnh phúc. Đó là hành trình dấn thân tự nguyên, say mê để tìm đến hạnh phúc và sống trọn vẹn. Đó chính là điểm mới mẻ, hiện đại trong cảm xúc, tâm hồn người con gái: mạnh mẽ và tự do, sẵn sàng phá vỡ mọi giới hạn và rào cản để đến với hạnh phúc của mình - một sự kiếm tìm có ý thức trong tình yêu.</p> <p>Tình yêu, với người con gái luôn là ước vọng, là đích đến và là nỗi bồi hồi, xao xuyến muôn đời:</p> <p>“Ôi con sóng ngày xưaVà ngày sau vẫn thếNỗi khát vọng tình yêuBồi hồi trong ngực trẻ”</p> <p>Thán từ “ôi” được đặt lên đầu như một sự phát hiện đầy thú vị về trạng thái tình cảm đã trở thành quy luật muôn thuở rồi. Đối với người phụ nữ, tình yêu không có tuổi: “ngày xưa”, “ngày sau vẫn thế”: vẫn “dữ dội và dịu êm”, “ồn ào và lặng lẽ”. Tình yêu muôn đời, với muôn thế hệ nhưng với tuổi trẻ đang khát sống và khát yêu nhất, đặc biệt “bồi hồi”. Chẳng thế mà Xuân Diệu khẳng định:</p> <p>“Làm sao sống được mà không yêuKhông nhớ không thương một kẻ nào”</p> <p>(Xuân Diệu).</p> <p>Tuổi trẻ là tuổi yêu, tình yêu luôn gắn với tuổi trẻ. Tiến sĩ Chu Văn Sơn từng viết: “Một trái tim đang nhớ là biểu hiện của một trái tim đang yêu” và một trái tim đã ngừng nhớ là biểu hiện của một tình yêu sắp sửa lụi tàn, của một sự sống cũng ngừng sôi sục. Nó không phải cái cảm giác bâng khuâng, nhẹ như mây bay thuở áo trắng hay sự lo toan khi đã “đứng tuổi”; đơn giản chỉ là sự bồi hồi, sự nhiệt huyết và hết mình của tuổi trẻ dám yêu, dám sống vì tình yêu ấy. Ngày xưa và ngày sau, vẫn thế....</p> <p>Như vậy, qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã diễn tả những trạng thái, cung bậc khác nhau của tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu. Sự song hành hình tượng sóng và em đã khắc họa vẻ đẹp vừa dịu dàng, tinh tế vừa chủ động, mãnh liệt, vừa truyền thống vừa hiện đại của một tình yêu chân thành. Bề sâu tâm tình của nhân vật trữ tình kết hợp với hình thức thơ 5 chữ, việc sử dụng và “phá vỡ” ẩn dụ chính là yếu tố quyết định giá trị bài thơ. Bởi thế, con sóng ấy vừa là biểu hiện hiện của tình yêu muôn đời vừa là nhịp đập của tình tình yêu hiện đại hôm nay.</p> <p>“Với Xuân Quỳnh, thơ là sống, sống là thơ. Cứ hết mình sống, hồn nhiên viết, trút trọn vẹn cái tôi của mình vào một thi phẩm, thi tứ, mỗi thi ảnh, thi điều đó là cách thơ Xuân Quỳnh. Không mặt nạ, không son phấn, không vay mượn, không lên gân, Xuân Quỳnh đã gửi mình vào thơ.” (Chu Văn Sơn). Và Xuân Quỳnh đã sống mãi bằng những câu thơ như thế.</p> <h2>Phân tích hai khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh mẫu 9</h2> <p>Văn hào Pháp Victor Hugo đã từng khẳng định: "Cuộc đời là một bông hoa, còn tình yêu là mật ngọt". Chính bởi vậy, tình yêu luôn là đề tài vĩnh cửu của văn học và luôn là điều bí ẩn đối với con người. Vì thế, đến với đề tài tình yêu, mỗi nhà thơ lại có một cách cảm nhận, thể hiện riêng. Ta biết tới một "ông hoàng thơ tình" Xuân Diệu nồng nàn, khao khát yêu đương, một nhà thơ Nguyễn Bính mộc mạc, chân chất. Còn đến với Xuân Quỳnh, ta lại cảm nhận được một hồn thơ in đậm vẻ nữ tính, da diết trong khát khao hạnh phúc đời thường. Điều này được thể hiện rõ trong bài thơ "Sóng" in trong tập "Hoa dọc chiến hào" năm 1968. Đặc biệt là ở hai khổ thơ đầu của bài thơ.</p> <p>"Sóng" là hình tượng trung tâm của bài thơ. Sóng và em luôn song hành cùng nhau, lúc thì phân đôi để soi chiếu vào nhau, lúc lại hòa làm một. Tính cách và bản chất của sóng cũng là đặc điểm của "em", của người con gái khi yêu:</p> <p>"Dữ dội và dịu êmỒn ào và lặng lẽ"</p> <p>Những từ trong hai dòng thơ mang ý nghĩa đối lập nhau vậy mà ở đây, Xuân Quỳnh lại sử dụng từ "và", vốn biểu đạt quan hệ cộng hưởng, tiếp nối, nhân lên. Qua đây, nhà thơ muốn thể hiện bản chất và tính khí của sóng. Lúc thì sóng dâng trào lên cao, mạnh bạo, lúc lại trở nên hiền hòa, dịu dàng. Thật giống với nét tính cách của người con gái đang yêu. Trái tim của "em" cũng như sóng, cũng lên xuống bất chợt với những cung bậc cảm xúc khác nhau.</p> <p>Đến với hai câu thơ tiếp theo trong khổ một, tác giả đã sử dụng biện pháp nhân hóa qua động từ "tìm". "Sông" và "bể" là những từ tái hiện không gian khác nhau. Nếu như "sông" tượng trưng cho sự tù túng, chật chội thì "bể" trong thế giới thơ Xuân Quỳnh thường biểu đạt cho một không gian khoáng đạt, rộng lớn:</p> <p>"Chỉ có thuyền mới biếtBiển mênh mông nhường nào."</p> <p>Hay</p> <p>"Suốt cuộc đời biển gọi ước mơNỗi khát vọng nơi phương trời chưa đếnĐứng trước biển quên những điều nhỏ hẹpLại thấy lòng trong sạch thêm ra."</p> <p>Mọi con sông đều sẽ đổ ra biển lớn. Đó là chân lí không thể đổi thay. Thế nhưng, động từ "tìm" cho thấy sự chủ động của những con sóng. Từ "sông" tới "bể", sóng đã làm một hành động đầy dứt khoát là từ bỏ cái tù túng, chật hẹp để đến với trời nước bao la, vĩnh hằng. Hành trình nhận thức của sóng cũng chính là mong ước vượt lên những điều nhỏ bé, tầm thường để tìm đến hạnh phúc lớn lao của người con gái trong tình yêu.</p> <p>Sang đến khổ hai, nhà thơ lại tiếp tục nói về những con sóng biển:</p> <p>"Ôi con sóng ngày xưaVà ngày sau vẫn thế"</p> <p>Từ "ôi" đã diễn tả sự bồi hồi, xuyến xao của một trái tim đang yêu."Ngày xưa" biểu thị cho cái quá khứ xa xôi trong khi "ngày sau" lại tượng trưng cho tương lai xa vời. Xuân Quỳnh nối liền quá khứ với hiện tại thông qua liên từ "và" nhằm thể hiện sự dài rộng của tháng năm. Thi sĩ muốn khẳng định sự bất diệt của những con sóng. Dù thời gian có thay đổi thì những con sóng vẫn vẹn nguyên. Như vậy, trong suy nghĩ và cảm nhận của tác giả, dù là quá khứ hay hiện tại, dù là ngày xưa hay ngày sau thì sóng vẫn tồn tại muôn đời. Khát vọng tình yêu cũng như vậy, vẫn luôn mãnh liệt, thổn thức trong lồng ngực của tuổi trẻ, của người con gái tràn đầy niềm yêu thương.</p> <p>Để diễn tả được đặc điểm, khát vọng của sóng, tác giả đã sử dụng ngôn từ giàu sức gợi hình, gợi cảm, biện pháp nhân hóa "Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể", lặp cấu trúc "Dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ". Các yếu tố trên đã góp phần thể hiện được nội dung của đoạn trích cũng như tạo nên thành công cho tác phẩm.</p> <p>Qua việc phân tích hai khổ thơ đầu của bài thơ "Sóng", ta thấy được hình tượng "sóng" và "em" luôn song hành, gắn liền với nhau để làm rõ được nỗi niềm, khát khao hạnh phúc bình dị của nữ sĩ Xuân Quỳnh. Những tình cảm mà Xuân Quỳnh thể hiện thật "giống như ngọn lửa thần bốc lên từ những cành khô" còn tài năng của bà là sự "bắt nguồn từ những tình cảm mạnh mẽ nhất của con người" (Raxun Gazo).</p> <h2>Phân tích hai khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh mẫu 10</h2> <p>Văn học Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã để lại nhiều tác phẩm mang cảm hứng lãng mạn viết về đề tài đất nước. Nhưng đâu đó dọc đường vẫn còn vần xanh, hoa nở dọc chiến hào, khúc ca thiết tha về tình yêu đôi lứa. Bài thơ “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh sẽ đưa người đọc vào thế giới của tình yêu và cảm nhận những nét đặc sắc trong thế giới thơ tình của Xuân Quỳnh. Hai khổ thơ đầu của bài thơ là những cảm nhận tinh tế sâu sắc của một trái tim yêu thương.</p> <p>Mở đầu bài thơ Xuân Quỳnh đã tinh tế nhận thấy sự đối lập trong nội tâm của sóng:</p> <p>“Dữ dội và dịu êm</p> <p>Ồn ào và lặng lẽ”</p> <p>Tác giả đã sử dụng cặp phép đối “dữ dội - dịu êm”, “ồn ào - lặng lẽ” để miêu tả những trạng thái muôn hình, muôn vẻ của sóng. Cách ngắt nhịp đều đặn, nhịp nhàng của câu thơ 2/3 tạo nên âm điệu của những đợt sóng trùng điệp kéo dài bất tận vỗ vào bờ. Việc sử dụng liên từ “và” cho thấy các trạng thái đối lập này luôn tồn tại trong một thể thống nhất không mâu thuẫn mà đan xen trong sự chuyển hóa không ngừng. Những trạng thái đối lập của sóng cũng là những dao động bất thường của những cung bậc cảm xúc đa dạng trong lòng người phụ nữ.</p> <p>Hình ảnh nhân hoá “sóng tìm đáy bể” gợi cho người đọc liên tưởng đến hành trình tìm về cái mênh mông của sóng:</p> <p>“Sông không hiểu nổi mình</p> <p>Sóng tìm ra tận bể”</p> <p>Dòng sông hẹp không chứa nổi sự chao đảo của sóng. Sóng sẽ từ bỏ không gian chật hẹp ấy để vươn tới sự bao la của biển cả một cách tự tin và chủ động. Động từ “ tìm ra” cùng với giới từ “bể lớn” thể hiện sự kỳ công, quyết tâm và khát vọng vượt sóng gió. Khát vọng vượt qua sóng gió cũng chính là khát khao tìm được hạnh phúc, tình yêu của trái tim tôi. Cô gái đang yêu luôn ý thức được những dao động bất thường của trái tim mình, muốn vượt qua cái tôi hạn hẹp của mình, không chấp nhận một tình yêu ích kỷ tầm thường mà muốn vươn tới một tình yêu lớn đẹp chân chính, rộng lượng.</p> <p>Đến bể tạo sóng mới thấy những thăng giáng nghịch lý là thường trực, trường tồn với thời gian:</p> <p>“Ôi con sóng ngày xưa</p> <p>Và ngày sau vẫn thế</p> <p>Nỗi khát vọng tình yêu</p> <p>Bồi hồi trong ngực trẻ”</p> <p>Đứng trước biển, người ta có cảm giác ngàn năm trước không có, biển vẫn thế, ngàn năm sau ta có biến mất khỏi đất liền, biển vẫn thế, vẫn là hình ảnh những con sóng chạy vào bờ. Đứng trước sự trường tồn, bất diệt của biển, nhà thơ nghĩ đến một sự bất tử khác. Đó là sự bất tử của khát vọng tình yêu. Khát vọng tình yêu là khát vọng muôn thuở mà bao thế kỷ trôi qua, con người đã đến và sống mà không cần đến tình yêu. Tình yêu làm con người ta trẻ mãi, tái sinh như sóng biển, rồi lại tan biến vào biển cả.</p> <p>Bài thơ đã giúp ta hiểu được tình cảm, hồn thơ Xuân Quỳnh. Dù sống trong hoàn cảnh nào, thơ Xuân Quỳnh vẫn hồn nhiên, tươi tắn với những khát vọng hạnh phúc giữa đời thường. Giống như những gì cô ấy đã viết:</p> <p>"Chỉ riêng điều được sống cùng nhau</p> <p>Niềm vui sướng với em là có thật</p> <p>Trái tim nhỏ nằm trong lồng ngực</p> <p>Giây phút nào tim chẳng đập vì anh”</p> <h2>Phân tích hai khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh mẫu 11</h2> <p>Văn học Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ vẫn là một cái gì đó rất đặc biệt, nó đã để lại nhiều tác phẩm mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn viết về đề tài đất nước. Thế nhưng đâu đó trên bước đường hành quân vẫn có những vần thơ tươi xanh, vẫn có những bông hoa nở dọc chiến cao cất lên bao lời ca say đắm về tình yêu đôi lứa. Bài thơ "Sóng" của nhà thơ Xuân Quỳnh sẽ mang người đọc vào một thế giới mới của tình yêu và cạm nhận những nét đặc sắc trong thế giới thơ tình của Xuân Quỳnh. Hai khổ thơ đầu bài thơ là những cảm nhận tinh tế sâu sắc của một trái tim đang yêu.</p> <p>Mở đầu bài thơ Xuân Quỳnh đã quan sát và miêu tả những đặc tính đối lập của sóng"</p> <p>Dữ dội và dịu êmỒn ào và lặng lẽ</p> <p>Cặp tiểu đối "dữ dội - dịu êm" "ồn ào - lặng lẽ" đã diễn tả những trạng thái đối lập bất thường, đa dạng của sóng. Cách ngắt nhịp câu thơ 2/3 đều đặn, nhịp nhàng đã tạo nên giai điệu của những cong sóng gối lên nhau vô hồi, vô hạn trôi dạt vào bờ. Cách sử dụng liên từ "và" cho thấy những trạng thái đối lập này luôn tồn tại trong một thể thống nhất không mâu thuẫn mà đan xen vận động chuyển hóa không ngừng. Những trạng thái đối nghịch của sóng cũng chính là tượng trưng cho những cảm xúc bất thường của người phụ nữ khi yêu.</p> <p>Hình ảnh nhân hóa "sóng" tìm ra tận bể gợi người đọc liên tưởng đến hành trình tìm đến cái rộng lớn, bao la hơn của sóng:</p> <p>Sông không hiểu nổi mìnhSóng tìm ra tận bể</p> <p>Dòng sông chật hẹp không chứa nổi sự xoay trở của sóng. Sóng sẽ từ bỏ không gian chật hẹp ấy để đến với cái rộng lớn, bao la của biển cả một cách đầy tự tin, chủ động. Động từ "tìm" cùng với giới hạn "tận bể" cho thấy sự kì công, quyết tâm và khao khát bứt phá của sóng. Khát vọng bứt phá của sóng cũng chính là khát vọng đi tìm hạnh phúc trong trái tim em. Người con gái đang yêu luôn cảm nhận được sự khác thường trong lòng mình, muốn vượt qua cái tôi hạn hẹp cá nhân không chấp nhận một tình yêu ích kỉ tầm thường mà muốn vươn tới một tình yêu lớn đẹp đẻ, đích thực, bao dung.</p> <p>Ra đến bể con sóng thấy những dao động trái ngược kia là muôn thở, vĩnh hằng với thời gian.</p> <p>Ôi con sóng ngày xưaVà ngày sau vẫn thếNỗi khát vọng tình yêuBồi hồi trong ngực trẻ</p> <p>Đứng trước biển cả con người ta thường có cảm giác nghìn năm trước khi chưa có con người biển vẫn thế này, nghìn năm sau khi mình đã về với cát bụi thì mặt biển vẫn thế kia, sẽ vẫn mãi còn hình ảnh những con sóng xa mải miết chạy về bờ tan hòa mình vào bờ bãi. Đối diện với sự bất diệt, trường tồn của biển nhà thơ liên tưởng tới một sự bất diệt khác. Đó là sự bất diệu của khát vọng tình yêu. Khát vọng tình yêu là khát vọng vĩnh hẳng mà muôn thở từ xưa đến nay biết bao nhiêu là thế kỉ đã qua con người vẫn sống mà không thể thiếu tình yêu. Tình yêu như khiến con người ta trẻ hóa, yêu đời, tràn đầy sức sống hơn, tái sinh như con sóng biển ào lên rồi lại tan ra hòa nhập vào biển cả.</p> <p>Đoạn thơ đã giúp chúng ta hiểu được về tình cảm và hồn thơ của Xuân Quỳnh. Dù trong hoàn cảnh nào đi nữa thì tiếng thơ của Xuân Quỳnh vẫn hồn nhiên tươi tắn với những khát vọng hạnh phúc đời thường. Đúng như lời chị viết.</p> <h2>Phân tích hai khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh mẫu 12</h2> <p>Xuân Quỳnh được đánh giá là một trong số những nhà thơ trẻ xuất sắc, trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống quân giặc Mỹ và là một trong số rất ít những nhà thơ nữ sáng tác nhiều tác phẩm và rất thành công với chủ đề tình yêu. Một trong số thành công xuất sắc về chủ đề ấy của nữ nhà thơ là tác phẩm “Sóng”, hai khổ thơ đầu tiên của bài thơ nữ thi sĩ đã viết:</p> <p>“Dữ dội và dịu êmỒn ào và lặng lẽSông không hiểu nổi mìnhSóng tìm ra tận bể</p> <p>Ôi con sóng ngày xưaVà ngày sau vẫn thếNỗi khát vọng tình yêuBồi hồi trong ngực trẻ”</p> <p>Thơ của Xuân Quỳnh đại diện cho tiếng lòng của tâm hồn người phụ nữ chất chứa nhiều trắc ẩn, vần thơ của bà vừa mang nét chân thành đằm thắm, lại vừa nồng nàn mãnh liệt và hơn hết là luôn bùng lên khát vọng da diết về một hạnh phúc bình dị ngoài đời thường. Bài thơ “Sóng” được sáng tác vào năm 1967 trong một chuyến đi thực tế của nhà thơ tại vùng biển Diêm Điền thuộc tỉnh Thái Bình và lúc này thì bản thân tác giả cũng vừa trải qua sự đổ vỡ trong tình yêu. Bài thơ thuộc tập “Hoa dọc chiến hào” và được in vào năm 1968. Tình yêu là một điều gì đó rất bí ẩn nên ngàn đời vẫn luôn cuốn hút con người, tình yêu trong thơ của Xuân Quỳnh chính là biểu tượng của những bông hoa dọc chiến hào làm dịu đi sự tàn khốc của chiến tranh.</p> <p>Trong bài thơ “Sóng”, nhà thơ đã sử dụng thể thơ năm chữ ngắn gọn, đây là thể thơ có nhịp điệu rất nhanh, mạnh và dồn dập. Thể thơ ấy thường sử dụng để diễn tả những dòng cảm xúc hối hả, ào ạt, mãnh liệt. Ngoài ra, bài thơ còn sử dụng cách hiệp vần giãn cách kết hợp hiệp vần chân ở những tiếng cuối ở các câu chẵn. Hơn nữa bài thơ luôn có sự luân phiên về thanh điệu ở những tiếng cuối của các câu thơ. Như vậy những thủ pháp trong nghệ thuật sáng tạo đã tạo thành âm hưởng vô cùng nhịp nhàng và uyển chuyển cho cả bài thơ. Âm hưởng của bài thơ chính là âm hưởng dạt dào của những con sóng mà trong mỗi câu thơ là những con sóng gối lên nhau đều đặn, chạy đều đến hết bài thơ. Những con sóng ấy là sự trào dâng mãnh liệt trong dòng cảm xúc dạt dào của tâm hồn nữ sĩ. Có lẽ vì vậy mà ấn tượng về những con sóng trong bài thơ không đơn thuần là của sóng biển mà còn là của những con sóng tình. Đây cũng chính là hai hình tượng nghệ thuật được tác giả tập trung xây dựng cho bài thơ. Sóng biển và sóng tình có những lúc tồn tại song song để soi chiếu và tôn vinh vẻ đẹp của nhau, nhưng cũng có lúc lại hòa làm một, trong sóng biển chứa sóng tình, trong sóng tình chúng ta lại thấy nhịp ào ạt của sóng biển. Suy cho cùng thì sóng biển và sóng tình đều là hình tượng nghệ thuật nhằm biểu đạt cho cái tôi trữ tình của tác giả.</p> <p>Qua hai khổ thơ đầu tiên, nữ sĩ đã cho người đọc cảm nhận được những đặc điểm của con sóng biển và cả của những con sóng tình yêu, những con sóng ấy luôn chứa đựng những trạng thái đối lập nhau và luôn có những khát khao muốn vươn lên đến những sự vĩ đại, bao la. Mở đầu, tác giả đã viết:</p> <p>“Dữ dội và dịu êmỒn ào và lặng lẽ”</p> <p>Trong hai câu thơ đầu tiên, tác giả đã sử dụng những hai cặp tính từ trái nghĩa nhằm miêu tả được đặc điểm của sóng biển: cặp “dữ dội - dịu êm” và cặp “ồn ào - lặng lẽ”. Thông thường khi đứng giữa những cặp tính từ trái nghĩa ấy là quan hệ từ để biểu đạt lên sự tương phản như “tuy - nhưng”, thế nhưng ở đây thì nhà thơ Xuân Quỳnh lại sử dụng quan hệ từ rất đặc biệt “và” vốn để biểu đạt mối quan hệ cộng hưởng, cộng thêm và nối tiếp. Như vậy những đặc điểm tưởng chừng như đối lập lại có vẻ thống nhất với nhau và sẽ luôn tồn tại trong một chủ thể là sóng. Trong cái dữ dội lại có nét dịu êm, trong cái ồn ào lại chứa đựng sự lặng lẽ. Những trạng thái đối lập ấy của sóng cũng chính là những trạng thái đối lập xuất hiện trong tâm hồn người phụ nữ khi yêu. Trong tình yêu, tâm hồn của người phụ nữ không hề bình lặng mà chứa đầy những biến động: có khi thì sôi nổi cuồng nhiệt, cũng có lúc lại e lệ, kín đáo, có lúc đằm thắm nhưng có lúc lại hờn ghen.</p> <p>Tác giả tiếp tục sử dụng thêm biện pháp nghệ thuật nhân hóa trong hai câu thơ tiếp theo, con sóng được nhân hóa thông qua động từ “tìm” trong hành trình đi từ sông ra đến biển:</p> <p>“Sông không hiểu nổi mìnhSóng tìm ra tận bể”</p> <p>Tác giả đã vô cùng khéo léo sử dụng động từ “tìm” giúp nhân hóa con sóng để cho ta thấy được sự chủ động của những con sóng, con sóng đã chủ động chối bỏ đi những phạm vi chật hẹp là “sông” để có thể vươn tới những phạm vi rộng lớn bao la hơn là “bể”. Như vậy trong bốn câu thơ đầu tiên, nhà thơ đã giúp chúng ta nhìn lại được hai đặc điểm tự nhiên và vốn có của những con sóng và cũng chính tác giả đã phải sử dụng thêm hai câu thơ để khẳng định lại sự hiển nhiên và vốn có ấy:</p> <p>“Ôi con sóng ngày xưavà ngày sau vẫn thế”</p> <p>Nữ nhà thơ đã khẳng định được những đặc điểm ngàn đời vốn có của con sóng, từ quá khứ “ngày xưa” cho đến thời điểm tương lai “ngày sau” con sóng vẫn luôn luôn chứa đựng những trạng thái đối lập, vẫn luôn vận động dựa trên một quy luật trăm sông đều đổ ra biển. Trạng từ khẳng định “vẫn thế” một lần nữa giúp biểu đạt chân lý ấy sẽ không bao giờ có thể đổi thay.</p> <p>Thơ ca hay nghệ thuật đều là những sự sáng tạo muốn mang đến cho người đọc những cảm xúc mới lạ, đem đến cho tâm hồn của con người những trải nghiệm đa dạng, phong phú. Ta tự hỏi rằng vì sao trong sáu câu thơ đầu tiên tác giả chỉ đưa cho chúng ta hai đặc điểm tự nhiên, vốn có của những con sóng? Để giải đáp cho điều đó, nữ nhà thơ viết tiếp hai câu thơ sau:</p> <p>“Nỗi khát vọng tình yêuBồi hồi trong ngực trẻ”</p> <p>Đến đây chúng ta đã có thể cảm nhận được sự hiện hữu của một con sóng nữa đó là con sóng trong tâm hồn, là con sóng của tình yêu, mà đó lại là tình yêu của tuổi trẻ còn đang bồi hồi, đang thổn thức ở trong trái tim, trong lồng ngực của người con gái. Khát vọng về tình yêu cháy bỏng mãnh liệt đang dạt dào trong lòng của nữ sĩ. Như vậy khi đứng trước biển, trước những con sóng ào ạt vỗ bờ, dòng cảm xúc trong tâm hồn nữ sĩ cũng đang trào dâng. Những con sóng biển xuất hiện ở sáu câu thơ đầu tiên đã gợi lên những con sóng tình trong tâm hồn nhà thơ. Sóng biển đã gọi sóng tình hay có thể nói sóng biển chính là yếu tố giúp khơi gợi nguồn cảm xúc trong lòng thi sĩ.</p> <p>Vì sao sóng biển lại có thể gọi được sóng tình, lại có sức khơi gợi cảm xúc một cách mãnh liệt như thế? Có lẽ giữa sóng biển với sóng tình có một sự tương đồng, nếu sóng biển chứa đựng vô vàn trạng thái đối lập thì tâm trạng của người con gái đang yêu cũng như thế, cũng có những lúc cần giận dỗi, hờn ghen và cũng có những lúc yêu thương dịu dàng đằm thắm:</p> <p>“Em bảo anh đi điSao anh không đứng lại?Em bảo anh đừng đợiSao anh vội về ngay?”</p> <p>Con gái đang yêu luôn là như vậy, luôn có những mặt mâu thuẫn, đối lập trong câu nói và hành động. Nếu yêu một người con gái mà lại không biết nhìn thẳng vào đôi mắt người đó thì chắc chắn một điều rằng anh chàng ấy sẽ khó lòng hiểu và yêu thương cô gái ấy một cách trọn vẹn nhất. Hành trình của sóng cũng chính là hành trình của tình yêu. Nếu con sóng luôn luôn biết chủ động chối bỏ đi những thứ chật chội hẹp hòi để vươn đến những điều rộng lớn hơn thì người con gái đang yêu cũng luôn luôn hướng tới những khát khao như thế. Họ dũng cảm dám từ bỏ những điều ích kỷ, nhỏ nhen để có thể vươn tới tình yêu bao dung. Việt Nam là một đất nước có lịch sử hơn một nghìn năm phong kiến và ảnh hưởng bởi chế độ phong kiến đã đè nặng lên tư tưởng của phụ nữ Việt. Giai đoạn những năm 1967 ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng hệ phong kiến chắc chắn vẫn còn tồn tại, mà thậm chí còn vương vãi ở một số thế hệ trẻ hiện nay thế nhưng ở nhà thơ Xuân Quỳnh chúng ta bắt gặp được một con người hiện đại, vừa thông minh lại sắc sảo, luôn khát khao hướng đến một tình yêu vĩ đại.</p> <p><strong>Mời các bạn cùng tải về bản PDF để xem đầy đủ nội dung</strong></p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 04 Jul 2026 08:11:30 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Phân tích 2 khổ đầu bài Sóng hay nhất</media:title>
                        <media:keywords>Phân tích 2 khổ đầu bài Sóng hay nhất</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Tác giả “Đây thôn Vĩ Dạ” trong cuộc tình rung động bởi thương đau]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/tac-gia-han-mac-tu-a110251.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/tac-gia-han-mac-tu-a110251.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/tac-gia-han-mac-tu-a110251.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tac-gia-han-mac-tu-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<ul> <li>Nhớ Hàn Mặc Tử </li> <li>Hàn Mặc Tử </li> <li>Hàn Mặc Tử qua ký ức của người thân</li> <li>Thi sĩ Hàn Mặc Tử: Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh</li> </ul> <p>Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh (1942-2005) là người đã góp công xây dựng khu mộ Hàn Mặc Tử nằm trong khu điều trị bệnh phong Quy Hòa, thành phố Quy Nhơn, Bình Định. Sự yêu mến của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh dành cho thi sĩ đoản mệnh không chỉ dừng lại ở đó, mà còn được viết thành ca khúc "Hàn Mặc Tử" chinh phục công chúng suốt bao nhiêu năm qua. Trong ca khúc "Hàn Mặc Tử" có nhắc "Hàn Mặc Tử xuôi về quê cũ, giấu thân nơi nhà hoang/ Mộng Cầm hỡi thôi đừng thương tiếc, tủi cho nhau mà thôi", vì vậy nhiều người đinh ninh Mộng Cầm là người đẹp quan trọng nhất trong cuộc đời Hàn Mặc Tử.</p> <p>Mộng Cầm và địa danh Lầu Ông Hoàng được âm nhạc Trần Thiện Thanh miêu tả lâm ly, gắn bó thế nào với Hàn Mặc Tử? Mộng Cầm tên thật Huỳnh Thị Nghệ, là cháu gái của thi sĩ Bích Khê. Nhờ tình bạn với Bích Khê, mà Hàn Mặc Tử có quen biết với Mộng Cầm, và đôi bận ghé qua Phan Thiết để thăm thiếu nữ hay chữ ấy. Mộng Cầm có tình ý gì với Hàn Mặc Tử không?</p> <img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tac-gia-han-mac-tu-1.jpg" alt="Hàn Mặc Tử qua nét vẽ Tạ Tỵ." /> Hàn Mặc Tử qua nét vẽ Tạ Tỵ. <p>Mộng Cầm không hề thổ lộ điều gì cụ thể, nên Hàn Mặc Tử thất tình và làm bài thơ "Muôn năm sầu thảm" gọi đúng tên thật của người trong mộng dở dang: "Nghệ hỡi Nghệ, muôn năm sầu thảm/ Nhớ thương còn một nắm xương thôi/ Thân tàn ma dại đi rồi/ Rầu rầu nước mắt bời bời ruột gan/ Nghe gió là ôm ngang lấy gió/ Tưởng chừng như trong đó có hương/ Của người mình nhớ mình thương/ Nào hay gió tạt chả vương vấn gì".</p> <p>Hàn Mặc Tử tên thật Nguyễn Trọng Trí (1912-1940) chỉ sống 28 năm với cõi người bận bịu, với thi ca nhọc nhằn. Từ thuở viết "Gái quê", Hàn Mặc Tử đã khao khát yêu đương "Xuân trẻ, xuân non, xuân lịch sự/ Tôi đều nhận thấy trên môi em/ Làn môi mong mỏng tươi như máu/ Đã khiến môi tôi mấp máy thèm" nhưng hành trình tìm kiếm tình nhân của ông chỉ thấy éo le và trắc trở. Không được yêu trong đời thực thì Hàn Mặc Tử phơi bày niềm yêu trong thơ.</p> <p>Ông từng thổ lộ: "Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi yếu đuối quá. Tôi bị cám dỗ. Tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật. Và nghĩa là tôi đã mất trí, đã phát điên. Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú".</p> <p>Những bóng hồng đã "đánh" Hàn Mặc Tử bằng chính sự hững hờ. Một lần bị "đánh" đáng nhớ nhất của Hàn Mặc Tử, đã cho ra đời tuyệt phẩm "Đây thôn Vĩ Dạ". Khoảng năm 1933, Hàn Mặc Tử làm việc tại Sở Địa chính Quy Nhơn, đã tình cờ quen biết một cô gái Huế tên là Hoàng Thị Kim Cúc thường lấy bút danh Hoàng Cúc. Vẻ đẹp của Hoàng Cúc khiến Hàn Mặc Tử say đắm thì rõ rồi, nhưng họ có hẹn hò không?</p> <p>Hoàng Cúc kể: "Hàn Mặc Tử có gặp tôi hai lần. Lần đầu chỉ nói bâng quơ vài câu rồi chào về. Lần thứ hai, Hàn Mặc Tử mạnh dạn trong dáng điệu rụt rè, lắp bắp mấy lời tỏ tình, rồi đưa tặng tôi tập thơ "Bâng khuâng" với mảnh giấy nhỏ có mấy dòng chữ. Tôi bàng hoàng rồi từ chối, không nhận sách, không nhận thư".</p> <p>Với Hoàng Cúc thì quan hệ với Hàn Mặc Tử dừng ở mức sơ giao. Thế nhưng, năm 1938 khi biết tin Hàn Mặc Tử bị bệnh phong, Hoàng Cúc đã gửi cho Hàn Mặc Tử một tấm bưu thiếp phong cảnh Huế và dăm câu động viên. Nhận được món quà bất ngờ đó, Hàn Mặc Tử đã hồi âm theo kiểu khá đặc biệt. Lá thư của Hàn Mặc Tử ngắn gọn: "Có nhận được bức ảnh bến Vĩ Dạ lúc hừng đông hay một đêm trăng? Và mấy hàng chữ của túc hạ gửi thăm. Muôn vàn cảm tạ túc hạ còn nhớ đến nghĩa năm xưa thì phúc hậu lắm rồi. Mong ơn trên xuống lộc cho túc hạ thật đầy đủ…".</p> <p>Quan trọng hơn, kèm theo những dòng thư cảm tạ ấy là bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ". Chính Hoàng Cúc cũng không thể tiên liệu, một nghĩa cử nho nhỏ của mình đã giúp nền thi ca Việt nam có được một kiệt tác: "Mơ khách đường xa, khách đường xa/ Áo em trắng quá nhìn không ra/ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/ Ai biết tình ai có đậm đà?".</p> <p>Trái tim đa cảm của Hàn Mặc Tử đã vẽ nên "lá trúc che ngang mặt chữ điền". Khi nhà thơ Quách Tấn có hỏi Hoàng Cúc về nguồn cảm hứng trong thơ, thì Hoàng Cúc trả lời trong lá thư ngày 15/4/1971 khá tường tận: "Bức ảnh đó chỉ là bức ảnh phong cảnh, chụp ảnh hoàng hôn mà tôi mua ở phố. Trong ảnh không có cô gái nào khác, ngoài cô chèo đò. Cô gái mà ông hỏi đó là do sức tưởng tượng của thi nhân".</p> <img src="https://cdn.cand.vn/images/9e984feb7e37c492eb3c1bd15dee55e84d94e528202a766147674e2b0b788d79eaaa4a2821a426d7df05479caf5536490f39e7eb87c81f5dcc38f9d5289d0546d7576ab99117b877ceae78a9c1b68261/bd0df4d9-d124-4cd1-93cb-29388a8b152d.jpg" alt="Nữ sĩ Mai Đình." /> Nữ sĩ Mai Đình. <p>Có phải cả đời thi sĩ Hàn Mặc Tử chỉ yêu người không yêu mình chăng? Không, vẫn có một người phụ nữ đem lòng yêu Hàn Mặc Tử thật sự. Trong các tác phẩm nghệ thuật nói về cuộc đời Hàn Mặc Tử từ kịch nghệ đến phim ảnh đều chủ yếu tập trung vào hai nhân vật Mộng Cầm và Hoàng Cúc, mà ít khai thác nhân vật Mai Đình. Em ruột của thi sĩ Hàn Mặc Tử là ông Nguyễn Bá Tín đã viết cuốn sách "Hàn Mặc Tử anh tôi" khẳng định rằng Mai Đình mới là mối tình đích thực với Hàn Mặc Tử.</p> <p>Mai Đình tên thật là Lê Thị Mai, quê gốc Thanh Hóa. Những năm theo cha vào sinh sống ở Phan Thiết. Sợi tơ kết nối Mai Đình với Hàn Mặc Tử cũng chính là thi ca, như bà từng bộc bạch: "Tôi mê đọc sách, đặc biệt Đường thi. Tâm hồn đẫm thơ văn.</p> <p>Một lần trên mục Văn chương tờ "Sài Gòn" tình cờ tôi đọc được bài "Thức khuya" của Hàn Mặc Tử. Chất thơ, hồn thơ, tâm trí lự của tác giả làm tôi say, tôi cảm. Không hiểu sao cái tên Hàn Mặc Tử cứ ám ảnh tôi hoài và từ đó tôi cố ý tìm đọc hàng loạt những bài khác của thi nhân này. Bài nào tôi cũng cảm thấy hay, thấy xúc động và trong tôi bỗng thấy hình thành bóng dáng một thi sĩ Hàn Mặc Tử thật tuyệt vời.</p> <p>Cũng từ đấy dường như có sự kỳ diệu nào thôi thúc tôi quyết định gửi những bản thảo thơ của mình cho mục Văn chương của tờ "Sài Gòn" cùng những niềm huy vọng rất mơ hồ, rất khó giải thích, bởi tôi biết rằng trong Ban Biên tập của tờ báo đáng kính đó có Hàn Mặc Tử…</p> <p>Thế rồi tôi nhận được thư anh. Lời thư thật tao nhã cao sang. Anh nói rằng anh thật sự xao xuyến trước vẻ đẹp và sự tinh túy của những bài thơ tôi viết với một bút danh rất mới: Mai Đình và anh lần lượt cho đăng. Dường như tiền định, hai tâm hồn thơ gặp nhau cảm trọng, mến mộ nhau, chỉ qua thư từ trao đổi thôi chứ chưa hề gặp mặt, vậy mà đã rất ý hợp tâm đồng".</p> <p>Khi Hàn Mặc Tử mắc bệnh phong, phải tìm về Quy Hòa trú ngụ với bao nhiêu đau đớn và tuyệt vọng, thì Mai Đình đã tình nguyện ở bên cạnh thi sĩ. Ông Nguyễn Bá Tín viết: "Khác với những mối tình âm thầm kín đáo, hoặc dè dặt trước kia, chị Mai Đình là người yêu thơ cũng như yêu con người phong cùi đó, một cách ồn ào, sôi nổi và tha thiết nhất".</p> <p>Mai Đình có bài thơ "Biết anh" tặng Hàn Mặc Tử: "Còn anh, em đã gặp anh đâu/ Chỉ cảm vần thơ có những câu/ Âu yếm say sưa đầy cả mộng/ Xui lòng tư tưởng lúc đêm thâu". Và Hàn Mặc Tử cũng có bài thơ "Lưu luyến" tặng Mai Đình: "Chửa gặp nhau mà đã biệt ly/ Hồn anh theo dõi bóng em đi/ Hồn anh sẽ nhập trong luồng gió/ Lưu luyến bên em chẳng nói gì…/ Anh đã ngâm và đã thuộc làu/ Cả người rung động bởi thương đau/ Bởi vì mê mẩn, vì khoan khoái/ Anh cắn lời thơ để máu trào".</p> <p>Chân tình của Mai Đình dành cho Hàn Mặc Tử những năm cuối đời, không chỉ giúp Hàn Mặc Tử chống chọi sự hành hạ của bệnh phong, mà còn thế hệ sau tin rằng tình yêu luôn hiện diện trên cõi người lắm toan tính nhiều lạnh lùng.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 04 Jul 2026 07:48:29 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tac-gia-han-mac-tu-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/tac-gia-han-mac-tu-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Tác giả “Đây thôn Vĩ Dạ” trong cuộc tình rung động bởi thương đau</media:title>
                        <media:keywords>Tác giả “Đây thôn Vĩ Dạ” trong cuộc tình rung động bởi thương đau</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Mở bài Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm | Trực tiếp, Gián tiếp, Nâng cao]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/bai-tho-dat-nuoc-nguyen-khoa-diem-a110228.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/bai-tho-dat-nuoc-nguyen-khoa-diem-a110228.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/bai-tho-dat-nuoc-nguyen-khoa-diem-a110228.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/bai-tho-dat-nuoc-nguyen-khoa-diem-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Bài viết dưới đây bao gồm các <strong>mở bài Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm</strong> trực tiếp, gián tiếp và các mở bài nâng cao dành cho học sinh giỏi siêu hay. Mở bài Đất nước dưới đây sẽ giúp các bạn học sinh lớp 12 (<strong>văn 12</strong>) nhanh chóng biết cách bắt đầu một bài viết về: phân tích Đất nước, phân tích tư tưởng đất nước của nhân dân hay phân tích 9 câu đầu Đất nước….</p> <figure><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/bai-tho-dat-nuoc-nguyen-khoa-diem-1.jpg" alt="Mở bài Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm | Trực tiếp, Gián tiếp, Nâng cao" /><figcaption>Mở bài Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm | Trực tiếp, Gián tiếp, Nâng cao</figcaption></figure> <p><strong>Tham khảo thêm:</strong></p> <ul> <li><strong>Phân tích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm</strong></li> <li><strong>Kết bài Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm</strong></li> <li><strong>Soạn bài Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm</strong></li> </ul> <h2><strong>A. Các mẫu mở bài Đất Nước trực tiếp</strong></h2> <h3><strong>Mở bài Đất Nước Nguyễn Khoa điềm mẫu số 1</strong></h3> <p>Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm là trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ nhà thơ trẻ trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Thơ ông có sức hấp dẫn kỳ lạ bởi sự kết hợp hài hòa, độc đáo giữa xúc cảm nồng nàn và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước và về con người Việt Nam. Nổi bật hơn hết trong các tác phẩm của ông đó là bản “Trường ca Mặt đường khát vọng”, tác phẩm được ông sáng tác ở chiến khu Trị-Thiên năm 1971. Đoạn trích “Đất nước” mà chúng ta học nằm ở phần đầu chương V của bản trường ca, đây được coi là đoạn thơ hay nhất trong bản trường ca, và là đoạn thơ hay nhất viết về đề tài đất nước. Đoạn trích viết về nguồn gốc của Đất nước, cho ta cái nhìn trọn vẹn hơn từ nhiều khía cạnh và đồng thời còn viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiến miền Nam về trách nhiệm, sứ mệnh của thế hệ trẻ với non sông đất nước. (Mở bài dành cho đề “Phân tích bài thơ Đất nước”)</p> <h3><strong> Mở bài trực tiếp bài Đất Nước - Nguyễn Khoa Điềm mẫu số 2</strong></h3> <p>Đoạn trích “Đất Nước” trong Sách giáo khoa được trích trong bản trường ca “Mặt đường khát vọng” . Cũng chính tác phẩm này đã làm lên tên tuổi của Nguyễn Khoa Điềm, đưa ông bước lên đỉnh cao của nghệ thuật sáng tác thơ văn. Cũng như những nhà thơ trẻ khác trong thời kỳ chống Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện những suy ngẫm, những tư tưởng, những cách nhìn bao quát về Đất nước. Và trong đoạn trích này tư tưởng “Đất nước của nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại” là tư tưởng cốt lõi, tư tưởng chủ đạo, chi phối toàn bộ nội dung và hình thức chương V của bản trường ca này. (Mở bài dành cho đề “Phân tích tư tưởng cốt lõi Đất nước của nhân dân”)</p> <h3><strong> Mở bài phân tích Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm mẫu số 3</strong></h3> <p>Giữa muôn vàn những tác phẩm thơ ca về đề tài Đất nước, ta vẫn nhận thấy được cái chất rất riêng của Nguyễn Khoa Điềm với thi phẩm “Đất nước” được trích từ bản trường ca “Mặt đường khát vọng”. Những vần thơ mang đậm chất trữ tình xen lẫn chính luận của ông không những không khô khan giáo điều mà lại rất dạt dào cảm xúc. Với “Đất nước”, Nguyễn Khoa Điềm đã góp thêm cho kho tàng văn học dân tọoco cũng như góp thêm thành tựu cho thơ ca thời kì chống Mĩ bằng một cái nhìn toàn diện hơn, cách nói mới mẻ độc đáo mà không lặp lại con đường đi của người khác. Bài thơ là lời kêu gọi thiết tha của tác giả với các thế hệ trẻ cùng xuống đường, hướng về cuộc kháng chiến chung của dân tộc, là lời nhắc nhở về trách nhiệm, sứ mệnh của mình đối với đất nước dân tộc (Mở bài dành cho đề “Phân tích lời kêu gọi thế hệ trẻ…)</p> <h3><strong> Mở bài trực tiếp phân tích bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm mẫu số 4</strong></h3> <p>“ Mặt đường khát vọng” là tập trường ca hùng tráng và tiêu biểu nhất làm lên cái tên Nguyễn Khoa Điềm. Tập thơ này được hoàn thành ở chiến khu Trị - Thiên vào năm 1971. Bản trường ca đã làm thức tỉnh các bạn học sinh, sinh viên - thế hệ trẻ ở các đô thị vùng tạm chiếm miền Nam. Để họ nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mỹ; hướng về nhân dân, về đất nước từ đó ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, cùng đứng dậy xuống đường đấu tranh hòa mình với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc. Đoạn trích “Đất Nước” mà ta học nằm ở phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng. ((Mở bài dành cho đề “Phân tích lời kêu gọi thế hệ trẻ/sự thức tỉnh của thế hệ trẻ…)</p> <h3><strong> Mở bài Đất Nước trực tiếp mẫu số 5</strong></h3> <p>Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ, cùng với lớp những nhà thơ trẻ tài năng khác, Nguyễn Khoa Điềm đã có những đóng góp to lớn cho nền văn học cách mạng rất nhiều tác phẩm thơ văn hay viết về đề tài đất nước, chiến tranh và người lính. Một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất và được đánh giá là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm có thể kể đến là bài thơ Đất nước (được trích từ Trường ca khát vọng). Hình ảnh đất nước trong bài thơ này của Nguyễn Khoa Điềm được làm nên bởi sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn và độc đáo bởi cảm xúc thiết tha, nồng nàn cùng những suy tư sâu lắng về đất nước, về dân tộc của nhà thơ</p> <h2><strong>B. Các mẫu mở bài Đất nước gián tiếp</strong></h2> <h3><strong>Mở bài gián tiếp Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm mẫu số 1</strong></h3> <p>Nền văn học Việt Nam có bao nhà thơ, nhà văn nổi tiếng với vô số những tác phẩm hay và ý nghĩa. Giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ - mỗi giai đoạn lại có một lớp nhà thơ, nhà văn nổi bật được ghi danh. Đặc biệt trong đó ta phải kể đến nhà thơ với phong cách trữ tình chính luận độc đáo, mới mẻ - Nguyễn Khoa Điềm. Dưới những lập luận sắc bén cùng tài năng đỉnh cao của mình trong thơ ca, ông đã đưa ra một cái nhìn rất mới mà cũng rất gần gũi bình dị, qua đó cũng thức tỉnh thế hệ trẻ về trách nhiệm, sứ mệnh của mình với đất nước qua đoạn thơ Đất nước trích từ Trường ca Mặt đường khát vọng. (Mở bài dành cho đề “Cảm nhận bài thơ Đất nước).</p> <h3><strong> Mở bài phân tích bài thơ Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm mẫu số 2</strong></h3> <p>Mỗi người chúng ta đang được sống trong một đất nước yên bình, tự do như ngày nay đều là do công lao to lớn của cha ông chúng ta đã dùng máu, mồ hôi, nước mắt và cả mạng sống của mình để đổi lấy. Chúng ta không thể quên được một thời kì kháng chiến chống Pháp và Mĩ đầy những đau thương, mất mát nhưng cũng rất hào hùng . Và tinh thần yêu nước, sự anh dũng bất khuất ấy càng được nêu cao qua bản “Trường ca Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm, đặc biệt được thể hiện rõ trong đoạn trích Đất nước. Đoạn thơ đã nêu lên nguồn gốc của đất nước qua những điều hết sức gần gũi, bình dị và cũng là lời kêu gọi, lời nhắc nhở thế hệ trẻ nhớ về trách nhiệm, sứ mệnh của minh đối với đất nước. </p> <h3><strong> Mở bài phân tích Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm mẫu số 3</strong></h3> <p>Đất nước - một đề tài muôn thuở, một đề tài hot của bất kỳ giai đoạn nào trong thơ ca Việt Nam. Chúng ta đã bắt gặp một đất nước chìm trong đau thương, đầy sự mất mát qua thơ của Hoàng Cầm hay gặp một đất nước đang từng ngày đổi mới qua thơ Nguyễn Đình Thi. Nhưng có lẽ đất nước được nhìn một cách đầy đủ từ nhiều khía cạnh và trọn vẹn nhất thì ta phải nhắc đến bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm. Hình hài đất nước từ khi được sinh ra cho đến khi phải trải qua biết bao nhiêu sóng gió chiến tranh được tái diễn một cách sinh động qua một hồn thơ tinh tế, đầy phóng khoáng của Nguyễn Khoa Điềm. Tác giả nhìn đất nước từ nhiều khía cạnh, trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử. Đất nước - một tên gọi vô cùng thiêng liêng, bình dị nhưng lại chất chứa bao nhiêu ngọn nguồn của cảm xúc của chính tác giả.</p> <h3><strong> Mở bài gián tiếp Đất Nước mẫu số 4</strong></h3> <p>Từ sau sự kiện Cách mạng tháng Tám giành thắng lợi, dân tộc ta đã phải tiến hành liên tiếp hai cuộc đấu tranh trường kì chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược để gìn giữ, bảo vệ nền độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc. Trong suốt hơn ba mươi năm ấy, vận mệnh của đất nước luôn luôn là vấn đề được quan tâm nhất và nó chi phối mọi lĩnh vực của đời sống dân tộc và mỗi con người Việt Nam. Có lẽ cũng vì thế mà tình cảm yêu nước đã trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo đi vào trong thơ ca như một lẽ tự nhiên, tiếp nối một truyền thống sâu đậm của văn học dân tộc từ ngàn xưa. Và Nguyễn Khoa Điềm - một nhà thơ trẻ tuổi tiêu biểu trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cũng không thoát được nguồn cảm hứng này, chính vì vậy mà ông đã viết lên bản trường ca “Mặt đường khát vọng” và trong đó đoạn trích Đất nước mà chúng ta được học chính là đoạn thơ hay nhất viết về đề tài tình yêu đất nước.</p> <h3><strong> Mở bài gián tiếp bài Đất nước NKĐ mẫu số 5</strong></h3> <p>Đối với mỗi người chúng ta, khi nhắc về đất nước, ta sẽ thường nghĩ tới một điều gì đó vừa xa xôi vừa trừ tượng. Nhưng khi đọc bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm (được trích trong trường ca Mặt đường khát vọng) ta lại nhận ra rằng đất nước không hề trừu tượng, xa xôi như thế, mà đất nước ở đây lại là thứ gì đó vô cùng gần gũi bình dị, thân thương, ân tình mà mỗi người chúng ta đều tìm thấy đất nước trong chính mình. Nó không chỉ là mảnh đất cằn cỗi đã ấp ủ, chắt chiu nuôi ta lớn mà hơn thế, đất nước đã hóa thân hòa vào chảy cùng dòng máu nóng trong cơ thể, thành những nhịp đập trong trái tim ta và từ đó trong mỗi người chúng ta đều có một phần của Đất nước.</p> <h2><strong>C. Các mẫu mở bài Đất nước nâng cao dành cho HSG</strong></h2> <h3><strong> Mở bài nâng cao Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm mẫu số 1.</strong></h3> <p><i>“Có mối tình nào hơn Tổ quốc?”</i></p> <p>(Trần Mai Ninh)</p> <p>Bằng tất cả tình cảm yêu thương sâu nặng và cảm hứng nồng nàn của mình về Tổ Quốc - các nhà thơ, nhà văn - các chiến sĩ đã để lại cho núi sông này biết bao vần thơ đẹp về con người, về đất nước Việt Nam. Nếu các nhà thơ khác cùng thời thường dùng những hình ảnh kì vĩ, lớn lao, mĩ lệ mang tính biểu tượng, tạo ra một khoảng cách để cảm nhận, chiêm ngưỡng về sự thiêng liêng của đất nước thì với Nguyễn Khoa Điềm lại ngược lại. Ông cảm nhận về đất nước qua những điều hết sức gần gũi, đơn sơ, bình dị, mộc mạc thân thuộc và gắn liền với mỗi con người như máu thịt, như hơi thở. Đất nước ấy được tắm đẫm trong hương liệu văn hóa dân gian, trong tư tưởng lớn của thời đại - tư tưởng “Đất nước của nhân dân”, một tư tưởng cốt lõi của bài thơ. (Mở bài dành cho đề “Phân tích tư tưởng cốt loic Đất nước của nhân dân”)</p> <h3><strong> Mở bài Đất Nước dành cho học sinh giỏi mẫu số 2</strong></h3> <p>Quê hương, đất nước là những mảng đề tài lớn, quên thuộc trong thi ca. Đã có rất nhiều nhà văn, nhà thơ thành công trong việc xây dựng lên một dáng hình đất nước, phác họa sống động một tình cảm lớn lao và vô cùng thiêng liêng cho quê hương, xứ sở, đó là một đất nước dù phải trải qua biết bao đau thương nhưng vẫn ngời sáng tinh thần quyết tâm đấu tranh trong trang thơ của Nguyễn Đình Thi, là một đất nước bình dị nhưng gắn bó yêu thương trong thơ của Hoàng Cầm. Cũng viết về chủ đề đất nước quen thuộc ấy, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã mang đến những cảm nhận vô cùng mới mẻ, độc đáo về đất nước trong bài thơ Đất nước. Ông đã định nghĩa đất nước bằng những hình ảnh bình dị, thân thuộc, gần gũi nhất đối với đời sống con người để từ cái thân thuộc, vô danh ấy nhà thơ đã khái quát lên một đất nước hữu hình, đẹp đẽ mà vô cùng thiêng liêng.</p> <h3><strong> Mở bài nâng cao phân tích Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm mẫu số 3</strong></h3> <p>Trong suy nghĩ của mỗi người, lòng yêu nước luôn là một tình cảm lớn lao, xa vời, trừ tượng khó cảm nhận. Nhưng qua bài Đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, bằng những câu thơ mộc mạc, giản dị vừa dồn nén cảm xúc vừa trĩu nặng suy tư, đã thầm nhắc bạn đọc - những thế hệ trẻ tuổi rằng: </p> <p>“<i>Em ơi em, Đất Nước là máu xương của mình</i></p> <p><i>Phải biết gắn bó và san sẻ…”</i></p> <p>Đất Nước gắn bó, hiện hữu ngay bên cạnh chúng ta. Phải chăng lòng yêu nước được bắt đầu từ những điều giản dị, gần gũi nhất, và thân thuộc nhất như tình yêu cha mẹ, gia đình, như mái nhà ta ở, hạt gạo ta ăn hay từ mỗi giọt máu, đốt xương của chính mình? Từ tình yêu nhỏ, tuổi trẻ hãy mở rộng tấm lòng mình để có được tình yêu lớn. Từ tình yêu, chúng ta cần thức tỉn về trách nhiệm, sứ mệnh của mình trước lịch sử. Ngày xưa, sứ mệnh ấy là chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc, bảo vệ dân tộc, còn ngày nay, sứ mệnh ấy là gì? (Mở bài dành cho đề “Phân tích sứ mệnh tuổi trẻ ngày nay qua bài thơ Đất nước”)</p> <h3><strong> Mở bài nâng cao phân tích bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm mẫu số 4</strong></h3> <p>Đất nước là nguồn cảm hứng vô tận trong thơ ca và nghệ thuật. Mỗi nhà thơ, nhà văn đều có những cảm nhận riêng về Đất Nước, bởi thế Đất Nước, Tổ quốc được hiện lên với muôn màu muôn vẻ. Nếu như các nhà thơ khác chọn điểm nhìn về Đất Nước bằng những hình ảnh kỳ vĩ, lớn lao, xa xôi mỹ lệ hay cảm hứng về lịch sử qua các triều đại thì Nguyễn Khoa Điềm - một nhà thơ trẻ tiêu biểu trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ lại chọn điểm nhìn gần gũi, quen thuộc, bình dị để nói về về Đất Nước. Đến với bài thơ “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm ta dường như đứng trước vẻ đẹp của muôn màu văn hóa, truyền thống, phong tục của dân tộc.Khác với những nhà thơ cùng thế hệ - họ thường tạo ra một khoảng cách xa xôi trừ tượng để chiêm ngưỡng và ca ngợi đất nước, với các từ ngữ hoa mỹ, hình ảnh kì vĩ mang tính chất biểu tượng. Nguyễn Khoa Điềm lại chọn điểm nhìn gần gũi, quen thuộc để miêu tả một đất nước một cách tự nhiên, bình dị nhưng không kém phần thiêng liêng, tươi đẹp. Hình ảnh đất nước hiện lên muôn màu muôn vẻ, sinh động mới mẻ lạ thường, lắng đọng trong tâm trí ta qua những nét đẹp về phong tục tập quán, văn hóa, truyền thống dân tộc mang đậm dấu ấn con người Việt.</p> <h3><strong> Mở bài Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm nâng cao mẫu số 5</strong></h3> <p>Cùng với nhà thơ Lê Anh Xuân, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật,…. Nguyễn Khoa Điềm cũng trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Thơ ca của ông là sự kết hợp độc đáo giữa chính chính luận và trữ tình, giữa cảm xúc nồng nàn và suy từ sâu lắng của người trí thức viết về đất nước và con người Việt Nam. Có lẽ chính vì những lí do này mà thơ ông có sức hút lạ thường với không ít bạn đọc. Đoạn trích “Đất nước” được trích từ chương V trong bản trường ca “Mặt đường khát vọng”, được coi là đoạn thơ hay, đỉnh cao nhất về đề tài đất nước trong Việt Nam hiện đại.</p> <p>Mong rằng với những gợi ý về các mẫu mở bài trên đây sẽ giúp các bạn có thêm cảm hứng cho bài viết của mình, giúp bài viết được trôi chảy hơn. Một cái mở bài hay sẽ giúp cho người viết nhận được sự đánh giá cao của người đọc, thông qua việc mở đầu bài viết, người đọc sẽ hiểu được nội dung khái quát mà người viết muốn truyền đạt và sự khám phá, tò mò của người đọc, người chấm về các nội dung phía sau là dễ dàng thấy được.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 04 Jul 2026 03:02:40 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/bai-tho-dat-nuoc-nguyen-khoa-diem-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/bai-tho-dat-nuoc-nguyen-khoa-diem-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Mở bài Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm | Trực tiếp, Gián tiếp, Nâng cao</media:title>
                        <media:keywords>Mở bài Đất Nước Nguyễn Khoa Điềm | Trực tiếp, Gián tiếp, Nâng cao</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Phân tích bài thơ Việt Bắc từ cơ bản đến chuyên sâu]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/viet-bac-phan-tich-chi-tiet-a110226.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/viet-bac-phan-tich-chi-tiet-a110226.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/viet-bac-phan-tich-chi-tiet-a110226.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p><strong>Phân tích Việt Bắc</strong> là một trong những nội dung cơ bản của chương trình học Ngữ Văn 12, thường xuất hiện trong các đề thi, kiểm tra lớp 12 và kì thi tốt nghiệp THPT cũng như thi vào đại học các năm.</p><p>Nhằm giúp các em có thể dễ dàng nắm bắt được cách làm các dạng đề văn phân tích cơ bản về tác phẩm Việt Bắc, ở bài viết này Đọc Tài Liệu sẽ cung cấp cho các em nguồn thông tin kiến thức hữu ích bao gồm hướng dẫn từ các bước làm bài, xây dựng luận điểm dàn ý,... cho đến những bài văn mẫu tham khảo hay và đặc sắc nhất.</p><p>Hi vọng bài viết sẽ trở thành nguồn tài liệu tham khảo bổ ích giúp các em thêm tự tin khi gặp các dạng bài văn phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu để đạt được điểm số cao.</p><p> Giờ thì cùng bắt đầu...</p><h2>I. Hướng dẫn làm bài phân tích Việt Bắc cơ bản nhất</h2><p><strong>Đề bài</strong>: Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu.</p><h3>1. Phân tích yêu cầu đề bài</h3><p>- Yêu cầu về nội dung: phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ Việt Bắc.</p><p>- Phạm vi tư liệu, dẫn chứng: các câu thơ, từ ngữ, hình ảnh, chi tiết tiêu biểu có trong bài thơ <i>Việt Bắc</i> của Tố Hữu.</p><p>- Phương pháp lập luận chính: Phân tích.</p><h3>2. Hệ thống luận điểm bài thơ Việt Bắc</h3><p>- <strong>Luận điểm 1</strong>: Tâm trạng lưu luyến, lời nhắn nhủ của người ở lại.</p><p>- <strong>Luận điểm 2</strong>: Những tâm sự, lời bịn rịn của người ra đi.</p><p>- <strong>Luận điểm 3</strong>: Niềm tự hào, niềm tin gửi gắm vào Việt Bắc Cách mạng.</p><h2>II. Kiến thức cần củng cố trước khi làm bài</h2><h3>1. Về tác giả Tố Hữu</h3><p>- Tố Hữu (1920 - 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ra tại Hội An, Quảng Nam, quê gốc ở làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.</p><p>- Cha là một nhà nho nghèo, sống rất chật vật nhưng lại thích thơ, thích sưu tập ca dao tục ngữ. Mẹ là con của một nhà nho, thuộc nhiều ca dao dân ca Huế và rất thương con. Cha mẹ chính là những người đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn thơ Tố Hữu.</p><p>- Nguyễn Kim Thành sớm tiếp cận với lý tưởng cộng sản và gia nhập Đoàn thanh niên Dân chủ Đông Dương năm 1936.</p><p>- Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng trên mặt trận văn hóa và trong hệ thống chính trị Việt Nam.</p><p>- Năm 1996, ông được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật.</p><p>- Về quan điểm sáng tác:</p><p>+ Thơ Tố Hữu là tiêu biểu của quan niệm nghệ thuật cách mạng, luôn ca ngợi lí tưởng cách mạng, kêu gọi cổ vũ tinh thần chiến đấu của dân tộc, quyết tâm đuổi giặc cứu nước và thể hiện niềm vui chiến thắng và cuộc sống tươi đẹp của con người.</p><p>+ Thơ Tố Hữu là tấm gương phản chiếu tâm hồn một người chiến sĩ cách mạng suốt đời phấn đấu, hi sinh vì tương lai tươi đẹp của dân tộc, cuộc sống hạnh phúc của con người.</p><p>- Tác phẩm tiêu biểu: Các tập thơ Từ ấy (1946), Việt Bắc (1954), Gió lộng (1961), Ra trận (1972), Máu và hoa (1977), Một tiếng đờn (1992), Ta với ta (1999),...</p><p>- Một số nhận định về tác giả Tố Hữu:</p><p>+ “Nghĩ đến Tố Hữu, rực rỡ như vàng, như ánh sáng”; "Tố Hữu vững chắc quá, được toàn thể anh em văn nghệ sĩ kính phục" (Nguyễn Huy Tưởng)</p><p>+ “Trong thơ Tố Hữu, nét nổi bật đáng quý là sự nhất trí. Nhất trí giữa đời sống và nghệ thuật. Nhất trí giữa tình cảm, tư tưởng và hành động. Nhất trí giữa con người với thời đại, với tập thể...”. (Đặng Thai Mai)</p><p>+ "Tôi luôn luôn nghĩ Tố Hữu là người nghệ sĩ nhân dân. Thơ ông là bài ca vui bất tận." (Nguyễn Quang Thiều)</p><p>+ "Tố Hữu là một nhà thơ lớn. Nói đúng hơn, ông là nhà thơ lãng mạn cách mạng. Cả cuộc đời ông gắn bó với cách mạng. Thơ với đời là một. Trước sau đều nhất quán." (Trần Đăng Khoa)</p><p>+ "Với tư cách là người làm việc lâu năm với anh, tôi muốn nói một điều: Yêu dân, yêu nước, yêu Đảng, yêu Bác, yêu người thân, yêu bạn bè, tình yêu bao la không bờ bến... Thời gian qua đi, tất cả đều có thể nhạt nhòa, chỉ có tình thương yêu con người và sự tôn trọng phẩm giá con người là tồn tại mãi mãi với thời gian. Phẩm chất ấy là cốt lõi của thơ Tố Hữu, của nhà cách mạng Tố Hữu, của phong thái Tố Hữu" (Hà Xuân Trường)</p><p>+ "Thời đại ta đã may mắn có được nhà thơ Tố Hữu" (Hoài Thanh)</p><h3>2. Về tác phẩm Việt Bắc</h3><p>- Hoàn cảnh sáng tác: Tháng 10-1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc về lại Hà Nội. Nhân sự kiện có tính chất lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ <strong>Việt Bắc</strong> để ghi lại không khí bịn rịn nhớ thương của kẻ ở người đi.</p><h4>- Ý nghĩa nhan đề "Việt Bắc":</h4><ul><li>Việt Bắc là một địa danh - là cái nôi của cách mạng Việt Nam tiền khởi nghĩa, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp.</li><li>Việt Bắc khơi gợi niềm tự hào về vẻ đẹp quê hương đất nước, về Trung ương, Chính phủ, Bác Hồ, về người cách mạng và nhân dân Việt Bắc đã đoàn kết một lòng để lập nên những chiến công vang dội.</li><li>Nhan đề "Việt Bắc" còn gợi nhắc những sự kiện, những kỉ niệm của một thời kì kháng chiến gian khổ mà hào hùng, lạc quan cùng những nghĩa tình sâu nặng giữa nhân dân với cách mạng và kháng chiến ở Việt Bắc.</li><li>Hai chữ "Việt Bắc" như một sự hội tụ khắc sâu tình cảm thuỷ chung son sắc của nhà thơ - người cán bộ kháng chiến đối với quê hương. Đồng thời, đó là lời nhắn nhủ của nhà thơ rằng: Hãy nhớ mãi và phát huy truyền thống quý báu anh hùng bất khuất, ân tình thủy chung của cách mạng, của con người Việt Nam.</li></ul><h2>III. Lập dàn ý phân tích bài thơ Việt Bắc chi tiết</h2><p>Dựa trên cơ sở <strong>hệ thống luận điểm bài thơ Việt Bắc</strong> đã thống kê ở phần I, các em hãy phân tách chúng thành các ý nhỏ hơn, các gạch đầu dòng để đi sâu vào cảm nhận, phân tích bài thơ Việt Bắc.</p><h3>1. Mở bài phân tích Việt Bắc</h3><h4>- Giới thiệu nhà thơ Tố Hữu và bài thơ <strong>Việt Bắc</strong>:</h4><p>+ Tố Hữu (1920 - 2002) sinh ra tại Huế và là một nhà thơ tiêu biểu của thơ ca Cách mạng Việt Nam, thơ ông luôn phản ánh những chặng đường đấu tranh gian khổ song cũng nhiều thắng lợi của dân tộc.</p><p>+ Bài thơ “<strong>Việt Bắc</strong>” của Tố Hữu ra đời trong cuộc chia tay đặc biệt giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ kháng chiến vào tháng 10/1954, là nỗi lòng của những người chiến sĩ cách mạng phải chia xa núi rừng Tây Bắc thân thuộc để chuyển về căn cứ mới.</p><p>&gt;&gt;&gt; Có nhiều cách mở bài khác nhau theo cách gián tiếp và trực tiếp, các em có thể tham khảo bài viết <strong>Tuyển tập những mở bài hay và sáng tạo về bài thơ Việt Bắc</strong> được Đọc Tài Liệu tổng hợp cho các em tiện theo dõi.</p><h3>2. Thân bài phân tích bài thơ Việt Bắc</h3><h4><strong>a) Luận điểm 1:</strong> Tâm trạng lưu luyến, lời nhắn nhủ của người ở lại.</h4><p>- Tâm trạng lưu luyến bịn rịn trong buổi chia tay (8 câu đầu)</p><p>+ Điệp cấu trúc “mình về mình có nhớ” : lời ướm hỏi, khơi gợi lại những kỉ niệm về mười lăm năm "thiết tha mặn nồng”, về thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình.</p><p>+ Xưng hô "mình - ta" : cách xưng hô quen thuộc trong ca dao dân ca, gợi nghĩa tình thân thiết, gắn bó, tạo không khí trữ tình cảm xúc.</p><p>+ “Mười lăm năm” : từ năm 1940 thời kháng Nhật (khởi nghĩa Bắc Sơn) đến tháng 10 năm 1954 khi rời Việt Bắc trở về Thủ đô.</p><p>+ Điệp từ “nhớ” : nhấn mạnh nỗi nhớ sâu sắc, thường trực, da diết.</p><p>+ Hình ảnh "cây - núi, sông - nguồn" : gợi mối quan hệ khăng khít, thủy chung, ân tình giữa kháng chiến và Việt Bắc.</p><p>=&gt; Người ở lại thiết tha, luyến tiếc, khơi gợi trong lòng người ra đi kỉ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội, nghĩa tình.</p><p>+ Từ láy "tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn" : sự day dứt, lưu luyến, bối rối trong tâm trạng và hành động của người ra đi.</p><p>+ “áo chàm” : hoán dụ gợi hình ảnh bình dị, thân thương của những người dân Việt Bắc.</p><p>+ Hành động "cầm tay" : sự luyến tiếc và nghĩa tình keo sơn gắn bó giữa cách mạng và Việt Bắc, gợi nhớ những cuộc chia tay trong văn học trung đại (nhưng đây là cuộc chia tay trong niềm vui chiến thắng).</p><p>=&gt; Tiếng lòng người về xuôi bâng khuâng lưu luyến.</p><p>- Những kỉ niệm về Việt Bắc trong những năm kháng chiến (12 câu tiếp)</p><p>+ "suối lũ, mây mù, miếng cơm chấm muối" -&gt; hình ảnh thực gợi nhớ lại sự gian khổ của cuộc kháng chiến, cụ thể hoá mối thù của cách mạng đối với thực dân Pháp.</p><p>+ “Trám bùi… để già” : mượn cái thừa để nói cái thiếu, gợi cảm giác trống vắng gợi nhớ quá khứ sâu nặng.</p><p>=&gt; Tác giả nhớ đến thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc trong những ngày kháng chiến: mưa nguồn, suối lũ, mây mù, trám bùi, măng mai.</p><p>+ Phép đối, đảo ngữ: “Hắt hiu… lòng son” -&gt; gợi nhớ về mái tranh nghèo.</p><p>=&gt; Họ là những người nghèo nhưng giàu tình nghĩa, son sắt, thủy chung với cách mạng.</p><p>+ 6 câu hỏi tu từ lặp đi lặp lại -&gt; câu hỏi đau đáu, khơi gợi, nhắc nhớ mọi người hãy luôn nhớ về Việt Bắc.</p><p>+ "mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào" : các địa danh gắn liền với Việt Bắc, hình ảnh tiêu biểu của thủ đô kháng chiến.</p><p>+ "mình đi…, mình về…, nhớ…" lặp đi lặp lại như lời nhắn gọi tha thiết, nhắc nhớ những kỉ niệm về một thời ở Việt Bắc.</p><p>+ “Mình đi, mình có nhớ mình" : đại từ xưng hô “mình” thể hiện sự gắn bó, thân thiết giữa kẻ ở, người đi.</p><p>-&gt; Chữ “mình” tha thiết bao hàm luôn cả kẻ ở và người đi, "mình" là một mà cũng là hai, là hai nhưng cũng là một bởi sự gắn kết của cách mạng, của kháng chiến.</p><p>=&gt; Chân dung một Việt Bắc gian nan mà nghĩa tình, thơ mộng, rất đỗi hào hùng trong nỗi nhớ của người ra đi.</p><h4><strong>b)</strong> <strong>Luận điểm 2</strong>: Những tâm sự, lời bịn rịn của người ra đi.</h4><p>- Nghĩa tình thủy chung, mặn mà, son sắt (4 câu tiếp)</p><p>+ “ta với mình, mình với ta” : đại từ "mình - ta" được sử dụng linh hoạt nhằm thể hiện sự gắn bó máu thịt, thấu hiểu nhau giữa người đi và kẻ ở.</p><p>+ "mặn mà", "đinh ninh" chỉ nghĩa tình đậm đà, bền chặt, trước sau như một của cách mạng đối với Việt Bắc.</p><p>+ "bao nhiêu… bấy nhiêu" : Từ ngữ so sánh gợi tình cảm bao la, chan chứa giữa cách mạng và Việt Bắc.</p><p>- Nỗi nhớ thiên nhiên, con người ở Việt Bắc (28 câu tiếp)</p><p>+ “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương” : nhớ từ đêm sang ngày, bao trùm cả không gian lẫn thời gian.</p><p>+ “bản khói cùng sương”, “rừng nứa bờ tre”,...</p><p>=&gt; Người đi bày tỏ nỗi nhớ đến thiên nhiên Việt Bắc bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.</p><p>+ “Nhớ gì như nhớ người yêu” : nỗi nhớ Việt Bắc được so sánh với nỗi nhớ người yêu, sắc thái cao nhất của nỗi nhớ.</p><p>+ “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” : sự đồng lòng cùng nhau san sẻ khó khăn gian khổ, ngọt bùi, đắng cay.</p><p>=&gt; Những con người dù gian khó, vất vả nhưng vẫn có tấm lòng thủy chung, cùng chia sẻ mọi “đắng cay ngọt bùi” trong kháng chiến.</p><p>+ “lớp học i tờ”, “giờ liên hoan”, “ca vang núi đèo” : những kỉ niệm ấm áp giữa bộ đội và đồng bào Việt Bắc</p><p>+ "người thương đi về", "người mẹ nắng cháy lưng" : những hình ảnh về con người Việt Bắc thân thương, cảm động.</p><p>+ “người mẹ”, “cô em gái” : nhớ những con người lao động mộc mạc, giản dị.</p><p>=&gt; Thiên nhiên và con người ở Việt Bắc luôn in đậm trong tâm trí những người về xuôi với tình cảm chân thành, tha thiết nhất.</p><p>- Nỗi nhớ về bức tranh tứ bình của Việt Bắc</p><p>+ Mùa đông:</p><ul><li>Hình ảnh: hoa chuối đỏ tươi + người lao động trên đèo cao -&gt; bình dị, khoẻ khoắn;</li><li>Màu sắc: xanh + đỏ + “nắng ánh” -&gt; màu sắc ấm áp.</li></ul><p>+ Mùa xuân:</p><ul><li>Hình ảnh: mơ nở trắng rừng + người đan nón -&gt; đẹp, nên thơ.</li><li>Màu sắc: trắng + trắng -&gt; tinh khiết, thanh nhã.</li><li>Âm thanh: hiệp vần “ơ” (mơ - nở), “ưng” (rừng - từng) -&gt; cảm nhận tinh tế, âm thanh của rừng mơ đồng loạt nở hoa.</li></ul><p>+ Mùa hạ:</p><ul><li>Hình ảnh: rừng phách đổ vàng + em gái hái măng</li><li>Màu sắc: vàng</li><li>Âm thanh: tiếng ve</li></ul><p>-&gt; Vẻ đẹp đặc trưng rộn rã, rực rỡ của mùa hè.</p><p>+ Mùa thu:</p><ul><li>Hình ảnh: ánh trăng</li><li>Âm thanh: tiếng hát ân tình thuỷ chung</li></ul><p>-&gt; Vẻ đẹp thanh bình, hiền hòa.</p><p>=&gt; Sự hài hòa giữa màu sắc và âm thanh, giữa người và cảnh, cảnh và người cùng làm cho nhau thêm đẹp, làm cho bức tranh thêm sinh động.</p><p>- Nhớ cuộc kháng chiến anh hùng ở Việt Bắc (22 câu tiếp)</p><p>+ Thiên nhiên cùng con người sát cánh đánh giặc:</p><ul><li>“Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”: nhân hóa thiên nhiên thành một lực lượng kháng chiến</li><li>"Phủ Thông, đèo Giàng": những địa danh thân thuộc, gắn liền với Việt Bắc</li></ul><p>-&gt; Tình đoàn kết đặc biệt giữa thiên nhiên và con người Việt Bắc đối với Cách mạng.</p><p>+ Hình ảnh quân dân Việt Bắc đoàn kết đánh giặc:</p><ul><li>“ta cùng đánh Tây”</li><li>“cả chiến khu một lòng”</li><li>“rầm rập như là đất rung” -&gt; sức mạnh vô địch của cuộc kháng chiến.</li><li>“quân đi điệp điệp trùng trùng” -&gt; khí thế mạnh mẽ không gì có thể ngăn cản nổi.</li><li>"Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay" -&gt; sức mạnh của thời đại, của ý chí tiêu diệt giặc, của tinh thần đoàn kết có thể làm nên những điều tưởng chừng không thể.</li><li>“dân công đỏ đuốc từng đoàn”</li></ul><p>=&gt; Khí thế ra trận hào hùng, mạnh mẽ của cả một dân tộc trong trận chiến quyết định với kẻ thù.</p><ul><li>“tin vui thắng trận trăm miền... núi Hồng”</li></ul><p>-&gt; Những chiến công, những niềm vui thắng trận to lớn, rộng khắp của cuộc kháng chiến.</p><p>=&gt; Bức tranh sử thi hoành tráng ca ngợi sức mạnh của nhân dân anh hùng.</p><p><strong>c) Luận điểm 3</strong>: Niềm tự hào, niềm tin gửi gắm vào Cách mạng Việt Bắc (16 câu cuối)</p><p>+ Câu hỏi tu từ "Ai về ai có nhớ không?" : khơi gợi tình cảm thiêng liêng về Việt Bắc.</p><p>+ "ngọn cờ đỏ thắm, sao vàng rực rỡ, cụ Hồ sáng soi, Trung ương, Chính phủ, mái đình, cây đa,…" =&gt; Những hình ảnh đẹp đẽ, tươi sáng nơi nguồn cội của cuộc cách mạng thể hiện cái nhìn lạc quan về tương lai của dân tộc.</p><p>+ "Ở đâu… Nhìn lên…, Ở đâu… Trông về…" =&gt; Phép điệp nhấn mạnh Việt Bắc là cái nôi của cách mạng, là cội nguồn của sự sống.</p><p>+ Biện pháp đối lập "u ám - sáng soi" đề cao vai trò của lãnh tụ Hồ Chí Minh là chỗ dựa tinh thần tươi sáng nhất cho cách mạng và nhân dân Việt Nam.</p><p>+ Cách xưng hô mình - ta…</p><p>=&gt; Niềm tin vào sức mạnh, khả năng lãnh đạo của Đảng trong các cuộc cách mạng, niềm tự hào vào những chiến công Việt Bắc.</p><h3>3. Kết bài phân tích Việt Bắc</h3><h4>- Khái quát lại giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ:</h4><p>+ <strong>Nội dung</strong>: Tình cảm lưu luyến, bịn rịn của những người cán bộ cách mạng với đồng bào Việt Bắc khi phải chia tay về xuôi; tình nghĩa thủy chung gắn bó, uống nước nhớ nguồn của những cán bộ cách mạng đối với thủ đô kháng chiến, quê hương cách mạng và người dân Việt Nam.</p><p>+ <strong>Nghệ thuật</strong>: Thể thơ lục bát đặc sắc của dân tộc; lối đối đáp với kết cấu đối đáp của ca dao trữ tình; đại từ xưng hô được sử dụng linh hoạt (mình - ta); ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi; từ láy, tượng hình giàu hình ảnh; cách ví von so sánh thường gặp trong văn học dân gian.</p><p>Ngoài mẫu dàn ý chung cơ bản trên đây, các em cũng có thể tham khảo thêm mẫu dàn ý và 20 bài văn mẫu đặc sắc phân tích Việt Bắc để hoàn thiện dàn ý riêng của mình cũng như mở rộng thêm vốn từ ngữ khi viết bài.</p><h3>4. Sơ đồ tư duy phân tích bài Việt Bắc</h3><p>Có thể tóm gọn những nội dung cơ bản cần phân tích cho bài văn phân tích bài thơ <strong>Việt Bắc</strong> qua sơ đồ tư duy phân tích Việt Bắc sau đây:</p><p><img alt="So do tu duy phan tich bai tho Viet Bac chi tiet" src="https://cdn.doctailieu.com/images/2021/05/09/so-do-tu-duy-phan-tich-bai-viet-bac-rs650.jpg" /></p><p>Hướng dẫn phân tích Việt Bắc bằng sơ đồ tư duy</p><h2>IV. Các dạng đề phân tích Việt Bắc chuyên sâu theo từng đoạn</h2><p>Dưới đây là <strong>một số dạng đề phân tích Việt Bắc cơ bản</strong> kèm theo các dạng phân tích đi sâu vào từng đoạn mà các em có thể gặp thường xuyên trong các đề thi, kiểm tra trên lớp.</p><h3>1. Phân tích Việt Bắc đoạn 1 (8 câu đầu)</h3><p>Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, tiêu biểu cho thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn của con người Cách mạng. Thơ ông đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức thể hiện. Bài thơ "Việt Bắc" là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. "Việt Bắc" là một trong những bài thơ được xếp vào hạng những bài thơ "tống biệt" của Tố Hữu. Mặc dù là đề tài cũ, nhưng bài thơ vẫn mới mẻ bởi "Việt Bắc" ra đời trong cuộc chia tay đặc biệt giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ kháng chiến vào tháng 10/1954. Cùng phân tích 8 câu thơ đầu của Việt Bắc để cảm nhận rõ tình cảm của người ra đi và ở lại trong cuộc chia tay đầy cảm động ấy.</p><p>Ra đời trong hoàn cảnh ấy, bài thơ không mang cảnh trạng của một cuộc chia ly với nỗi buồn đầy nước mắt, mà là nỗi niềm chia ly trong tình cảm giữa cán bộ và nhân dân sâu đậm ân tình. Đoạn thơ mở đầu của bài thơ là sự thể hiện tinh tế và sâu sắc những rung động trong trái tim của người đi và người ở trong giờ phút phân li:</p><p>- Mình về mình có nhớ ta</p><p>Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.</p><p>Mình về mình có nhớ không</p><p>Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?</p><p>- Tiếng ai tha thiết bên cồn</p><p>Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi</p><p>Áo chàm đưa buổi phân li</p><p>Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay...</p><p>Bốn câu thơ đầu là lời của người ở lại nói với người ra đi:</p><p>- Mình về mình có nhớ ta</p><p>Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.</p><p>Mình về mình có nhớ không</p><p>Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn ?</p><p>Tác giả mở đầu bằng một câu hỏi mang âm hưởng ca dao, tình yêu: "Mình về mình có nhớ ta". "Mình về" là hoàn cảnh để người ở lại bộc lộ nỗi niềm, "về" gợi đến sự chia li, đó là sự chia li của người ra đi và người ở lại. Về mặt kết cấu câu thơ thì "mình" đứng ở đầu câu, còn "ta" đứng ở cuối câu thơ. Nó gợi lên cái khoảng cách giữa "ta" và "mình". Nỗi niềm gợi lên qua câu hỏi ấy của người ở lại là nỗi nhớ, tình cảm của người ở lại hướng tới người ra đi. Đứng giữa câu thơ là một từ "nhớ", nó làm cho "mình" và "ta" dường như được xích lại gần nhau hơn.</p><p>Cơ sở tạo nên nỗi nhớ ấy là: "Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng". Câu thơ phảng phất âm hưởng của thơ Kiều, nhưng từ âm hưởng đó lại vang lên nỗi niềm tình cảm của những con người trong một thời kháng chiến. "Mười lăm năm ấy" gợi đến một quãng thời gian khó khăn, một thời đau thương, mất mát. Tuy vậy, dường như tất cả mất mát đau thương ấy chìm đi, đọng lại trong câu thơ chỉ còn là tình cảm "thiết tha mặn nồng". Đó chính là sự gắn bó thân thiết, tình cảm chia bùi sẻ ngọt trong "mười lăm năm ấy" giữa "ta" và "mình". Bởi vậy, hỏi nhưng cũng chính là để bộc lộ tình cảm và hỏi chính là thể hiện mong muốn người ra đi cũng có tình cảm như chính mình.</p><p>Đến câu thơ thứ ba cũng là một câu hỏi. Câu hỏi: "Mình về mình có nhớ không" cũng có sự lặp lại gần giống câu thơ đầu. Tuy vậy, đối tượng hỏi không chỉ còn bó hẹp trong mối quan hệ giữa "ta - mình" và nỗi nhớ dường như không còn chỉ hướng tới "ta", mà nỗi nhớ đó đã hướng vào đối tượng rộng lớn hơn rất nhiều, đó chính là không gian "núi rừng" và "sông nguồn". Câu hỏi gợi về không gian có "núi", có "nguồn" ở núi rừng Việt Bắc. Đây chính là không gian quen thuộc gắn với người ở lại và cũng gắn bó với cả người ra đi. Không gian đó với người ra đi và người ở lại không còn là không gian vô hồn, vô cảm mà là không gian chứa đầy kỉ niệm, nó góp phần tạo nên tình cảm cho người ra đi.</p><p>Ở trong câu thơ xuất hiện nhiều lần hai động từ chỉ hành động "nhìn" và "nhớ". Một hành động tác động vào thị giác, một hành động tác động vào tâm tưởng; một hành động hướng tới hiện tại, một hành động hướng về quá khứ. Sự đan xen giữa các hành động đó mà người ở lại đưa ra là để muốn nhắc nhở người ra đi sống ở hiện tại đừng quên về quá khứ, sống ở miền xuôi đừng quên miền ngược, đừng quên về những kỉ niệm của một thời đã qua. Đó chính là mong muốn của người ở lại nhắn nhủ tới người ra đi.</p><p>Trước khi mong muốn người ra đi để nhớ thì người ở lại đã thể hiện nỗi nhớ của mình. Nỗi nhớ đó biểu đạt trực tiếp qua động từ "nhớ" xuất hiện nhiều lần ở khổ thơ, càng về cuối thì từ "nhớ" xuất hiện càng nhiều đã thể hiện cường độ nhớ ngày một tăng và nó đã tạo nên âm hưởng chủ đạo cho bài thơ. Đó là âm hưởng nhớ thương, ân tình tha thiết. Bốn câu thơ đầu chỉ với hai câu hỏi, nhưng chủ yếu là để giãi bày tình cảm và để mong muốn người ra đi cũng có tình cảm như chính mình, bởi giữa hai đối tượng đó có sự gắn bó khăng khít trong một thời kháng chiến và một vùng kháng chiến.</p><p>Để rồi từ đó, người ra đi đáp lại người ở lại bằng bốn câu thơ:</p><p>Tiếng ai tha thiết bên cồn</p><p>Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi</p><p>Áo chàm đưa buổi phân li</p><p>Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay...</p><p>Người ở lại đặt ra câu hỏi nhưng người ra đi không trực tiếp trả lời câu hỏi đó mà thay vào đó người ra đi thể hiện tình cảm lưu luyến, bịn rịn trong buổi chia tay. Ấn tượng ban đầu đã tác động đến người ra đi: "Tiếng ai tha thiết bên cồn". "Ai" là đại từ không xác định, có thể là nhân vật đang xuất hiện trước mắt người ra đi, quen thuộc với người ra đi - một con người cụ thể xuất hiện "bên cồn" trong buổi chia li. "Ai" có thể là bất cứ người dân Việt Bắc đã cùng sống, cùng làm việc, cùng sinh hoạt với người ra đi. Dù hiểu theo cách nào thì ấn tượng tác động đến người ra đi là âm thanh tiếng nói tha thiết - đó chính là âm thanh rất đỗi ngọt ngào, thiết tha, sâu lắng.</p><p>Và âm thanh đó dường như gọi về biết bao kỉ niệm, biết bao buổi trò chuyện tâm tình và âm thanh đó gọi về mối tình keo sơn gắn bó thân thiết giữa người ở lại với người ra đi. Chính âm thanh đó đã khiến cho người ra đi "Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi". Câu thơ ngắt nhịp 4/4 với hai vế tiểu đối trong tương quan đối lập giữa bên trong và bên ngoài. "Trong dạ" thì "bâng khuâng" còn hành động bên ngoài biểu hiện sự "bồn chồn" thấp thỏm của người ra đi, nhưng lại có sự tương đồng trong cảm xúc và hành động. Chính vì cảm xúc "bâng khuâng" thì mới có hành động "bồn chồn" đó được.</p><p>Trong cảm nhận của người ra đi, một hình ảnh bình dị, quen thuộc thường xuất hiện trong cuộc sống đời thường đó là hình ảnh "áo chàm". Hơn thế nữa chiếc "áo chàm" gợi đến sắc màu bền bỉ khó phai. Tác giả sử dụng hình ảnh hoán dụ "áo chàm" để chỉ người dân Việt Bắc và bởi vậy nói "áo chàm đưa buổi phân li" là nói về cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa người Việt Bắc với người cách mạng. Mượn hình ảnh "áo chàm" dường như tác giả muốn nói đến tình cảm thủy chung sắt son khó phai mờ của người dân Việt Bắc với người chiến sĩ cách mạng.</p><p>Và ấn tượng đậm nét nhất với người ra đi chính là hành động "Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay...". Trước tiên là hành động "cầm tay nhau" là hành động quen thuộc và rất đẹp của những ai khi chia li, nó thể hiện tình cảm gắn bó thân thiết và đồng thời thể hiện sự lưu luyến giữa kẻ ở người đi. Họ cầm tay nhau trong tâm trạng nghẹn ngào, vì thế không nói lên lời. Dấu ba chấm xuất hiện cuối dòng thơ như nốt nặng không lời, nhưng chính nó lại quý giá hơn rất nhiều những lời nói thường ngày bởi cái cầm tay đã nói lên tất cả những lưu luyến, bịn rịn.</p><p>Câu thơ kết lại đoạn thơ có nhịp thơ thay đổi khác thường. Sự thay đổi của nhịp thơ không chỉ tạo nên sự ngập ngừng cho giọng điệu của câu thơ mà còn tạo nên cái ngập ngừng của tình cảm. Và đồng thời sự khác lạ trong nhịp thơ ấy đã diễn tả sự khác lạ trong diễn biến tình cảm của kẻ ở người đi.</p><h3>2. Phân tích Việt Bắc khổ 3</h3><p>Như Xuân Diệu đã nhận định rằng, "Việt Bắc là đỉnh thơ cao nhất mà Tố Hữu đã bước lên”. Nhắc đến tên của Tố Hữu, người yêu thơ sẽ nhớ ngay đến một nhà thơ tiêu biểu với những chủ đề thơ trữ tình cách mạng trong nền văn học Việt nam. Thơ của ông là lẽ sống, là tình cảm của con người với đời lính, với sự nghiệp giải phóng đất nước. Nổi bật nhất là khúc tình ca "<strong>Việt Bắc</strong>” được sáng tác vào tháng 10/1954.</p><p>Sau khi cơ quan trung ương của Đảng và Nhà nước rời khỏi căn cứ địa Việt Bắc quay trở về Hà Nội, từ những tâm tư tình cảm của tác giả, ông đã chắp bút tạo nên một tác phẩm tuyệt vời. Mở đầu khổ ba bài thơ, thi sĩ đã bộc bạch ngay những ngày tháng kỉ niệm giữa "ta” và "mình”:</p><p>"Mình đi có nhớ những ngày</p><p>Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù</p><p>Mình về, có nhớ chiến khu</p><p>Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”</p><p>Trải qua cùng nhau với biết bao khó khăn gian khổ, càng giúp cho tình cảm đôi ta trở nên khăng khít gắn bó hơn. Chính vì thế, tâm trạng quan tâm lo lắng của người ở lại khi bày tỏ lo sợ người ra đi sẽ nhanh chóng quên đi những kỉ niệm ấy. Trở về với chốn phồn hoa đô thị, "mình” - người lính cán bộ liệu còn nhớ tới "mưa nguồn suối lũ” hay "mây cùng mù”. Ở chốn đô thành ấy, đâu còn hình bóng của quang cảnh thiên nhiên hùng vĩ mây mù giăng lối, đâu còn chiến khu xưa cũ nơi chúng ta đã cùng kề vai sát cánh chiến đấu. "Miếng cơm chấm muối” - dẫu cuộc sống có khó khăn, vất vả gian truân nhưng chúng ta vẫn cùng chia sẻ, để chiến đấu đánh tan "mối thù nặng vai” - những kẻ địch gian ác đang ngày đêm xả bom chiếm nước của dân tộc ta.</p><p>Nối tiếp dòng chảy cảm xúc, Tố Hữu bộc bạch những tâm tư ấy qua những áng thơ sau:</p><p>“Mình về, rừng núi nhớ ai</p><p>Trám bùi để rụng, măng mai để già”</p><p>Nhà thơ tiếp tục sử dụng biện pháp hoán dụ "rừng núi nhớ ai” - trong khi đó chính là hình ảnh của người ở lại nơi đây. Nỗi nhớ luôn da diết trong lòng của nhân dân Việt Bắc với những người lính cụ Hồ. Thiên nhiên cũng nhuốm màu của nhớ thương, để lan tỏa thấm đẫm vào cả "trám rụng - măng già”. Mình về sao khiến cả vật cả người trở nên trống trải, chẳng còn thiết tha làm gì nữa. Những món ăn thường nhật của bộ đội ta qua mười năm kháng chiến là trám bùi, măng mai giờ đây cũng chẳng còn dịp để xuất hiện bên mâm cơm của người được nữa.</p><p>Ôi, biết bao câu hỏi trong lòng cứ thế tuôn trào dồn dập:</p><p>“Mình đi, có nhớ những nhà</p><p>Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son</p><p>Mình về, còn nhớ núi non</p><p>Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh</p><p>Mình đi, mình có nhớ mình</p><p>Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?"</p><p>Cụm từ "nhớ những nhà” là hình ảnh ẩn dụ gợi cho người đọc cảm nhận được tâm trạng băn khoăn: liệu rằng cán bộ có nhớ những khóm nhà mà người đã ở, đã nghỉ ngơi hay chăng chứ nhân dân nơi đây thì nhớ cán bộ nhiều lắm, nhớ tới nỗi "hắt hiu lau xám”. Từ láy "hắt hiu” kết hợp cùng cây cối chốn rừng núi càng làm bật lên khung cảnh hoang sơ, đơn độc giữa chốn thiên nhiên hùng vĩ. Thế nhưng, đối lập với cảnh đìu hiu ấy, vẫn có tấm lòng sắt son của con người luôn tràn đầy ấm áp tình thương.</p><p>Núi non nơi này vẫn đợi người quay lại, từ thời kì kháng chiến "kháng Nhật” tới "thuở còn Việt minh” thì mình với ta vẫn luôn cạnh nhau. Những địa danh lịch sử hào hùng như "Tân Trào Hồng Thái” năm nào luôn hiện hữu trong tâm trí của chúng ta. Đi đâu cũng nhớ về cội nguồn dân tộc, nhớ về nơi đã nuôi dưỡng, sẻ chia biết bao niềm vui nỗi buồn là điều mà người dân Việt Bắc hi vọng các anh cán bộ luôn khắc ghi.</p><p>Đặc biệt, kết thúc đoạn thứ ba, Tố Hữu nhắc tới ba từ "mình" nghe thật tha thiết và chân thành. Từ "mình" đầu tiên và thứ hai để chỉ người lính cán bộ, còn từ còn lại để nhắc chung tới toàn thể nhân dân. Ta phải biết rằng, dân và ta đều hòa chung làm một khi tình cảm của chúng ta đều hướng về nhau. Những chiến thắng vang dội mà ta đã cùng nhau đạt được phải luôn được lưu truyền, đó cũng là một lời mà nhân dân muốn nhắc các anh không được ngủ quên trên chiến thắng, không được phản bội lại những tâm tình, lời hứa mà các anh đã để lại nơi đây. Việt Bắc chính là cái nôi nuôi dưỡng cách mạng, là nguồn động viên lớn lao cho các anh trong thời kỳ làm cách mạng. Bởi vậy, những lời người ở lại muốn nhắc nhở tới người về xuôi lại càng thắm thiết sâu sắc.</p><p>12 câu thơ trong khổ ba đã kết thúc trong những lời nhắc nhở, kỷ niệm chân thành. Tố Hữu đã khéo léo lồng ghép những tâm tư tình cảm của đôi bên vào nhịp thơ 2/2/2-4/4 đều đặn, khiến cho nhịp thơ đồng điệu cùng những lời thổn thức tâm sự của nhân dân Việt bắc. Ông cũng muốn nhắc nhở cả bản thân ông và thế hệ mai sau phải luôn nhớ đến cội nguồn dân tộc, dù đói dù no thì cũng phải luôn kề vai sát cánh xây dựng vì mục tiêu đất nước hòa bình, hạnh phúc.</p><h3>3. Phân tích Việt bắc đoạn 4</h3><p>Trong suốt đường đời hay đường thơ, nhà thơ Tố Hữu luôn mang đến cho độc giả những tác phẩm mang đậm chất chính trị và trữ tình. Đến với đoạn trích "<strong>Việt Bắc</strong>”, bạn đọc có thể cảm nhận được những tình cảm mà người miền xuôi dành cho người ở lại trong ngày bịn rịn chia tay. Nhắc nhớ những tình cảm chân thành ấy, người đi đã có những dòng hồi tưởng nhớ về <strong>cảnh thiên nhiên và con người Việt Bắc</strong> qua khổ thơ trên.</p><p>Con người và thiên nhiên Việt Bắc dù trong lao động hay trong chiến đấu cũng luôn có sự gắn bó hòa quyện với nhau. Khổ thơ trên đã lột tả được vẻ đẹp của bức tranh tứ bình Việt Bắc, trong đó, thiên nhiên và con người có mối quan hệ gắn bó, không tách rời. Bức tranh thiên nhiên ấy đã được mở ra từ nỗi nhớ:</p><p>“Ta về, mình có nhớ ta</p><p>Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”</p><p>Nỗi nhớ của nhà thơ đã được tái hiện một cách chân thực và gần gũi nhất. Cảnh và người luôn có sự hòa quyện, gắn bó với nhau. Cho nên, nỗi nhớ da diết mà tác giả gửi gắm, vừa là nỗi nhớ thiên nhiên, lại là nỗi nhớ những con người Việt Bắc bình dị mà thân thiện.</p><p>Cảnh thiên nhiên Việt Bắc được tái hiện trong nỗi nhớ của nhà thơ là sự mở đầu của bức tranh tứ bình. Bức tranh thiên nhiên có màu sắc, đường nét, âm thanh, gợi ra cả một miền thương nhớ. Cảnh vật vô cùng đơn sơ, nhưng lại gợi sự gần gũi, thân thuộc. Thường theo quy luật: xuân, hạ, thu, đông, mùa xuân đáng nhẽ ra phải là sự mở đầu cho nỗi nhớ, nhưng nhà thơ Tố Hữu lại lựa chọn mở đầu nỗi nhớ bằng hình ảnh đại diện cho mùa đông:</p><p>“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi</p><p>Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”</p><p>Hồi ức của tác giả trở về trong giờ phút chia tay. Làm sao ta quên được hoàn cảnh lịch sử mùa đông năm 1954, chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân kháng chiến. Bức tranh mùa đông của Việt Bắc được miêu tả với màu xanh bạt ngàn của núi rừng, màu đỏ của hoa chuối như những ngọn đuốc sáng rực cả một nền xanh. Vậy là, mùa đông ở Việt Bắc không còn mang vẻ lạnh lẽo, mà luôn ấm áp, tràn đầy sự sống. Hình ảnh con người Việt Bắc cần cù, hăng say trong lao động cũng được tác giả thể hiện một cách rất tinh tế. Hình ảnh đồng bào Việt Bắc lúc đi rừng làm rẫy, hình ảnh thơ tạo sức gợi nên ý nghĩa hình ảnh con người lao động làm chủ thiên nhiên.</p><p>Bức tranh mùa xuân ở Việt Bắc đã được gợi nhớ theo dòng hồi tường:</p><p>“Ngày xuân mơ nở trắng rừng</p><p>Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”</p><p>Không gian lại được mở rộng ra, hình ảnh những đồi hoa mơ nở trắng rừng. Màu trắng mang sự tinh khôi, khởi sắc của mọi sự sống đã trải rộng, bạt ngàn trên các núi đồi. Cảnh thiên nhiên gợi ra cho người đọc cảm giác thơ mộng, bâng khuâng. Khoảng thời gian mùa xuân chính là khoảng thời gian vận động trong suốt 4 mùa, gợi sự sinh sôi, nảy nở. Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên vô cùng thơ mộng, trữ tình. Gắn với thiên nhiên, con người Việt Bắc cũng hiện lên rất đẹp. Từ “chuốt” gợi sự tỉ mỉ, cần mẫn, chịu khó của người dân nơi đây khi bắt tay vào công việc.</p><p>Mùa xuân lại đi qua, nhường chỗ cho sự xuất hiện của mùa hạ:</p><p>“Ve kêu rừng phách đổ vàng</p><p>Nhớ cô em gái hái măng một mình”</p><p>Bức tranh gợi cho người đọc có sự cảm nhận cả về thị giác lẫn thính giác. Âm thanh quen thuộc gợi sự xuất hiện của mùa hè là tiếng “ve”. Đồng điệu với nó là màu vàng bạt ngàn của rừng phách, từ “đổ” gợi sự dàn đều, rộng khắp của màu sắc. Bức tranh ấy hiện lên mang vẻ đẹp của sự tráng lệ, lung linh trong sắc vàng của nắng hè. Cảnh thiên nhiên vừa đẹp, mà lại vừa mang vẻ lãng mạn bởi có sự xuất hiên của bóng dáng người thiếu nữ. Đọc những vần thơ, ta có thể cảm nhận được nét dịu dàng, mềm mại, uyển chuyển của cô gái Việt Bắc đi hái măng giữa rừng tre, nứa trong khúc nhạc rừng, “một mình” nhưng chẳng cô đơn. Thiên nhiên và con người đã hòa quyện và tô điểm cho nhau.</p><p>Cảnh rừng đêm trăng thu huyền diệu, thơ mộng, trữ tình chính là câu kết cho đoạn thơ:</p><p>“Rừng thu trăng rọi hòa bình</p><p>Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”</p><p>Không gian được mở ra tràn ngập ánh trăng thanh bình, ánh trăng ấy đang soi sáng khắp núi rừng chiến khu. Dưới ánh sáng của vầng trăng hiền dịu, có đâu đây ngân nga tiếng hát “ân tình” làm xao xuyến lòng người. Tiếng hát là tiếng lòng, bộc lộ tâm hồn thủy chung, tình nghĩa của con người Việt Bắc.</p><p>Có thể nói, đây là một trong những khổ thơ nổi bật nhất trong đoạn trích. Vẻ đẹp thiên nhiên và con người Việt Bắc được miêu tả chân thực và rõ nét, có sự hòa quyện tuyệt vời. Con người - thiên nhiên luôn hòa quyện, gắn bó mà không có sự tách rời. Mỗi câu thơ là một phiên cảnh với những nét màu tài hoa.</p><h3>4. Phân tích Việt Bắc vận dụng lý luận văn học chuyên sâu</h3><p>Tố Hữu là nhà thơ chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng Việt Nam. Dù những tác phẩm thơ ca của ông thường viết về Đảng, về cách mạng hay chiến tranh nhưng thơ Tố Hữu không hề khô khan cứng nhắc, ngược lại thơ ông luôn tha thiết và thấm đẫm tình người. Đúng như Chế Lan Viên từng nói: "Thơ Tố Hữu là thơ Cách mạng chứ không phải thơ tình yêu... nhưng thơ anh là thơ của một tình nhân, anh nói các vấn đề bằng trái tim của một người say đắm”. Trong đó, <strong>Việt Bắc</strong> là một trong những đỉnh cao thơ Tố Hữu, cũng là một trong những thi phẩm xuất sắc của Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp. Tố Hữu đã xây dựng nên một bài thơ nói về tình nghĩa đối với quê hương cách mạng, là tiếng nói của tình cảm, tình yêu đối với quê hương, đất nước, đối với nhân dân.</p><p>Việt Bắc được sáng tác vào tháng 10/1954, đây là giai đoạn chuyển giao khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, các cán bộ chiến sỹ rời chiến khu Việt Bắc quay trở lại thủ đô Hà Nội. Bài thơ được đặt vào một hoàn cảnh rất đặc biệt, đó là cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa những con người đã từng gắn bó khăng khít, tình nghĩa cùng gánh vác trên vai nhiệm vụ dân tộc. Mối tình giữa cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc được Tố Hữu diễn tả như một mối tình riêng. Ông đã mượn thể hát đối đáp rất dân tộc, ngôn ngữ đậm đà màu sắc để thể hiện tình cảm của mình, qua đó khẳng định và ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên núi rừng, con người Việt Bắc ân tình, ân nghĩa.</p><p>Mở đầu bài thơ là lời hỏi đáp của người ở lại và người ra đi nhằm khơi gợi những kỉ niệm ân tình giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ về xuôi trong suốt mười lăm năm gắn bó keo sơn. Bốn câu thơ đầu là lời của nhân dân Việt Bắc hỏi người ra đi:</p><p>"Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?</p><p>Câu thơ mở đầu mang âm hưởng của ca dao, dân ca chan chứa tình thương của người ở lại với người ra đi, hỏi để gợi nhắc những kỉ niệm gắn bó. Trong câu hỏi này "mình” là chỉ người ra đi, “ta” là người ở lại. “Mình” ở đầu câu, “ta” ở cuối câu, tưởng xa mà gần bởi được liên kết bởi từ "nhớ". Nỗi nhớ ấy bắt nguồn từ cơ sở "mười lăm năm ấy”. Người ở lại hỏi người ra đi có nhớ tới những lần đồng cam cộng khổ, gắn bó cùng nhau chia ngọt sẻ bùi mới mình hay không? Bốn chữ "thiết tha mặn nồng” đã cho thấy phần nào tình cảm giữa Việt Bắc và người cán bộ thật thủy chung, sâu nặng. Bởi vậy hỏi nhưng mục đích chính là để bộc lộ tình cảm và hỏi là để thể hiện mong muốn người ra đi cũng có tình cảm như mình.</p><p>Nếu như hai câu thơ đầu là lời gợi nhắc về kỉ niệm "mười lăm năm ấy” gắn bó, thì ở hai câu thơ sau là lời nhắc nhở chân tình và cũng là lời dặn dò kín đáo của người ở lại. Câu hỏi tu từ thứ hai đã hướng ta tới không gian, đối tượng hỏi không còn bó hạn hẹp trong mối quan hệ mình - ta nữa mà nỗi nhớ đó đã hướng vào cả cây, sông và núi nguồn. Không gian đó với người ra đi và người ở lại đều chứa đựng những kỉ niệm gắn bó khó quên. Động từ "nhớ" và "nhìn" được điệp lại hai lần tác động mạnh vào cảm xúc của con người. Phải chăng cách gợi nhớ khéo léo này chính là lời dặn dò, mong muốn rất đỗi kín đáo của người ở lại: Việt Bắc là cội nguồn của cách mạng, là quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa, xin người về đừng quên.</p><p>Qua bốn câu thơ, ta thấy được cách tận dụng từ ngữ linh hoạt của Tố Hữu, ông đã tận dụng rất khéo léo đạo lí "Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc để nhắc nhở con cháu đời sau không được quên công ơn của thế hệ cha ông đi trước. Sau lời hỏi để gợi nhắc một cách khéo léo của người ở lại là lời giãi bày, bộc bạch cảm xúc của người ra đi. Dù không trực tiếp nhưng đầy bâng khuâng xao xuyến:</p><p>"Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Aó chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay"</p><p>Những cặp từ láy "bâng khuâng”, "bồn chồn” diễn tả trạng thái tâm lý nhớ thương, luyến tiếc khiến lòng chẳng thể yên. Như Tú Xương đã viết:</p><p>"Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai”...</p><p>Tiếng “ai” ấy lại chất chứa biết bao yêu thương, chẳng thể chỉ cụ thể một người, bởi tình cảm ấy là dành cho cả một đồng bào Việt Bắc. Tố Hữu đã khai thác tiếng "ai” ấy một cách xuất sắc, khi để lại âm vang trong lòng người về. Nó khiến cho tâm trạng con người càng trở nên nôn nao, những dòng cảm xúc cứ ào về không thôi. Cách ngắt nhịp 4/4 với hai vế tiểu đối đối lập giữa bên trong và bên ngoài làm cho hiệu quả diễn đạt thêm súc tích. Tâm trạng bâng khuâng bồn chồn ấy còn được thể hiện hết sức tinh tế qua nhịp điệu hai câu tiếp theo:</p><p>"Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”</p><p>Cặp thơ lục bát được tác giả góp thêm một chút nhịp điệu, như một đảo phách trong âm nhạc. Màu "áo chàm” đặc trưng của những con người chân chất miền núi Tây Bắc. Hình ảnh thấy thật đơn sơ, mộc mạc của chốn quê nghèo, nghèo vật chất nhưng luôn giàu tình cảm. Tấm áo ấy đã chất chứa biết bao mồ hôi, khó khăn vất vả, một nắng hai sương để chiến đấu, nuôi dưỡng các anh lính cụ Hồ để các anh an tâm đánh giặc. Chẳng phải áo bào, áo gấm để tiễn đưa, cảm ơn công lao của các anh, chỉ là bóng dáng của những con người lao động nhưng sao vẫn khiến cho ta không khỏi cảm kích, biết ơn. Tình cảm bịn rịn ấy còn được thể hiện qua hình ảnh "cầm tay”. Cầm tay là biểu tượng của tình yêu thương đoàn kết, cầm tay để nói lên cảm xúc trong lòng. Nó giống như một nốt nhạc trầm trong một khuôn nhạc bổng, là nhịp rơi của cảm xúc sâu lắng. Đoạn thơ mở đầu của bài Việt Bắc đã vẽ nên những cung bậc cảm xúc hết sức đa dạng, sâu lắng của người đi kẻ ở. Nhịp thơ nhẹ nhàng, du dương để diễn tả một cách trọn vẹn, khéo léo những tình cảm chân thành ấy đã cho thấy tài năng nổi bật của Tố Hữu trong số những thi sĩ tài hoa của Việt Nam.</p><p>Có thể nói Việt Bắc không chỉ là khúc tình ca mà còn là khúc hùng ca thể hiện ân tình của nhà thơ đối với khu căn cứ địa của cách mạng Việt Bắc. Điều này được thể hiện rõ qua khổ thơ thứ hai - lời tâm tình của người dân Việt Bắc về những ngày kháng chiến đã đồng cam cộng khổ cùng cán bộ trong suốt mười lăm năm:</p><p>Mình về có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai? Mình về rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Minh đi mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái mái đình cây đa</p><p>Bốn câu thơ đầu là lời nhắc nhở về kỉ niệm trong kháng chiến gian khổ mà cán bộ và nhân dân Việt Bắc đã cùng nhau trải qua. Điệp từ "nhớ" được lặp lại hai lần cùng hai câu hỏi tu từ "có nhớ những ngày” đã gợi nên những kỉ niệm gian khổ nhưng vô cùng tình nghĩa. Mình có còn nhớ không những ngày tháng khắc nghiệt ấy "mưa nguồn, suối lũ, mây mù”, những lúc thiếu thốn ảm đạm "ăn tuyết nằm sương” mà cán bộ và nhân dân đã trải qua. Nhưng những gian khổ ấy đã gắn kết "mình - ta” lại với nhau có phúc cùng hưởng có nạn cùng chịu, gạt đi những khó khăn để cùng thực hiện nhiệm vụ là bảo vệ đất nước.</p><p>Ở đây cái chung luôn đặt lên trên cái riêng đó là tinh thần lớn của thời đại. Bốn câu thơ tiếp theo người Việt Bắc tiếp tục khắc ghi vào lòng người đi những câu hỏi tu từ khơi gợi nên những kỉ niệm gắn bó với núi rừng, thiên nhiên và con người nặng tình nặng nghĩa. Ẩn sâu trong bốn câu thơ người Việt Bắc hỏi người ra đi như còn chưa thỏa mãn, họ còn hỏi chính mình. Nhà thơ đã sử dụng hình ảnh hoán dụ "Rừng núi nhớ ai” để chỉ người dân Việt Bắc và nỗi nhớ da diết của người dân Việt Bắc đối với những người kháng chiến, với Đảng, chính phủ...</p><p>Ở đây không chỉ có con người mang nỗi nhớ mà đến cả thiên nhiên cũng rất nặng tình nghĩa. Mình về khiến núi rừng bỗng trở nên trống vắng, ngay cả "trám bùi”, "măng mai” mà cũng không ai thu hái. Không chỉ gợi kỉ niệm với thiên nhiên mà người dân Việt Bắc còn gợi kỉ niệm với con người làm cho cảm xúc càng thêm xao xuyến khôn nguôi. Nhà thơ đã hướng nỗi nhớ của mình về những con người Việt Bắc qua câu thơ "Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”. Câu thơ đã sử dụng biện pháp đảo ngữ, làm nổi bật hơn khung cảnh vắng vẻ, hoang sơ nơi núi rừng. Nhưng đối lập lại bên trong những căn nhà ấy lại ẩn chứa tấm lòng thủy chung son sắc của nhân dân.</p><p>Bốn câu thơ cuối người Việt Bắc đã gợi nhắc lại những sự kiện lịch sử gắn với những địa danh, những tên gọi đã trở thành điểm mốc của chiến đấu: Tân Trào, Hồng Thái... nhằm nhắc nhở người về xuôi rằng Việt Bắc là nơi có mặt trận Việt Minh lãnh đạo Cách mạng đánh đuổi giặc Pháp, là khu căn cứ quan trọng của cách mạng. Kết thúc đoạn thơ là một câu hỏi tu từ sâu sắc rằng giữa người Việt Bắc và cán bộ đã có sự gắn kết tha thiết, hòa nhập vào nhau làm một.</p><p>Khổ thơ tiếp theo là lời thề son sắt, thủy chung và nỗi nhớ về thiên nhiên Việt Bắc thơ mộng trữ tình, là lời bộc bạch trực tiếp của cán bộ về xuôi đối với người dân Việt Bắc:</p><p>Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng đương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia sông Đáy, suối Lê vơi đầy Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi... Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng Nhớ người mẹ nắng cháu lưng Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô Nhớ sao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo. Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều đuối xa,...</p><p>Những kí ức như ào ạt dội về, mỗi kỉ niệm đều vô cùng rõ nét như mới diễn ra ngày hôm qua vậy. Người chiến sĩ đã khẳng định tấm lòng son sắt thủy chung, tình cảm dạt dào và nghĩa tình sâu nặng như nguồn nước trong mát đổ về bản làng. Người chiến sĩ còn nhớ đến vầng trăng tròn đầy sau những rặng núi xa sau bản, nhớ những vạt nắng vàng như màu mật đổ xuống những cánh đồng ruộng bậc thang ngào ngạt mùi lúa chín, nhớ những sáng tinh sương mịt mù trong mây và khói tỏa, nhớ từng dòng suối cánh rừng...</p><p>Thiên nhiên núi rừng Việt Bắc lại một lần nữa hiện lên qua từng câu thơ hết sức hùng vĩ thơ mộng khiến cho ai đi xa mà chẳng nhớ về. Ở đây chỗ sâu sắc nhất trong tình nghĩa gắn bó giữa nhân dân và cán bộ là tình cảm yêu thương đùm bọc, cùng san sẻ từng củ sắn, miếng cơm, manh áo, tấm chăn... Vật chất ít ỏi nhưng tình người lúc nào cũng đong đầy. Các chi tiết nghệ thuật ở đây vừa có tính hiện thực vừa có tính khái quát". Sức mạnh của thơ Tố Hữu trong những ngày tháng đen tối ấy, chính là vì nó nói với trái tim, chính là bởi người cách mạng ấy là một thi sĩ chính cống, thực sự. "Xuân Diệu quả thật nói không sai, đọc thơ Tố Hữu dù ông đang viết về những khó khăn, thiếu thốn khi tham gia chiến đấu nhưng tinh thần cách mạng, ý chí kháng chiến luôn hiện hữu trong từng lời thơ, làm cho ý chí nhân dân càng mạnh mẽ. Đặc biệt sự xuất hiện hình ảnh người mẹ địu con lên rẫy đã khắc họa thành công hình tượng người mẹ lam lũ vất vả cùng đức hi sinh cao quý cho cách mạng của những người mẹ Việt Bắc.</p><p>Nhớ Việt Bắc còn là nhớ âm thanh đặc trưng: tiếng mõ rừng, tiếng chày,... âm thanh của sự thanh bình yên ả ở Việt Bắc. Cả đoạn thơ tác giả đã thể hiện sâu sắc nỗi nhớ, tình cảm của người cán bộ đối với nhân dân Việt Bắc một cách đầy tha thiết, chân thực. Kết cấu thơ trùng lặp làm ta nhớ tới những câu ca dao xưa:</p><p>Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than</p><p>Khổ thơ tiếp theo là bức tranh tứ bình đa màu sắc hòa quyện giữa thiên nhiên và con người được Tố Hữu miêu tả bằng ngòi bút trữ tình đặc sắc:</p><p>Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung Hai câu thơ đầu mang cảm xúc chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ khôn nguôi về Việt Bắc nhưng sau đến với những câu thơ tiếp theo là một bức tranh về thiên nhiên đầy màu sắc. Bức tranh thứ nhất: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng</p><p>Câu thơ mở ra một không gian rộng lớn thiên nhiên Việt Bắc. Trên cái nền xanh bạt ngàn của núi rừng đại ngàn, nổi bật lên hình ảnh "hoa chuối đỏ tươi. Bởi thế, thiên nhiên hùng vĩ ấy không xa lạ, trái lại, gần gũi, thân thiết với con người:</p><p>Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng</p><p>Cũng là cách điểm xuyết những hình ảnh điểm nổi rõ hơn cảnh, thật là một nét tài tình của Tố Hữu thể hiện trong thơ. Nghệ thuật điểm xuyết của tác giả còn trở lên độc đáo hơn: càng chọn điểm nhỏ nhất thì sức gợi càng lớn hơn. Vì thế, câu thơ có sự nhấp nháy của hình ảnh và cảnh vật vốn tĩnh lặng, thậm chí tịch mịch, bỗng có sức sống, sự chuyển động. Bức tranh thứ hai:</p><p>Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đang nón chuốt từng sợi giang</p><p>Khác hẳn với bức tranh thứ nhất, bức tranh thơ thứ hai mở đầu có sự định vị về thời gian (Ngày xuân). Nhưng tự thân thời gian ấy cũng đã mở ra không gian: Ngày xuân mở nở trắng rừng. Cách điệp âm (mơ/nở; trắng/rừng) cùng với hình ảnh của hoa mơ (màu trắng) tạo ra một không gian vừa rộng lớn nhẹ nhàng và thanh thoát. Ở bức tranh thơ thứ nhất, nghệ thuật miêu tả của tác giả độc đáo ở điểm xuyết, tìm hình ảnh gợi, sắc màu sáng (hoa đỏ, nắng ảnh) để diễn tả sự chuyển động của cảnh vật thì ở đây, nhà thơ lại hướng cái nhìn vào sự bao quát điệp trùng để tìm cái rạo rực (tiềm ẩn) của thiên nhiên.</p><p>Trên cái nền không gian rộng lớn và háo hức ấy, nhà thơ hướng mắt nhìn về một hoạt động có vẻ tỉ mỉ:</p><p>...Người đan nón chuốt từng sợi giang.</p><p>Đó là hình ảnh thực. Trong chuỗi hoài niệm của tác giả, hình ảnh người đan nón chỉ là một điểm gợi nhớ. Câu thơ như gợi lên cách cảm, cách nhìn của tác giả hơn là tả thực. Đó là hình ảnh đặc trưng dễ nhận thấy của sinh hoạt đời thường ở Việt Bắc. Với nhiều người, nó có thể nhỏ nhặt, không đáng nhớ. Với một nhà thơ ân tình như Tố Hữu, đó lại là hình ảnh khắc sâu trong tâm khảm. Bức tranh thứ ba:</p><p>Ve kêu rừng phách đổ vàng</p><p>Nhớ cô em gái hái măng một mình. Câu thơ mở đầu bằng âm thanh tiếng ve như giúp người đọc cảm nhận được đã có bước biến chuyển về thời gian sang hè. Ý thơ trong câu to như vừa có âm thanh rộn ràng, vừa có màu sắc đặc trưng của rừng Việt Bắc. Âm thanh và màu sắc sinh động ấy tạo nên cảnh tưng bừng của thiên nhiên:</p><p>Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình.</p><p>Hoa và người Việt Bắc trong thơ Tố Hữu hòa quyện, cùng tôn vinh lẫn nhau. Đan hòa với nhau mà làm nổi bật lên cho nhau. Và chính sự hài hòa đó đã tạo nên chất thơ ân tình của Tố Hữu. Vì thế, không nên suy diễn, giàu chất tượng trưng với những nét sinh hoạt, lao động của cuộc sống thực tại. Bức tranh thứ tư:</p><p>Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.</p><p>Câu thơ có kiểu mở đầu bằng sự định vị cả không gian lẫn thời gian "rừng thu”. Ứng với mỗi câu thơ đặc sắc và cách định vị trên là một mùa của thiên nhiên (mùa đông, mùa xuân, mùa hạ). Không ngoại lệ câu thơ này cũng là bức tranh về một mùa của thiên nhiên (mùa thu). Nhưng có lẽ bức tranh thu là bức tranh cuối của bộ tứ bình cũng là tiếng hát cuối của một trường đoạn hoài niệm nên hình ảnh tất thảy đều trở nên tượng trưng, âm hưởng cũng bao quát hơn:</p><p>Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.</p><p>Rừng thu Việt Bắc trong thơ Tố Hữu mênh mông, rộng lớn nhưng không hề lạnh lẽo. "Trăng rọi hòa bình” là hình ảnh vừa mang ý nghĩa ánh trăng của cuộc đời ân tình ấy, lại vừa mang ý nghĩa cuộc sống có niềm tin, tự do. Và trong cuộc sống đó còn có cả tình nghĩa thủy chung khi đã có tự do thì ta vẫn không quên những ngày gian khó.</p><p>Thành công của đoạn thơ là nhờ vào một số thủ pháp nghệ thuật cùng với thể thơ lục bát với âm điệu ngọt ngào, sâu lắng. Cách miêu tả hình ảnh sống động, nhiều phép liệt kê, phép điệp tất cả đã làm nên một đoạn thơ giàu hình tượng về thiên nhiên và con người Việt Bắc, mở rộng hơn nữa là tình yêu quê hương, đất nước của tác giả. Quả thật đúng như ông đã từng nói "Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống thật đầy”, ông đã thể hiện rất sâu sắc tình yêu đối với nơi núi rừng Việt Bắc, nơi gắn bó suốt chặng đường hoạt động cách mạng của mình. Sau những câu thơ miêu tả về thiên nhiên thơ mộng nơi đây thì tác giả lại tập trung viết về nỗi nhớ khi hoạt động cách mạng vô cùng sôi nổi của mình:</p><p>Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng câu núi đá ta cùng đánh Tây Núi giăng thành lũy sắt dày</p><p>Khí thế ấy đã tạo nên những chiến thắng vẻ vang, hàng loạt địa danh vang lên, mỗi nơi đều là một chiến tích thắng lợi. Điệp từ "nhớ" cùng thể thơ lục bát mang âm hưởng sâu lắng đã diễn tả dào dạt nỗi nhớ của tác giả về những lần hoạt động cách mạng cùng nhân dân và đồng đội. Chế Lan Viên cũng từng viết về sự gắn bó với chiến khu:</p><p>Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn Nhưng trên tất cả tình dân quân thể hiện rõ nhất trong đoạn thơ: Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh vào đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đuốc đỏ từng đoàn Bước chân nát đá, muốn tàn lửa bay Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp An Khê Vui lên Việt Bắc đèo De núi Hồng.</p><p>Đoạn thơ là không khí ra trận và tin vui chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Câu thơ vang lên rất đỗi tự nhiên tạo cảm giác khỏe khoắn, hùng tráng chứa đầy niềm kiêu hãnh. Đó là niềm tự hào về những con đường Việt Bắc đã và đang được giải phóng sau bao ngày tháng kháng chiến vất vả. Những từ láy "đêm đêm”, “rầm rập” cùng phép so sánh "đất rung" tất cả đã tạo nên một bức tranh tổng hợp của sức mạnh đoàn kết dân tộc. Đoàn quân nối dài trên những con đường Việt Bắc thật hùng vĩ như vươn rộng khắp mọi nẻo đường. Hình ảnh "ánh sao đầu súng” làm ta liên tưởng tới chi tiết "đầu súng trăng treơ” trong thơ Chính Hữu, đây là một hình ảnh thực mang vẻ đẹp lãng mạn khi người lính hành quân trong đêm, những ngôi sao đang trên trời cùng làm bạn. Nguyễn Đình Thi cũng từng viết về khung cảnh lãng mạn ấy:</p><p>Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh Soi sáng đường chiến sĩ giữa hàng quân</p><p>Ngọn đuốc trên tay quân dân không chỉ thắp sáng lên cả bầu trời Việt Bắc khi ấy mà nó còn thắp lên cả những thế hệ, thắp lên tương lai, thắp lên niềm tin và hi vọng về một chiến thắng không xa. Sức mạnh của cả một đoàn quân khí thế đến nỗi có thể làm cho đá nát lửa bay không một thế lực nào có thể ngăn cản được. Bằng nghệ thuật phóng đại cường điệu, nhà thơ Tố Hữu dường như đã tái hiện lại bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ để rồi giờ đây chỉ qua những dòng thơ ngắn gọn, ta như trở về với một thời hào hùng của cha ông.</p><p>Giữa bóng tối vây quanh ngọn đèn pha như thắp lên niềm tin niềm hi vọng của quân dân về một tương lai tốt đẹp hơn. Cuối cùng, sau những tháng ngày chiến đấu gian lao và khổ cực quân và dân ta đã giành được thắng lợi vô cùng vẻ vang. Hạnh phúc vỡ òa không từ ngữ nào có thể diễn tả. Từ Hòa Bình, Tây Bắc hay Điện Biên, nhân dân như vui cùng một niềm hạnh phúc. Điều này chứng tỏ sự gắn bó máu thịt sự đoàn kết không thể nào phá rời của quân và dân ta khi đất nước gặp khó khăn. Nếu ở Tây Tiến những địa danh căn cứ của bộ đội ta được nhắc đến với niềm thương nhớ thì Tố Hữu lại gọi tên những địa danh gắn với những chiến công lẫy từng làm bừng tỉnh lòng người. Có thể nói đây là điểm độc đáo trong thơ Tố Hữu.</p><p>Đoạn thơ cuối khép lại là cảnh Việt Bắc sau kháng chiến Điện Biên Phủ thắng lợi:</p><p>"Ai về ai có nhớ không? Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang. Nắng trưa rực rỡ sao vàng Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công Điều quân chiến dịch thu đông Nông thôn phát động, giao thông mở đường Giữ đê, phòng hạn, thu lương Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu... Ở đâu u ám quân thù Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng doi Ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền. Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa Mình về mình lại nhớ ta Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào.”</p><p>Sau chiến thắng vẻ vang của toàn dân ta, khắp nơi hân hoan trong màu sắc rực rỡ tươi vui dưới ánh nắng và lá cờ đỏ sao vàng. Trung ương Đảng và Chính phủ thu xếp trở về thủ đô, trong không khí nhộn nhịp, miền Bắc ngày một đổi mới với chính sách mới của Đảng và nhà nước "Giữ đê, phòng hạn, thu lương/Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu...”. Đồng thời đoạn thơ cũng là lời ngợi ca những công lao vĩ đại của Bác Hồ kính yêu, là lời tri ân sâu sắc với miền núi rừng Việt Bắc thân thương, dù mai này đã về thủ đô nhưng trong tim những người chiến sĩ cách mạng luôn giữ một góc dành cho Việt Bắc, dành cho "Mái đình Hồng Thái câu đa Tân Trào”.</p><p>Bài thơ Việt Bắc với những hình ảnh đẹp về thiên nhiên, con người Việt Bắc đã để lại ấn tượng đẹp trong lòng người đọc. Bằng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, thể thơ lục bát mang âm hưởng sâu lắng, giọng thơ sôi nổi, Tố Hữu đã mang đến cho người đọc những cảm xúc khó tả, sự khâm phục tinh thần gắn kết, đồng lòng đánh giặc của quân và dân ta. Quả thật không sai khi nói rằng "thái độ toàn tâm toàn ý với cách mạng là nguyên nhân chính làm nên thành công của nhà thơ Tố Hữu” (Hoài Thanh).</p><p>"Thơ là đi giữa nhạc và ý. Rơi vào vực ý, thơ rất ăn sâu nhưng dễ khô khan. Rơi vào vực nhạc dễ say đắm lòng người nhưng dễ nông cạn. Tố Hữu là nhà thơ giữ thế quân bình giữa hai lưu vực ấy. Thơ của anh vừa ru người trong nhạc, thức người trong ý” (Chế Lan Viên). Tình yêu quê hương, đất nước cùng với nỗi niềm với nhân dân Việt Bắc đã tạo nên một áng thơ Việt Bắc đầy cảm xúc sâu lắng khiến ai đọc qua cũng phải xao xuyến, bồi hồi. Bài thơ là một tác phẩm xuất sắc của Tố Hữu trong sự nghiệp thơ ca cách mạng và là một tiếng ca bất hủ trong lòng người yêu thơ ca Việt Nam.</p><h3>5. Phân tích Việt Bắc bức tranh tứ bình</h3><p>Tố Hữu được xem là “lá cờ đầu” trong phong trào thơ Cách mạng Việt Nam với những tác phẩm lưu mãi với thời gian. Thơ ông viết về chính trị nhưng không khô khan, mà ngược lại, dễ đi sâu vào lòng người bởi tình cảm và giọng văn trữ tình truyền cảm. “<strong>Việt Bắc</strong>” được sáng tác trong hoàn cảnh chia ly tiễn biệt giữa quân và dân tại căn cứ địa Việt Bắc sau kháng chiến chống Pháp. Bài thơ được xem như lời tâm tình chan chứa nỗi niềm của Tố Hữu đối với mảnh đất anh hùng này. Đặc biệt người đọc chắc hẳn sẽ không quên bức tranh tứ bình Việt Bắc bằng thơ tuyệt đẹp trong “Việt Bắc”.</p><p>Xuyên suốt bài thơ “Việt Bắc” là dòng tâm tư, tình cảm chan chứa và sâu lắng của Tố Hữu dành cho quân và dân từng tham gia trong cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ. Người đọc sẽ bắt gặp những hình ảnh gần gũi, đời sống bình dị, cả những con người chân chất Việt Bắc qua lời thơ Tố Hữu. Phải có một tình cảm da diết, phải là người “nặng” tình thì Tố Hữu mới thổi hồn vào từng câu đối đáp bằng thơ lục bát nhuần nhuyễn như vậy.</p><p>Có thể nói rằng điểm sáng của cả bài thơ toát lên từ bức tranh tứ bình tuyệt đẹp của núi rừng Việt Bắc qua giọng thơ dìu dặt, trầm bổng của Tố Hữu. Người đọc sẽ được chìm đắm trong khung cảnh hữu tình, nên thơ của “xứ Tiên” này.</p><p>Khổ thơ được mào đầu bằng câu đối đáp nhẹ nhàng giữa “ta” - “mình”:</p><p>Ta về mình có nhớ ta</p><p>Ta về ta nhớ những hoa cùng người</p><p>Thật khéo léo và tinh tế khi Tố Hữu truyền đạt tình cảm một cách kín đáo như thế này. Ngôn ngữ gần gũi, cách diễn tả nhẹ nhàng cũng đã khiến người đọc thấy rất thấm. Tố Hữu hỏi “người” nhưng thực ra là hỏi “mình” và câu trả lời nằm ngay trong câu hỏi. Lời mào đầu sâu sắc này sẽ dẫn người đọc lần lượt khám phá nét đặc trưng của núi rừng Việt Bắc trải dọc theo 4 mùa.</p><p>Dẫn dắt người đọc cùng tham quan cảnh tiên nơi Việt Bắc, Tố Hữu đã vẽ lên một bức tranh mùa đông ấm áp, tràn đầy tin yêu:</p><p>Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi</p><p>Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng</p><p>Người đọc ngẩn ngơ trước mùa đông nơi vùng cao Tây Bắc với vẻ đẹp đặc trưng của nó. Phải nói rằng tuy là mùa đông nhưng qua thơ Tố Hữu, cảnh sắc không buồn, không trầm lắng, mà người lại rất sáng, rất ấm áp qua hình ảnh “hoa chuối đỏ tươi”. Màu đỏ của hoa chuối chính là nét điểm xuyết, là ánh sáng làm bừng lên khung cảnh rừng núi mùa đông Việt Bắc. Đây được xem là nghệ thuật chấm phá rất đắc điệu của Tố Hữu giúp người đọc thấy ấm lòng khi nhớ về Việt Bắc.</p><p>Ánh nắng hiếm hoi của mùa đông hắt vào con dao mang theo bên người của người dân nơi đây bất chợt giúp người đọc thấu được đời sống sinh hoạt và lao động của họ. Màu đỏ của hoa chuối quyện với màu vàng của nắng trên đèo cao đã tạo thành một bức tranh mùa đông rạng rỡ, đầy hi vọng.</p><p>Đọc hai câu thơ này, người đọc dường như mường tượng ra khung cảnh mùa xuân nơi núi rừng thật hiền hòa, dịu êm, ấm áp. Màu trắng của mơ gợi lên một bức tranh nên thơ trên cái nền dịu nhẹ của màu sắc. Hoa mơ được xem là loài hoa báo hiệu mùa xuân ở Tây Bắc, cứ vào độ xuân thì, chúng ta sẽ bắt gặp trên những con đường màu sắc ấy. Mùa xuân Tây Bắc, Tố Hữu nhớ đến hình ảnh “người đan nón” với động tác “chuốt từng sợi giang” thật gần gũi.</p><p>Động từ “chuốt” được dùng rất khéo và tinh tế khi diễn tả về hành động chuốt giang mềm mại, tỉ mỉ của người đan nón. Phải thật sâu sắc và am hiểu thì Tố Hữu mới nhận ra được điều này. Chữ “chuốt” như thổi hồn vào bức tranh mùa xuân ở Việt Bắc, tạo nên sự hòa hợp thiên nhiên và con người.</p><p>Bức tranh mùa hè sôi động dưới ngòi bút của Tố Hữu:</p><p>Ve kêu rừng phách đổ vàng</p><p>Nhớ cô em gái hái măng một mình</p><p>Và cuối cùng chính là bức tranh mùa thu nhẹ nhàng:</p><p>Rừng thu trăng rọi hòa bình</p><p>Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung</p><p>Mùa thu về trên Tây Bắc với hình ảnh ánh trăng dịu, mát lành. Thiên nhiên dường như rất ưu ái cho mùa thu xứ Bắc với sự tròn đầy, viên mãn của ánh trăng. Không phải là ánh trăng bình thường, mà trăng nơi đây là trăng của hòa bình, ánh trăng tri kỉ rọi chiếu những năm tháng chiến tranh gian khổ. Chính ánh trăng ấy đã mang đến vẻ đẹp riêng của mùa thu Việt Bắc. Tố Hữu nhìn trăng, nhớ người, nhớ tiếng hát gợi nhắc ân tình và thủy chung.</p><p>Thật vậy với bốn cặp thơ lục bát ngắn gọn, bốn mùa của thiên nhiên Việt Bắc được gợi tả sắc nét, tràn đầy sức sống. Tác giả thật tài tình, khéo léo, vốn hiểu biết rộng cũng như tình cảm sâu nặng đối với mảnh đất này mới có thể thổi hồn vào thơ. Bức tranh tứ bình này sẽ khiến cho người đọc thêm yêu, thêm hiểu hơn cảnh vật và con người nơi đây.</p><h3>6. Phân tích Việt Bắc ta về mình có nhớ ta</h3><p><strong>Việt Bắc</strong> là một trong những đỉnh cao của thơ Tố Hữu nói riêng, của thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung. Bài thơ được viết vào tháng 10/1954, khi Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác Hồ và cán bộ kháng chiến từ giã “Thủ đô gió ngàn” về với “Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình”. Cả bài thơ là một niềm hoài niệm nhớ thương tuôn chảy về những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc rất gian khổ nhưng vui tươi hào hùng. Giữa trăm nghìn tình cảm nhớ thương tha thiết ấy, tác giả đặc biệt dành những cảm xúc đẹp nhất cho cảnh và người Việt Bắc:</p><p>Ta về, mình có nhớ ta</p><p>Ta về ta nhớ những hoa cùng người</p><p>Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi</p><p>Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.</p><p>Ngày xuân mơ nở trắng rừng</p><p>Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang</p><p>Ve kêu rừng phách đổ vàng</p><p>Nhớ cô em gái hái măng một mình</p><p>Rừng thu trăng rọi hòa bình</p><p>Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.</p><p>Mở đầu đoạn thơ là hai câu thơ giới thiệu nội dung bao quát cảm xúc chung của đoạn thơ:</p><p>Ta về, mình có nhớ ta</p><p>Ta về ta nhớ những hoa cùng người</p><p>Câu hỏi tu từ mình có nhớ ta vừa là lời đối thoại vừa là cái câu nối xuống câu dưới và đấy cũng là cái cớ để bày tỏ tấm lòng, nỗi niềm của mình. Với Tố Hữu người cán bộ ra đi không chỉ nhớ đến những ngày tháng gian khổ “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng” mà còn nhớ đến vẻ đẹp đáng yêu của “hoa cùng người”. Từ xưa đến nay, trong văn chương nghệ thuật, hoa và trăng là biểu tượng cho cái đẹp của thiên nhiên tạo vật.</p><p>Ở đây hoa tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên Việt Bắc. Hoa ở bên người để người mang gương mặt sắc màu của hoa. Người bên hoa để cho hoa mang hồn người. Hoa và người quấn quýt với nhau trong vẻ đẹp hài hòa đằm thắm để tạo nên cái nét riêng biệt, độc đáo của vùng đất này. Chính điều ấy đã tạo nên cấu trúc đặc sắc cho đoạn thơ. Trong bốn cặp lục bát còn lại, câu sáu dành cho nhớ hoa, câu tám dành cho nhớ người. Cảnh và người trong mỗi câu lại có những sắc thái đặc điểm riêng thật hấp dẫn.</p><p>Đọc đoạn thơ trên, chúng ta có cảm giác đoạn thơ được tác giả viết không hề trau chuốt mà như cứ tuôn chảy từ một tấm lòng nhớ thương da diết của người cán bộ về xuôi. Qua đây mà cảnh và người cùng những hoạt động của nó ở núi rừng chiến khu Việt Bắc cứ lần lượt hiện lên có đủ bốn mùa trong năm, mỗi mùa có một màu sắc, âm thanh chủ đạo tạo thành một bộ tứ bình đặc sắc: khi lắng dịu, khi rực rỡ chói chang, khi rộn ràng náo nức.</p><p>Ở đây ta thấy bức tranh mùa đông hiện về với màu xanh bát ngát bao la của cánh rừng, có điểm những bông chuối đỏ tươi như những bó đuốc thắp sáng rực tạo nên một bức tranh với đường nét, màu sắc vừa đối lập, vừa hài hòa, vừa cổ điển vừa hiện đại. Cái màu “đỏ tươi” của bông chuối nổi lên giữa màu xanh bát ngát của rừng, làm cho thiên nhiên Việt Bắc trở nên tươi sáng, ấm áp và như tiềm ẩn một sức sống, xua đi cái hoang sơ lạnh giá hiu hắt vốn có của núi rừng.</p><p>Cùng hiện lên với cái lung linh của hoa chuối ấy là con người của vùng chiến khu lên núi làm nương, phát rẫy sản xuất ra nhiều lúa khoai cung cấp cho kháng chiến. “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”. Trước thiên nhiên bao la, con người dường như càng trở nên kỳ vĩ, hùng tráng hơn. Ở đây nhà thơ không khắc họa gương mặt mà chớp lấy một nét thần tình rực sáng nhất. Đó là ánh mặt trời chớp lóe trên lưỡi dao rừng ở ngang lưng. Con người như một tụ điểm của ánh sáng. Con người ấy cũng đã xuất hiện ở một vị trí, một tư thế đẹp nhất. Đấy là cái tư thế làm chủ đầy kiêu hành và vững chãi: Giữa núi và nắng, giữa trời cao bao la và rừng xanh mênh mang. Con người ấy đã trở thành linh hồn của bức tranh mùa đông Việt Bắc.</p><p>Mùa đông qua đi thì mùa xuân lại về mang bao nhiêu điều tốt lành đến cho con người, báo hiệu những niềm vui, sức sống âm thầm đang trỗi dậy. Bao trùm lên cảnh vật mùa xuân là màu trắng dịu dàng, trong trẻo, tinh khiết của hoa mơ nở khắp rừng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng”, “trắng rừng” được viết theo phép đổi trật tự cú pháp và từ trắng được dùng như động từ có tác dụng nhấn mạnh vào màu sắc, màu trắng dường như lấn át tất cả mọi màu xanh của lá và làm bừng sáng cả khu rừng bởi sắc trắng mơ màng, bâng khuâng, dịu mát của hoa mơ.</p><p>Điều đó chứng tỏ đây là những giờ phút hoa mơ nở rộ nhất:</p><p>Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt</p><p>Trắng rừng biên giới nở hoa mơ</p><p>Bác về im lặng, con chim hót</p><p>Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ</p><p>(Tố Hữu)</p><p>Nổi bật trên cái nền của hoa mơ nở trắng ấy, là hình ảnh con người với công việc của mùa xuân: đan nên những chiếc nón tình nghĩa gửi tặng bộ đội, dân công “nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”. Hình ảnh thơ đã nói lên được bàn tay khéo léo, tài hoa, nhanh nhẹn, chăm chút và phẩm chất tần tảo của con người Việt Bắc.</p><p>Bức tranh trong nỗi nhớ của Tố Hữu không chỉ có màu đỏ tươi của hoa chuối, màu xanh ngắt của rừng, màu trắng muốt của hoa mơ, mà còn có cả màu vàng rực của rừng phách đang đổ “ve kêu rừng phách đổ vàng”. “Đổ vàng” có nghĩa là chuyển sang màu vàng nhưng nhiều và đậm hơn gợi cảm giác đột ngột. Màu của cây phách đổ vàng cả suối ngàn dường như làm cho ánh nắng của mùa hè và cả tiếng ve kêu râm ran kia nữa cũng trở nên óng vàng ra. Đây là một bức tranh sơn mài được vẽ lên bằng hoài niệm, nên lung linh ánh sáng, màu sắc và rộn rã âm thanh.</p><p>Tố Hữu không chỉ có biệt tài trong việc miêu tả vẻ đẹp riêng của từng mùa, mà còn có tài trong việc miêu tả sự vận động đổi thay của thời gian và cảnh vật. Chỉ trong một câu thơ trên mà ta thấy được cả thời gian luân chuyển sống động: tiếng ve kêu báo hiệu mùa hè đến và cây phách ngả sang màu vàng rực rỡ. Đây chính là một biểu hiện đặc sắc của tính dân tộc trong nghệ thuật thơ Tố Hữu qua bài Việt Bắc.</p><p>Hiện lên trong cái thiên nhiên óng vàng và rộn rã ấy là hình ảnh cô gái áo chàm cần mẫn đi hái búp măng rừng cung cấp cho bộ đội kháng chiến: “Nhớ cô em gái hái măng một mình”. Hái măng một mình mà không gợi lên ấn tượng về sự cô đơn, hiu hắt như bóng dáng của người sơn nữ trong thơ xưa; mà trái lại rất trữ tình, thơ mộng, gần gũi thân thương tha thiết. Hình ảnh thơ cùng gợi lên được vẻ đẹp chịu thương chịu khó của cô gái. Đằng sau đó, ẩn chứa biết bao niềm cảm thông, trân trọng của tác giả.</p><p>Thu sang, khung cảnh núi rừng chiến khu như được tắm trong ánh trăng xanh huyền ảo lung linh dịu mát:</p><p>Rừng thu trăng rọi hòa bình</p><p>Nhớ ai tiếng hát an tình thủy chung</p><p>“Trăng rọi hòa bình” là ánh tráng chiếu sáng không khí thanh bình nơi chiến khu kháng chiến. Những ai đã từng đi qua những tháng ngày “mưa bom bão đạn”, đi qua bao đêm “vầng trăng” cũng “quầng lên một vầng lửa máu”, thì mới thấy hết sự xúc động của lòng người trong những đêm trăng hòa bình đó. Vì vậy tả cảnh trăng rừng mà không thấy vắng lặng, lanh lẽo; mà trái lại đã gợi lên không khí rạo rực đắm say. Bởi giữa ánh trăng rừng ấy, đã vang lên tiếng hát mang đậm ân tình thủy chung của ai đó càng làm cho ánh trăng như sáng hơn và cùng lung linh, thắm đượm tình người Việt Bắc hơn.</p><p>Đây là đoạn thơ vừa sâu sắc về nội dung, vừa độc đáo về nghệ thuật. Nó xứng đáng là đoạn thơ hay nhất Việt Bắc. Đoạn thơ cũng thể hiện rõ phong cách thơ Tố Hữu: trữ tình sâu lắng, tha thiết ân tình và mang đậm tính dân tộc. Những câu thơ lục bát đậm đà âm hưởng ca dao, nhịp nhàng, uyển chuyển; câu nọ gọi câu kia, ý nọ gọi ý kia cứ tuôn trào lên dào dạt cảm xúc qua cách xưng hô "mình - ta", một cách xưng hô truyền thống thắm thiết tình nghĩa. Nhạc điệu dịu dàng trầm bổng khiến cho cả đoạn thơ mang âm hưởng bâng khuâng êm ái như một khúc hát ru kỷ niệm. Đặc biệt từ “nhớ” được lặp lại nhiều lần, mỗi lần một khác và sắc độ cứ tăng dần làm cụ thể hơn tấm lòng của người ra đi đôi với cảnh và người Việt Bắc.</p><p>Với những nét chấm phá đơn sơ giản dị, vừa cổ điển vừa hiện đại, đoạn thơ trên của Tố Hữu đã làm nổi bật được bức tranh cảnh và người qua bốn mùa của chiến khu Việt Bắc. Cảnh và người hòa hợp với nhau tô điểm cho nhau, làm cho bức tranh trở nên gần gũi, thân quen, sống động và có hồn hơn. Tất cả đã tan chảy thành nỗi nhớ nhung quyến luyến thiết tha trong tâm hồn người cán bộ về xuôi.</p><h3>7. Phân tích Việt Bắc nhớ gì như nhớ người yêu</h3><p>Tố Hữu, một cái tên không hề xa lạ với bạn đọc yêu thơ. Quả thật là vậy, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định Tố Hữu đã và sẽ luôn là ngọn cờ tiên phong tiêu biểu cho nền thơ ca Cách mạng Việt Nam. Ở Tố Hữu, con người chính trị và con người nhà thơ gắn bó chặt chẽ với nhau, sự hòa hợp giữa chất trữ tình và chính trị được ẩn hiện qua từng tác phẩm mà nổi bật nhất là bài <strong>Việt Bắc</strong>. Đây là bài thơ ghi lại những tình cảm sâu nặng, những nỗi nhớ da diết của một người cán bộ về xuôi với con người thiên nhiên Tây Bắc. Phân tích và <strong>cảm nhận khổ thơ thứ 5 Việt Bắc</strong> sau đây để thấy tình cảm nhớ nhung của tác giả với cảnh, người cùng cuộc kháng chiến:</p><p>“Nhớ gì như nhớ người yêu</p><p>Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương</p><p>Nhớ từng bàn khói cùng sương</p><p>Sớm khuya bếp lửa người thương đi về</p><p>Nhớ từng rừng nứa bờ tre</p><p>Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy</p><p>Ta đi ta nhớ những ngày</p><p>Mình đây ta đó, đắng cây ngọt bùi”</p><p>Việt Bắc là căn cứ cách mạng, là đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp. Thiên nhiên và đồng bào Việt Bắc đã cưu mang, che chở cho Đảng và Chính phủ suốt 15 năm trời. Bài thơ Việt Bắc được sáng tác vào khoảng thời gian tháng 10/1954, là lúc các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời khỏi Tây Bắc để trở về Hà Nội. Đây là một bài thơ dài ghi lại tình cảm lưu luyến của cán bộ và nhân dân và cũng là lời khẳng định tình cảm thủy chung của người cán bộ về xuôi với Việt Bắc, với cuộc kháng chiến, với cách mạng.</p><p>Đoạn trích trên nằm ở khổ ba thuộc phần 1 của bài thơ nói về những kỷ niệm cùng nỗi nhớ với thiên nhiên con người Việt Bắc. Một nỗi nhớ da diết, khôn nguôi được tác giả hình dung thật lạ:</p><p>“Nhớ gì như nhớ người yêu</p><p>Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”</p><p>Một chữ “gì” hàm chứa biết bao điều, phải chăng đó chính là nỗi nhớ thiên nhiên, với nhân dân cùng quãng thời gian kháng chiến đầy ắp kỷ niệm. Nhớ “như nhớ người yêu”, hình ảnh so sánh thật đầy ý nghĩa, nỗi nhớ sao thật dai dẳng triền miên, luôn thường trực trong tâm trí. Một khung cảnh hiện ra đã hoàn toàn khẳng định đối tượng được nhớ đến - Việt Bắc: "Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương” rồi sau đó là những hình ảnh miêu tả không gian thơ mộng đậm chất núi rừng Việt Bắc:</p><p>“Nhớ từng bản khói cùng sương</p><p>Sớm khuya bếp lửa người thương đi về”</p><p>Hình ảnh thiên nhiên Việt Bắc được liệt kê đến từng chi tiết. Rõ ràng tác giả vẫn nhớ rất rõ những kỷ niệm cùng khung cảnh Việt Bắc. “Người thương”, hai chữ thôi nhưng chứa đựng biết bao ân tình. Đây chính là những con người Việt Bắc đã cưu mang, che chở cho cán bộ trong suốt một quãng thời gian dài gian khó. “Bếp lửa” - hình ảnh của một gia đình ấm cúng thường thấy, phải chăng tác giả đã xem nơi đây như là gia đình thứ hai của mình. Vần chân “sương” và “người thương” làm cho giọng điệu câu văn trở nên da diết, diễn tả một nỗi nhớ bịn rịn, lưu luyến, không muốn rời xa.</p><p>Vẫn tiếp tục là nỗi nhớ, nhưng dường như ngày càng sâu đậm hơn với những tên gọi địa danh gắn liền với quá khứ cách mạng mà tác giả từng trải qua:</p><p>“Nhớ từng rừng nứa bờ tre</p><p>Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”</p><p>Dù là một nơi nhỏ trong chốn núi rừng Việt Bắc bao la, nhưng dường như trong ký ức của tác giả nó cũng trở nên quan trọng, không bao giờ có thể quên. Một sự khẳng định chắc chắn… không bao giờ có thể quên:</p><p>“Ta đi ta nhớ những ngày</p><p>Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi”</p><p>Dù bản thân có đi xa, dù có ở nơi chốn nào thì vẫn sẽ luôn nhớ về “mình”. Ngôn từ xưng hô thật giản dị mà thân thương. “Mình” cùng “ta” nào có thể quên được những “đắng cay ngọt bùi” đã trải qua. Hình ảnh ẩn dụ “đắng cay” chính là những khó nhọc, gian nan mà nhân dân cùng cán bộ đã phải trải qua trong suốt thời kỳ kháng chiến, còn niềm vui chiến thắng không gì khác chính là “ngọt bùi”. Từng nỗi nhớ như tràn ngập trong tâm hồn Tố Hữu biểu hiện cho một tình cảm sâu nặng tựa như nỗi tương tư đến “người thương”. Điệp từ “nhớ” được lặp đi lặp lại càng khắc sâu hơn sự nhớ nhung nghìn trùng tha thiết của tác giả đối với Việt Bắc.</p><p>Cả đoạn thơ mang đậm màu sắc dân tộc, thể hiện rõ hồn thơ của Tố Hữu. Điệp từ “nhớ” cùng lối so sánh đặc biệt để bộc lộ một cảm xúc thương nhớ dạt dào. Cách gieo vần, sử dụng tài tình thể thơ lục bát đã làm cho đoạn thơ mang âm điệu ngọt ngào, êm ái. Việc liệt kê một loạt những hình ảnh cùng địa danh của Việt Bắc đã khắc họa thật sâu nỗi niềm thương nhớ của một người chiến sĩ - thi sĩ đối với quê hương thứ hai của mình.</p><p>Đoạn thơ trên chính là bản tình ca về lòng chung thủy sắt son, chính là tiếng lòng của nhà thơ, hay cũng chính là của những người Việt Nam trong kháng chiến. Với những câu thơ dạt dào cảm xúc, Tố Hữu đã thể hiện thành công tình cảm của người cán bộ dành cho thiên nhiên, nhân dân Việt Bắc không chỉ là tình cảm công dân xã hội mà còn là sự sâu nặng như tình yêu lứa đôi. Nhờ vậy Việt Bắc đã trở thành thành phần tiêu biểu cho văn học Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp.</p><p>Bằng những vần thơ đậm chất dân tộc, nỗi nhớ cùng tình cảm chung thủy sắt son giữa người cán bộ với nhân dân, thiên nhiên Việt Bắc cùng cuộc kháng chiến được khắc họa rõ nét. Thật hiển nhiên, Tố Hữu xứng đáng trở thành ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam.</p><h3>8. Phân tích Việt Bắc những đường Việt Bắc của ta</h3><p>Bài thơ <strong>Việt Bắc</strong> là một trong những đỉnh cao của thơ Tố Hữu và thơ ca kháng chiến chống Pháp, thông qua cuộc đối đáp có tính chất tưởng tượng của kẻ ở người đi đầy lưu luyến vấn vương thương nhớ. Bài thơ không chỉ ngợi ca những tình cảm điển hình của con người kháng chiến mà còn làm tái hiện lại một cách chân thực và sinh động bức tranh “Việt Bắc ra trận” rất hùng vĩ qua những vần thơ đầy hào hùng:</p><p>Những đường Việt Bắc của ta</p><p>Đêm đêm rầm rập như là đất rung</p><p>Quân đi điệp điệp trùng trùng</p><p>Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan</p><p>Dân công đỏ đuốc từng đoàn</p><p>Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay</p><p>Nghìn đêm thăm thẳm sương dầy</p><p>Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.</p><p>Ngay ở câu thơ đầu tiên mở đầu đoạn thơ tác giả đã nêu lên cái nhìn khái quát chung cuộc kháng chiến của ta là một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Đây là một cuộc chiến tranh sáng ngời chính nghĩa hợp với ý trời lòng dân. Cho nên lực lượng của ta ngày càng trưởng thành lớn mạnh không ngừng. Từ một đội quân trên dưới 30 người xuất phát từ cây đa Tân Trào hôm nào, dưới sự chi huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp, hôm nay chúng ta đã có một đội quân hùng mạnh liên tiếp gặt hái được những chiến công chói lọi: Thu Đông, Sông Lô, Biên Giới…</p><p>Giờ đây, chúng ta đang chuẩn bị tổng phản công bằng một chiến dịch lịch sử. Chúng ta hoàn toàn làm chủ chiến trường Việt Bắc cả về thế lẫn lực. Cho nên đoàn quân ra trận hôm nay xuất phát từ mọi ngả đường Việt Bắc như những gọng kìm nhằm bao vây quân giặc đang co cụm ở những cứ điểm cuối cùng:</p><p>Những đường Việt Bắc của ta</p><p>Đêm đêm rầm rập như là đất rung</p><p>“Những đường” chứ không phải “một đường” và Việt Bắc là “của ta”. Câu thơ bình dị mà chất chứa biết bao niềm tự hào về quang cảnh ra trận và khí thế của ta trên chiến thắng.</p><p>Câu thơ thứ hai mở ra một bối cảnh khác, đó là ngày kháng chiến chống Pháp, máy bay địch chủ yếu hoạt động ban ngày. Do đó ta phải hành quân đêm “xưa là rừng núi là đêm” (Tố Hữu). Trên các nẻo đường Việt Bắc đêm nối đêm cứ “rầm rập” tiến quân ra trận. Từ láy “rầm rập” là một từ tượng thanh rất gợi cảm. Nó diễn tả bước chân đi đầy khí thế hăng say và sức mạnh áp đảo của một tập thể người đông đúc có đội ngũ chỉnh tề. Với từ “rầm rập” đặc sắc ấy, cuộc ra trận của quân ta bỗng trở thành một cuộc duyệt binh, diễu binh hùng tráng:</p><p>Xuân hãy xem! Cuộc diễn binh hùng vĩ</p><p>Ba mươi mốt triệu nhân dân</p><p>Tất cả hành quân</p><p>Tất cả thành chiến sĩ.</p><p>Vì thế mà bước chân của đoàn quân ấy đêm đêm như làm rung chuyển cả mặt đất. Hình ảnh thơ mang đậm màu sắc thần thoại.</p><p>Từ cái nhìn chung ở câu một và hai đến đây, tác giả đi vào cái nhìn cụ thể. Nếu câu trên, tác giả tả khí thế ra trận của quân ta qua ấn tượng thính giác, thì các câu sau, tác giả tả bằng thị giác: “Quân đi điệp điệp trùng trùng”. Từ láy “điệp điệp trùng trùng” thật giàu ý nghĩa diễn tả. Nó gợi lên trong ta hình ảnh những đoàn quân ra trận nối dài vô tận và rất hùng vĩ như những dãy núi kế tiếp nhau vậy.</p><p>Sau này nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng đã viết:</p><p>Từ nơi em gửi tới nơi anh</p><p>Những đoàn quân trùng trùng ra trận</p><p>Như tình yếu nối trời vô tận</p><p>Ở đây ta lại bắt gặp một hình ảnh thơ được viết với bút pháp cường điệu mang đậm màu sắc anh hùng ca. Vì vậy sức mạnh khí thế của đoàn quân ra trận đã được nâng ngang tầm với sức mạnh của thiên nhiên sông núi.</p><p>“Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”</p><p>Câu thơ vừa có ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩa khái quát tượng trưng sâu xa. Trước hết nó diễn tả đoàn quân đi trong đêm, đầu súng lấp lánh ánh sao trời. Nhưng đó cũng là lấp lánh ánh sao lý tưởng.</p><p>Anh đi bộ đội sao trên mũ</p><p>Mãi mãi là sao sáng dẫn đường</p><p>(Vũ Cao)</p><p>Hình ảnh tươi sáng ấy kết hợp với hình ảnh chiếc mũ nan giản dị trang bị còn thiếu thốn của anh bộ đội, tạo cho anh một vẻ đẹp bình dị mà cao cả, bình thường mà vĩ đại. Nhà thơ Chính Hữu cùng đã có câu thơ rất hay “Đầu súng trăng treo”.</p><p>Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện. Cho nên trong cuộc tổng phản công hôm nay có đủ mọi binh chủng, tầng lớp ra trận. Tiếp theo những binh đoàn bộ đội, là dân công tiếp tế lương thực, đạn dược. Cùng như những người chiến sĩ rầm rập lên đường, những nam nữ dân công cũng vào trận đầy khí thế và sức mạnh. “Nát đá” được viết theo phép đảo ngữ, từ dùng rất bạo khoẻ vừa gợi lên được những gánh hàng rất nặng vừa nói lên bước chân đầy sức mạnh tiến công của họ. Ngày nào dân ta mơ ước “Trông trời, trông đất, trông mây… trông cho chân cứng đá mềm” thì giờ đây niềm mơ ước ấy đã trở thành hiện thực kì diệu ở chiến trường Điện Biên.</p><p>“Muôn tàn lửa bay” - một hình ảnh rất đẹp. Đoàn dân công đi dưới ánh đuốc, có “muôn tàn lửa bay”. Đó là lửa của đuốc đang bay, hay có cả ánh từ trái tim của người anh, chị dân công hỏa tuyến? Ở hai câu thơ này, tác giả sử dụng được nhiều hình ảnh giàu màu sắc tạo hình vừa chân thực, vừa bay bổng. Đoàn dân công đi vào chiến dịch mà như thể đi trong đêm hội hoa đăng. Thật đẹp đẽ biết bao mà cũng tự hào biết bao về khí thế và niềm vui ra trận của quân ta. Đúng “cách mạng là ngày hội của quần chúng” (Mác).</p><p>Hai câu thơ cuối cùng của đoạn thơ cho ta thấy khí thế khẩn trương của cuộc kháng chiến:</p><p>Nghìn đêm thăm thẳm sương dày</p><p>Đèn pha bật sáng như ngày mai lên</p><p>Tiếp theo đoàn dân công là những đoàn xe chở vũ khí đạn dược ra chiến trường. Xe nối đuôi nhau, đèn pha bật sáng trưng như ánh sáng ban ngày. Chỉ bằng một hình ảnh ấy, Tố Hữu đã diễn tả được cái đông đảo hùng mạnh của lực lượng cơ giới quân ta. Hai câu thơ có hai hình ảnh đối lập: “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày” với “Đèn pha bật sáng như ngày mai lên” đã làm nổi rõ được sự trưởng thành vượt bậc của quân ta và niềm tin tất thắng của những người ra trận. Mới hôm nào, chúng ta phải mai phục, nương náu nơi rừng sâu, núi thẳm hàng ngàn đêm tăm tối gian khổ “thăm thẳm sương dày” để có giờ phút bừng sáng quật khởi đầy niềm tin chói lọi này.</p><p>Chỉ bằng tám câu thơ, Tố Hữu đã khắc họa được một bức tranh cả dân tộc ra trận bằng cuộc chiến tranh nhân dân thật hùng tráng. Bức tranh không chỉ làm sống dậy một thời kỳ hào hùng của dân tộc ở căn cứ địa Việt Bắc đang chuẩn bị cho một chiến công “lừng lẫy Điện Biên chấn động địa cầu” mà còn đem lại cho ta niềm tin yêu quê hương cách mạng anh hùng. Nó xứng đáng là một trong những đoạn thơ hay nhất của Việt Bắc.</p><p>(Cô Nguyễn Thị Thanh Huyền, GV THPT chuyên Hùng Vương, Việt Trì, Phú Thọ)</p><p><strong>&gt;&gt;&gt;</strong> Tìm đọc tham khảo thêm top 5 bài văn hay phân tích đoạn thơ Những đường Việt Bắc của ta do Đọc Tài Liệu tổng hợp để có thêm tư liệu cho bài làm của mình nhé.</p><h3>9. Phân tích Việt Bắc thầy Nhật</h3><p>Tố Hữu một hồn thơ dân tộc, một nhà thơ lớn trong nền văn học Việt Nam. Có thể nói những tác phẩm của ông không chỉ thể hiện tư tưởng, lẽ sống của bản thân mình mà qua đó ta còn thấy được những sự kiện quan trọng của cách mạng nước nhà. Tháng 10 - 1954 sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ bộ đội ta phải chuyển lực lượng thủ đô và chia tay với chiến khu Việt Bắc. Kẻ ở người đi lòng không khỏi nhớ thương nuối tiếc tình quân dân trong mười lăm năm kháng chiến. nhân sự kiện trọng đại cùng với tâm trạng nỗi niềm ấy Tố Hữu đã viết bài thơ Việt Bắc.</p><p>Mở đầu bài thơ <strong>Việt Bắc</strong> là cuộc chia tay của những người kháng chiến và những người dân nơi đây:</p><p>“Mình về mình có nhớ ta </p><p>Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. </p><p>Mình về mình có nhớ không </p><p>Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?</p><p>Tiếng ai tha thiết bên cồn </p><p>Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi </p><p>Áo chàm đưa buổi phân ly </p><p>Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay...”</p><p>Tám câu thơ đầu là khung cảnh cũng như tâm trạng của cuộc chia tay. Bao giờ cũng vậy “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Sau bao nhiêu năm chung sống ở mảnh đất Việt Bắc, sống trong tình quân dân chan hòa nồng thắm ấy thế mà nay những người chiến sĩ đành phải cất bước ra đi. Mảnh đất gắn bó như thế bây giờ cũng phải chia tay. Cặp xưng hô "mình - ta" thể hiện sự gần gũi thân thiết của cản bộ và người dân. Cái tình cảm ấy giống như những người thân trong gia đình mình vậy.</p><p>Bốn câu thơ đầu là lời của người ở, những người dân Việt Bắc hỏi đầy lưu luyến rằng người chiến sĩ có còn nhớ mười lăm năm thiết tha mặn nồng ấy. Không biết rằng những người chiến sĩ về có còn nhớ không, nhớ con người, nhớ núi rừng nơi đây. Những người chiến sĩ cách mạng cũng như đáp lại những ân tình ấy. Trong lòng người chiến sĩ ấy cũng lưu luyến những kỉ niệm nơi đây không khác gì so với người dân. Các chiến sĩ như cảm nhận được sự tha thiết trong câu hỏi của những người dân ấy. Lòng các chiến sĩ bâng khuâng, bồn chồn không muốn bước.</p><p>Có thể nói các từ láy ấy đã thể hiện phần nào cảm xúc trong lòng người chiến sĩ. Nghệ thuật hoán dụ với hình ảnh “áo chàm” chính là để chỉ người dân Việt Bắc bịn rịn trong màu áo ấy đưa tiễn các chiến sĩ về với thủ đô. Kẻ ở người đi mà cầm tay nhau nhưng lại không biết nói lên điều gì. Có lẽ không cần nói mà cả hai đều biết được những ý nghĩa trong lòng nhau.</p><p>Thế rồi trong hoàn cảnh ấy toàn thể những con người ở lại cất lên lời nói để nhắc lại những kỉ niệm trong mười lăm năm thiết tha mặn nồng ấy:</p><p>“Mình đi, có nhớ những ngày </p><p>Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù </p><p>Mình về, có nhớ chiến khu </p><p>Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai? </p><p>Mình về, rừng núi nhớ ai </p><p>Trám bùi để rụng, măng mai để già </p><p>Mình đi, có nhớ những nhà </p><p>Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son </p><p>Mình về, còn nhớ núi non </p><p>Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh </p><p>Mình đi, mình có nhớ mình </p><p>Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”</p><p>Vẫn tiếng gọi mình thiết tha những người dân Việt Bắc nhắc lại những ngày mưa nguồn suối lũ về, cả trời đất mây mù che kín. Khoảnh khắc khó khăn ấy người dân luôn có những chiến sĩ kề bên. Hay người chiến sĩ kia về thì có nhớ đến chiến khu hay không, chiến khu ấy nghèo chỉ có cơm chấm muối thế nhưng nó tràn đầy những niềm yêu thương cưu mang đùm bọc của nhân dân nơi đây.</p><p>Và trong hoàn cảnh chiến tranh khó khăn như thế miếng cơm chấm muối kia là đã quá đầy đủ rồi. Mối thù nặng vai người chiến sĩ, người dân như san sẻ gánh nặng ấy cho người chiến sĩ. Những người chiến sĩ về Hà Nội có còn nhớ đến rừng núi đất trời nơi đây. Và bây giờ trám bùi thì để rụng còn măng mai để già. Những gì của thiên nhiên Việt Bắc vốn là để cho những chiến sĩ cách mạng thì giờ đây người đi những thứ ấy lại để rụng để già.</p><p>Những từ "nhớ... như" điệp đi điệp lại nhiều lần như vang vào trong lòng người những nhớ thương không muốn rời. Cặp xưng hô mình - ta như biến hóa thành nhiều nghĩa, cứ lúc thì chỉ người ở lại nhưng lúc lại chỉ người ra đi. Điều đó thể hiện sự yêu thương gắn bó của những con người nơi đây với các anh chiến sĩ. Kẻ ở như thâu tóm cả thiên nhiên và con người Việt Bắc với những tình cảm của một tấm lòng son sắc không phai. Những địa danh được nhắc đến như chứng minh cho những trận chiến thắng mà các anh chiến sĩ đã lập nên tại đây.</p><p>Trước những lời chia tay thương nhớ thiết tha ấy, người chiến sĩ cách mạng cũng như trải lòng mình nói lên những tâm tư tình cảm gắn bó:</p><p>“Ta với mình, mình với ta </p><p>Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh </p><p><i>...</i></p><p>Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều </p><p>Chày đêm nện cối đều đều suối xa...”</p><p>Tố Hữu cũng học cách nói dân dã như chính những người nhân dân nơi đây vậy. Dù người chiến sĩ cách mạng ra đi thế nhưng trong lòng vẫn không thể nào quên được những kỉ niệm tình cảm ấy. Nghĩa tình giữa kẻ ở và người đi tựa như nước trong con suối kia vậy. Nó dào dạt ào ạt mãi mãi. Và những người chiến sĩ vẫn mãi đinh ninh một lời thề sắc son với người dân Việt Bắc.</p><p>Từng kỉ niệm gắn bó như được thuật lại trong từng câu nói của người ra đi. Từ kỉ niệm về bát cơm thì sẻ nửa, chăn sui đắp cùng. Nhớ cả những người mẹ Việt Bắc với dáng hình địu con lên nương hái bắp. Một vẻ đẹp cần cù chịu thương chịu khó của nhân dân. Không những thế cả những giây phút cùng nhau học cái chữ quốc ngữ nữa. Đó là thái độ trật tự nghiêm túc của tất cả mọi người. Và những giờ liên hoan trong ánh đuốc lập lòe, những ngày tháng ấy như mãi khắc sâu vào trong tâm trí của người ra đi. Để mãi khi về đến thủ đô gió ngàn vẫn không sao quên tiếng mõ rừng chiều cùng chày đêm nện cối. Qua đây ta thấy được những tấm lòng của cả hai bên dành cho nhau vô cùng nồng ấm và tha thiết.</p><p>Các anh chiến sĩ lại kể tiếp về những hình ảnh thiên nhiên nơi đây hiện lên qua những lời kể ấy thật sự rất đẹp. Những câu thơ như vẽ lên một bức tranh tứ quý nơi đây, bốn mùa thiên nhiên hiện lên vô cùng đẹp:</p><p>“Ta về, mình có nhớ ta </p><p>Ta về ta nhớ những hoa cùng người </p><p>Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi </p><p>Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. </p><p>Ngày xuân mơ nở trắng rừng </p><p>Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang </p><p>Ve kêu rừng phách đổ vàng </p><p>Nhớ cô em gái hái măng một mình </p><p>Rừng thu trăng rọi hòa bình </p><p>Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”</p><p>Có thể nói rằng xưng hô "mình - ta" lại một lần nữa được thay đổi, "ta" ở đây chính là những người chiến sĩ cách mạng. Còn "mình" chính là những người dân ở lại. Những người chiến sĩ ấy cũng đã hỏi những người ở lại rằng có nhớ họ không. Hỏi như thế nhằm thể hiện sự lưu luyến yêu thương với mảnh đất và con người ở đây. Không biết rằng họ có nhớ không còn những người chiến sĩ lại nhớ cả hoa cùng người. Hoa kia chính là để chỉ cho thiên nhiên Việt Bắc.</p><p>Sau câu hỏi và sự bày tỏ tình cảm của mình ấy, những người chiến sĩ nhắc đến những cảnh vật và hoạt động của con người Việt Bắc gắn liền với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Thế nhưng nhà thơ lại chọn miêu tả thiên nhiên và con người nơi đây vào mùa đông trước bởi vì họ đến đây vào mùa đông và ra đi cũng vào mùa đông. Mùa đông hiện lên với hình ảnh của những hình ảnh của rừng xanh và màu đỏ tươi của hoa chuối. Con người hiện lên với vẻ đẹp kiên cường chinh phục tự nhiên.</p><p>Đến mùa xuân thì cảnh Việt Bắc hiện lên với hình ảnh hoa mơ trắng tinh khiết khắp rừng, con người thì hiện lên với vẻ đẹp của sự cần mẫn trong lao động. Mùa xuân qua đi mùa hè lại đến thiên nhiên được thay từ màu trắng hoa mơ thành màu vàng của rừng phách. Người con gái hái măng một mình. Đến mùa thu thiên nhiên lại ngập tràn trong ánh trăng rằm soi sáng. Người chiến sĩ nhớ đến những người nhân dân Việt Bắc với khúc hát ân tình thủy chung.</p><p>Như vậy qua từng ấy câu thơ thiên nhiên và con người Việt Bắc hiện lên thật đẹp như đang níu giữ bước chân người ra đi. Thế rồi hàng loạt những địa danh gắn liền với những hoạt động cách mạng của những người chiến sĩ được nhà thơ liệt kê ra như để khắc sâu vào trong tâm khảm mỗi người chiến sĩ về tình quân dân đã làm nên chiến thắng vang dội:</p><p>“Nhớ khi giặc đến giặc lùng</p><p>Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây</p><p>Núi giăng thành lũy sắt dày</p><p>Rừng che bộ đội rừng vây quân thù</p><p>Mênh mông bốn mặt sương mù</p><p>Ðất trời ta cả chiến khu một lòng.</p><p>Ai về ai có nhớ không?</p><p>Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng</p><p>Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng</p><p>Nhớ từ Cao - Lạng nhớ sang Nhị Hà...”</p><p>Chính thiên nhiên cũng như đang che chở cho những người con Việt Nam. Những núi đá dựng thành chiến hào thành quách để che chở cho người chiến sĩ và nhân dân nơi đây khỏi những bom đạn của quân thù. Và khi ấy cả bộ đội cả dân quân đều cùng nhau làm nên lịch sử. Trên dưới một lòng quyết tâm đánh địch. Người về nhưng trong tâm trí vẫn nhớ đến những khoảnh khắc đánh trận và những địa danh kia.</p><p>Và thế rồi không ai bảo ai cả kẻ ở người đi đều nhớ đến những ngày ráo riết chuẩn bị hành quân cho cuộc chiến đấu chống lại chiến dịch của thực dân Pháp. Khi ấy chính là lúc tình quân dân thể hiện rõ nhất:</p><p>“Những đường Việt Bắc của ta</p><p>Ðêm đêm rầm rập như là đất rung</p><p>Quân đi điệp điệp trùng trùng</p><p>Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan</p><p>Dân công đỏ đuốc từng đoàn</p><p>Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.</p><p>Nghìn đêm thăm thẳm sương dày</p><p>Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.</p><p>Tin vui chiến thắng trăm miền</p><p>Hòa Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về</p><p>Vui từ Ðồng Tháp, An Khê</p><p>Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.”</p><p>Đó là cảnh hành quân của những người chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc. Tất cả đồng lòng như một, "ánh sao" để chỉ người chiến sĩ còn "mũ nan" chính là những người dân quân Việt Bắc. Cả hai cùng đồng lòng trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Những đoàn dân quân với những ngọn đuốc trên tay như soi sáng cả bầu trời Việt Bắc. Ngọn đuốc ấy như một lý tưởng quyết tâm chiến đấu để bảo vệ đất nước đánh đuổi kẻ thù. Khí thế của tất thảy với sức mạnh giống như là nát đá.</p><p>Bằng biện pháp nghệ thuật phóng đại, sức mạnh của nhân dân ta như được thể hiện rõ hơn. Nghìn đêm nhân dân ta phải sống trong cảnh khó khăn vất vả, cuộc sống khó khăn như đêm tối vậy. Thế rồi hình ảnh “đèn pha” bật sáng lên như thể hiện một niềm tin vào tương lai tươi sáng của những nhân dân ta. Họ đã sống trong khốn khổ để bật phá rũ bùn đứng dậy đấu tranh vì một niềm tin vào tự do hạnh phúc. Bọn giặc kia sẽ phải cút ra khỏi đất nước ta trả lại cho nhân dân ta một cuộc sống tự do và toàn vẹn lãnh thổ.</p><p>Vậy là sau bao nhiêu khổ cực khó khăn nhân dân ta đã dành được chiến thắng. Tin vui ấy vui trăm mình, từ Hòa Bình, đến Tây Bắc và Điện Biên cũng như chung vui với niềm chiến thắng ấy. Tất cả những địa danh ấy đều như thể hiện niềm vui của cả nước.</p><p>Để kết cho niềm vui lẫn niềm nhớ thương lưu luyến không muốn rời ấy nhà thơ cất lên những niềm tự hào về dân tộc. Đồng thời đó cũng là những giây phút nhớ về cảnh sinh hoạt Đảng, biết bao nhiêu việc bàn luận ở hang động núi rừng:</p><p>Ai về ai có nhớ không?</p><p>Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang.</p><p>Nắng trưa rực rỡ sao vàng</p><p>Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công</p><p>Ðiều quân chiến dịch thu đông</p><p>Nông thôn phát động, giao thông mở đường</p><p>Giữ đê, phòng hạn, thu lương</p><p>Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu...</p><p>Ở đâu u ám quân thù</p><p>Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi</p><p>Ở đâu đau đớn giống nòi</p><p>Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.</p><p>Mười lăm năm ấy ai quên</p><p>Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa</p><p>Mình về mình lại nhớ ta</p><p>Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào.”</p><p>Ngày những người chiến sĩ trở về với miền xuôi nghe trong lòng vẫn bâng khuâng nhớ đến những ngày tháng cùng nhau kháng chiến. Những cuộc họp những niềm vui đều được thể hiện trong những câu thơ cuối này. Lá cờ đỏ sao vàng như chứng minh cho thắng lợi của nhân dân ta. Ở đâu còn rợp bóng quân thù thì ở đó có Đảng và Bác Hồ.</p><p>Chính vì thế mà tất cả hãy trông về miền Bắc mà nuôi chí bền. Vì chỉ khi có chí mới làm nên được mọi việc, thắng trận ngay cả khi quân thù có đủ điều kiện hơn ta về mọi mặt. Mười lăm năm kháng chiến sẽ còn mãi trong lòng những người chiến đấu và cả nhân dân ở đây nữa. Bao nhiêu gian khổ là bấy nhiêu tình cảm.</p><p>Như vậy nhà thơ Tố Hữu đã thể hiện những tâm sự của mình nói riêng và của tất cả những chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc nói chung. Mười lăm năm kháng chiến với biết bao nhiêu kỉ niệm và giờ đây khi phải xa nhau thấy lòng mình thật muốn vỡ òa trong nức nở. Chân không muốn rời xa. Qua đây ta thấy được tình nghĩa đoàn kết keo sơn của con người Việt Nam mà cụ thể đó là tình quân dân. Để đạt được những thắng lợi trên mặt trận ấy thì không thể nào quên ơn những người nhân dân Việt Bắc được.</p><p>(Nguồn: Lớp văn thầy Nhật)</p><h3>10. Phân tích Việt Bắc nhớ khi giặc đến giặc lùng</h3><p>Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống, tình cảm cách mạng của con người Việt Nam hiện đại nhưng mang đậm chất dân tộc, truyền thống. Tố Hữu có nhiều tập thơ với nhiều bài thơ có giá trị, trong đó có bài thơ “Việt Bắc”. Đoạn thơ sau là nỗi nhớ về một Việt Bắc trong kháng chiến thật hào hùng:</p><p>Nhớ khi giặc đánh giặc lùng</p><p>Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây</p><p>Núi giăng thành lũy sắt dày</p><p>Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù</p><p>Mênh mông bốn mặt sương mù</p><p>Đất trời ta cả chiến khu một lòng</p><p>Ai về ai có nhớ không ?</p><p>Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng</p><p>Nhớ sông Lô, nhớ Phố Ràng</p><p>Nhớ từ Cao - Lạng, nhớ sang Nhị Hà...</p><p>Bốn câu thơ đầu, người cán bộ nhớ về thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc:</p><p>Nhớ khi giặc đánh giặc lùng</p><p>Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây</p><p>Núi giăng thành lũy sắt dày</p><p>Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù</p><p>Trong những ngày đầu kháng chiến gian khổ của giai đoạn cầm cự, phòng ngự, bộ đội phải dựa vào dân, dựa vào núi rừng Việt Bắc hiểm trở để đánh địch. Trước giờ khắc quyết định của lịch sử, không chỉ nhân dân mà cả núi rừng cũng đều vùng lên, chung sức đánh Tây. Với cuộc kháng chiến đầy gian lao của quân và dân Việt Bắc, núi rừng cũng trở nên có chí, có tình người, đã trở thành những người bạn, những người đồng đội, những chiến sĩ anh hùng của toàn quân.</p><p>Chỉ với bốn câu thơ, chữ “rừng” và “núi” được lặp đi lặp lại đến năm lần như tạo thành thế hiểm của lũy thép vây bọc quân thù. Nhớ về lúc kháng chiến, khi giặc đánh giặc lùng, cũng là khi quân ta đang khó khăn xoay sở tình thế, ta biết địch mạnh hơn ta rất nhiều, nhưng trên trận địa quen thuộc nói là thua địch cũng không phải là dễ. Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây, bằng phép nhân hóa, rừng bạt ngàn cây, với núi bao la đá để rồi trên dưới một lòng cùng con người đánh đuổi quân xâm lược. Đồng thời thể hiện tình cảm giữa con người kháng chiến và thiên nhiên núi rừng Việt Bắc rất tha thiết, bao la.</p><p>Ở cặp lục bát thứ hai ta sẽ thấy rõ hơn công việc của thiên nhiên núi rừng Việt Bắc. Núi thì giăng thành lũy, rừng thì đảm nhận hai công việc. Như một người mẹ che chở cho con mình, rừng bao bọc cho bộ đội trước mặt kẻ thù cướp nước. Rừng trở nên kiên quyết đến dữ dằn cùng với việc vây quân thù để tiêu diệt, cái trùng trùng điệp điệp của rừng, cái khí thế hiên ngang kiêu hùng của những vách núi đã làm cho biết bao kẻ thù khiếp sợ và bất lực. Quả thật Việt Bắc đã trở thành “Địa linh nhân kiệt” kể từ đó. Qua đó càng làm sáng tỏ thêm nhận định: Việt Bắc là cái nôi của cách mạng dân tộc ta.</p><p>Chiến khu Việt Bắc với thiên nhiên khắc nghiệt, vừa hùng tráng vừa thơ mộng ở cặp lục bát tiếp theo là hình ảnh thiên nhiên, đất trời Việt Bắc trong giai đoạn kháng chiến.</p><p>“Mênh mông bốn mặt sương mù</p><p>Đất trời ta cả chiến khu một lòng”</p><p>Trời đất bị chìm lấp trong cả màn sương giăng khắp nơi, khiến cho khung cảnh chiến đấu trở nên uy linh và không kém phần lãng mạn. Những dù giữa một biển sương mù khó khăn, con người vẫn không mất đi vẻ đẹp lãng mạn của lòng mình. Với hình ảnh chọn lọc “mênh mông bốn mặt sương mù”, chiến khu mang nét đặc trưng rộng lớn, đồng thời thể hiện sự phát triển của kháng chiến, chiến khu giải phóng được mở rộng hơn. Cùng với cụm từ “Đất trời ta cả” khẳng định quyền làm chủ vùng giải phóng, và sự tương phản “Mênh mông bốn mặt” và “chiến khu một lòng”: Cả vũ trụ, núi rừng Việt Bắc giờ đây đang cùng nhìn về một hướng, đang hướng về cuộc chiến đấu, hướng về sứ mệnh bảo vệ quê hương đất nước yêu dấu của mình nhằm thể hiện tinh thần đoàn kết của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Pháp.</p><p>Sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc đã làm nên những chiến công vang dội, hàng loạt những địa danh vang lên, mỗi nơi đều gắn với một thắng lợi vinh quang:</p><p>“Ai về ai có nhớ không ?</p><p>Nhớ từ Cao - Lạng, nhớ sang Nhị Hà.”</p><p>Bằng câu hỏi tu từ, hỏi nhưng không cần trả lời, thể hiện niềm vui to lớn trước chiến thắng vẻ vang của dân tộc. Sau đó là câu trả lời: “Ta về ta nhớ” vừa là câu trả lời, đồng thời cũng là câu nói khẳng định ẩn chứa biết bao niềm tự hào không nhỏ. Bằng phép liệt kê các địa danh ở Việt Bắc gắn liền với những sự kiện quan trọng như Phủ Thông, đèo Giàng, là nơi đã diễn ra các trận hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Sông Lô phố Ràng: Trận sông Lô đánh tàu chiếm Pháp trong chiến dịch Việt Bắc và trận đánh đồn phố Ràng. Cao - Lạng tức là Cao Bằng và Lạng Sơn, năm 1950 ta mở chiến dịch giải phóng biên giới Việt - Trung. Đó là những chiến công tiêu biểu góp phần quan trọng, mang tính quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.</p><p>Với điệp từ "nhớ" cùng với thể thơ lục bát âm điệu nhẹ nhàng, ngọt ngào, sâu lắng, diễn tả nỗi nhớ vơi đầy dào dạt trong kí ức của nhà thơ. Giọng thơ thay đổi linh hoạt, lúc trầm lắng, lúc mạnh mẽ mãnh liệt trong niềm vui, khiến độc giả như đang hòa mình vào niềm vui lớn của dân tộc, niềm vui trọn vẹn khi đất nước hoàn toàn tự do.</p><p>Tóm lại, bằng nhiều biện pháp nghệ thuật, nỗi nhớ của người cán bộ về xuôi đã mang lại cho đọc giả không khí nóng hổi từ những cuộc kháng chiến đỉnh điểm của dân tộc ta trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Đoạn thơ cũng khắc họa được hình ảnh thiên nhiên Việt Bắc trù phú, dữ dội nhưng cũng rất lãng mạn và “bao la”, khắc họa được hình ảnh người cán bộ về xuôi có tình cảm sâu nặng gắn bó với thiên nhiên, với cách mạng. Đồng thời thể hiện niềm tin vào chiến thắng cuối cùng của quân và dân ta và khẳng định một điều: Việt Bắc chính là cái nôi, nuôi dưỡng cách mạng.</p><p><strong>* Một số đề liên hệ mở rộng khác:</strong></p><ul><li>So sánh và cảm nhận hai đoạn thơ trong bài Việt Bắc và Sóng</li><li>Liên hệ và so sánh hai tác phẩm Việt Bắc và Từ Ấy</li><li>Giới thiệu và phân tích phong cách nghệ thuật thơ của Tố Hữu</li></ul><p>-/-</p><p>Trên đây, Đọc Tài Liệu vừa cung cấp cho các em những nội dung kiến thức cần thiết cho một <strong>bài văn phân tích Việt Bắc từ cơ bản bao trùm toàn bộ bài thơ đến chuyên sâu</strong> đi vào nội dung từng đoạn của bài thơ. Các em có thể tùy theo yêu cầu của đề bài để lựa chọn cách phân tích phù hợp nhất. Chúc các em làm bài tốt và đạt kết quả cao.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 04 Jul 2026 02:50:36 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Phân tích bài thơ Việt Bắc từ cơ bản đến chuyên sâu</media:title>
                        <media:keywords>Phân tích bài thơ Việt Bắc từ cơ bản đến chuyên sâu</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Đừng quên cảm ơn các điều dưỡng]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/nhung-cau-noi-nghi-luc-a110222.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/nhung-cau-noi-nghi-luc-a110222.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/nhung-cau-noi-nghi-luc-a110222.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>TGPSG- Màn đêm đã buông xuống, một làn gió mát thổi qua khe cửa sổ của căn phòng. Làn gió dường như thức tỉnh tôi nhớ lại một điều gì đó và tôi đã cố nhớ lại thời gian qua xem tôi có hứa với ai điều gì mà chưa làm hay không? May thay, tôi nhớ lại một lời hứa mà tôi chưa hoàn thành nó. Đó là viết đôi dòng về những người điều dưỡng. Câu chuyện đó bắt đầu khi tôi tình nguyện đi giúp những người mắc COVID. Tôi cảm nhận được sự vất vả của những người điều dưỡng, bởi họ làm tất cả các việc thay cho người nhà của bệnh nhân: từ thay bỉm, đút cháo, đén việc hỏi thăm an ủi họ….</p> <p>Bởi nhận thấy sự vất vả và khó nhọc nơi nghề điều dưỡng nên khi tan ca trực, tôi đã chia sẻ nhiều điều với 1 chị điều dưỡng khi chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau: Em thấy nghề điều dưỡng của chị thật vất vả, giờ em mới cảm nhận được câu nói: nghề điều dưỡng giống như làm dâu trăm họ…Chăm sóc người này, phục phụ người kia, thế mà đến khi bệnh nhân ra viện hầu như chỉ cảm ơn các bác sĩ mà quên cảm ơn những người điều dưỡng... Và tôi đã nhận được nhiều câu trả lời từ chị. Chị nói: làm nghề điều dưỡng cần phải yêu nghề và biết hy sinh nhiều, còn không khó mà làm nổi. Bởi vì có những bệnh nhân cấp cứu trong đêm, phải chuẩn bị giường cho họ, rồi khi nghe những tiếng kêu của các bệnh nhân, phải chảy đôn chạy đáo đến để hỏi thăm tình hình sức khỏe của bệnh nhân.</p> <p>Sau những lời tâm sự chân thành của chị, tôi thấy nghề điều dưỡng thật cao cả, có lẽ họ có ơn đặc biệt mới làm được những điều như thế. Bởi vì họ có những hy sinh rất lớn, họ phải động viên để các bệnh nhân có thêm nghị lực, phải nở những nụ cười thân thiện để tăng thêm sức khỏe tinh thần cho các bệnh nhân…Thế nhưng, tiếc thay có những bệnh trước lúc ra về lại quên gửi một lời cảm ơn đến các điều dưỡng. Thôi thì các điều dưỡng cứ lặng thầm để nhìn cuộc đời bằng tình thương và ý thức được rằng, điều quan trọng là trong việc mình làm có tình yêu và có phục vụ mọi người với hết khả năng hay không, còn việc người khác có cảm ơn hay không cũng không sao. </p> <p>Hãy luôn cười các điều dưỡng nhé vì nghề điều dưỡng thật cao quý. Lời cuối cùng tôi xin chúc các điều dưỡng luôn mạnh khỏe và vui vẻ để tiếp tục dấn thân trong công việc phục vụ các bệnh nhân, luôn mang lại nguồn gió mới và niềm hy vọng cho những bệnh nhân đang cảm thấy thất vọng về cuộc đời này.</p> <p>Sài Gòn 31/10/2021 Thầm Lặng, Dòng Đức Mẹ Lên Trời.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Sat, 04 Jul 2026 01:59:31 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Đừng quên cảm ơn các điều dưỡng</media:title>
                        <media:keywords>Đừng quên cảm ơn các điều dưỡng</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Ý kiến trái chiều phần nghị luận ‘Steve Jobs’ trong đề văn thi tốt nghiệp THPT 2026]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/de-van-nghi-luan-a110201.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/de-van-nghi-luan-a110201.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/de-van-nghi-luan-a110201.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<figure><figcaption><p>Nhiều ý kiến trái chiều về phần nghị luận môn văn thi tốt nghiệp THPT 2026 - Ảnh: DUYÊN PHAN</p></figcaption></figure><p>Nguyên văn phần nghị luận xã hội đề môn văn tốt nghiệp THPT 2026 vừa diễn ra sáng nay.</p><p>"Nước Mĩ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những 'Steve Jobs Việt Nam'?".</p><h2>Khái niệm "phát minh" chưa chuẩn</h2><p>Giảng viên một trường đại học tại TP.HCM đánh giá nếu đọc kỹ đề, có một điểm rất đáng suy nghĩ, đề văn đã vô tình đặt Steve Jobs, Mark Zuckerberg và Elon Musk vào cùng nhóm những người có "những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới". Điều này phản ánh một cách hiểu khá phổ biến nhưng chưa thật sự chính xác về khái niệm phát minh, sáng chế và đổi mới sáng tạo.</p><p> Trong ngôn ngữ pháp lý về sở hữu trí tuệ, "phát minh" là việc khám phá ra một quy luật hay hiện tượng vốn tồn tại trong tự nhiên. "Sáng chế" là giải pháp kỹ thuật mới được tạo ra để giải quyết một vấn đề cụ thể. </p><p>Những nhân vật như Jobs hay Zuckerberg lại thường được xem là các doanh nhân đổi mới sáng tạo (innovators) hơn là các nhà phát minh theo nghĩa truyền thống. Còn sự thành công của các doanh nghiệp này chủ yếu hình thành từ các sáng chế, không phải phát minh.</p><p>Điều Steve Jobs, Mark Zuckerberg hay Elon Musk làm xuất sắc nhất không hẳn là phát minh, mà là đổi mới mô hình kinh doanh, thiết kế sản phẩm, tổ chức công nghệ và thương mại hóa ý tưởng ở quy mô toàn cầu.</p><p> Nếu lấy đúng tinh thần đó, câu hỏi đáng lẽ nên là: "Làm thế nào để Việt Nam có những nhà đổi mới sáng tạo tầm cỡ thế giới?" thay vì "Làm thế nào để có những 'Steve Jobs Việt Nam'?".</p><p> Điều đáng lo hơn là khi xã hội đồng nhất mọi thành công công nghệ với "phát minh", chúng ta dễ tạo ra ảo tưởng rằng chỉ cần vài thiên tài là đất nước sẽ cất cánh. Trong khi thực tế, đằng sau Thung lũng Silicon là cả một hệ sinh thái gồm giáo dục khai phóng, nghiên cứu cơ bản, quỹ đầu tư mạo hiểm, cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ và văn hóa chấp nhận thất bại.</p><p>Từ phân tích của mình, giảng viên này nhận định "đề thi rất hay, đổi mới nhưng đang hiểu sai khái niệm một cách quan ngại. Không biết có thí sinh nào "vặn" được nội dung câu hỏi thi này không? Và nếu chứng minh là câu hỏi sai thì có tính điểm như thế nào cho toàn thể thí sinh nhỉ?".</p><p>Trong khi đó, giáo sư Nguyễn Văn Tuấn - giáo sư của Đại học New South Wales (Úc) - cho rằng phần nghị luận xã hội chưa chuẩn về phương pháp. Ông chỉ ra 3 cái sai về phương pháp, trong đó có nguyên tắc vừa sức.</p><p>"Câu hỏi phải nằm trong vùng phát triển gần của học sinh, thách thức nhưng có thể giải quyết được với kiến thức đã có. Hỏi học sinh 18 tuổi "Làm thế nào để có Steve Jobs Việt Nam?" vi phạm nguyên tắc này, vì đây là câu hỏi kinh tế học, xã hội học, chính sách công cấp độ tiến sĩ. Ngay cả chuyên gia hàng đầu thế giới cũng chưa có đáp án thống nhất. Vậy thì học sinh chỉ trả lời bằng cảm tính và… khẩu hiệu" - giáo sư Tuấn bày tỏ quan điểm.</p><h2>Ý tưởng hay nhưng diễn đạt cần phổ quát</h2><p>Nhận định đề văn với góc nhìn trung dung hơn, GS.TS Lê Anh Vinh - Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam - cho rằng văn bản đọc hiểu cũng như bài thơ "Những chiếc lá" đều là lựa chọn hay, học sinh hiểu đến đâu, cảm nhận đến đâu, viết đến đó. Với môn văn, đôi khi như vậy lại tốt, vì nó cho phép học sinh bộc lộ năng lực thật của mình, chứ không chỉ lặp lại những gì đã học thuộc.</p><p>Có ý kiến nói việc đưa vào đề những nhân vật như Steve Jobs, Elon Musk, Mark Zuckerberg có thể khiến một số học sinh bị thiệt, vì các em không biết rõ các nhân vật ấy thì làm sao suy nghĩ sâu và trả lời tốt được câu hỏi "làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam".</p><p>Ông Vinh cho rằng trước hết cần ghi nhận đây là một câu hỏi hay, đặt ra một vấn đề lớn: làm thế nào để Việt Nam có thể nuôi dưỡng những con người sáng tạo, có khả năng tạo ra giá trị có ảnh hưởng tầm thế giới. Đây là một hướng gợi mở tốt, đáng để học sinh suy nghĩ về giáo dục, môi trường xã hội, chính sách và văn hóa khuyến khích sáng tạo.</p><p> Tuy vậy, ý kiến đề nên thận trọng hơn khi đưa vào các nhân vật cụ thể như Steve Jobs cũng không phải không có cơ sở. Với một kỳ thi đại trà quy mô quốc gia, một chi tiết tưởng như chỉ để gợi mở vẫn có thể vô tình tạo lợi thế cho nhóm học sinh quen thuộc với các nhân vật ấy, và gây lúng túng cho những em không biết hoặc biết rất ít.</p><p>"Tôi cho rằng ý tưởng của câu hỏi là tốt, thậm chí rất đáng suy nghĩ. Nhưng cách diễn đạt có thể trung tính và phổ quát hơn. Thay vì hỏi làm thế nào để có "Steve Jobs Việt Nam", có thể hỏi làm thế nào để Việt Nam nuôi dưỡng những con người sáng tạo, có năng lực tạo ra sản phẩm, ý tưởng hoặc giá trị có ảnh hưởng rộng lớn. Như vậy, học sinh không cần biết ai mặc áo cổ lọ đen, ai phóng tên lửa, ai bỏ học Harvard, vẫn có thể suy nghĩ nghiêm túc về vấn đề".</p><p>Tương tự, thầy Hồ Tấn Nguyên Minh, tổ trưởng tổ văn Trường THPT chuyên Lương Văn Chánh, Đắk Lắk, chia sẻ đề thi tốt nghiệp THPT môn ngữ văn năm 2026 đảm bảo tính chuẩn xác, cách hỏi sáng rõ, chặt chẽ; phân hóa cao. </p><p>Với câu nghị luận xã hội (2 điểm), ông Minh cho rằng cách hỏi hay, vấn đề giàu ý nghĩa. Tuy nhiên, những nhân vật được nhắc đến trong câu hỏi hoàn toàn không có trong văn bản đọc hiểu. Không ai dám chắc rằng tất cả học sinh dự thi đều biết Steve Job là ai? Sự nghiệp, cống hiến của ông như thế nào? Đề chỉ mới nói qua là “có những phát minh công nghệ”. </p><p>Học sinh không biết Steve Jobs mà hỏi làm thế nào để tạo ra "Steve Jobs Việt Nam" là một sự làm khó học sinh. Theo ông Minh, muốn hỏi như vậy thì đề cần chú thích rõ về Steve Jobs, học sinh có thông tin về ông thì mới có thể giải quyết vấn đề một cách thấu đáo được.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Fri, 03 Jul 2026 19:12:33 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Ý kiến trái chiều phần nghị luận ‘Steve Jobs’ trong đề văn thi tốt nghiệp THPT 2026</media:title>
                        <media:keywords>Ý kiến trái chiều phần nghị luận ‘Steve Jobs’ trong đề văn thi tốt nghiệp THPT 2026</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[Bài văn học sinh giỏi phân tích “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phan-tich-day-thon-vi-da-hoc-sinh-gioi-a110193.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phan-tich-day-thon-vi-da-hoc-sinh-gioi-a110193.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phan-tich-day-thon-vi-da-hoc-sinh-gioi-a110193.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-day-thon-vi-da-hoc-sinh-gioi-1.jpg" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Xuân Diệu đã từng nhận xét rằng: “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”. Thơ Hàn Mặc Tử luôn gắn với một chất rất riêng, rất độc, rất lạ của mình. Và chính chất riêng đó đã đem đến cho thơ Hàn Mặc Tử một sức hút khó tả. Một bài thơ được mệnh danh là mang gam màu sáng nhất trong thơ Hàn đó chính là những vần thơ trong “Đây thôn Vĩ Dạ”. Trong bài viết này, cùng Decor Hà Nội khám phá và phân tích bài thơ đẹp nhất của Hàn Mặc Tử - bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”.</p><h2>Giới thiệu về tác giả, tác phẩm</h2><h3>Tác giả</h3><p>Hàn Mặc Tử (1912 - 1940) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí Ông sinh ra trong một gia đình trí thức nghèo theo đạo thiên chúa, từng làm công chức ở Bình Định sau ra Sài Gòn làm báo Năm 1936, mắc bệnh phong, ông về Quy Nhơn chữa bệnh và mất ở trại phong Quy Hòa</p><p><strong>Các tác phẩm chính:</strong></p><p>+ Thơ: Gái quê, Thơ điên, Xuân như ý, Thượng thanh khí,Cẩm châu duyên</p><p>+ Kịch thơ: Duyên kỳ ngộ, Quần tiên hội</p><p>+ Thơ văn xuôi: Chơi giữa mùa trăng</p><p><strong>Phong cách nghệ thuật:</strong></p><p>Là nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào thơ mới Diện mạo thơ ông hết sức phức tạp và đầy bí ẩn, thấm đượm một tình yêu đau đớn hướng về cuộc đời trần thế Thơ ông hướng nội, khuynh hướng quay vào nội tâm, ít kể tả theo cái nhìn của con mắt</p><h3>Tác phẩm</h3><p>Hoàn cảnh sáng tác Sáng tác năm 1938 in trong tập Thơ điên về sau đổi thành Đau thương Bài thơ được gợi cảm hứng từ tấm ảnh về phong cảnh Huế và lời hỏi thăm của Hoàng Cúc- người mà Hàn Mặc Tử ôm ấp mối tình đơn phương khi còn làm ở sở Đạc Điền</p><p><strong>Bố cục</strong></p><p>- Đoạn 1: vườn Vĩ Dạ lúc ban mai trong tâm tưởng thi sĩ</p><p>- Đoạn 2: cảnh sông nước xứ Huế đêm trăng và tâm trạng thi sĩ</p><p>- Đoạn 3: hình bóng khách đường xa và nỗi niềm mơ tưởng, hoài nghi</p><p><strong>Giá trị nội dung</strong></p><p>Bài thơ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước, là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người</p><p><strong>Giá trị nghệ thuật</strong></p><p>Hình ảnh biểu hiện nội tâm, bút pháp gợi tả, ngôn ngữ tinh tế, giàu sức liên tưởng</p><blockquote><p><strong>Bạn hãy cùng Decor Hà Nội tìm hiểu thêm về Ounce (Aoxơ) là gì? Cốc là gì? Một cốc là bao nhiêu aoxơ. Cách quy đổi chuẩn nhất</strong></p></blockquote><figure><img src="https://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-day-thon-vi-da-hoc-sinh-gioi-1.jpg" alt="Phân tích bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử bài chọn lọc hay nhất" /><figcaption>Phân tích bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử bài chọn lọc hay nhất</figcaption></figure><h2>Dàn bài triển khai phân tích bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử</h2><h3>Mở bài Đây thôn Vĩ Dạ</h3><p>- Giới thiệu về tác giả Hàn Mặc Tử, bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”.</p><p>- Cảm nhận chung về bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”.</p><h3>Thân bài Đây thôn Vĩ Dạ</h3><p><strong>Khổ 1. Bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ</strong></p><p>* Câu 1: Sao anh không về chơi thôn Vĩ?</p><p>- Câu hỏi có hai cách hiểu:</p><p>Lời của người thôn Vĩ hỏi tác giả</p><p>Lời phân thân của tác giả tự hỏi chính mình</p><p>=&gt; Dù hiểu theo cách nào thì câu hỏi trên cũng thể hiện được nỗi nhớ thôn Vĩ da diết cũng như mong muốn được về chơi thôn Vĩ.</p><p>* Câu 2: Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên</p><p>- Hình ảnh “nắng hàng cau”: ánh nắng của bao trùm khắp làng quê.</p><p>- Điệp ngữ: “nhìn nắng” - “nắng mới” thể hiện một không gian tràn đầy ánh nắng sức sống.</p><p>* Câu 3:</p><p>- Khu vườn không chỉ tràn ngập sắc nắng mà còn sắc xanh.</p><p>- “xanh như ngọc” một màu xanh mát mẻ, tươi mới và dễ chịu.</p><p>* Câu 4: Lá trúc che ngang mặt chữ điền</p><p>- Trong không gian thiên nhiên thôn Vĩ, hình ảnh con người thoáng xuất hiện:</p><p>- Khuôn mặt chữ điền của người thôn Vĩ thấp thoáng sau tán trúc. Khuôn mặt chữ điền gợi ra vẻ hiền lành phúc hậu, phải chăng đó là khuôn mặt của người con gái Hàn Mặc Tử thầm thương?</p><p>=&gt; Bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ trong sáng, tươi tắn và có sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên.</p><p><strong>Khổ 2. Bức tranh sông nước trong đêm trăng</strong></p><p>* Câu 5 và câu 6:</p><p>- Hình ảnh thiên nhiên thể hiện sự chia lìa: gió, mây vốn quấn quýt nay chia lìa đôi ngả.</p><p>- Dòng sông như nhuốm màu tâm trạng buồn bã, thê lương.</p><p>- Hình ảnh hoa bắp khẽ lay cũng giống như cuộc đời lưu lạc trôi nổi của con người.</p><p>* Câu 11: Ở đây sương khói mờ nhân ảnh gợi khung cảnh huyền ảo, không có thật.</p><p>=&gt; Hình ảnh thiên nhiên đêm trăng đượm buồn và mờ ảo, hư không.</p><p>=&gt; Sự đối lập giữa hai bức tranh thiên nhiên nơi làng quê thôn Vĩ và đêm trăng.</p><p><strong>Khổ 3. Tâm trạng của nhà thơ</strong></p><p>- Khung cảnh cũng vận động từ thực đến ảo, từ vườn thôn Vĩ đến sông trăng và cuối cùng chìm vào tâm thức mờ ảo của sương khói.</p><p>- Câu hỏi tu từ “Ai biết tình ai có đậm đà?” là lời nhân vật trữ tình vừa là để hỏi người và vừa để hỏi mình, vừa gần gũi vừa xa xăm, vừa hoài nghi vừa như giận hờn, trách móc.</p><p>- Đại từ phiếm chỉ “ai” làm tăng thêm nỗi cô đơn, trống vắng của một tâm hồn khát khao được sống, được yêu.</p><p>=&gt; Làm nhòe mờ hình tượng của khách thể và chủ thể trữ tình, tạo nên một nỗi ám ảnh về nỗi đau trong cõi mênh mông vô tận, tâm trạng hụt hẫng và đầy tuyệt vọng của nhà thơ.</p><h3>Kết bài Đây thôn Vĩ Dạ</h3><p>Cảm nhận về bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”.</p><blockquote><p><strong>Bạn hãy cùng Decor Hà Nội tìm hiểu thêm về Hắt xì hơi là gì? Bói hắt xì hơi theo ngày, giờ cực chuẩn</strong></p></blockquote><h2>Bài văn mẫu hay nhất cảm nhận bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”</h2><p>Bạch Cư Dị từng nói: “Cảm động lòng người, trước hết không gì bằng tình, đầu tiên không gì bằng lời, tha thiết không gì bằng thanh, sâu xa không gì bằng nghĩa. Vậy đối với thơ tình là gốc, lời là cảnh, thanh là họa, nghĩa là quả”. Có thể nói, tình cảm là yếu tố sinh mệnh của thơ ca, thiếu tình cảm thì chỉ có thể trở thành người thợ làm những câu có vần chứ không làm được nhà thơ. Đồng thời, thơ ca không bộc lộ tình cảm một cách bản năng, trực tiếp mà nó được ý thức, được siêu thăng, được lắng lọc qua cảm xúc thẩm mĩ gắn liền với ý thức về mình, về đời. Hiện lên như một “ngôi sao chổi” xoẹt qua bầu trời thi đàn văn học với cái đuôi chói lòa, rực rỡ của mình, Hàn Mặc Tử đến với thơ, với đời bằng tình cảm tha thiết, chân thành của một kẻ sĩ đứng giữa hai bờ sinh tử, chơi vơi giữa cõi thực và cõi mộng. Gã làm thơ khi đã nếm trải đủ mùi vị đau thương trong chốn vốn chẳng có gì là vĩnh hằng. Bao giờ cũng vậy, Hàn Mặc Tử luôn muốn thoát li hiện thực, tìm về một cõi xa xăm nào đấy để ôm ấp những nỗi sầu u oải, mơ hồ, và có lẽ “Đây thôn Vĩ Dạ” đã bước ra từ sự quằn quại, đau đớn để góp vào vườn thơ Hàn “rộng không bờ không bến” một cõi hư vô rợn ngợp khiến thi nhân không khỏi thổn thức:</p><p>“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?</p><p>Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên</p><p>………………………………</p><p>Ở đây sương khói mờ nhân ảnh</p><p>Ai biết tình ai có đậm đà?”</p><p>Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ tiêu biểu, có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào thơ Mới giai đoạn 1932 - 1945. Thế giới thơ ông đầy bí ẩn, phức tạp, luôn đan xen giữa những gì thân thuộc, thanh khiết, thiêng liêng nhất với những gì ghê rợn, ma quái, cuồng loạn nhất. Trong dó hình ảnh trăng, hoa, nhạc luôn chan lẫn với hình ảnh hồn, máu, yêu ma nói như Hoài Thanh: “Vườn thơ Hàn rộng không bờ không bến, càng đi xa càng ớn lạnh…”. Sự nghiệp thơ ca của Hàn là một tháp ngà kiêu sa, tráng lệ, ánh hào quang của nó tỏa sáng chói lòa nhân thế… vì vậy những hình tượng thơ của ông khiến người đọc khó đến gần, khó nắm bắt và có khi khó hiểu. Vườn thơ của ông có lẽ được xếp vào loại “siêu”: siêu thực, siêu thức và siêu thoát nhưng đọc thơ ông nào đã thoát, rốt cuộc vẫn lơ lửng, vẫn còn đó một câu hỏi lớn: “Hàn Mặc Tử, anh là ai?”. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” được in trong tập “Thơ điên” (1938), toàn bộ thi phẩm là tiếng lòng vừa tha thiết mê đắm, vừa đau đớn tuyệt vọng của một thi nhân yêu đời da diết mà phải vĩnh viễn rời xa cuộc đời bởi bi kịch éo le và vô vọng.</p><p>Tại trại phong Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử đã nhận được tấm bưu ảnh chụp cảnh bến Vĩ Dạ cùng lời thăm hỏi của Hoàng Cúc. Chính bức ảnh cùng lời hỏi thăm đó đã gợi lên trong lòng nhà thơ kỉ niệm về một miền quê và người con gái trong mối tình đơn phương, cũng bởi vậy mà mỗi vần thơ thấm đượm nỗi buồn sâu sắc. Thôn Vĩ Dạ là một làng nhỏ nằm bên bờ sông Hương, đây là nơi nghỉ ngơi của những quan lại, viên chức về hưu hưu nên cuộc sống nơi đây vô cùng bình yên, no đủ và thơ mộng với những vườn cây xum xuê, những ngôi nhà xinh xắn,… Từ xa xưa Vĩ Dạ đã đi vào thơ ca bởi vẻ đẹp thi vị, tiêu biểu cho cảnh sắc xứ Huế:</p><p>“Du khách bảo đây vườn kín đáo</p><p>Đây xứ mơ màng đây xứ thơ”</p><p>Hay nhà thơ Bích Khê đã từng viết:</p><p>“Vĩ Dạ thôn, Vĩ Dạ thôn</p><p>Biếc tre cần trúc không buồn mà say”</p><p>Mạch thơ như một dòng tâm tư bất định, khước từ vai trò tổ chức chặt chẽ vốn là đặc trưng của “Thơ điên” với những “đứt đoạn”, “cóc nhảy”. Có thể thấy thi phẩm được dệt bằng một chuỗi hình ảnh liên kết với nhau rất bất định. Vừa mới ngoại cảnh (phần đầu) thoắt đã tâm cảnh (phần sau). Hãy còn tươi sáng (Vườn thôn Vĩ) chợt đã âm u (cảnh sông trăng và sương khói)… Những mảng thơ phản trái nhau cứ dính kết vào nhau ngỡ như rất thiếu trật tự, “vô kỉ luật”. Nhưng nhìn kĩ sẽ thấy đó chỉ là sự chuyển kênh quá mau lẹ từ “hàng chữ gấm” sang “đôi mắt mờ lệ”. Dường như Hàn Mặc Tử đưa ta từ cõi thực đến cõi mộng rồi chìm đắm vào hư vô lúc nào không hay.</p><p>Câu hỏi mở đầu chủ yếu là thanh bằng khiến lời thơ thật nhẹ nhàng, êm ái như nghe văng vẳng bên tai giọng nói của người con gái xứ Huế ngọt ngào:</p><p>“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”</p><p>Đại từ “anh” gợi cho ta nhiều cách hiểu khác nhau. Có người cho rằng đó là sự phân thân của nhân vật trữ tình, thi nhân tự vấn lòng mình “sao lâu quá rồi mà chưa một lần về thăm thôn Vĩ?” như nhắc nhở đến một việc cần làm, đáng phải làm, mà cũng chẳng biết giờ đây có còn cơ hội để thực hiện nó nữa không, ấy là về lại với thôn Vĩ, về thăm lại chốn cũ, cảnh xưa. Có người lại cho rằng đó là lời của Hoàng Cúc đang hỏi dịu dàng, kín đáo nhưng ẩn sau trong đó là lời trách móc “Thôn Vĩ đẹp sao anh chẳng về chơi?”. Hàn Mặc Tử dùng hai chữ “về chơi” bởi nó mang sắc thái thân mật, gần gũi thay vì chỉ mang vẻ xã giao, có khoảng cách như hai chữ “về thăm”. Chẳng phải vô tình mà nhà thơ viết “không về chơi thôn Vĩ?”, “không về” khác hoàn toàn với “chưa về”. Nó dường như khép lại mọi nẻo đường về thôn Vĩ, cộm lên biết bao xót xa vì giờ đây thôn Vĩ chỉ còn trong hoài niệm của quá khứ xa vời. Hố sâu ngăn cách giữa Hàn Mặc Tử với thế giới ngoài kia chính là căn bệnh hiểm nghèo khiến cho nhà thơ vô cùng cô đơn, tuyệt vọng. Hơn nữa, hai chữ “không về” còn thể hiện rõ được tình cảm một phía của Hàn Mặc Tử với Hoàng Cúc. Đó là dòng sông một bờ mà phía bờ đó lại xuất phát từ Hàn Mặc Tử:</p><p>“Dòng sông anh tự đặt</p><p>Xin mùa thu chiếc lá làm thuyền</p><p>Có một dòng sông trôi vào lãng quên</p><p>Nước trong như nước mắt</p><p>Điều chưa thấy mà sao đã mất</p><p>Có một dòng sông chỉ có một bờ</p><p>Phía bờ kia quay mặt</p><p>Dòng sông anh không qua được bao giờ”</p><p>Câu hỏi mở đầu mang nhiều sắc thái khác nhau, hỏi để mà trách nhưng lời trách thân mật, đáng yêu. Trách để mời mọc, để tiếc nuối. Thanh trắc duy nhất của câu thơ rơi vào chữ “Vĩ” ở cuối cùng khiến cho nỗi buồn như đằm xuống thành nỗi nhớ vô hạn về cảnh và về người thôn Vĩ. Câu hỏi tu từ như cái cớ để nhà thơ gợi lại vẻ đẹp thi vị, nên thơ của thôn Vĩ Dạ.</p><p>Bắt đầu bằng câu hỏi đầy ẩn ý đã giúp nhà thơ mở ra khung cảnh thiên nhiên thôn Vĩ tinh khôi, sống động, tươi đẹp và căng tràn sức sống:</p><p>“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên</p><p>Vườn ai mướt quá xanh như ngọc</p><p>Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”</p><p>Đọc thơ Tử, qua các tập, thấy vườn thực sự là một mô típ ám ảnh. Nào vườn trần, vườn tiên, vườn chiêm bao… Dù mỗi nơi một khác, nhưng vườn của Tử đều mang chung một diện mạo mà Tử muốn gọi là “chốn nước non thanh tú”. Nhắc đến Vĩ Dạ, hình ảnh đầu tiên hiện lên trong tâm trí nhà thơ là hình ảnh hàng cau, nó mang vẻ đẹp rất đặc trưng của nhà vườn xứ Huế. Cau là loài cây thanh nhã, xinh xắn với thân hình thẳng tắp, tán lá xanh tươi. Cau còn là loài cây thân thuộc với làng quê Việt Nam - nơi có tập tùng ăn trầu từ ngàn đời. Nguyễn Bính đã đặt mối tình bình dị của đôi trai gái thôn quê trên nền phong cảnh có hình ảnh hàng cau quen thuộc:</p><p>“Nhà em có một giàn giầu</p><p>Nhà anh có một hàng cau liên phòng.”</p><p>Bởi lẽ là loài cây cao nhất trong vườn Vĩ Dạ, cau được đón những tia nắng đầu tiên trong một ngày mới tràn đầy sức sống. Thơ Mới thường đem đến cho người đọc những cấu tứ, thi liệu mới mẻ. Ta đã bắt gặp trên diễn đàn thơ Mới nhiều màu nắng lạ, đó là cái nắng chang chang trong bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử:</p><p>“Chị ấy năm nay còn gánh thóc</p><p>Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”</p><p>hay “Nắng trở chiều” trong thơ Xuân Diệu:</p><p>“Con đường nhỏ nhỏ nắng xiêu xiêu</p><p>Lả lả cành hoang nắng trở chiều”</p><p>còn ở đây ta lại bắt gặp hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên”. Từ “nắng” được lặp lại hai lần cho ta cảm giác thôn Vĩ đang bừng sáng lên trong ánh bình minh. Đó không phải là ánh nắng nhạt buồn của hoàng hôn hay ánh nắng chói gắt của buổi trưa mà là ánh nắng mới mẻ, trong sáng và tinh khôi của buổi sớm mai làm ta liên tưởng đến câu thơ của Hồng Nguyên: “Có nắng chiếu đột kích mấy hàng cau”. Chi tiết ấy không chỉ gợi lên cảm giác trong trẻo, tươi tắn mà còn mở ra không gian thôn Vĩ trong buổi sớm mai mà còn là khoảnh khắc diệu kì khi làn sương mỏng trên lá cau chưa kịp từ biệt sau một đêm dài thì thi nhân đã bắt gặp những tia nắng ban mai tổ điểm, đó là nắng ướt, nắng tươi, nắng long lanh, nắng thiếu nữ. Cây cau xuất hiện trong vườn thôn Vĩ như cây thước của thiên nhiên để đo mực nắng như thầy Chu Văn Sơn từng viết: “Đốt cau như thước đo mực nắng trong vườn”. Phải yêu lắm, say lắm vẻ đẹp của đất trời, của thiên nhiên xứ Huế thi nhân mới chụp được khoảnh khắc đặc biệt ấy vào tâm trí mình. Nắng dường như làm bừng sáng cả khoảng trời kí ức của nhà thơ, nó lưu lại trong tâm hồn thi sĩ những kí ức không thể nào phai. Pautopxki từng nói: “Niềm vui của nhà văn chân chính là được làm người dẫn đường đến xứ sở của cái đẹp”, bước vào thơ Hàn ta như được chiêm ngưỡng vẻ đẹp tuyệt sắc đến cực tả của thiên nhiên cũng như con người. Ở câu thơ tiếp theo, thi nhân đã chuyển điểm nhìn từ bầu trời tràn ngập ánh nắng xuống khu vườn phủ đầy một màu xanh lá, khu vườn ấy như hóa thành một viên ngọc lớn trong đôi mắt của thi nhân:</p><p>“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”</p><p>Câu thơ như một tiếng reo vui đầy thích thú thể hiện sự ngạc nhiên đến bất ngờ của tác giả trước vẻ đẹp của thôn Vĩ. Câu thơ sử dụng một loạt các từ trong cùng một trường từ vựng: “mướt”, “xanh”, “ngọc” để miêu tả màu xanh non tơ, trẻ trung, tươi mới. Vườn Vĩ Dạ sau một đêm những chiếc lá cây được sương đêm lau chùi sạch sẽ giờ đây bỗng bừng sáng lung linh. Tác giả khéo léo sử dụng từ cảm thán “quá” - không chỉ là từ chỉ mức độ gợi vẻ đẹp thanh sạch của cây lá, nhà vườn xứ Huế mà còn bộc lộc cảm giác ngạc nhiên, đầy ngưỡng mộ, cùng với đó việc dùng tính từ “mướt” chứ không phải là “mượt” vì tính từ ấy ngoài chỉ sự nhẵn bóng còn gợi vẻ óng ả, mỡ màng. Hai thanh trắc đứng liền nhau trong cụm từ “mướt quá” đã tạo ra ấn tượng mạnh về một tiếng reo, một cảm xúc bồng bột không thể kiềm chế. Vẻ đẹp của vườn cây còn được miêu tả qua phép so sánh độc đáo “xanh như ngọc” - đó là cách nói ước lệ nhằm lí tưởng hóa đối tượng thẩm mĩ, gợi ra màu xanh trong mướt, quý giá, cả vườn thôn Vĩ hiện lên như một viên ngọc óng ánh sắc xanh và tỏa ra không gian một màu xanh long lanh ánh sáng. Dường như trong thơ Hàn rất ưa dùng những vật liệu cao sang nhất là giai đoạn cuối đời. Các trang thơ đều tràn ngập những vàng, gấm, lụa, trân châu, thất bảo, nhũ hương, mộc dược… đặc biệt là ngọc được so sánh ở mức tuyệt đối:</p><p>“Đức tin thơm hơn ngọc</p><p>Thơ bay rồi thơ bay”</p><p>hay:</p><p>“Xác cô thơm quá thơm hơn ngọc</p><p>Cả một mùa xuân đã hiện hình”</p><p>Nói về màu xanh ngọc bích, trước đó Xuân Diệu đã từng viết:</p><p>“Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá”</p><p>Sau này Nguyễn Tuân cũng dùng màu xanh ấy để nói về màu nước của con sông Đà vào mùa xuân. Tiếp đến là cách sử dụng đại từ phiếm chỉ “vườn ai”, vườn Vĩ Dạ vườn nào mà chẳng đẹp, vườn nào mà chẳng tươi nhưng để có được vẻ đẹp khiến thi nhân say đắm như vậy chỉ có thể là vườn của người mình thương, mình nhớ. Hai chữ “vườn ai” không phải là câu hỏi để tìm chủ nhân khu vườn mà chỉ là cách thể hiện niềm vui sướng, niềm bất ngờ khi gặp lại dẫu chỉ là trong tưởng tượng mà thôi. Đại từ phiếm chỉ như mang một sắc thái mơ hồ, mang lại cho cả câu thơ một chút nhớ nhung, một chút ngậm ngùi và một chút xa vắng bởi tất cả đã thuộc về thế giới khác, thế giới của ai đó ngoài kia chứ không còn thuộc về mình nữa… Cuối cùng Hàn Mặc Tử khép lại khổ thơ bằng một nét vẽ thi vị về cảnh và người thôn Vĩ:</p><p>“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”</p><p>Từ một hình ảnh thật trong tấm bưu thiếp, Hàn Mặc Tử đã sáng tạo nên một hình tượng nghệ thuật độc đáo, thơ mộng, đẹp đẽ. “Mặt chữ điền” chỉ những người có khuôn mặt vuông vắn, đầy đắn ứng với đức tính thật thà, phúc hậu, Khuôn mặt ấy trở nên duyên dáng khi được những cành trúc tô điểm, bóng dáng con người làm cảnh Vĩ Dạ vốn đã đẹp nay lại càng đẹp hơn trong sự hài hòa giữa cảnh và người, giữa tĩnh và động qua tạo nên nét đẹp e lệ, kín đáo, duyên dáng của con người xứ Huế. Hàn Mặc Tử đã hơn một lần nói về trúc và thiếu nữ. Khóm trúc như tỏa bóng xanh mát che chở cho mối tình đẹp đang nảy nở:</p><p>“Thầm thì với ai ngồi dưới trúc</p><p>Nghe ra ý vị và thơ ngây”</p><p>Song có lẽ đây là câu thơ gây nhiều tranh cãi bởi khuôn mặt chữ điền kia là đàn ông hay phụ nữ? lối tạo hình của nó là cách điệu hay tả thực? Dường như vườn thơ Hàn là một tháp ngà kiêu sa, tráng lệ, ánh hào quang của nó tỏa sáng chói lòa nhân thế… bởi lẽ những hình tượng thơ của ông khiến người đọc khó đến gần, khó nắm bắt hiểu, nhiều tầng nghĩa và cũng có nhiều cách hiểu. Có người cho rằng đó là khuôn mặt đôn hậu của người con gái xứ Huế, có người lại cho rằng đó là khung cửa sổ, là cổng nhà quý phái hay đặc biệt hơn cả đó chính là khuôn mặt của tác giả. Tìm trong thơ Hàn, sẽ thấy đây là lối tạo hình khá phổ biến, và cái nhân vật nép mình khi thì sau cành lá, khóm lau, khi thì sau rào thưa, bờ liễu… thường là hình bóng tự họa của Tử, mà Tử vẫn có cái “thói” tự vẽ mình một cách rất kiêu hãnh:</p><p>“Xin mời chàng tài hoa thi sĩ đó</p><p>Ngồi xuống đây bên thảm ngọc vườn châu”</p><p>Hàn Mặc Tử tự vẽ mình lên trang thơ như một “kẻ đứng ngoài”, “kẻ đi ngang qua cuộc đời”, “kẻ đứng cách xa hàng thế giới”, là vị “khách xa lạ”, là kẻ đứng ngoài mọi cuộc vui, mọi cảnh đẹp trần thế. Phải chăng đó là sản phẩm của mặc cảm chia lìa?</p><p>Đắm chìm trong cảnh sắc tươi đẹp của vườn thôn Vĩ chỉ là khoảnh khắc với Hàn Mặc Tử, để rồi khi tác giả chợt nghĩ đến hố sâu ngăn cản giữa mình với thôn Vĩ bởi chứng bệnh nan y như đang vẫy gọi án tử hình. Cũng vì vậy bài thơ đã có sự chuyển ý, “bật cóc” rất nhanh từ cảnh sắc vui tươi đã chuyển sang đau thương u hoài:</p><p>“Gió theo lối gió, mây đường mây</p><p>Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”</p><p>Cái lối chuyển từ nhanh, có khi rất xa, có khi rất kì lạ sống đó là một đặc điểm của thơ Hàn và khi “những đột xuất ấy lặp đi lặp lại với tần số cao sẽ tạo nên sự khó hiểu” (Vũ Quần Phương), quả thực là như vậy. Bốn câu thơ khổ hai không có liên hệ gì về chi tiết với đoạn một, cả khu vườn hay khuôn mặt chữ điền kia cũng không hề được nhắc lại. Cảnh bây giờ đã hoàn toàn khác, nhưng cái tâm trạng vẫn một xa cách, vẫn một vắng vẻ. Thấm đượm trong lời thơ là cảm giác buồn vắng, sầu tủi, chia lìa. Nhịp thơ 4/3 chậm rãi như ngắt câu thơ làm hai nửa, âm điệu dàn trải như đưa người đọc chìm đắm vào nỗi buồn hiu hắt cùng thi nhân, câu thơ khiến ta liên tưởng đến những vần thơ của Thế Lữ:</p><p>“Anh đi đường anh tôi đường tôi</p><p>Tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi.”</p><p>Nhưng nếu như Thế Lữ nói trực tiếp lời nhân vật trữ tình thì Hàn Mặc Tử lại mượn hình ảnh để nói lên tiếng lòng. Dường như cảnh vật đang bắt đầu chia lìa, gió và mây đều có đường đi riêng cũng giống như sự chia li của mối tình đơn phương, vô vọng sớm muộn cũng tàn. Điệp từ “gió” và “mây” đã càng tô đậm sự chia lìa ấy. Gió thổi mây bay là quy luật tất yếu của tự nhiên nhưng cái tưởng như không thể chia cách ấy nay lại xa cách chia lìa, mỗi thứ một phương, gió một đường, mây một nẻo. Những hình ảnh được lặp lại không phải để nhấn mạnh cường độ của gió hay sắc độ của mây mà là để tạo ra một khoảng không gian khép kín chia rẽ đôi bờ xa cách. Nỗi đau đến tốt cũng đã thấm đượm vào cả không gian khiến cho dòng nước sông Hương cũng nhuốm màu tâm trạng. Phép nhân hóa “Dòng nước buồn thiu” vừa làm hiện lên một dòng sông phẳng lặng như không trôi chảy, vừa gợi như làm ngưng đọng nỗi buồn. Thêm vào đó là động thái “lay” của hoa bắp chính là một nét buồn phụ họa vào khung cảnh bởi bản thân nó vốn dĩ chẳng mang nghĩa buồn hay không vui, ta cảm thấy dường như thật nhẹ nhàng, thật buồn. Nghệ thuật lấy động tả tĩnh đã gợi lại nỗi buồn đến tê tái, thiên nhiên Huế vốn được ban tặng vẻ đẹp bình lặng, trầm tư mà giờ đây sàng lọc qua tâm hồn Hàn Mặc Tử đã trở thành nỗi buồn sâu tận đáy lòng. Có phải có một chữ “lay” buồn như thế từ bông sậy của dân ca đã xuôi theo ngọn gió thời gian mà đậu vào thơ Tử:</p><p>“Ai về giồng dứa qua truông</p><p>Gió lay bông sậy bỏ buồn cho em”</p><p>Có phải chữ “lay” lấy lại trôi nổi thêm nữa để đến với hiện đại nhập vào lá ngô của thơ Trúc Thông:</p><p>“Lá ngô lay ở bờ sông</p><p>Bờ sông vẫn gió người không thấy về”</p><p>Hàn Mặc Tử nhìn thấy hoa bắp lay như nhận ra sự phiêu tán, chia lia. Tất cả gió, mây, dòng nước đều đang lưu chuyển, đều đang rời bỏ chốn này mà đi hết và bỏ rơi lại hoa bắp. Chỉ còn một mình, nó đang cố lay động như một sự níu giữ, một lưu luyến trong vô vọng của kẻ bị chia lìa.</p><blockquote><p><strong>Bạn hãy cùng Decor Hà Nội tìm hiểu về Học thuộc nhanh, những phương pháp tự học hiệu quả bất ngờ bạn nên biết</strong></p></blockquote><p>Nếu cõi thực của kí ức trong khổ 1 thật trong trẻo, tươi tắn và rực rỡ với ánh nắng ban mai ấm áp thì đến khổ hai đã tràn ngập ánh trăng làm vạn vật mờ ảo, nhạt nhòa, lạnh lẽo như thực, như mơ:</p><p>“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó</p><p>Có chở trăng về kịp tối nay”</p><p>Thơ Hàn Mặc Tử ngày là cõi nắng, đêm là cõi trăng. Hàn rất mê trăng, nó đã đi vào vườn thơ ông thật ám ảnh như một nhân vật huyền thoại, như một nơi chốn để tâm hồn thi nhân được phiêu du, thoát tục:</p><p>“Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu</p><p>Đợi gió đông về để lả lơi”</p><p>hay:</p><p>“Không gian đắm đuối toàn trăng cả</p><p>Anh cũng trăng mà em cũng trăng”</p><p>Còn ở đây Hàn Mặc Tử đã gợi ra một hình ảnh thật lạ, đó là một thế giới huyền diệu, nơi ấy có con thuyền chở trăng và có một bến sông trăng. Chỉ có trong mộng thì sông mới là sông trăng, thuyền mới chở được đầy trăng, đúng như lời nhận xét của Bích Khê: “Hàn Mặc Tử co con mắt rất mơ, rất ảo nhìn vào sự thực thì hóa sự thực hóa thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại biến thành huyền diệu”. Câu thơ của Hàn làm ta nhớ tới câu thơ rất mực tao nhã, phong lưu của Nguyễn Công Trứ:</p><p>“Gió trăng chứa một thuyền đầy</p><p>Củi khô vô hạn biết ngày nào vơi”</p><p>Cách diễn đạt phiếm chỉ “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó” tạo ra cảm giác bóng tối lạnh lẽo như bao trùm lên dòng sông, lên cảnh vật, thi sĩ như khát khao có con thuyền chở trăng về, phải chăng là để chở những khát khao hy vọng đến khắc khoải về một sự gặp gỡ và hòa hợp? Chữ “kịp” trong câu thơ thứ 2 càng thấm thía nỗi tiếc nuối, xót xa, lo sợ khi luôn biết rằng chẳng bao giờ kịp nữa nhưng ông vẫn cố hỏi khiến tâm trạng trở nên bồn chồn, chua xót, bất lực. Hỏi chỉ để tiếc, để tự dày vò bản thân mình mà thôi. Dường như, nếu trăng không về “kịp” thì kẻ bị số phận bỏ rơi bên rìa cuộc đời này, bỏ dưới trời sâu này sẽ hoàn toàn lâm vào tuyệt vọng, vĩnh viễn đau thương:</p><p>“Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?</p><p>Sao bông phượng nở trong màu huyết,?</p><p>Sao bông phượng nở trong màu huyết,</p><p>Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?”</p><p>Cụm từ “tối nay” càng làm thi nhân thêm khắc khoải bởi khi tối là khoảng thời gian cuối cùng của một ngày, “tối nay” lại mang ý nghĩa xác định khiến quỹ thời gian vốn ngắn ngủi nay lại càng ngắn ngủi. Chỉ có “tối nay”, chỉ còn “tối nay” nữa mà thôi, dường như với Hàn, sống là chạy đua với thời gian. Nếu như Xuân Diệu chạy đua với thời gian để sống tận hưởng và tận hiến hết mình, ông chỉ sợ thời gian cướp đi tuổi trẻ cũng như tình yêu thì ở Hàn Mặc Tử đang đứng ở giữa hai bờ sinh tử, lưỡi hái của tử thần đã huơ lên lạnh buốt sau lưng bởi vậy gã lo sợ từng khắc từng giờ sẽ sớm vĩnh viễn rời xa cõi đời. Trong cảnh ngộ ấy, trăng dường như là điểm tựa duy nhất, là bấu víu cuối cùng của kẻ cô đơn đang chới với trong mơ hồ. “Thơ là sự lên tiếng của thân phận”, thật trớ trêu, định nghĩa ấy hoàn toàn đúng với Hàn Mặc Tử.</p><p>Đọc thơ Hàn Mặc Tử đôi khi khiến ta liên tưởng đến những vần thơ của Lamartine, tứ thơ vừa lãng mạn vừa chứa đựng mầm mống của chủ nghĩa tượng trưng, nhiều lúc phát ngẫu, cõi lòng nhà thơ có khi như chìm đắm vào trong cõi sương mù bởi vậy cảnh trí ngoại giới được tái hiện chỉ có tính chất như những âm thanh của tâm hồn đó chính là kiểu thơ “Phong cảnh nội tâm” như trong bài “Tình hồ” có viết:</p><p>“Dưới đá sâu lòng hồ gào thét</p><p>Tự vỗ mình đau xiết tâm can</p><p>Gió xua bọt sóng miên man</p><p>Trên đôi chân đẹp của nàng dấu yêu.”</p><p>Thơ Hàn cũng vậy, mặc dù đang sống với cảnh mộng và sống với người trong mộng, câu thơ đang bồng bềnh phút chốc như trở nên hụt hẫng khi thi sĩ rơi về hiện thực của cuộc đời:</p><p>“Mơ khách đường xa khách đường xa</p><p>Áo em trắng quá nhìn không ra”</p><p>Khi không còn ánh nắng ấm áp, cũng không còn ánh trăng mộng ảo thi nhân đưa người đọc tới một cõi xa xăm, không gian đã chuyển sang hoàn toàn thế giới mộng ảo. Màu sắc, âm thanh, đường nét đều mờ nhòa, chỉ còn một bóng hình ai đó đang chập chờn xuất hiện, phải chăng đó là hình bóng xa xôi của một nữ sinh Đồng Khánh thuở nào… Chữ “mơ” đầu câu thể hiện niềm mong ước cháy bỏng của thi nhân muốn được cảm nhận, gần gũi với những hình bóng, hơi ấm của con người và cuộc đời nơi trần thế song điệp từ “khách đường xa” trong hai vế câu như tái hiện hình ảnh con người nơi trần thế đang xa dần, mờ khuất dần trong ánh nhìn tiếc nuối mà vô vọng của thi nhân. Hình ảnh người con gái xứ Huế xuất hiện trực diện bằng tiếng “em” rất mơ hồ. Em gần gũi đấy nhưng mà sao lại quá đỗi xa vời? Gần gũi vì đây là hình ảnh thường trực trong cõi lòng thi nhân, xa vời vì giữa hai người là khoảng cách thời gian cùng màn khói sương của quá khứ mờ ảo hay là vì xuất phát từ sự mặc cảm tự ti trong tình yêu:</p><p>“Em lớn quá làm sao anh giữ nổi</p><p>Nên lúc nào em muốn cứ xa anh!”</p><p>(Sechxpia)</p><p>Dường như bóng dáng em xa khuất chỉ còn đọng lại sắc áo trắng - một vẻ đẹp thánh thiện, tinh khôi đúng như Huy Cận từng viết:</p><p>“Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,</p><p>Hôm xưa em đến, mắt như lòng.”</p><p>Hàn Mặc Tử muốn cực tả sắc trắng trong câu thơ “Áo em trắng quá nhìn không ra” ở độ tuyệt đối, tột cùng. Nó choáng cả không gian làm lập lòe cả thị giác. Ta dễ thường thấy trong thơ Tử hình bóng giai nhân bao giờ cũng là hiện thân sống động của vẻ đẹp trinh khiết xuân tình và gắn vào làm một với hình bóng họ là sắc áo trắng tinh khôi: “Chị ấy năm nay còn gánh thóc / Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”, đôi lúc khiến câu thơ trở nên kì quặc: “chết rồi xiêm áo trắng như tinh”. Câu thơ của Hàn làm ta liên tưởng tới màu trắng trong thơ Xuân Quỳnh khi thi sĩ cảm thấy thời khắc xa cách cuộc đời đã đến gần:</p><p>“Người ta khuyên lúc này đừng suy nghĩ</p><p>Mà cũng đừng xúc động, lo âu.</p><p>Phía trước, phía sau, dưới đất, trên đầu</p><p>Dường trong suốt một màu vô tận trắng.”</p><p>Hình ảnh “khách đường xa” đã trở về trong cõi mộng khiến nhà thơ ngơ ngẩn, bâng khuâng, Hàn như bất lực trước cuộc đời khi thấy nó mỗi ngày một xa dần tưởng như nắm bắt được rồi lại tuột ra khỏi tay…</p><p>Say đến đâu rồi cũng phải tỉnh, mơ mộng đến mấy rồi cũng phải quay lại thực tại, Hàn Mặc Tử cũng vậy, ông đã đến lúc phải quay về với thực tại u ám dù chẳng muốn chút nào, ấy là chốn lãnh cung ảm đạm mờ mịt chẳng biết tương lai ngày mai ra sao:</p><p>“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh</p><p>Ai biết tình ai có đậm đà?”</p><p>Cụm từ “ở đây” đã vẽ ra hai không gian hoàn toàn đối lập. “Ở đây” là nơi nhà thơ đang sống, là không gian nghiệt ngã và tăm tối đang bủa vây xung quanh Tử tựa một lãnh cung nơi không có “niềm trăng và ý nhạc”, nơi có “người cung nữ nhớ thương vua”. Không gian ấy bây giờ chìm trong sương khói mông lung, lạnh lẽo của xứ Huế buồn lắm nắng, nhiều mưa. Dường như bóng dáng của người đang dần nhòa mờ “nhân ảnh” làm ta nhớ đến câu thơ của Nguyễn Gia Thiều:</p><p>“Con quay búng sẵn lên trời</p><p>Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”</p><p>Dù tất cả đều chìm vào ảo ảnh nhưng tâm hồn thi nhân vẫn luôn băn khoăn, day dứt với một câu hỏi:</p><p>“Ai biết tình ai có đậm đà?”</p><p>Từ cõi hư vô ấy, câu hỏi cuối cùng vang lên như một nỗi xót xa, tuyệt vọng của một con người tha thiết mê đắm với cuộc đời, khao khát bộc lộ tình yêu đời và khắc khoải tìm kiếm sự đồng cảm, đồng điệu. Câu thơ sử dụng đến hai lần đại từ phiếm chỉ “ai” gợi nhiều liên tưởng đến mối giao cảm của nhà thơ với người con gái xứ Huế. Chẳng biết thôn Vĩ có hiểu cho mối tình đơn phương mà tha thiết đó không? Chẳng hay người thôn Vĩ có tình cảm đậm đà với mình không? Đó là câu hỏi của tình yêu và cũng là câu hỏi muôn thuở của tất cả những người đang yêu tha thiết như nữ sĩ Xuân Quỳnh đã từng viết:</p><p>“Anh có nghe hoa rơi</p><p>Quanh chỗ mình đứng đó</p><p>Hoa ơi sao chẳng nói</p><p>Anh ơi sao lặng thinh</p><p>Đốt lòng em câu hỏi:</p><p>Yêu em nhiều không anh?”</p><p>Câu thơ của Tử rất mơ hồ, một câu hỏi đã hàm ý vô vọng nhưng vẫn thể hiện được niềm khao khát của thi nhân. Hai chữ “đậm đà” khép lại bài thơ như muốn nói dẫu vô vọng nhưng thi nhân vẫn khao khát, vẫn mong ai đó biết và thấu hiểu cho tình yêu, cho sự đậm đà của tình người.</p><p>Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng nhận định: “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”. Biết bao ống kính thiên văn đua nhau chĩa về “ngôi sao chổi” kì lạ ấy, song tiếc thay, cái vừng sáng vừa trong trẻo, vừa chói lói, vừa ma quái phát ra từ ngôi sao có sức cuốn hút bao nhiêu cũng có sức xô đẩy bấy nhiêu. Dù xuất hiện trên thi đàn văn học Việt Nam vỏn vẹn 12 năm, song những gì ông để lại cho hậu thế là cả một vườn thơ “rộng không bờ, không bến, càng đi xa càng ớn lạnh”, càng thấy “nhọc” bởi lớp lớp tầng nghĩa của những vần thơ vẫn chưa được lật mở.</p><p>Ba câu hỏi ở ba khổ thơ là ba sắc thái tình cảm hoàn toàn khác nhau. Câu hỏi thứ nhất là để nhớ mong, tiếc nuối, câu hỏi thứ hai là khắc khoải, lo âu và câu hỏi cuối cùng cho ta thấy khát khao cũng như hoài nghi của thi nhân. Ba câu hỏi như sợi dây vô hình gắn kết các khổ thơ trong mặt cảm xúc thống nhất, bài thơ thể hiện một tâm hồn rạo rực tình đời, tình người tha thiết hướng về cuộc sống đến khắc khoải của thi nhân. Bài thơ đã để lại một bức tranh ngoại cảnh và tâm cảnh thật đẹp vương vấn mãi trong lòng người đọc như nhà thơ Thu Bồn đã viết:</p><p>“Xin chào Huế một lần anh đến</p><p>Để ngàn lần anh nhớ trong mơ</p><p>Em rất thực mà nắng thì mờ ảo</p><p>Xin đừng lầm em với cố đô”</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Fri, 03 Jul 2026 16:47:29 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-day-thon-vi-da-hoc-sinh-gioi-1.jpg" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vnhttps://cdn.melodious.edu.vn/wp-content/uploads/2026/07/phan-tich-day-thon-vi-da-hoc-sinh-gioi-1.jpg" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">Bài văn học sinh giỏi phân tích “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử</media:title>
                        <media:keywords>Bài văn học sinh giỏi phân tích “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử</media:keywords>
                      </item>
        <item>
      <title><![CDATA[15+ Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ (hay nhất)]]></title>
            <category>van hoc</category>
            <link>https://melodious.edu.vn/phan-tich-kho-tho-dau-bai-day-thon-vi-da-a110167.html</link>
      <guid isPermaLink="true">https://melodious.edu.vn/phan-tich-kho-tho-dau-bai-day-thon-vi-da-a110167.html</guid>
      <description><![CDATA[<a href="https://melodious.edu.vn/phan-tich-kho-tho-dau-bai-day-thon-vi-da-a110167.html"><img width="180px" border="0" src="https://melodious.edu.vn" align="left" hspace="5" /></a>]]></description>
            <content:encoded><![CDATA[<p>Phân tích khổ 1 bài thơ Đây thôn Vĩ dạ gồm dàn ý chi tiết, sơ đồ tư duy và các bài văn mẫu hay nhất, ngắn gọn được tổng hợp và chọn lọc từ những bài văn hay đạt điểm cao của học sinh lớp 11.</p> <h2>15+ Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ (hay nhất)</h2> <p>Bài giảng: <b>Đây thôn Vĩ Dạ - Cô Thúy Nhàn (Giáo viên VietJack)</b></p> <h3><strong>Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ - mẫu 1</strong></h3> <p> Hàn Mặc Tử là một trong những gương mặt nhà thơ tiêu biểu nhất trong phong trào thơ mới với sức sáng tạo dồi dào cùng phong cách sáng tác ấn tượng. “Đây thôn Vĩ Dạ” là bài thơ đặc sắc bậc nhất trong sự nghiệp sáng tác của Hàn Mặc Tử, bài thơ là bức tranh hài hòa giữa khung cảnh thiên nhiên trong trẻo với tâm hồn suy tư, xót xa của cái tôi trữ tình.</p> <p> Trong khổ thơ đầu tiên của bài thơ, thi sĩ Hàn Mặc Tử đã hướng ngòi bút đến khung cảnh thiên nhiên giản dị mà đẹp đẽ, trong trẻo của thôn Vĩ:</p> <p>“Sao anh không về chơi thôn Vĩ</p> <p>Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên</p> <p>Vườn ai mướt quá xanh như ngọc</p> <p>Lá trúc chen ngang mặt chữ điền”</p> <p> “Đây thôn Vĩ Dạ” được sáng tác dựa trên cảm xúc tha thiết khi Hàn Mặc Tử đón nhận món quà của Hoàng Cúc là bức thiệp có in phong cảnh xứ Huế mộng mơ cùng lời mời đầy dịu dàng, tha thiết “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”.</p> <p> Mở đầu bài thơ là câu hỏi tu từ cùng giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết vừa như trách móc, vừa như hờn giận, vừa như lời mời chân thành của người con gái xứ Huế. Câu hỏi cũng chính là lời tự trách của nhà thơ với bản thân khi không thể về thăm lại vùng đất Vĩ Dạ, nơi nhà thơ từng có những kỉ niệm tốt đẹp. Hoàn cảnh hiện tại không cho phép nhà thơ về thăm Vĩ Dạ nhưng bằng tất cả nỗi nhớ, hồi ức đã có, Hàn Mặc Tử đã vẽ lên bức tranh Vị Dạ thật sinh động, độc đáo.</p> <p>“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”</p> <p> Vĩ Dạ là vùng quê nổi tiếng với nghề trồng rau truyền thống, với những hàng cau thẳng tắp xanh mướt. Hình ảnh hàng cau trong thơ Hàn Mặc Tử được gợi tả thật đẹp với màu xanh ngắt của lá cau cùng ánh nắng vàng nhẹ tinh khiết của mặt trời khi buổi bình minh. “Nắng” được điệp lại hai lần vừa gợi ấn tượng về ánh sáng vừa diễn tả được cảm giác náo nức, xôn xao của thi sĩ trước khung cảnh thôn Vĩ. Nhớ về thôn Vĩ, tâm hồn nhà thơ Hàn Mặc Tử cũng sáng bừng những cảm xúc trong trẻo, chân thành.</p> <p>“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”</p> <p> Khung cảnh khu vườn xanh ngát, căng tràn sức sống của thôn vĩ hiện lên tươi đẹp đến ngỡ ngàng, để tăng hiệu quả về thẩm mỹ, tác giả Hàn Mặc Tử đã sử dụng cách so sánh đầy ấn tượng “xanh như ngọc”. Sắc xanh trong trẻo của những tán lá dưới ánh mặt trời trở lên thật lung linh, thật đặc biệt. Từ “mướt” được tác giả sử dụng rất khéo không chỉ diễn tả được cái mượt mà, tươi tốt của vườn cây mà còn cho thấy sự khéo léo, chăm chỉ của bàn tay chăm sóc khu vườn ấy.</p> <p> Trong cảm xúc bất tận, xao xuyến về khung cảnh thôn Vĩ, hình ảnh con người thấp thoáng sau khóm trúc hiện lên thật đặc biệt:</p> <p>“Lá trúc chen ngang mặt chữ điền”</p> <p> Khuôn mặt chữ điền gợi ra vẻ hiền lành, phúc hậu mang đến cho người đọc một liên tưởng, phải chăng đây chính là bóng dáng của người con gái Hàn Mặc Tử thương. Dáng vẻ xa xôi, bị cách trở bởi hàng trúc nhưng lại mang đến những xuyến xao da diết cho người nhìn. Đến đây, cảnh và người đã hòa quyện làm một cùng tạo nên bức tranh thơ thật đẹp đẽ, trong trẻo.</p> <p> Chỉ với 4 câu thơ ngắn gọn, tác giả Hàn Mặc Tử đã vẽ lên bức tranh Vĩ Dạ đầy gợi cảm, sinh động cùng tình cảm tha thiết, chan chứa tình yêu thương của chủ thể trữ tình.</p> <h3><strong>Dàn ý Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ</strong></h3> <h3><b>Dàn ý - mẫu 1</b></h3> <p><strong>1/ Mở bài:</strong></p> <p>- Giới thiệu tác phẩm: “Đây thôn Vĩ Dạ” là bài thơ đặc sắc bậc nhất trong sự nghiệp sáng tác của Hàn Mặc Tử, bài thơ là bức tranh hài hòa giữa khung cảnh thiên nhiên trong trẻo với tâm hồn suy tư, xót xa của cái tôi trữ tình.</p> <p><strong>2/ Thân bài:</strong></p> <p>- Trong khổ thơ đầu tiên của bài thơ, thi sĩ Hàn Mặc Tử đã hướng ngòi bút đến khung cảnh thiên nhiên giản dị mà đẹp đẽ, trong trẻo của thôn Vĩ.</p> <p>- “Đây thôn Vĩ Dạ” được sáng tác dựa trên cảm xúc tha thiết khi Hàn Mặc Tử đón nhận món quà của Hoàng Cúc là bức thiệp có in phong cảnh xứ Huế mộng mơ cùng lời mời đầy dịu dàng, tha thiết “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”</p> <p>- Mở đầu bài thơ là câu hỏi tu từ cùng giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết vừa như trách móc, vừa như hờn giận, vừa như lời mời chân thành của người con gái xứ Huế.</p> <p>- Hoàn cảnh hiện tại không cho phép nhà thơ về thăm Vĩ Dạ nhưng bằng tất cả nỗi nhớ, hồi ức đã có, Hàn Mặc Tử đã vẽ lên bức tranh Vị Dạ thật sinh động, độc đáo.</p> <p>- Hình ảnh hàng cau trong thơ Hàn Mặc Tử được gợi tả thật đẹp với màu xanh ngắt của lá cau cùng ánh nắng vàng nhẹ tinh khiết của mặt trời khi buổi bình minh.</p> <p>- “Nắng” được điệp lại hai lần vừa gợi ấn tượng về ánh sáng vừa diễn tả được cảm giác náo nức, xôn xao của thi sĩ trước khung cảnh thôn Vĩ.</p> <p>- Khung cảnh khu vườn xanh ngát, căng tràn sức sống của thôn vĩ hiện lên tươi đẹp đến ngỡ ngàng.</p> <p>- Sắc xanh trong trẻo của những tán lá dưới ánh mặt trời trở lên thật lung linh, thật đặc biệt.</p> <p>- Trong cảm xúc bất tận, xao xuyến về khung cảnh thôn Vĩ, hình ảnh con người thấp thoáng sau khóm trúc hiện lên thật đặc biệt.</p> <p>- Khuôn mặt chữ điền gợi ra vẻ hiền lành, phúc hậu mang đến cho người đọc một liên tưởng, phải chăng đây chính là bóng dáng của người con gái Hàn Mặc Tử thương.</p> <p>→ Cảnh và người đã hòa quyện làm một cùng tạo nên bức tranh thơ thật đẹp đẽ, trong trẻo.</p> <p><strong>3/ Kết bài:</strong></p> <p>- Chỉ với 4 câu thơ ngắn gọn, tác giả Hàn Mặc Tử đã vẽ lên bức tranh Vĩ Dạ đầy gợi cảm, sinh động cùng tình cảm tha thiết, chan chứa tình yêu thương của chủ thể trữ tình.</p> <h3><b>Dàn ý - mẫu 2</b></h3> <p><strong>1. Mở bài</strong></p> <p>Giới thiệu tác giả Hàn Mặc Tử và bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.</p> <p>Lưu ý: học sinh tự lựa chọn cách dẫn mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của mình/</p> <p><strong>2. Thân bài</strong></p> <p>“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”: Câu hỏi tu từ cùng giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết vừa như trách móc, hờn giận vừa như lời mời chân thành của người con gái nơi đây nhắn nhủ đến người mình yêu thương.</p> <p>“Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên”: Hàng cau mang màu xanh ngắt của lá cau cùng ánh nắng vàng nhẹ tinh khiết của mặt trời khi buổi bình minh. “Nắng” - gợi ấn tượng về ánh sáng, diễn tả được cảm giác náo nức, xôn xao của tác giả trước khung cảnh thôn Vĩ. Bức tranh thôn Vĩ dần hiện lên qua màu xanh của cây lá và màu vàng tươi của những tia nắng rực rỡ tràn đầy sức sống.</p> <p>“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”: không chỉ có màu xanh của hàng cau, ở thôn Vĩ còn có màu xanh của vườn tược với nhiều loại cây khác nhau gợi lên sự trù phú của vùng đất này.</p> <p>“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”: Hình ảnh con người thấp thoáng sau khóm trúc: Khuôn mặt chữ điền gợi ra vẻ hiền lành, phúc hậu.</p> <p>→ Cảnh và người đã hòa quyện làm một cùng tạo nên bức tranh thơ thật đẹp đẽ, trong trẻo.</p> <p><strong>3. Kết bài</strong></p> <p>Khái quát lại nội dung, ý nghĩa của đoạn trích và vị trí đoạn trích đối với tác phẩm nói chung.</p> <h3><strong>Sơ đồ Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ</strong></h3> <h3><strong>Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ - mẫu 2</strong></h3> <p> Hàn Mặc Tử - thi nhân của những mối tình "khuấy" mãi không thành khối. Tử yêu nhiều nhưng chua xót nhận ra rằng: Trăng là người bạn tình và là người bạn tình chung thuỷ cuối cùng của đời mình. Hoàng Thị Kim Cúc- một thiếu nữ thôn Vĩ Dạ là mối tình đầu của Hàn Mặc Tử, hai người quen nhau ở Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử yêu thầm yêu Hoàng Thị Kim Cúc từ năm 1936, nhưng vì rụt rè nên chỉ dám bộc bạch tâm sự cùng thơ. Năm 1939 biết Tử bị mắc bệnh nan y, lại được người khác nhắc nhở, thúc giục, Hoàng Thị Kim Cúc gửi tặng thi nhân Hàn Mặc Tử bưu ảnh phong cảnh có thuyền và bến, kèm theo mấy dòng hỏi thăm để an ủi mà không ký tên, nhưng bức ảnh và những dòng chữ kia đã kích thích trí tưởng tượng, cảm hứng, và đã gợi dậy những gì thầm kín xa xưa của Hàn Mặc Tử. Đọc bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" người vô tâm mấy cũng không thể không nhớ khổ thơ đầu :</p> <p>“Sao anh không về chơi thôn Vĩ</p> <p>Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên</p> <p>Vườn ai mướt quá xanh như ngọc</p> <p>Lá trúc chen ngang mặt chữ điền”</p> <p> Đây thôn Vĩ Dạ cho ta gặp một cái tôi trữ tình đau thương và khao khát. Câu thơ mở đầu phảng phất chút riêng tư của tác giả:</p> <p>Sao anh không về chơi thôn Vĩ?</p> <p> Câu thơ mở đầu là câu hỏi tu từ với nhiều sắc thái. Vừa là câu hỏi nhưng lại gợi cảm giác như lời trách nhẹ nhàng và cũng là lời mời gọi thiết tha của cô gái thôn Vĩ với nhà thơ. Song đây cũng là lời nhà thơ tự trách mình, tự hỏi mình, là ước ao thầm kín của người đi xa mong được về lại thôn Vĩ. Câu thơ bảy chữ nhưng chứa bảy thanh bằng đi liền nhau làm cho âm điệu trách móc cứ dịu nhẹ đi, lời trách nhẹ nhàng mà tha thiết và bâng khuâng. Thôn Vĩ có cái gì đặc biệt và hấp dẫn mà lời mời lại tha thiết đến vậy? Câu hỏi thấm thía một nỗi niềm nuối tiếc, day dứt vọng lên từ trong lòng nhà thơ khi giờ đây dù thôn Vĩ có thơ mộng đến đâu thì thi sĩ cũng chỉ có thể trở về trong tâm tưởng. Thơ Hàn Mặc Tử là thơ hướng nội. Câu hỏi "Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?" có thể là câu tự văn của chính bản thân ông. "Anh" ở đây là đại từ nhân xưng được dùng ở ngôi thứ nhất, chứ không phải ngôi thứ hai. Một câu hỏi mang tính chất giãi bày. Câu thơ thể hiện niềm nuối tiếc. Dòng thơ đượm buồn, có pha chút hối hận. Cả bài Đây thôn Vĩ Dạ phải chăng là để trả lời câu hỏi đã đặt ra ở câu đầu tiên của bài thơ</p> <p> Đối với Hàn Mặc Tử, câu thơ vừa ngọt ngào vừa gợi mở vừa trách móc ấy đã làm hồi sinh, bừng dậy trong nhà thơ bao kỷ niệm về một Vĩ Dạ mộng và thơ. Ngay sau đó là thế giới sự sống hiện ra qua cảnh và người thôn Vĩ, qua hoài niệm của thi nhân ở bao thơ tiếp:</p> <p>"Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên</p> <p>Vườn ai mướt quá xanh như ngọc</p> <p>Lá trúc chen ngang mặt chữ điền”</p> <p> Hình ảnh "Nắng hàng cau nắng mới lên" gợi vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết. Cau là cây cao nhất trong vườn nên sớm đón được những tia nắng đầu tiên của một ngày vì thế nắng hàng cau là nắng thanh tân, tinh khôi. Ánh nắng chiếu vào thân cau đổ bóng xuống khu vườn, thân cau thẳng lại chia thành nhiều đốt điều đặn bởi vậy mà cau như cây thước của thiên nhiên được dựng sẵn trong vườn để đo mức nắng. Loài cây ấy lại chiếu rọi bởi một một thứ ánh nắng đặc biệt, nắng mới lên, nắng đầu tiên của một ngày ấm áp.</p> <p> Trước khi tạo nên bài Đây thôn Vĩ Dạ bất hủ này. Hàn Mặc Tử đã có lần đi qua khu vườn nhà Hoàng Thị Kim Cúc ở bến Vĩ Dạ, nhưng chỉ đứng ở cổng mà nhìn vào. Ấn tượng sâu sắc đầu tiên còn lại trong độc giả khi đọc khổ thơ đầu là cảnh "bến Vĩ Dạ lúc hừng đông". Qua cảnh này, Tử muốn gửi gắm những tâm sự kín đáo nào đây? Trong muốn vàn cây, lá của Vĩ Dạ, nhà thơ nhắc đến hàng cau tắm nắng bình minh. Từ khi xưa, cây cau vẫn gợi mối tình đôi lứa, bằng biện pháp nghệ thuật tăng cấp, nhà thơ đã nhấn mạnh ý "nắng mới lên", "xanh như ngọc''. Nắng bình minh thì đẹp thật, nhưng qua cái nhìn của thi nhân lãng mạn nó cũng trôi qua rất nhanh.</p> <p> Khu vườn "mướt" hàm chứa ý nghĩa của tính từ ướt và láng bóng thể hiện vẻ mượt mà, non tơ, óng chuốt, mơn mởn xanh tươi. Vẻ đẹp ấy đã khiến nhà thơ phải trầm trồ say đắm. Hình ảnh so sánh "xanh như ngọc: Sương đêm ướt đẫm cỏ cây hoa lá. Màu xanh mỡ màng, non tơ ngời lên, bóng lên dưới ánh mai hồng, trông "mướt quá" một màu xanh ngọc bích. Trong ánh nắng của buổi sớm mai, hình ảnh vườn tược buổi bình minh hiện lên đầy sức sống. Ta có thể hiểu được thông qua điểm nhìn bao quát toàn bộ khu vườn của tác giả. Tất cả hòa hợp và ánh lên một vẻ đẹp thanh tú. Câu thơ là một bức tranh quê rực rỡ, tươi mới và tràn đầy sức sống. Thi sĩ đang muốn tuyệt đối hòa vẻ đẹp cao quý, cao sang của đối tượng. Qua đó thấy được niềm thiết tha với cuộc đời trần thế của chủ thể trữ tình.</p> <p> Trong khu vườn xinh đẹp ấy thấp thoáng có bóng người sau khóm trúc. Hình ảnh con người thôn Vĩ hiện lên với khuôn mặt chữ điền</p> <p>"Lá trúc che ngang mặt chữ điền".</p> <p> Hình ảnh lá trúc góp phần làm rõ thêm tính quyền quý của khu vườn Vĩ Dạ. Khuôn mặt chữ điền bị lá trúc che ngang lâu nay đã trở thành lời thách đố đối với bao nhiêu bạn yêu thơ. Nhiều người đồng tình khẳng định khuôn mặt chữ điền là khuôn mặt phúc hậu, hiền lành, trung thực, ca dao Huế đã từng có câu :</p> <p>Mặt em vuông tựa chữ điền</p> <p>Da em thì trắng, áo đen mặc ngoài</p> <p>Lòng em có đất có trời</p> <p>Có câu nhân nghĩa có lời thủy chung</p> <p> "Lá trúc che ngang mặt chữ điền". Lá trúc ấy phải ở trong vườn ngọc kia, nó che khuất, che lấp cả sự phúc hậu, hiền lành, trung thực; Phải chăng nó thực sự trở thành trở lực ngăn cách tình người. Nó làm cho "Gió theo lối gió, mây đường máy"; nó tạo nên "Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay" ; nó kết lại trong một lời trách:</p> <p>Ở đây sương khói mờ nhân ảnh</p> <p>Ai biết tình ai có đậm đà</p> <p> Câu kết bài thơ đã trả lời khá đầy đủ lý do "Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Chỉ thiên về việc khai thác vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên và con người xứ Huế, có thể người bình thơ sẽ mắc phải sai lầm là không hiểu hết bi kịch tình yêu của Hàn Mặc Tử. Khi ông viết Đây thôn Vĩ Dạ thì tình cảm của thi nhân với Hoàng Thị Kim Cúc cũng chỉ còn trong quá vãng. Hơn nữa, ông lại đang ở trong tình trạng hoang mang, bi quan đến cực độ khi biết mình bị bệnh nan y. Khổ thơ đầu nói riêng và cả bài "Đây thôn Vĩ Dạ" nói chung do vậy vẫn nằm trong cảm hứng "đau thương" của Hàn Mặc Tử.</p> <h3><strong>Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ - mẫu 3</strong></h3> <p>Nếu nhân loại không còn khao khát nữa</p> <p>Và nhà thơ nghề chẳng kẻ nào yêu</p> <p>Người - Thi sĩ - cuối cùng là Hàn Mặc Tử</p> <p>Vẫn hiện lên ở đây đợi chờ</p> <p>(Tràn Ninh Hổ)</p> <p> Hàn Mặc Tử - thi nhân của những mối tình "khuấy" mãi không thành khối. Tử yêu nhiều nhưng chua xót nhận ra rằng: Trăng là người bạn tình và là người bạn tình chung thuỷ cuối cùng của đời mình. Trong đời thơ, đời người quá ngắn, Hàn say mê bốn thiếu nữ (Hoàng Cúc,-Mộng Cầm, Mai Đình, Ngọc Sương). Hoàng Cúc, một thiếu nữ thôn Vĩ Dạ là mối tình đầu của Tử, hai người quen nhau ở Quy Nhơn, Tử là nhân viên Sở Đạc điền, còn cha Hoàng Cúc là chủ sở. Hàn thầm yêu Hoàng Cúc từ năm 1936, nhưng vì rụt rè nên chỉ dám bộc bạch tâm sự cùng thơ và bạn bè... Năm 1939 biết Tử bị mắc bệnh nan y, lại được người khác nhắc nhở, thúc giục Hoàng Cúc gửi tặng thi nhân Hàn Mặc Tử bưu ảnh phong cảnh Huế và mấy dòng hỏi thăm mà không ký tên. Hàn lầm tưởng đó là cảnh "Bến Vĩ Dạ lúc hừng đông hay đêm trăng ?“. Để tạ lòng cố nhân, Tử gửi tặng Hoàng Cúc bài Đây thôn Vĩ Dạ. Đọc bài thơ này, người vô tâm mấy cũng không thể không nhớ khổ thơ đầu :</p> <p>“Sao anh không về chơi thôn Vĩ</p> <p>Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên</p> <p>Vườn ai mướt quá xanh như ngọc</p> <p>Lá trúc chen ngang mặt chữ điền”</p> <p> Cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ phải gắn với mối tình đầu của Tử và Hoàng Cúc. Nhưng lâu nay, bị ám ảnh bởi yếu tố ngoài văn bản ngôn ngữ - đặc biệt là ý kiến "Hoàng Cúc đã chỉ cho Hàn Mặc Tử một tấm hình cô mặc áo dài trắng trường Đồng Khánh (...), và trách Hàn Mặc Tử sao lâu nay không ra thăm thôn Vĩ Dạ nên nhiều người đã hiểu câu thơ mở đầu bài thơ là lời trách nhẹ nhàng, nhè nhẹ - đúng là giọng hờn dịu ngọt của các cô gái Huế, trách mà cứ như là chào mời khách về thăm thôn Vĩ. Những lời bình ấy xem ra có lẽ thoát văn bản. Căn cứ vào đâu mà nói: "Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?" là câu hỏi trách móc của một thôn nữ. Hơn nữa, như Hoàng Cúc khẳng định: sau tấm bưu ảnh, không có lời trách móc nào. Làm sao có thể trách người đang từng giờ, từng phút đợi tử thần đến mang đi? Thơ trữ tình là thơ hướng nội. Thơ Hàn Mặc Tử càng là thơ hướng nội. Câu hỏi "Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?" có thể là câu tự văn của chính bản thân Tử. "Anh" ở đây là đại từ nhân xưng được dùng ở ngôi thứ nhất, chứ không phải ngôi thứ hai. Một câu hỏi mang tính chất giãi bày. Câu thơ thể hiện niềm nuối tiếc. Nhân vật trữ tình đã tự trách mình sao lại không về chơi thôn Vĩ. Dòng thơ đượm buồn, có pha chút hối hận. Cả bài Đây thôn Vĩ Dạ phải chăng là để trả lời câu hỏi đã đặt ra ở câu đầu tiên của bài thơ (có lẽ nên đặt dấu chấm hỏi ở vị trí cuối cùng của dòng thơ thứ hai thì hợp lý hơn).</p> <p> Trước khi tạo nên bài Đây thôn Vĩ Dạ bất hủ này. Hàn Mặc Tử đã có lần đi qua khu vườn nhà Hoàng Cúc ở bến Vĩ Dạ, nhưng chỉ đứng ở cổng mà nhìn vào. Ấn tượng sâu sắc đầu tiên còn lại trong độc giả khi đọc khổ thơ đầu là cảnh "bến Vĩ Dạ lúc hừng đông". Qua cảnh này, Tử muốn gửi gắm những tâm sự kín đáo nào đây? Trong muôn vàn cây, lá của Vĩ Dạ, nhà thơ nhắc đến hàng cau tắm nắng bình minh. Bao đời nay với người Việt Nam, cây cau vẫn gợi mối tình đôi lứa, bằng biện pháp nghệ thuật tăng cấp tiên tiến, nhà thơ đã nhấn mạnh ý "nắng mới lên", "xanh như ngọc''. Nắng bình minh (nắng mới lên) đẹp thì đẹp, nhưng qua cái nhìn của thi nhân lãng mạn nó cũng qua nhanh như ''hơi rượu say" (bởi vậy liền sau cảnh hừng đông là cảnh bến sông đêm trăng buồn đến nao lòng).</p> <p> "Nắng hàng cau nắng mới lên” đi liền với "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc". Cũng là vườn mang hương vị ngọt ngào của ca dao, nhưng vườn mà Từ miêu tả khác vườn của Nguyễn Bính, ở đây, người ta thấy xuất hiện trong thơ một khu vườn "mướt quá xanh như ngọc'. "Vườn ai" - vườn có một đối tượng có vẻ như phiếm chỉ, nhưng cũng có thể là vườn của người mình thương, vườn tình của cô gái.</p> <p> Rõ ràng, khu vườn trong thơ Tử không phải là "vườn hồng", cũng không phải là khu vườn có "bóng hoàng hôn", mà là vườn xanh như ngọc. Phép so sánh khá mới lạ này khiến cho độc giả có thể nghĩ đến "vườn em" là vườn cành vàng lá ngọc. Vào khu vườn ấy đâu phải dễ dàng. Câu thơ thứ tư nói rõ thêm ý tưởng ấy:</p> <p> "Lá trúc che ngang mặt chữ điền". Hình ảnh lá trúc góp phần làm rõ thêm tính quyền quý của khu vườn Vĩ Dạ. Khuôn mặt chữ điền bị lá trúc che ngang lâu nay đã trở thành lời thách đố đối với bao nhiêu bạn yêu thơ. Nhiều người đồng tình khẳng định khuôn mặt chữ điền là khuôn mặt phúc hậu, hiền lành, trung thực, ca dao Huế đã từng có câu :</p> <p>Mặt em vuông tựa chữ điền</p> <p>Da em thì trắng, áo đen mặc ngoài</p> <p>Lòng em có đất có trời</p> <p>Có câu nhân nghĩa có lời thủy chung</p> <p> Nhà thơ quá cố Chế Lan Viên đã có ý nghi ngờ, khi ông nêu ra câu hỏi "Con gái mặt chữ điền thì đẹp gì đâu mà Hàn Mặc Tử ca ngợi". Gương mặt chữ điền trong câu thơ là gương mặt ai? Một số người cho rằng: Gương mặt ấy chính là gương mặt Hoàng Cúc, người khác lại nghĩ là gương mặt Hàn Mặc Tử. Hình ảnh lá trúc làm nảy sinh sự tranh cãi khá gay gắt. Lá trúc thực ở ngoài đời hay lá trúc vẽ trên những bức rèm treo trước cửa các nhà quyền quý? Người ta nói: "Văn chương tự cổ bằng cử cũng không phải là không có nguyên cớ. Theo thiển nghĩ của người viết bài này thì trung tâm phát sóng của khổ thơ nằm trong chi tiết thẩm mỹ:</p> <p> Lá trúc che ngang mặt chữ điền Lá trúc ấy phải ở trong vườn ngọc kia, nó che khuất, che lấp cả sự phúc hậu, hiền lành, trung thực; Phải chăng nó thực sự trở thành trở lực ngăn cách tình người. Nó làm cho "Gió theo lối gió, mây đường máy"; nó tạo nên "Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay" ; nó kết lại trong một lời trách:</p> <p>Ở đây sương khói mờ nhân ảnh</p> <p>Ai biết tình ai có đậm đà</p> <p> Câu kết bài thơ đã trả lời khá đầy đủ lý do "Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Chỉ thiên về việc khai thác vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên và con người xứ Huế, có thể người bình thơ sẽ mắc phải sai lầm là không hiểu hết bi kịch tình yêu của Tử. Khi Hàn Mặc Tử viết Đây thôn Vĩ Dạ thì tình cảm của thi nhân với Hoàng Cúc cũng chỉ còn trong quá vãng. (Lúc này Hàn Mặc Tử đã yêu người khác). Hơn nữa, Tử lại đang ở trong tình trạng hoang mang, bi quan đến cực độ khi biết mình bị bệnh nan y. Khổ thơ đầu nói riêng và cả bài "Đây thôn Vĩ Dạ" nói chung do vậy vẫn nằm trong cảm hứng "đau thương" của Hàn Mặc Tử.</p> <h3><strong>Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ - mẫu 4</strong></h3> <p> Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ Mới. Thơ ông đặc trưng bởi sự dịu dàng, đằm thắm và xen chút buồn man mác. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những sáng tác hay nhất của Hàn Mặc Tử với những cảm xúc chân thật, thiết tha.</p> <p> Bài thơ được lấy cảm hứng từ bức thư của Hoàng Thị Kim Cúc gửi cho nhà thơ. Nó là tiếng lòng, là sự nhớ nhung quê hương cùng với một chút thương xót cho cuộc tình dở dang. Vì căn bệnh hiểm nghèo mà Hàn Mặc Tử bị xã hội xa lánh, buộc ông phải sống cách li và vì thế, đã rất lâu nhà thơ chưa về thăm lại thôn Vĩ. Bức thư của cô gái mà anh thầm yêu thương đã làm cho nỗi nhớ quê hương trào lên trong tâm hồn tác giả. Khổ thơ mở đầu chỉ là bốn câu ngắn ngủi nhưng lại có sức truyền tải vô cùng lớn.</p> <p>Sao anh không về chơi thôn VĩNhìn nắng hàng cau nắng mới lênVườn ai mướt quá, xanh như ngọcLá trúc che ngang mặt chữ điền</p> <p> Ngay từ đầu bài thơ, tác giả đã dẫn ra một câu hỏi tu từ. Câu hỏi ấy được đưa ra nhưng lại chẳng mong được đáp trả. Có lẽ, nó là lời trách móc nhẹ nhàng của Kim Cúc về sự ra đi của Mặc Tử. Đã bao lâu rồi anh không về thăm lại xứ Huế mộng mơ, thăm thôn Vĩ quen thuộc mà những ngày trước đây hai người đã từng có biết bao kỉ niệm. Câu thơ gợi lên một cảm giác bâng khuâng, xao xuyến. Nó cũng giống như một lời mời gọi sự quay trở lại quê hương, thăm thôn Vĩ Dạ nên thơ, dịu dàng. Và cũng có khi nó là sự tiếc nuối, nhớ nhung da diết của chính tác giả.</p> <p> Anh đã xa quê hương mà chưa một lần trở về. Nỗi khát khao được trở về đã thúc giục anh, buộc anh phải tự hỏi chính mình “Sao không về thăm thôn Vĩ”. Thôn Vĩ là một chốn thôn quê bình yên, thơ mộng, đậm chất Huế. Không được trực tiếp tận hưởng không gian ấy nhưng những hình ảnh đẹp nhất, dịu ngọt nhất vẫn đang chảy trong tâm hồn của nhà thơ với sự nhớ mong da diết.</p> <p>Nhìn nắng hàng cau nắng mới lênVườn ai mướt quá xanh như ngọc</p> <p> Hai câu thơ vẽ lên trước mắt bạn đọc một bức tranh tươi đẹp và tràn đầy sức sống. Mỗi câu thơ lại dẫn dắt ta đến với sự xinh đẹp, mộng mơ của thiên nhiên xứ Huế. Ở những con đường nhỏ của thôn Vĩ, hai hàng cau mọc lên thẳng tắp đón lấy ánh nắng mặt trời. Chúng toát lên một vẻ thanh thoát, cao sang. Những tàu cau vươn mình ra xa, đón lấy những cơn gió nhẹ nhàng cùng tia nắng ấm áp. Mặt trời vừa hé, tỏa ra ánh nắng dịu dàng của buổi sớm mai. Những tia nắng không quá chói chang, nóng bỏng, chúng ấm áp một cách dịu hiền.</p> <p> Ánh nắng len lỏi vào từng kẽ lá, chiếu rọi xuống mặt đất những hình hài đáng yêu của bóng cây. Nắng sáng mai luôn là thứ nắng tuyệt đẹp. Nó mang đến sức sống, mang đến hơi thở cho mọi vật. Và lấp ló sau những rặng cau là khu vườn ngập tràn màu xanh. Cây cối được mặt trời tưới xuống nhựa sống, chúng đâm chồi nảy lộc và đua nhau xanh tốt. Màu xanh trải dài khắp cả chốn thôn quê. Màu xanh trong mắt của Hàn Mặc Tử có một cái gì đó mới mẻ và lạ lẫm. Nó không phải là xanh rì, xanh thẳm mà lại xanh màu xanh của ngọc.</p> <p> Một cách so sánh rất đặc biệt và hấp dẫn. Thiên nhiên trở nên hữu tình và thơ mộng hơn qua con mắt của thi nhân. Màu xanh ấy toát lên một sức sống mãnh liệt và mạnh mẽ. Cây cối cứ mơn mởn lên để đón ánh nắng mặt trời. Nó làm cho không gian của thôn Vĩ Dạ trong lành, thoáng mát và xanh hơn. Mọi thứ đều tươi mới và tràn trề nhựa sống. Thôn Vĩ vẫn luôn luôn là thế, đẹp đẽ, mộng mơ và ngập tràn hương vị thiên nhiên.</p> <p> Để rồi, trong không gian ấy, hình ảnh con người hiện lên thật hiền hòa.</p> <p>Lá trúc che ngang mặt chữ điền</p> <p> Những lá trúc chập chờn theo làn gió. Nó như đang sà xuống khu vườn xanh mát để đắm mình cùng sức sống của thiên nhiên. Cũng có thể những lá trúc ấy đang nghiêng mình bên cửa sổ, ẩn hiện phía sau tấm rèm là khuôn mặt “chữ điền” của những cô gái Huế mộng mơ. Đó là khuôn mặt phúc hậu nhưng không kém phần duyên dáng. Thiên nhiên và con người hòa vào nhau, đan xen với nhau để tạo nên một cái nhìn mới lạ đầy hấp dẫn. Người con gái Huế nhẹ nhàng, e thẹn lấp ló sau những chiếc lá xanh mượt mà. Nó như càng gợi lên nỗi nhớ quê hương da diết đang trực trào trong lòng tác giả.</p> <p> Khổ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ tuy ngắn ngủi nhưng đã khơi gợi được biết bao điều ý nghĩa. Một xứ Huế mộng mơ nhưng căng tràn sức sống, một thiên nhiên trong lành cùng những con người hiền hòa, dịu êm. Tất cả sẽ mãi khắc sâu vào trong lòng bạn đọc với tất cả sự yêu thương và trân trọng tình đời và tình người trong Đây thôn Vĩ Dạ, cái chữ “tình” bên trong con người Hàn Mặc Tử tài hoa.</p> <h3><strong>Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ - mẫu 5</strong></h3> <p> Làm thơ từ năm mười sáu tuổi, Hàn Mặc Tử là một nhà thơ có sức sáng tạo dồi dào trong phong trào Thơ mới. Một trong những bài thơ đặc sắc về thiên nhiên, đất nước và con người là Đây thôn Vĩ Dạ. Khổ thơ mở đầu sau đây miêu tả thiên nhiên xứ Huế vô cùng gợi cảm, hòa vào một tình cảm nhớ thương đằm thắm, bâng khuâng, tiêu biểu cho một nét phong cách thơ Hàn Mặc Tử:</p> <p>“Sao anh không về chơi thôn Vĩ</p> <p>Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên</p> <p>Vườn ai mướt quá xanh như ngọc</p> <p>Lá trúc chen ngang mặt chữ điền”</p> <p> Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ có kết cấu ba đoạn. Khổ thơ thứ nhất, tả vườn cây dưới ánh nắng ban mai thanh tân, tinh khiết. Khổ thơ thứ hai gợi lên cảnh trời, trăng, mây nước mang nét buồn xa vắng. Khổ thơ cuối là nỗi lòng nao nao, mơ mộng bởi bóng hình thiếu nữ xứ Huế.</p> <p> Thôn Vĩ Dạ nằm ngay trên bờ sông Hương, nổi tiếng bởi những vườn cây trái cây tươi bốn mùa, với những ngôi nhà duyên dáng... đi vào văn học qua câu thơ tuyệt bút. Nhưng đâu phải chỉ có thiên nhiên gợi niềm ấp yêu tuyệt diệu mà quanh quẩn đâu đó còn cả bóng dáng con người quen thuộc, có tấm lòng chờ đợi thiết tha.</p> <p>Sao anh không về chơi thôn Vĩ?</p> <p> Câu thơ là một lời mời mọc, cũng có thể là một lời trách móc thân tình. Ngôn ngữ chọn lọc mà như ngẫu nhiên phóng bút. “Sao anh không về” vừa nhẹ nhàng vừa dễ thương như một duyên cớ gợi nhớ những hình ảnh của thôn Vĩ ngày nào trong ký ức nhà thơ - một thời từng là cậu học trò trường Pe-lơ-ranh xứ Huế với trái tim đa cảm. Hãy về thôn Vĩ, một thôn Vĩ tràn ngập ánh nắng ban mai:</p> <p>Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên</p> <p>Vườn ai mướt quá xanh như ngọc</p> <p> Thôn Vĩ Dạ có những hàng cau thẳng tắp. Nắng sớm ban mai tràn ngập không gian. Những tàu lá cau xanh mướt vươn lên đón tia nắng sớm, vô vàn hạt sương đêm đọng lại, lấp lánh màu ngọc bích. Lời thơ thật hồn nhiên. “Vườn ai mướt quá” như tiếng reo vui nhưng cũng thật điêu luyện: từ mướt thật đắt và xanh như ngọc mang nghĩa tượng trưng gợi tả độc đáo.</p> <p>Lá trúc che ngang mặt chữ điền</p> <p> Lá trúc thì mảnh mai, thanh tú. Nhiều cành lá xếp lên nhau, lay nhẹ theo làn gió thoảng ban mai, dưới ánh nắng sớm, che ngang in bóng như chữ điền trên khuôn mặt người thôn Vĩ. Hay khuôn mặt người thôn Vĩ hồn hậu vuông vắn chữ điền? Có thể là cả hai: hình ảnh vừa thực, vừa có phần hư ảo lung linh trong niềm nhớ của lòng người. Câu thơ được cách điệu hóa, mang ý nghĩa tượng trưng. Vườn cây mượt mà đó phải là quê hương những con người hiền hòa. đôn hậu. Con người chợt xuất hiện trên cái nền thiên nhiên tươi mát làm cho cảnh vật sinh động hẳn lên và hình ảnh con người cùng thiên nhiên hòa hợp trong vẻ đẹp dịu dàng, thơ mộng.</p> <p> Mạch thơ êm nhẹ, ý thơ chuyển dịch: sau lời mời mọc dễ thương (câu 1 cảnh vật hiện lên trước mắt với màu sắc tươi tắn (câu 2,3) và con người hiền hòa xuất hiện, với ngôn ngữ điêu luyện, bút pháp vừa lãng mạn vừa tượng trưng), khổ thơ biểu hiện nét đẹp nên thơ của con người và cảnh vật xứ Huế. Qua đó, ý thơ cũng gợi lên một tình yêu thiên nhiên đằm thắm, một nỗi bâng khuâng, xa xôi mờ ảo, như trong câu cuối của bài thơ:</p> <p>Ai biết tình ai có đậm đà?</p> <p> Có ý kiến cho rằng cảnh vật hiện ra trong một số bài thơ của Hàn Mặc Tử đậm đà màu sắc dân tộc. Thật vậy, nếu không gắn bó máu thịt với quê hương Hàn Mạc Tử khó viết được những câu thơ trác tuyệt như trên.</p> <p> Bên cạnh những bài thơ hay về quê hương đất nước của Thế Lữ, Xuân Diệu. Huy Cận, Chế Lan Viên, Anh Thơ.... mấy câu thơ mở đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử. đã góp phần khẳng định giá trị của phong trào Thơ mới vào những năm ba mươi của thế kỉ XX, đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa văn học nước ta trong nửa đầu thế kỷ này.</p> <h3><strong>Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ - mẫu 6</strong></h3> <p> Hàn Mặc Tử là một trong những cây bút xuất sắc có đóng góp không nhỏ trong phong trào Thơ mới nói riêng và thành tựu thơ ca Việt Nam nói chung, ông còn được nhớ đến là “thi nhân của những mối tình”, “khuấy” mãi không thành khối. Với “Đây thôn Vĩ Dạ” ông đã chạm khắc vào tâm khảm muôn triệu trái tim một vần thơ tình yêu đơn phương, thơ mộng mà huyền ảo ở xứ Huế mộng mơ.</p> <p> Thôn Vĩ Dạ được biết đến như sông Hương, núi Ngự của xứ Huế. Bởi vậy, không lấy làm ngạc nhiên khi thấy nhiều tên tuổi như Nguyễn Bính, Bích Khuê, Nguyễn Tuân đều nảy sinh cảm hứng về xứ sở này. Nếu như mỗi tình yêu đều gắn với một thời gian và không gian cụ thể, thì mỗi hình ảnh của nhân vật trữ tình trong bài thơ đều gắn với thiên nhiên và con người thôn Vĩ với những kỉ niệm khó phai mờ.</p> <p>Sao anh không về chơi thôn Vĩ?</p> <p> Đây là lời trách yêu, một sự dỗi hờn thể hiện nỗi ngóng trông da diết của cô gái ở thôn Vĩ. Là lời nói dịu dàng chứa đầy yêu thương ấy chính đã gây xôn xao, đã trở thành giai điệu và phát ra lời nói.</p> <p> Ở câu thơ thứ hai, Hàn Mặc Tử nhanh chóng có mặt ở không gian Vĩ Dạ. Đây là một cuộc hành trình trong tâm thức nhà thơ:</p> <p>Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên</p> <p> Cái nắng được miêu tả “nhìn nắng hàng cau” song hành với một cái nắng tinh khôi mới mẻ khiến nhà thơ phải reo lên như con trẻ “nắng mới lên”; “nắng” được thắp trên những hàng cau. Du khách thấy được nắng hàng cau và càng đến gần khu vườn càng thấy màu xanh ngọc của là cây. Đôi mắt thi nhân đang ở trên khu vườn thôn Vĩ, như đang muốn xé toạc vòm trời đen để nhìn thấy bình minh nắng mới diệu kì thắp lên từ thôn Vĩ Dạ. Nơi có người mình thương nhớ như là một nơi ẩn chứa phép màu cổ tích.</p> <p>Vườn ai mướt quá xanh như ngọc</p> <p> Đã “vườn ai mướt quá” lại còn phát hiện ra cái “mướt quá” ấy còn “xanh như ngọc”. Tất cả đều non tơ và xanh như ngọc cho ta cảm nhận không chỉ bằng thị giác mà còn cảm nhận được thanh âm của những chiếc lá ngọc. Vì “vườn ai” có phải chính là vườn em, là ta thấy khuôn mặt của em trong khu vườn ấy. Đọc thơ Hàn Mặc Tử chúng ta bắt gặp nhiều hình tượng, một thế giới vừa thực vừa ảo. Bởi thế, thật khó tin nhưng Hàn Mặc Tử đã gặp lại chính mình với gương mặt chữ điền thời còn là chàng trai trên đất Huế.</p> <p>Lá trúc che ngang mặt chữ điền?</p> <p> Thi sĩ của trăng muốn yêu một tình yêu trong trắng, một tình yêu đắm say thì phải trở lại là con người của ngày hôm qua, con người trong quá khứ, hẳn phải là nhà thơ đa tình phong lưu thời còn làm bạn với Huế. Phải chăng Hàn Mặc Tử đang muốn quên mình trong hiện thực phũ phàng để được yêu thêm lần nữa, yêu nhiều hơn nữa?</p> <p> Lá trúc phải chăng đang ngăn cách tình người? Làm “Gió theo lối gió, mây đường mây”, tạo nên “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” đưa đến tâm trạng hy vọng mong manh mà thất vọng tràn trề: “Có chở trăng về kịp tối nay” và kết lại trong lời trách móc:</p> <p>Ở đây sương khói mờ nhân ảnhAi biết tình ai có đậm đà?</p> <p> Hàn Mặc Tử đã khắc họa bức tranh vườn quê thôn Vĩ qua nỗi lòng nuối tiếc bâng khuâng về một mối tình dở dang rồi chạm vào tâm khảo lớp lớp thế hệ Việt Nam trong một tâm trạng nhớ thương. Với bốn câu thơ trong khổ thơ đầu, cảnh nói lên tình, tình buồn thấm sâu vào cảnh vật, và nếu đặt khổ thơ trong cảm hứng chung của cả ta mới cảm nhận được đúng tình và ý thi nhân.</p> <h3><strong>Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ - mẫu 7</strong></h3> <p> Hàn Mặc Tử một nhà thơ tiêu biểu trong phong trào thơ mới 1932-1945 với những tác phẩm tiêu biểu. Các nhà thơ đã hòa mình vào thiên nhiên, ngắm nhìn cảnh đẹp quê hương đất nước dù ông đang phải trải qua những đau đớn của bệnh tật với mong muốn được gắn bó lâu hơn với cuộc sống này. Đó là một tinh thần đáng ngợi ca và tâm trạng ấy đã được khắc họa rõ trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ”. Khổ 1 là bức tranh thôn Vĩ tươi đẹp cùng tâm trạng tiếc nuối của tác giả.</p> <p> Khổ thơ bắt đầu bằng một câu hỏi: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ” câu hỏi vang lên như một lời trách thầm, nhắn nhủ của nhân vật trữ tình trong tâm trạng vời vợi nhớ mong. Câu hỏi đó là của ai mà lại vừa hỏi vừa trách móc vừa nhớ mong nhất định không phải của Hoàng Cúc, không phải của cô gái nào ở thôn Vĩ. Vậy có thể là của ai? Có thể là của Hàn Mặc Tử tác giả đang phân thân để chất vấn chính mình. Câu hỏi đó như xác nhận một sự thật đã lâu rồi tác giả không được về thôn Vĩ hay không biết đến bao giờ có thể trở lại thôn Vĩ một lần nữa. Đó là cái cớ rất giàu chất thơ vừa nhẹ bẫng xót xa để gọi về những kỉ niệm thôn Vĩ. Câu thơ bảy chữ nhưng có tới sáu thanh bằng, thanh trắc duy nhất vút lên cuối câu như một nốt nhấn khiến cho lời thơ nhẹ nhàng mà thấm thía những nỗi niềm tiếc nuối vọng lên da diết khôn nguôi. Từ niêm nhớ thương được khơi nguồn như thế, hình ảnh thôn Vĩ chợt sống dậy trong lòng nhà thơ:</p> <p>"Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên</p> <p>Vườn ai mướt quá xanh như ngọc</p> <p>Lá trúc chen ngang mặt chữ điền”</p> <p> Chỉ ba câu thơ Hàn Mặc Tử đã khắc họa được những nét đặc trưng của thiên nhiên xứ Huế. Mỗi câu thơ là một nét vẽ, mỗi chi tiết sống động tạo thành sự khắc họa sống động đẹp đẽ của thôn Vĩ trong hoài niệm. Trước tiên là vẻ đẹp trong trẻo tinh khôi của buổi sớm mai: nắng hàng cau nắng mới lên không phải là cái nắng chang chang dọc bờ sông trắng mà là cái nắng trong trẻo tinh khôi của một ngày. Chỉ miêu tả nắng thôi mà đã gợi lên trong lòng người đọc bao nhiêu liên tưởng đẹp. Những cây cau mảnh dẻ vút cao vươn mình đón lấy tia nắng ban mai trong lành ấm áp. Khung cảnh quen thuộc ấy ta có thể bắt gặp ở bất cứ góc sân khoảng trời nào từ miền quê đất Việt thân yêu. Phép luyến láy: nắng hàng cau nắng mới lên làm cho cái nắng như lan tỏa hơn bừng sáng hơn. Điệp từ “nắng” đã vẽ ra một bức tranh ánh nắng trong không gian nắng lan đến đâu vạn vật bừng sáng đến đó từ trên cao tràn xuống thấp và tràn đầy cả khu vườn, thôn Vĩ như được khoác lên một chiếc áo mới thanh tân, tươi tắn.</p> <p> Đến câu thơ thứ ba là cảnh vườn tược được tắm đẫm trong nắng mai ngời sáng lên như một viên ngọc xang diệu kì: “ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc.” Câu thơ như một tiếng reo đầy ngỡ ngàng thích thú, không phải xanh non xanh biếc mà là xanh như ngọc. Còn gì trong sáng và cao quý hơn ngọc. Cảnh giản dị mà thanh khiết cao sang vô cùng. Phải chăng sương đêm đã gột rửa hết những bụi bặm để khoác lên cây lá tấm áo choàng trong suốt lấp lánh khi nắng lên. Chữ “mướt” tác động mạnh mẽ vào giác quan người đọc ấn tượng vẻ mượt mà loáng mướt của khu vườn. Nhưng cái thần của câu thơ lại dồn cả vào chữ “ai” chỉ một chữ mà khiến cho cảnh đang gần gũi bỗng bị đẩy ra xa, hư thực khó nắm bắt. Âm hưởng nhẹ bẫng của tiếng này khiến hơi thở như thoáng xuôi về một cõi hư ảo mơ hồ. Với Hàn Mặc Tử lúc này, đó là thế giới ở ngoài kia, của sự sống ngoài kia chứ không phải thế giới của bệnh tật. Và rất tự nhiên theo mạch cảm xúc, nhắc đến “ai” lập tức nhà thơ nhớ đến hình bóng con người:</p> <p>“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”</p> <p> Câu thơ kết đoạn là nét cách điệu hóa rất tài tình của Hàn Mặc Tử nhằm ghi lấy hồn Vĩ Dạ. Có lẽ hình ảnh cành trúc đã trở nên quen thuộc khi nhắc đến con người nơi đây, mảnh đất cố đô văn hiến. Con người như hòa vào, như ẩn vào thiên nhiên một vẻ đẹp kín đáo tao nhã. Đó là vẻ đẹp riêng trong mảnh đất cố đô nhưng ngay trong dòng cảm xúc miên man ấy ta đã thấy nỗi buồn man mác xa nỗi thấm vào lòng người. Nhưng cũng có một điều đặc biệt trong thơ Hàn Mặc Tử là vừa có ảnh hưởng thơ ca dân gian vừa có sản phẩm của lối thơ sáng tạo hay vẽ khuôn mặt sau hàng liễu được viết lên bởi mặc cảm chia lìa của con người luôn tự nhận mình đứng ngoài cuộc vui.</p> <p> Cảm nhận khổ 1 bài Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh cảnh và người xứ Huế vừa trần thế vừa trong sáng, tinh khôi trong tâm trí Hàn Mặc Tử. Qua đó có thể thấy ở Hàn Mặc Tử một tình yêu quê, yêu người tha thiết, và cũng vời vợi nỗi nhớ mong của thi sĩ hướng về cảnh và người thôn Vĩ.</p> <p> Đọc bài thơ mà khơi gợi trong lòng người tình yêu quê hương, yêu thiên nhiên sâu sắc, yêu con người cảnh vật nơi đây. Từ đó mà dạy chúng ta cách giữ gìn và bảo vệ những thứ xung quanh mình.</p> <h3><strong>Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ - mẫu 8</strong></h3> <p> Phong trào thơ mới (1932 -1945) đã sản sinh ra một lực lượng các cây bút trẻ đầy tài năng. Những cái tên như Huy Cận, Xuân Diệu hay Hàn Mặc Tử...đã đi sâu vào tiềm thức người yêu văn thơ cả trong và ngoài nước. Giữa bầu trời sao lung linh trên thi đàn ngày ấy, Hàn Mặc Tử vẫn rất nổi bật, ông được chú ý không chỉ vì cái tôi riêng có trong thơ, ông còn rất được quan tâm chính từ hoàn cảnh và số phận đặc biệt của một con người tài năng.</p> <p> Đến với thơ từ khi mới 16 tuổi, sự nghiệp sáng tác của ông phôi thai và phát triển cực điểm cho đến tận hơi thở cuối cùng. Dù ở đề tài nào, người đọc vẫn tìm thấy chính cuộc đời thăng trầm, dâu bể của ông sau những vần thơ. "Đây thôn Vĩ Dạ" là một tác phẩm nổi tiếng đã góp phần đưa tên tuổi của Hàn Mặc Tử bừng sáng giữa bầu trời lấp lánh sao của văn thơ Việt Nam buổi nào.</p> <p> "Đây thôn Vĩ Dạ" được nhà thơ lấy cảm hứng từ sự khơi gợi về một kỷ niệm của người yêu cũ. Bài thơ có 12 câu, chia làm 3 khổ, mỗi khổ thơ như một bức tranh tuyệt đẹp về xứ Huế mộng mơ. Khổ đầu tiên là bức tranh hừng đông nơi thôn, khổ thứ hai là cảnh trăng về trên thôn và khổ cuối cùng là hoài niệm về người xưa nơi thôn Vĩ. Chúng ta cùng thưởng thức cảnh bình minh trên thôn Vĩ qua khổ thơ đầu để cảm nhận được sức sáng tạo tuyệt mĩ, hồn nhiên, trong trẻo lạ thường nơi tâm hồn thơ Hàn Mặc Tử.</p> <p>"Sao anh không về chơi thôn Vĩ?Nhìn nắng hàng cau nắng mới lênVườn ai mướt quá xanh như ngọcLá trúc che ngang mặt chữ điền"</p> <p> Nhà thơ mở đầu bài bằng một câu hỏi tu từ đa phong cách "Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?" Lời mời mọc tế nhị, kín đáo này của người con gái xứ Huế xinh đẹp và nên thơ, chở đầy sức hấp dẫn lạ kỳ. Đó cũng được xem là lời trách yêu của người con gái ấy đối với thi nhân. Câu thơ đầy ý nhị, với nỗi nhớ nhung da diết của cô thiếu nữ đang yêu, nhưng dù là lời mời, lời trách cứ hay lời nhắc yêu đi nữa vẫn dễ mến lạ lùng. Không lồ lộ, bỗ bã, nói anh về thăm em, mà nói anh về thăm thôn Vĩ, nhắc nhở anh rằng, hãy nhớ quê hương, anh nhớ quê hương thì anh nhớ em, nơi quê hương có em. Quê hương là em, thôn Vĩ là em và ngược lại.</p> <p> Câu thơ tiếp theo đã gợi lên trước mắt độc giả một bức tranh hừng đông nơi thôn Vĩ có "nắng mới lên" phơn phớt hồng đượm vẻ tinh khôi của bình minh long lanh trên những tàu cau còn đọng những giọt sương đêm.</p> <p>"Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên"</p> <p> Cau là loại cây thân nhỏ và cao vút, có quả dùng để ăn với trầu và thường được trồng ở trước nhà. Vì có dáng cao vút nên cây cau dễ dàng tiếp nhận những tia nắng đầu tiên của một ngày mới. Tác giả sử dụng nghệ thuật lặp từ ngữ "nắng...nắng". Bút pháp nghệ thuật giản dị nhưng mang lại hiệu quả cao trong việc nhấn mạnh vẻ đẹp và cái thần của sắc nắng ban mai. Chỉ với một câu thơ tác giả đã làm hiện lên trước mặt người đọc những nét đẹp đầu tiên của vườn cây nơi thôn Vĩ. Cũng qua đó chúng ta cảm nhận sâu sắc cái nhìn âu yếm, thiết tha như chờ đón cái đẹp xuất hiện từ lưng chừng trời của thi nhân.</p> <p> Ở câu thơ thứ ba, "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc", "Ai" - đây là một đại từ nhân xưng phiếm chỉ được tác giả sử dụng để nói về khu vườn đẹp này chính là khu vườn nhà cô gái ông yêu. Với vhir một từ mà khẳng định được vẻ đẹp của khu vườn nhà người con gái mà mình từng đắm say mơ mộng, từng khao khát hạnh phúc lứa đôi. Tiếp sau đó nữa là "mướt quá", giá trị của từ "mướt" trong câu thơ này gợi cái sắc vẻ bóng láng và mỡ màng nhìn thấy thích mắt của những lá cành vươn lên trong khu vườn trù mật, phì nhiêu được con người cần cù chăm sóc. Thêm vào đó, chữ "quá" làm tăng màu sắc biểu cảm của tứ thơ. Thông thường từ "quá" nói lên cái mức độ vượt ra ngoài ngưỡng trung bình. Nhưng ở câu thơ này, nó mang âm hưởng của một tiếng reo trong niềm sung sướng, ngất ngây, một lời trầm trồ buột ra tự nhiên khi chợt nhận ra một vẻ đẹp bất ngờ của khu vườn ở một khoảnh khắc đặc biệt. Cùng với nghệ thuật so sánh từ "xanh như ngọc", nhà thơ càng làm tăng cái vẻ đẹp đến thanh cao, quý phái của khu vườn, mơn mởn dưới ánh sáng bình minh.</p> <p> Câu thơ cuối khổ là một khám phá nghệ thuật độc đáo và rất đẹp của thi sĩ Hàn Mặc Tử "Lá trúc che ngang mặt chữ điền". Mới đọc xong câu thơ, chúng ta thường nghĩ ngay đến là tác giả đang ca tụng khuôn mặt chữ điền nào đó thấp thoáng sau nhành trúc. Mặt chữ điền chỉ tướng mạo đẹp của một người có bản chất tốt, phúc hậu, thủy chung. Nhưng nếu chỉ hiểu theo nghĩa đen kia thì e rằng chưa thực thấu hiểu hết suy tư của tác giả. Cần hiểu câu thơ theo nghĩa của nghệ thuật cách điệu hóa chứ không phải tả thực, tuy cách điệu hóa cũng xuất phát từ hiện thực. Cách điệu hóa thường chỉ giữ lại một dáng điệu, cái đường nét chung của sự vật, từ đó, sáng tạo nên một hình tượng có ý nghĩa biểu trưng cho vẻ đẹp của sự vật ấy. Ở đây thi nhân muốn diễn tả những gương hiền lành, phúc hậu thấp thoáng sau tre trúc nơi vườn cây cảnh, cây trái xinh đẹp ở thôn Vĩ Dạ mỗi buổi sớm mai.</p> <p> Sâu xa hơn nữa, ẩn sau mỗi ý thơ là nỗi niềm luyến tiếc, vấn vương về cái đẹp của cảnh và người xứ Huế ở thôn Vĩ, sông Hương đối với nhà thơ tại thời điểm ấy chỉ còn là hoài niệm. Tình cảm yêu quý, trân trọng của thi nhân gửi gắm qua cái nhìn cảnh vật ấy, chợt gợi nhớ, gợi thương trong tâm hồn độc giả chúng ta hai câu thơ của Bích Khê:</p> <p>"Vĩ Dạ thôn, Vĩ Dạ thônBiếc tre cần trúc không buồn mà say."</p> <p>(Huế đa tình)</p> <p> Bức ảnh phong cảnh Huế của Hoàng Thị Kim Cúc gửi cho Hàn Mặc Tử là nguồn cảm hứng để tác giả cho ra đời bài thơ. Người gửi đã nhiều thâm tình, người nhận được - nhà thơ lại càng sắc sảo hơn. Tác giả nghe như có lời mời mọc, lời trách yêu, hờn dỗi vang lên của người con gái xứ Huế. Từ đó ùa về trong tâm tưởng của ông, khung cảnh thôn Vĩ hừng đông vần vật nhựa sống. Phải là một con người yêu Huế mãnh liệt, nồng nàn, gắn bó máu thịt với thôn Vĩ, sông Hương, thi nhân Hàn Mặc Tử mới lột tả cảnh và người xứ Huế có hồn đến thế. Và cái làm cho người đọc thực sự cảm kích cũng chính cái đẹp nhất của đoạn thơ là "tâm hồn tác giả luôn hướng về cái thánh thiện, khát khao với cái đẹp của tình người, tình đời dù xa xôi mờ ảo."</p> <h3><strong>Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ - mẫu 9</strong></h3> <p>Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào Thơ mới. Tuy có cuộc đời nhiều bi thương nhưng qua hồn thơ phong phú, sáng tạo và đầy bí ẩn, người đọc vẫn cảm nhận được một tình yêu đến đau đớn hướng về cuộc đời trần thế của ông. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những sáng tác nổi tiếng của Hàn Mặc Tử đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong lòng người đọc. Chính vì vậy, qua bao nhiêu thế hệ, người ta có ba ý kiến nhận định về bài thơ: Đó là bài thơ về tiếng nói trăn trở của mối tình thầm kín; là lời yêu thương với một miền quê; là niềm khao khát được sống trong niềm sẻ chia, đồng cảm được trở về với cuộc đời. Đoạn thơ đầu của thi phẩm đã thể hiện một cách thật tha thiết, xúc động những tâm tình ấy.</p> <p>Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền.</p> <p>“Đây thôn Vĩ Dạ” được Hàn Mặc Tử viết khi đang mắc bệnh nan y - bệnh phong, căn bệnh khiến nhiều người xa lánh, hắt hủi ông nên ông luôn mang trong mình nỗi niềm khao khát được sẻ chia, đồng cảm, muốn trở về với cuộc đời. Nằm trong bệnh viện và nhận được tấm bưu thiếp của người con gái ông thầm thương trộm nhớ, Hàn Mặc Tử lấy đó làm cảm hứng để bài thơ được ra đời. Qua đó, ông đã vẽ nên bức tranh phong cảnh và cũng là tâm cảnh, thể hiện nỗi niềm cô đơn của ông về một mối tình đơn phương xa xăm vô vọng. Không chỉ vậy, bài thơ cũng là tấm lòng yêu tha thiết của nhà thơ đối với thiên nhiên, cuộc sống, con người xứ Huế.</p> <p>Mở bài bài thơ, tác giả đã sử dụng câu hỏi tu từ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?” vừa như một lời chào thân mật vừa như lời trách móc nhẹ nhàng của cô gái thôn Vĩ. Không thô lỗ, mà hết sức ân cần, tế nhị. Vì thôn Vĩ có em, vì thôn Vĩ là quê hương anh, là nơi thân thiết của anh. Tuy nhiên, có thể hiểu đây là lời tự nhủ, tự trách của tác giả. Ông tự hỏi bản thân sao bấy lâu nay không về thăm lại vùng đất ấy, thôn quê ấy. Ông khao khát được về thăm quê hương, nỗi nhớ thương mảnh đất ấy cứ đau đáu mãi. Ngặt nỗi, lúc ấy Hàn Mặc Tử đang bị bệnh, làm sao có thể trở về được mà cũng có thể mãi không trở về được…</p> <p>Qua ba câu thơ sau, khung cảnh thiên nhiên và con người hiện lên trong hoài niệm, tưởng tượng của Hàn Mặc Tử rất đỗi bình dị, quen thuộc:</p> <p>Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền.</p> <p>Nắng mới lên là nắng sớm buổi bình minh. Ánh sáng tinh khôi, rực rỡ ấy làm sáng bừng không gian rộng lớn, khoáng đạt của xứ Huế. Điệp từ “nắng” không chỉ thể hiện sự tràn ngập ánh sáng, sức sống mà còn bộc lộ tâm hồn luôn hướng về ánh sáng, hướng về cuộc đời của Hàn Mặc Tử. Câu thơ ấy đã vẽ nên một hàng cau đầy sức sống, mãnh liệt đang vươn lên đón lấy những tia sáng đầu tiên của buổi sớm. Nhớ đến Vĩ Dạ, nhà thơ nhớ đến hàng cau đầu tiên. Bởi lẽ hình ảnh hàng cau, vun vút cao quá đỗi quen thuộc đối với người dân thôn Vĩ. Nhịp thơ 1/3/3 như bước chân khoan thai của bất kỳ vị khách nào, trầm ngâm nhìn nắng mới lên trên những hàng cau xanh biếc rạng ngời.</p> <p>Vườn ai mướt quá xanh như ngọc</p> <p>Câu thơ như lời khen ngợi, trầm trồ, ngạc nhiên thốt lên trước vẻ đẹp thanh tao, mơn mởn của cỏ cây, thiên nhiên. Vườn ai? Phải chăng là vườn nhà em? Cảnh cũ người xưa nhưng vì lâu chưa về nên mới thốt lên ngỡ ngàng như vậy. Tác giả dùng biện pháp tu từ so sánh “xanh như ngọc” và từ “mướt”, như vậy có thể thấy thôn Vĩ không chỉ xinh đẹp mà còn rất trù phú. Câu hỏi tu từ “Vườn ai mướt quá” như tiếng reo của trẻ thơ, một tiếng reo trong sung sướng, một lời trầm trồ khen ngợi buột ra tự nhiên khi chợt nhận ra vẻ đẹp bất ngờ của khu vườn. Tưởng chừng như nghe thấy tiếng nhựa sống đang chảy trong cây. Tất cả đều rạo rực, đều đầy sức sống. Chỉ có vườn xuân mới xanh mướt, phì nhiêu đến vậy. Hay chỉ có vườn nhà em mới đẹp đẽ, hữu hình đến thế.</p> <p>Lá trúc che ngang mặt chữ điền</p> <p>Nhắc đến con gái Huế, người ta nghĩ ngay đến hình ảnh cô gái duyên dáng, thướt tha trong tà áo dài tím mộng mơ cùng chiếc nón lá trắng, dịu dàng, yểu điệu mà tinh tế. “Mặt chữ điền” chỉ tướng mạo phúc hậu, dịu dàng. “Lá trúc che ngang” là một nét vẽ tài tình, gợi lên hình ảnh gương mặt thấp thoáng của thiếu nữ. Một nét vẽ ấy đã miêu tả vẻ đẹp thanh tao, dịu dàng. Một nét vẽ ấy đã vẽ ra dáng vẻ e lệ, ẩn sau lá trúc của người con gái. Và chính hình ảnh cô gái e lệ thấp thoáng sau những lá trúc càng chứng tỏ “vườn ai” và vườn cô gái đứng chỉ là một. Thiên nhiên và con người dưới ngòi bút đầy sắc sảo của Hàn Mặc Tử đã kết hợp hài hòa với nhau tạo nên một bức tranh phong cảnh tươi đẹp, đầy sức sống và có sức hút lạ lùng.</p> <p>Bằng âm điệu tha thiết, ngọt ngào, sâu lắng, Hàn Mặc Tử đã vẽ nên một bức tranh thôn Vĩ Dạ cho người nghe cảm nhận khổ một bài Đây thôn Vĩ Dạ thật mơ mộng, bình dị. Qua đó cho thấy tình yêu to lớn của ông đối với mảnh đất yên bình, trù phú này. Tuy nhiên, ẩn sau mỗi ý thơ là nỗi niềm luyến tiếc, vấn vương về người và cảnh nơi đây. Ông vấn vương, trăn trở về mối tình thầm kín của mình với người con gái thôn Vĩ. Ông vấn vương, thương nhớ về cảnh sắc tươi đẹp của thôn Vĩ. Nhưng tất cả đối với nhà thơ thời điểm ấy chỉ còn là hoài niệm.</p> <p>Nếu ở khổ một là không gian vui tươi, đầy sức sống thì ở phần còn lại của bài thơ, giọng thơ chùng xuống, ảm đạm hơn nhiều. Chính xác hơn, bắt đầu từ khổ hai, Hàn Mặc Tử đã bộc lộ tâm trạng đau buồn, u uất của mình. Lúc bấy giờ, ông mắc bệnh phong, căn bệnh khiến ông bị mọi người xa lánh. Sống trong lãnh cung của sự chia lìa, tác giả ao ước, khát khao một vị tri âm, tri kỷ. Ông khao khát hơn bao giờ hết về sự sẻ chia, giao cảm. Ông khát khao tình người, tình đời, hạnh phúc. Ông khát khao được trở về cuộc sống bình thường, được trở về thôn Vĩ Dạ. Ông biết căn bệnh hiểm nghèo của mình, biết thời gian minh còn rất ít. Vậy nên nhà thơ vừa như bồn chồn, lo lắng vừa như hy vọng một cái gì đó sẽ rời xa. Đây chính là nỗi niềm ao ước tha thiết cùng nỗi buồn man mác khi tác giả hoài niệm của tác giả.</p> <p>Với những hình ảnh biểu hiện nội tâm, bút pháp lãng mạn đầy sức gợi tả, ngôn ngữ tinh tế, giàu liên tưởng, Hàn Mặc Tử đã họa nên bức tranh nên thơ, tươi đẹp của một miền quê. Và ẩn sau đó không chỉ là tiếng nói trăn trở của mối tình thầm kín hay lời yêu thương với một miền quê mà còn là nỗi niềm khao khát được đồng cảm, được trở về với cuộc đời.</p> <p>“Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh đẹp về một miền quê đất nước, là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người. Bài thơ như bông hoa rực rỡ giữa rừng hoa của văn học nước nhà. Qua đó cho thấy tâm hồn thanh khiết, yêu đời dù là trong lúc khổ đau, tuyệt vọng của Hàn Mặc Tử.</p> <h3><strong>Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ - mẫu 10</strong></h3> <p>Hàn Mặc Tử (1912-1940) là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào "Thơ mới" (1932-1941). Ông là nhà thơ đa phong cách. Bên cạnh những kịch thơ huyền ảo thơ mộng là những bài thơ "thuận nghịch độc" cực kì điêu luyện, bên cạnh những vần thơ điên loạn, thi sĩ nhiều khi lại sáng tạo nên những hình ảnh tuyệt mĩ và hồn nhiên, trong trẻo lạ thường. "Mùa xuân chín", "Đây thôn Vĩ Dạ",... là những bài thơ tuyệt bút đầy hương sắc trong vườn thơ Việt Nam hiện dại.</p> <p>"Đây thôn Vĩ Dạ" viết về cảnh sắc thiên nhiên và con người xứ Huế đáng yêu, nói lên nỗi niềm khao khát được hòa hợp, gắn bó với người, với cảnh của nhà thơ đối với một miền quê thơ mộng. Đây là khổ đầu của áng thơ trữ tình này:</p> <p>"Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?</p> <p>Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên</p> <p>Vườn ai mướt quá xanh như ngọc</p> <p>Lá trúc che ngang mặt chữ điền ?"</p> <p>Vĩ Dạ, một làng cổ nổi tiếng, nơi cố đô Huế, nằm bên bờ Hương Giang. Cảnh vườn tược xanh tươi, cây trái bốn mùa, với sông nước con đò và những nếp nhà duyên dáng, êm đềm... Vĩ Dạ từng gắn liền với những câu hò Mái nhì, Mái đẩy, hò Giã gạo..., từng làm say đắm lòng người đã mấy trăm năm qua:</p> <p>"Núi Truồi ai đắp mà cao,</p> <p>Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu?</p> <p>Nong tằm ao cá nương dâu</p> <p>Đò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò "</p> <p>Những tiếng "ai" thân thương trong câu hò xứ Huế ấy đã vọng vào thơ Hàn Mặc Tử, gợi nên bao ám ảnh thương nhớ bồi hồi: "Vườn ai... Thuyền ai... Ai biết tình ai có đậm đà”.</p> <p>Câu thơ đầu mang tính lưỡng ngôn vừa như một lời chào mời thân mật, vừa như một lời trách nhẹ nhàng sơ sơ mà nghe rất đáng yêu: "Sao anh không về chơi thôn Vĩ?". Câu hỏi tu từ chứa đựng bao hoài niệm bâng khuâng. Sáu thanh bằng liên tiếp, rồi đọng lai một thanh trắc "Vĩ", âm điệu vần thơ lâng lâng, tình tứ: đã lâu anh không về thăm thôn Vĩ và thăm... em. Vĩ Dạ phải là nơi để lại trong lòng Hàn Mặc Tử nhiều kỉ niệm đẹp mới thoáng hiện chút tâm tình ấy.</p> <p>Câu thứ 2, thứ 3 tả cảnh sắc Vĩ Dạ:</p> <p>"Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên</p> <p>Vườn ai mướt quá xanh như ngọc".</p> <p>"Nắng mới lên" là nắng sớm bình minh, cảnh được nhìn từ xa với bao trìu mến, vẫy gọi. Hàng cau cao vút, thẳng tắp là hình ảnh thân thuộc của Vĩ Dạ, ở đây, hầu như vườn nhà nào cũng có một, hai hàng cau thẳng tắp, vút cao lên như đón chào du khách từ xa, như trầm mặc trong sương sớm, lắng nghe chuông chùa Diệu Đế, Thiên Mụ, và tắm ánh hình minh rạng ngời tàu cau. Nhịp thơ 1- 3-3: "Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên" như nhịp bước khoan thai của khách xa, rồi đứng dừng lại, trầm ngâm ngắm nhìn nắng mới trên những tàu cau xanh biếc rạng ngời.</p> <p>Câu thơ "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc" như một lời trầm trồ, ngạc nhiên thốt lên trước vẻ đẹp lộng lẫy của cỏ cây, hoa trái. "Vườn ai" không xác định, một chút ngỡ ngàng bâng khuâng. Đích thị là vườn xuân của cô gái, của nhà em; của lòng em, vẫn là cảnh cũ người xưa, nhưng đã lâu chưa về chơi nên ngỡ ngàng mới thốt lên như vậy. Vườn tược Vĩ Dạ xanh tươi và sum sê bốn mùa. Lá xanh mỡ màng ướt đẫm sương đêm, láng mướt lên, ánh ngời lên dưới nắng hồng bình minh màu xanh ngọc bích. Hai tiếng "mướt quá" và hình ảnh so sánh "xanh như ngọc” là những nét vẽ thần tình đã tô đậm cái hồn của cây lá trong "vườn ai. Tưởng như nghe thấy tiếng nhựa đang chuyển lên cành lá xôn xao. Tất cả đều tưng hừng, rạo rực, đầy sức sống. Chỉ có vườn xuân mới có màu xanh mướt mỡ màng như ngọc vậy. Chỉ có "vườn em" mới đáng yêu và hữu tình như thế !</p> <p>Sau cảnh đẹp là hóng hình thôn nữ:</p> <p>"Lá trúc che ngang mặt chữ điền ?"</p> <p>Gương mặt cô gái Huế thường gắn liền với chiếc nón bài thơ. "Lá trúc che ngang" là một nét vẽ tài hoa, gợi tả thấp thoáng gương mặt thiếu nữ. Một nét vẽ rất đẹp gợi tả vẻ dịu dàng, duyên dáng và tình tứ của thiếu nữ sông Hương. Lá trúc thanh mảnh biếc xanh đã làm tôn thêm vẻ đẹp phúc hậu của gương mặt chữ điền. Đã có giai nhân vin cành mẫu đơn. Đã có mĩ nhân ngắm hoa tử kim nở, hức thêu dở dang trên đôi tay thon nhỏ, nõn nà. Và ở đây, trong thư Hàn Mặc Tử lại có "gương mặt chữ điền" ẩn hiện thấp thoáng sau cành trúc, lá trúc. Cây đẹp, cảnh đẹp và người đẹp là thế! Hàn Mặc Tử cũng tả ít mà gợi nhiều như các tao nhân nghìn xưa. Có màu phơn phới hồng bình minh. Có màu ngọc xanh mướt của cây lá. Có đường nét thanh mảnh xinh xắn của lá trúc. Và còn có gương mặt dịu dàng, e ấp, phúc hậu của thiếu nữ. Nếu tách riêng khổ thơ này ra khỏi bài thơ, nó là một bài tứ tuyệt đặc sắc. Cảnh và người đều thình lình thương mến, bâng khuâng. Bức tranh quê hương xinh đẹp, tràn đầy sức sống mơn mởn và có sức quyến rũ lạ lùng.</p> <p>"Sao anh không về chơi thôn Vĩ ". Cảnh đẹp thế, người đáng yêu thế sao đã lâu anh không về chơi ? Đâu chỉ là sự mời chào, hay lời nhẹ trách mà còn hàm chứa cả niềm tiếc nuối, bâng khuâng của thi sĩ. Trên cái nền phong cảnh đầy hương sắc ấy, vương vấn một hoài niệm, một tiếng thầm thì của tình yêu.</p> <p>Người đọc tưởng như nhà thơ đang đi tìm bóng hình giai nhân, bóng hình cô gái Huế sau lá trúc của "vườn ai" mờ sương khói nơi Vĩ Dạ.</p> <h3><strong>Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ - mẫu 11</strong></h3> <p>Hàn Mặc Tử nằm trong số những nhà thơ ưu tú của phong trào thơ mới, ông để lại nhiều tác phẩm giá trị trong đó nổi tiếng nhất là bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ chính là xứ Huế mộng mơ và cổ kính. Không chỉ ông mà có rất nhiều nhà thơ đã rung động trước xứ sở này.</p> <p>Mở đầu bài thơ là lời mời mọi người về chơi thôn Vĩ, kèm theo đó là lời trách móc nhẹ nhàng, tình cảm. Có lẽ trong thâm tâm nhà thơ tự trách mình đã lãng quên nơi mình có nhiều kỉ niệm khó phai, một nơi có cảnh đẹp say lòng người.</p> <p>Trong câu thứ hai tác giả như đã trở về với thôn Vì bởi sự thôi thúc của con tim. Những cảnh đẹp dần dần hiện ra:</p> <p>Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền.</p> <p>Những hình ảnh tuyệt đẹp cảnh sắc thiên nhiên thôn Vĩ hiện ra, hình ảnh nắng mới trên ngọn cau đang căng tràn sức sống trong ánh nắng của bình minh. Những tia nắng của bình minh sáng sớm chiếu vào những hạt sương còn đọng trên thân cây cau làm cho mọi thứ lấp lánh như những viên ngọc thực sự.</p> <p>Trước mắt người đọc như được tái hiện khung cảnh thiên nhiên tràn ngập sức sống. Tác giả đã dùng “màu xanh như ngọc” diễn tả vẻ đẹp mỹ miều của thiên nhiên thôn Vĩ, chắc hẳn tác giả là người yêu thiên nhiên con người nơi đây mới có thể gieo nên những vần thơ tuyệt mĩ.</p> <p>Trong câu thơ cuối của đoạn đầu ta bắt gặp hình ảnh lá trúc thanh tú, mỏng manh che đi khuôn mặt chữ điền trong ánh nắng buổi sáng. Đó có thể là của tác giả và cũng là một ai khác hình ảnh vừa ảo vừa thật càng khiến cho thôn Vĩ trở nên bí ẩn lạ kì.</p> <p>Sự xuất hiện của con người trong câu thơ cuối của đoạn đầu dù ngắn ngủi nhưng cũng đủ cho người đọc nhận thấy bức tranh thiên nhiên và con người thôn vĩ đẹp đến lạ lùng, tình yêu chứa chan của tác giả với đất và người nơi đây.</p> <h3><strong>Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ - mẫu 12</strong></h3> <p>Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ lẫy lừng của nền văn học Việt Nam. Cuộc đời ông tuy ngắn ngủi nhưng lại giá trị vô cùng, Ông để lại cho nước nhà một kho tàng văn hóa đồ sộ. Trong số đó không thể không kể đến bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ. Bài thơ là nỗi chân tình sâu sắc Hàn Mặc Tử gửi gắm đến người thương của mình vào những năm tháng cuối đời. Từng câu, từng chữ như đi sâu vào lòng người, du dương, ngọt ngào đầy tha thiết.</p> <p>Mở đầu bài thơ là câu hỏi tu từ chan chứa bao cảm xúc:</p> <p>“Sao anh không về chơi thôn Vĩ”</p> <p>Đây vừa là câu hỏi, nhưng nó không phải là một câu hỏi đơn thuần mà nó còn ngụ ý lời mời mọc và cả sự trách móc, một chút hờn chút dỗi. Anh ở đây là chỉ chính nhà thơ. Tác giả đã phân thân để tự chất vấn mình rằng đã bao lâu ta không trở về mảnh đất thương nhớ Thôn Vĩ, đã bao lâu ta không gặp người con gái Huế đằm thắm thân thương ấy. Một khoảng thời gian xa xa. Một chút nuối tiếc, một chút lỡ làng tự vấn bản thân cho thấy nỗi khổ tâm và nhớ thương đang trào dâng trong lòng bậc thi nhân. Tác giả đã khéo léo sử dụng từ ngữ “về chơi” làm động từ chính trong câu biểu hiện tình cảm chân thực, gần gũi, tự nhiên và gắn bó giữa nhà thơ với mảnh đất trữ tình xa nhớ ấy.</p> <p>Để rồi từng cảnh từng nhịp của thôn Vĩ luôn thường trực trong tâm trí người:</p> <p>“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”</p> <p>Một câu thơ xuất hiện đến 2 từ “nắng” mở ra không gian nhiều nắng, thể hiện nét đặc trưng không trộn lẫn của miền Trung. Nắng làm nên vị đậm đà, làm nên ấn tượng độc đáo cho cảnh và người Trung Bộ. Ánh nắng của buổi ban mai như chan hòa khắp không gian, tắm táp cho cảnh vật. Những thân cau vươn mình đón nắng mai, từng hàng nối nhau thẳng tắp rì rào trong gió nhảy nhót cùng ánh nắng. Ánh nắng làm bừng sáng vạn vật. Tâm hồn con người vì thế cũng trở nên sảng khoái, phấn chấn và đam mê mãnh liệt. Bức tranh buổi sớm ở vĩ dạ thật đẹp, thật nên thơ và tràn đầy sức sống.</p> <p>Phóng tầm mắt ra xa hơn, tâm hồn nhà thơ lại được thỏa mình:</p> <p>“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”</p> <p>Ai cái đại từ phiếm chỉ nhưng lại mang sự ám chỉ một đại từ xác định. Vườn ai, liệu rằng còn ai vào đây nữa, nó chính là vườn của người thương, mảnh vườn thân quen gắn bó. Tính từ “mướt” được đặt giữa dòng thơ gột rửa cả câu thơ, gợi cái dáng vẻ lấp lánh, long lanh, mượt mà. Kèm theo đó là trạng từ “quá” như đẩy cảm xúc và tính chất lên cái ngưỡng cao nhất. Một tiếng trầm trồ thán phục, tiếng reo đầy thỏa mãn của người thi sĩ. Xanh như ngọc- vẻ đẹp tinh khôi, sáng trong, quý giá. Cả khu vườn bừng lên sắc xanh trong veo, sức sống căng tràn, tươi tắn, mượt mà. Màu xanh ấy lan tỏa cảnh vật, xoa dịu tâm hồn nhà thơ, đem đến cho ông những rung cảm mãnh liệt nhất.</p> <p>Và sau cái lớp ẩn hiện tuyệt đẹp của cảnh vật ấy, tâm ý của nhà thơ cũng đã được bày tỏ:</p> <p>“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”</p> <p>Mặt chữ điền đó là vẻ đẹp phúc hậu, đoan trang, là nét đẹp truyền thống đáng quý, đáng trân trọng theo quan niệm của người Việt. Khuôn mặt ấy được nép sau chiếc lá trúc mỏng manh hé mở sự duyên dáng, thẹn thùng, e ấp của người thiếu nữ xứ Huế. Người con gái Huế ngọt ngào và thướt tha trong tà áo dài, ý nhị kín đáo bên chiếc lá trúc là hình ảnh biểu trưng cho thôn Vĩ và trở thành ấn tượng đậm sâu trong tâm trí nhà thơ. Cảnh và vật người như hòa cùng nhau, cảnh tô lên vẻ đẹp của người, nhớ đến người là suy tư về cảnh. Tất cả thật đẹp, thật hài hòa.</p> <p>Với cách ví von, so sánh liên tưởng độc đáo cùng với ngôn từ giàu chất thơ, giàu biểu cảm, nghệ thuật gợi nội tâm tinh tế, Hàn mặc tử đã vẽ ra một bức tranh thiên nhiên xứ Huế mộng mơ, một bức tranh trọn vẹn nội tâm trăn trở, nhớ mong của người đang yêu. Qua đó cũng đã thể hiện được lòng khát khao sống mãnh liệt của nhà thơ trong những năm tháng cuối cùng của cuộc đời.</p> <p>Chính nét bình dị, thân thương ấy đã khiến thôn Vĩ bình dị đi vào thơ ca và trở thành một nét độc đáo chẳng hòa lẫn với bất kì nơi nào khác.</p>]]></content:encoded>
            <dc:creator xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">Katan</dc:creator>
      <pubDate>Fri, 03 Jul 2026 07:19:27 +0700</pubDate>
            <enclosure
            url="https://melodious.edu.vn" 
            type="image/jpeg" 
            />
                  <media:content
            url="https://melodious.edu.vn" 
            width="120" 
            />
                        <media:title type="plain">15+ Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ (hay nhất)</media:title>
                        <media:keywords>15+ Phân tích khổ 1 Đây thôn Vĩ dạ (hay nhất)</media:keywords>
                      </item>
      </channel>
</rss>
