Vanvn- Với thể thơ lục bát đương đại, hình ảnh ngôn ngữ trong thơ Đức Phước đã làm cho lục bát truyền thống được tái sinh mạnh mẽ đồng thời mang hơi thở và linh hồn của đời sống hiện đại. Hình ảnh trong thơ anh vẫn kế thừa nét gần gũi mộc mạc của thơ ca truyền thống nhưng nó lại gửi gắm tâm tư, triết lý sống của con người thời đại mới: mang tính biểu tượng, ẩn dụ cao. Nó không chỉ tả thực mà còn khái quát chuyển hóa thành hình ảnh nghệ thuật gợi cảm và đa nghĩa. Nhiều hình ảnh mang màu sắc tượng trưng phản ánh chiều sâu tư tưởng.

Từ lúc đọc tác phẩm và theo dõi những bài, những chương trình truyền hình giới thiệu về bác sĩ, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đức Phước - hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Hội viên Hội VHNT Đồng Nai, tôi cứ liên tưởng đến những lời của nhà văn Lỗ Tấn “Điều đáng sợ hơn bệnh thể xác là bệnh tinh thần”. Có nét tương đồng không hề nhỏ ở đây. Hãy nghe nhà thơ Thu Bồn giới thiệu về Nguyễn Đức Phước “Anh chữa bao nhiêu nỗi đau thân xác của bệnh nhân, còn nỗi đau trần thế này làm sao anh chữa nổi? Thôi thì đành phải đến với thơ vậy!”. Và khi cầm trên tay những tập thơ của Đức Phước đọc lời đề từ trong tập Thơ Lục bát, tôi đã bị cuốn hút bởi sự ngọt ngào nhẹ nhàng mà sâu thẳm của nhạc điệu và lời thơ.
“Loay hoay hết một kiếp người
Câu thơ biết có còn lời mai sau?”
Hai câu thơ thủ thỉ như lời tự cảm mà khái quát bao điều: Kiếp người hữu hạn nhưng thơ ca có thể là bất tử. Người cầm bút luôn bận rộn, đau đáu sáng tạo mà vẫn chưa thể nói hết được những buồn vui trong cõi nhân sinh. Câu thơ ta viết hôm nay chắc gì tồn tại được đến ngày sau? Tuy có hoài nghi nhưng vẫn tràn đầy niềm hi vọng, là niềm tin, là động lực sáng tạo cho những người cầm bút.
Càng đọc thơ Đức Phước, qua các tập thơ Sông thiêng, Lời biển, Đêm khát, Mắt yếm, Lục bát,… càng hiểu vì sao anh lại là một trong số rất ít các bác sĩ làm thơ trên dải đất hình chữ S này được vinh dự trở thành hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ năm 2018. Những giải thưởng văn học nghệ thuật uy tín, đã khẳng định cho tài năng và các giá trị sáng tác của anh. Trên lĩnh vực y khoa, anh là bác sĩ chuyên khoa II Giám đốc bệnh viện đa khoa huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai. Nói như nhà thơ Thu Bồn thì “Điều bác sĩ Nguyễn Đức Phước trở thành nhà thơ vì anh đã tìm được chìa khóa của cánh cửa” vào tâm hồn con người bằng trái tim, tài năng và nhiệt huyết của nhà thơ.
Giỏi tự nhiên, mê văn chương nghệ thuật, có khiếu trong sáng tác từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, không chỉ làm thơ, anh còn viết giới thiệu phê bình văn học. Đức Phước còn tự phổ thơ mình thành những khúc ca lan tỏa những thông điệp nhân văn đến với mọi người, qua nhiều giọng ca tên tuổi. Nhiều nhạc sĩ nổi tiếng, yêu thơ Phước cũng chắp thêm đôi cánh âm nhạc cho thơ anh đến gần hơn với cuộc đời. 50 ca khúc từ thơ là một gia tài sáng tạo đáng trân trọng mà bác sĩ tài hoa này muốn trao tặng cuộc đời. Thơ Đức Phước nhiều thể loại phong phú về đề tài, đa dạng hình thức thể hiện, giàu cảm xúc khiến thơ anh gần gũi với người đọc và để lại nhiều dấu ấn mến yêu.
Trong đó, tôi đặc biệt ấn tượng về thơ lục bát của anh.

Trước hết, với thể thơ lục bát đương đại, hình ảnh ngôn ngữ trong thơ Đức Phước đã làm cho lục bát truyền thống được tái sinh mạnh mẽ đồng thời mang hơi thở và linh hồn của đời sống hiện đại. Hình ảnh trong thơ anh vẫn kế thừa nét gần gũi mộc mạc của thơ ca truyền thống nhưng nó lại gửi gắm tâm tư, triết lý sống của con người thời đại mới: mang tính biểu tượng, ẩn dụ cao. Nó không chỉ tả thực mà còn khái quát chuyển hóa thành hình ảnh nghệ thuật gợi cảm và đa nghĩa. Nhiều hình ảnh mang màu sắc tượng trưng phản ánh chiều sâu tư tưởng. Hãy thử thưởng thức những câu:
“Giọt buồn rơi xuống bờ môi
Chua - cay - mặn - đắng qua rồi còn chi”
“Giọt buồn” là hình ảnh nhân hóa gợi cảm xúc nỗi buồn không còn nằm trong lòng nữa, nó đã trào ra chạm vào “bờ môi”. Bởi những chua - cay - mặn - đắng tượng trưng cho những nỗi đau, những trải nghiệm khắc nghiệt của đời người. Kết lại bằng tiếng thở dài buông bỏ “qua rồi còn chi”, câu thơ gợi ra sự điềm tĩnh, chiêm nghiệm, không oán trách của nhân vật trữ tình. Nỗi buồn chỉ còn lại dư âm.
Ở nơi khác người đọc gặp câu thơ:
“Chơi vơi đứng giữa góc trời.
Lặng nghe gió bụi nói lời tri âm”.
Hình ảnh “Chơi vơi…” - lẻ loi giữa dòng đời. Cô đơn nhưng không tuyệt vọng. Đó là sự tĩnh lặng trong chiều sâu nội tâm, nơi người nghệ sĩ vẫn thấy mình gắn bó với thế giới, với con người qua sự đồng cảm tinh tế thể hiện cái nhìn rất nhân văn.
Rõ ràng, nhà thơ không kiến tạo những hình ảnh cầu kỳ, nhưng hình ảnh trong “Thơ Lục bát” vẫn độc đáo và giầu sức gợi. Mỗi câu thơ luôn lấp lánh chất trí tuệ. Nếu nhạc điệu của lục bát và những ngôn ngữ giầu cảm xúc làm nên sự ngọt ngào thì chất trí tuệ tạo nên những đằm thắm lắng đọng và sâu thẳm cho thơ Đức Phước. Anh luôn có những phát hiện tinh tế trước những cảnh sắc, cảnh huống và biết cách kết hợp nhuần nhị ngôn ngữ đời thường, ngôn ngữ chính luận, ngôn ngữ triết học với ngôn ngữ thi ca để diễn tả sâu sắc những cung bậc cảm xúc, những ngẫm suy mà không làm mất đi sự uyển chuyển của những vần lục bát.
Đọc bài “Còn - mất” để cảm nhận thêm đặc sắc của hình ảnh, ngôn ngữ trong thơ Đức Phước.
“Ngày xuân chải ngược mái đầu
Giật mình tóc đã bạc màu - ngổn ngang!
Sợi nào bạc với thời gian
Sợi nào bạc với tính toan dối lừa
Sợi nào bạc vì nắng mưa
Sợi nào bạc bởi chát chua sự đời
Sợi nào bạc dành cho người
Sợi nào để tiễn nụ cười sang sông
Sợi nào nặng nợ tơ hồng
Sợi nào tình hẹn… tình nồng… tình bay
Đếm từng sợi bạc trên tay
Sợi nào còn - mất trong ngày biệt ly
Sợi tóc bạc là hình ảnh xuyên suốt bài thơ, trở thành biểu tượng nghệ thuật. Khoảnh khắc giật mình trước thời gian của thi nhân trong cái cảm thức về đối lập của ngày xuân thường gắn với sức sống, tuổi trẻ, khởi đầu, đối lập với “tóc bạc” - dấu hiệu của sự già nua. Nhận ra để “giật mình” để chút gì như xót xa tiếc nuối với bao “ngổn ngang” trong chuỗi ký ức dồn về. Dồn dập những câu tự vấn mang tính triết lý: Sợi bạc vì đâu?
Càng hiểu nguyên nhân khiến tóc bạc càng thấu cảm những hoàn cảnh, những cảm xúc, những bi kịch và hệ lụy của cuộc đời. Thơ là những chiêm nghiệm sâu lắng: Mỗi sợi bạc là một kỷ niệm, một vết thương, một tình yêu, một lần mất mát. Nhà thơ đã giải mã cho người đọc một cách giản dị mà sâu sắc về một vấn đề không nhỏ trong cuộc đời, về những mất - còn trong cõi nhân sinh. Bài thơ rất thật rất đời. Nó kết lại bằng nốt lặng nhưng mở ra cho người đọc tự soi lại mình.
Không phải ngẫu nhiên Đức Phước chinh phục được bạn đọc bằng nhiều bài lục bát. Là người giầu trí tuệ và cảm xúc, có lẽ anh thấu hiểu rằng: Lục bát đương đại là thể thơ tiêu biểu nhất cho thơ ca truyền thống, kết nối quá khứ với hiện tại. Lục bát dù truyền thống hay đương đại đều lấy cảm xúc làm gốc. Cảm xúc là linh hồn, là động lực sáng tạo của nhà thơ. Cảm xúc cũng là thế mạnh của Đức Phước. Thơ anh sâu sắc và tinh tế. Đặc biệt là những bài viết về quê hương, về mẹ về cha.
“Xuân rồi xuân nữa mẹ ơi
Mình con ở lại chơi vơi đất trời
Mẹ đi theo gió ngàn khơi
Một ngày mưa rét rụng rời lối quê”.
Nỗi buồn, nỗi nhớ thương, đau đớn, nghẹn ngào trong từng câu chữ.
Bài “Lời cha” cũng vậy. Cả một trời thương nhớ xót xa.
“Bây giờ cha mãi lặng im.
Lời xưa len lỏi trong tim rối bời”.
Cảm xúc trong mỗi câu thơ là sợi dây kết nối tình cảm từ tác giả truyền thấm sang người đọc.
Có lẽ ấn tượng sâu đậm nhất mà tập thơ đem đến cho độc giả chính là phần kết thật hay, thật lắng đọng gợi mở. Kết bài trong thơ lục bát nói riêng ca thơ nói chung đóng vai trò vô cùng quan trọng. Không chỉ đảm nhận chức năng khép lại bài thơ mà nó còn mang nhiều giá trị thẩm mỹ, giá trị tư tưởng.
Lý luận phê bình gọi đó là “Điểm rơi” cảm xúc của bài thơ. Trong thơ lục bát cũng vậy cảm xúc tạo ra điểm Rơi cho toàn bài. Một kết thúc hay có thể khiến cho bài thơ vang vọng trong lòng người đọc để lại dư vị sâu xa.
“Trăng nghiêng từng bước trăng nghiêng.
Nghe lời biển hát… niềm riêng ai cùng?”
Trăng và biển là cặp hình ảnh giàu liên tưởng đại diện cho những cảm xúc lặng lẽ nhưng mãnh liệt. “Trăng nghiêng từng bước” như tâm trạng của người, đang bước đi trong nỗi niềm. Câu thơ sau như một nốt lặng của cảm xúc không người chia sẻ. Trong không gian đẹp như mộng vẫn là nỗi cô đơn không người tri kỷ - nỗi cô đơn của người thi sĩ, rất thi sĩ!
Nếu “Đa tình” được giới chuyên môn và người đọc đánh giá là một trong số những bài thơ tình hay nhất của Nguyễn Đức Phước thì phần kết được xem là điểm chốt hoàn hảo của bài thơ:
“Bẽ bàng đôi ngả chia Ly.
Để người lỡ chuyến đò đi, đành lòng.
Tôi còn lại mớ bòng bong.
Đem về rao bán giữa dòng sông đêm.”
Đọc những dòng thơ ấy, cảm nhận được hình ảnh ẩn dụ kinh điển của thi ca “đôi ngả chia Ly”, “Lỡ chuyến đò”; Buồn da diết nhưng không hề oán trách chỉ “đành lòng” chấp nhận mà thôi. Để rồi với bao cảm xúc rối “bòng bong”, người đem “rao bán giữa dòng sông đêm” - một ẩn dụ độc đáo cho sự buông bỏ. Nhưng buông ở chỗ “sông đêm” nghĩa là chẳng ai mua, chẳng ai hiểu được nỗi cô đơn và sự bất lực với chính mình.
Diễn tả thời gian và ký ức có thể khiến con người đánh mất bản thân hoặc trở nên xa lạ với chính quá khứ, nhà thơ viết:
“Ngỡ ngàng vương chút men đau.
Soi vào ký ức thấy đâu bóng mình!”
Câu thơ chạm vào trái tim! Có ai đã từng thấy mình trong câu thơ ấy?.

Đức Phước có những câu thơ rất đời trong những khoảnh khắc “thương người khác” nhưng nhìn lại tự thấy mình thật cô đơn mỏi mệt.
“Thương người biết được bao lâu.
Thương mình dằng dặc một câu…. thở dài”
Hơn ai hết, nhà thơ thấu hiểu: Tình yêu là tình cảm thiêng liêng tuyệt đối nhưng nhiều khi ta không thể nắm giữ. Tình yêu càng đẹp khi mất càng khiến con người đau trong nỗi bất lực đẹp đến nao lòng. Đẹp! Nhưng có bạn văn nhận xét rằng: “Thơ Phước đẹp nhưng buồn và cô đơn lắm!”. Có phải thế chăng khi ta đọc tiếp câu này:
“Bỗng quên cả kiếp lưu đày
Mà không đổi được một ngày cho em”
Kiếp lưu đày ở đây là hình ảnh một cuộc đời khổ hạnh như bị lưu đày khỏi yêu thương. Nhưng điều quan trọng hơn “Bỗng quên cả - nghĩa là tình cảm dành cho em lớn đến mức mọi khổ đau trở nên mờ nhạt, vậy mà vẫn “không đổi được một ngày” - Sự bất lực, sự cô đơn đau đớn tột cùng và vì vậy nó càng thiêng liêng, ám ảnh. Nhà thơ Kim Chuông từng viết:
“Có những câu thơ để mở miệng ngân nga.
Có những câu thơ làm người ta mở mắt!
Thơ “Đức Phước quả thật có nhiều bài, nhiều câu khiến người ta “mở mắt”. Anh viết về những người thợ may đầy trân trọng, cảm thông nhưng đã mở ra cho người đọc những thấu cảm về cuộc đời và nghề nghiệp.
“Đường kim mũi chỉ vô thường
Khâu vào số phận bước đường đổi thay”
Hai câu kết thật đặc sắc bình dị mà triết lý nặng sâu.
“Đường kim mũi chỉ vô thường” - nghề may tưởng ổn định đều đặn nhưng lại mang tính “vô thường” không bền vững, luôn thay đổi. Hình ảnh “khâu vào số phận” là một sáng tạo độc đáo. Người thợ không chỉ khâu áo mà đang “khâu” cả định mệnh của mình từng mũi kim sợi chỉ là từng lựa chọn, từng chiu chắt, hy sinh. Nhà thơ đã gửi gắm bao tình cảm trân trọng với người lao động phổ thông. Họ đã âm thầm vá víu đính khâu đời mình bằng nghề nghiệp tảo tần, nhẫn nại. Ý thơ gợi ra triết lý sống về đổi thay, chuyển mình không ngừng trong cuộc sống.
Dễ thấy, từ “Nửa yêu”, “Niềm riêng”, “Nhặt”, “Vì rằng”, “Sóng lòng”, “Biển gọi”… và hầu hết các bài thơ Lục bát, Nguyễn Đức Phước đã có những kết bài nhẹ mà sâu. Anh viết nhiều thơ tình nhưng không sa vào nhục cảm tầm thường, không gợi ra nhục cảm tầm thường. Nhà thơ không trực tiếp viết về thế sự, không viết về vấn đề vĩ mô. Thơ Đức Phước bình dị giầu cảm xúc, chiêm nghiệm và sâu lắng.
Điểm qua vài kết bài ấn tượng để cùng cảm nhận một phong cách thơ trầm lắng sâu sắc giầu chiêm nghiệm, kết hợp giữa biểu đạt nội tâm và hình ảnh, cảm xúc. Thơ Đức Phước gần với trường phái Tượng Trưng - Hiện Sinh - nơi mỗi hình ảnh, mỗi lời thơ vừa là cảm xúc vừa là triết lý. Nơi những ngôn từ dù có sự trau chuốt vẫn giữ được nét gần gũi đời thường. Thơ Đức Phước có giọng điệu riêng ngọt ngào và sâu thẳm.
Khi câu cuối mỗi bài thơ của anh khép lại thì sự giao cảm giữa nhà thơ và bạn đọc được mở ra trân trọng và đồng cảm.
Tháng 6.2025
BIÊN LINH