Ở tuổi 86, Huy Cận đã sống qua nhiều thời đại của thi ca, đã ở đỉnh cao huy hoàng từ khi còn là một cậu trai 17 tuổi...
* Đọc lại thơ Huy Cận
“Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm!”
Đấy là chân dung ông tự khắc họa trong thơ mình, dù ít có người thơ nào mà cả thơ và đời đều thành đạt như ông. 17 tuổi, ông đã nổi tiếng với những bài thơ buồn mênh mông vời vợi mang âm hưởng vũ trụ trên báo Ngày Nay, sau tập hợp lại trong Lửa thiêng.
Thời đại huy hoàng của phong trào thơ mới VN, bên cạnh những Tản Đà cổ điển, Thế Lữ tinh tế, Xuân Diệu say đắm, Chế Lan Viên trí tuệ, Hàn Mặc Tử điên cuồng, Nguyễn Nhược Pháp trong sáng... mà Hoài Thanh - Hoài Chân đã tạc tượng trong Thi nhân VN thì mãi mãi, không có ai thay thế và vượt qua được, vẫn lừng lững một Huy Cận với giọng thơ riêng, đặc biệt.
Không phải thơ tình mà vẫn thấy yêu, không đắm say mà vẫn hút hồn người đọc.
Cái buồn trong thơ mới nói riêng và toàn bộ thơ văn thời kỳ đó có thể được lý giải từ nhiều góc độ: chính trị, kinh tế, xã hội... Huy Cận không phải trường hợp ngoại lệ. Chàng Huy Cận 20 tuổi hồi đó cũng mang những nỗi buồn của các chàng trai trí thức tiểu tư sản bất lực trước thời thế mà không thể làm gì để thay đổi, bèn ngửa mặt lên trời vu vơ: Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn (Xuân Diệu).
Nhưng riêng với những vần thơ mang âm hưởng vũ trụ ca của Huy Cận, cần phải thừa nhận là ông có một nhận thức riêng, một lý tưởng thẩm mỹ riêng và một cách thể hiện thật khác biệt so với các thi nhân cùng thế hệ.
Một nhà thơ cách mạng
Phóng toHuy Cận (trái) và Xuân Diệu tại Sài Gòn năm 1940Vì sự nghiệp thơ quá rực rỡ của Huy Cận, ít ai biết ông tham gia kháng chiến từ những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám và là một trong những bộ trưởng trẻ nhất của nước cộng hòa non trẻ: ông làm một việc rất hợp với chuyên môn là... bộ trưởng Bộ Canh nông.
Kháng chiến nổ ra, ông cũng vác balô lên rừng. Cuộc đời cách mạng của ông cũng hồn nhiên như phần lớn những nghệ sĩ thời ấy, ông không phải vất vả lắm để “nhận đường” (tên một tiểu luận của Nguyễn Đình Thi). Ông vẫn hoạt động cách mạng và vẫn đều đặn làm thơ.
Ông lần lượt giữ chức thứ trưởng Bộ VH-TT rồi bộ trưởng đặc trách Văn hóa - thông tin của Hội đồng Bộ trưởng, ông tham gia Quốc hội khóa 2 và khóa 7. Ông là một trong những văn nghệ sĩ đầu tiên nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu (1996). Suốt 50 năm qua, thơ ông vẫn ra khá đều.
Trời mỗi ngày lại sáng; Đất nở hoa; Ngày hằng sống, ngày hằng thơ; Ngôi nhà giữa nắng là những tập thơ ông làm từ 1954 đến nay, những tên gọi vẫn mang màu vũ trụ nhưng những vần thơ bên trong thì đã khác, vui hơn, nhiều chi tiết đời thường hơn, nhưng thật tình mà nói thì không còn cái huyền ảo chơi vơi và hấp dẫn ngày xưa.
Nhưng Huy Cận thì vẫn là Huy Cận, vào một lúc nào mà chàng Huy Cận ngày xưa vụt lóe sáng lại, một học sinh trung học may mắn vẫn có thể được học những câu thơ chỉ tả một đoàn thuyền đánh cá thôi mà kỳ ảo đến thế này: Cá nụ cá chim cùng cá đé - Cá song lấp lánh đuốc đen hồng - Cái đuôi em quấy trăng vàng chóe - Đêm thở sao lùa nước Hạ Long.
Hoặc một cô bé mẫu giáo sẽ được cô giáo kể cho nghe sự tích Sơn Tinh - Thủy Tinh bằng thơ với lời kết thật ngộ nghĩnh mà cực kỳ ấn tượng: Núi Tản như con gà cổ đại - Khổng lồ mào đỏ thắp bình minh - Mênh mông gọi nắng cho mùa chín - Từ buổi Sơn Tinh thắng Thủy Tinh.
Sông dài đến mấy rồi cũng phải ra biển, hát vũ trụ ca rồi cũng đến lúc phải về trời. Đời một người làm thơ như Huy Cận chắc cũng không mong gì hơn thế - được cả người già và trẻ con đọc mãi thơ mình.