Thanh Hiên Thi Tập gồm 78 bài thơ, là tập thơ chữ Hán đầu tiên của Nguyễn Du. Tập thơ này Nguyễn Du làm trong thời kỳ còn hàn vi và có thể phân chia ra làm ba giai đoạn. 1. Mười năm gió bụi (1786-1795) là thời gian ông lẩn trốn ở Quỳnh Côi.
2. Dưới chân núi Hồng (1796-1802), về ẩn ở quê nhà.
3. Làm quan ở Bắc Hà (1802-1804).
Phần Thanh Hiên Thi Tập này diễn dịch nghĩa 78 bài thơ của Nguyễn Du. Khác với Bắc Hành Tạp Lục với những bài thơ viết về cảm nghĩ của Nguyễn Du với những cảnh trí, địa phận ông đi ngang qua, về nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, phần Thanh Hiên nói về cá nhân Nguyễn Du và những tình cảm của ông trong hoàn cảnh đương thời. Như đã nói đến trong phần tiểu sử của Nguyễn Du, những bài thơ trong tập thơ Hán Nguyễn Du được sắp thứ tự khác nhau trong các ấn bản biên khảo khác nhau, riêng tập thơ dịch của Sóng Việt-Đàm Giang dựa theo cách sắp xếp trong ấn bản năm 1978 của cụ Lê Thước và đồng nhóm. Thanh Hiên Thi Tập gồm 78 bài được chia làm ba phần và ba thời kỳ: đó là Mười Năm Gió Bụi (1786-1795), Dưới Chân Núi Hồng ( 1796-1802), và thời kỳ thứ ba là thời gian ra làm quan ở Bắc Hà (1802- 1804) 1/249. QUỲNH HẢI NGUYÊN TIÊU
Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên Y y bất cải cựu thiền quyên Nhất thiên xuân hứng thùy gia lạc Vạn lý Quỳnh-châu thử dạ viên Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán (1) Bạch đầu đa hận tuế thời thiên Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến (2) Hải giác thiên thai tam thập niên (3)
1/249. QUỲNH HẢI ĐÊM RẰM THÁNG GIÊNGTrăng rằm tháng giêng trải khắp trời Vẫn nguyên trăng đẹp chẳng đổi rời Một xuân hứng này ai được hưởng Vạn dặm Quỳnh-châu trăng sáng ngời Hồng Lĩnh không nhà, anh em xa Thời gian trôi, ngậm ngùi tóc bạc Cùng đường khách xa trăng vẫn gặp Khắp bể chân trời tuổi ba mươi
3/249. TỰ THÁN I (Nhị Thủ)
Sinh vị thành danh thân dĩ suy Tiêu tiêu bạch phát mộ phong xuy Tính thành hạc hĩnh hà dung đoạn? (1) Mệnh đẳng hồng mao bất tự tri Thiên địa dữ nhân truân cốt tướng Xuân thu hoàn nhữ lão tu mi Đoạn bồng nhất phiến tây phong cấp (2) Tất cánh phiêu lưu hà xứ qui?
3/249. THAN THÂN IDanh phận chưa xong thân bời rời Lơ thơ tóc bạc gió vờn chơi Chân hạc do trời làm sao cắt? Nào hay thân nhẹ tựa lông hồng! Cốt gian truân trời đất an bài Tháng ngày hóa lão cả râu mày Gió phương tây làm bồng lìa gốc Lưu lạc xa biết chốn nào đây?
4/249. TỰ THÁN II
Tam thập hành canh lục xích thân Thông minh xuyên tạc tổn thiên chân Bản nô văn tự năng tăng mệnh Hà sự kiền khôn thác đố nhân? Thư kiếm vô thành sinh kế xúc Xuân thu đại tự bạch đầu tân Hà năng lạc phát quy lâm khứ, Ngọa thính tùng phong hưởng bán vân!
4/249. THAN THÂN IIThân thì sáu thước tuổi ba mươi Bởi thông minh nên hại tính trời. Chữ nghĩa nào có ghen với mệnh, Mà sao trời lại ghen nhầm người? Bại văn cùng võ thêm nghèo khó Xuân thu lần lữa tóc bạc đầy Ước gì xuống tóc vào rừng ở Nằm nghe tùng reo giữa từng mây
5/249. VỊ HOÀNG DOANH
Vị Hoàng giang thượng, Vị Hoàng doanh (1) Lâu lỗ sâm si tiếp thái thanh (2) Cổ độ tà dương khan ẩm mã Hoang giao tĩnh dạ loạn phi huỳnh Cổ kim vị kiến thiên niên quốc Hình thế không lưu bách chiến danh Mạc hướng Thanh Hoa thôn khẩu vọng (3) Điệp Sơn bất cải cựu thời thanh (4)
5/249. DOANH TRẠI VỊ HOÀNG
Doanh Vị Hoàng cạnh sông Vị Hoàng Chòi gác vươn cao giáp trời xanh Bến cũ chiều tà ngựa uống nước Đêm vắng đóm bay loạn đồng hoang Xưa nay triều nào vững ngàn năm Chiến trường trăm trận cũng không lưu Thôi xóm Thanh Hoa không nhìn nữa Điệp Sơn mãi mãi vẫn xanh tươi
6/249. BẤT MỊ
Bất mị thính hàn canh Hàn canh bất khẳng tận Quan sơn dẫn mộng trường Châm chử thôi hàn cận Phế táo tụ hà ma Thâm đường xuất khâu dận Ám tụng Vấn thiên chương (1) Thiên cao hà xứ vấn?
6./249. KHÔNG NGỦ
Không ngủ tiếng trống trong đêm lạnh Trống đêm lạnh rộn mãi không ngưng Đường dài làm mộng càng thêm dài Tiếng chày dã giục mau hơi lạnh Bếp hoang vắng ếch nhái họp bạn Trong góc nhà giun dế bò ra Nhẩm đọc thầm bài ca Thiên vấn Trời cao sao mà hỏi được kìa ?
7/249. SƠN CƯ MẠN HỨNG
Nam khứ Trường An thiên lý dư Quần phong thâm xứ dã nhân cư Sài môn trú tĩnh sơn vân bế Dược phố xuân hàn lũng trúc sơ (1) Nhất phiến hương tâm thiềm ảnh hạ (2) Kinh niên biệt lệ nhạn thanh sơ Cố hương đệ muội âm hao tuyệt (3) Bất kiến bình an nhất chỉ thư
7/249. Ở NÚI CẢM HỨNG
Phía nam Trường An ngoài ngàn dặm Có người thôn dã ngụ rừng xa Cửa sài tịch mịch mây che kín Vườn thuốc xuân lạnh trúc lơ thơ Nhớ quê thơ thẩn dưới bóng trăng Cách năm nhỏ lệ tiếng nhạn than Quê cũ hai em tin vẫn bặt Không thư chẳng biết có bình an
8/249. U Cư I
Đào hoa đào diệp lạc phân phân Môn yểm tà phi nhất viện bần Trú cửu đốn vong thân thị khách Niên thâm cảnh giác lão tùy thân Dị hương dưỡnng chuyết sơ phòng tục Loạn thế toàn sinh cửu úy nhân Lưu lạc bạch đầu thành để sự Tây phong suy đảo tiểu ô cân
8/249. Ở NƠI U TỊCH I
Hoa lá đào rải rác rụng rơi, Cửa nghiêng xiêu vẹo căn nhà nghèo. Ở nhờ lâu quá hết là khách, Thân mình già thấm theo tháng năm. Xa quê, vờ dại phòng thói tục, Giả e giả sợ giữ thân yên. Sự nghiệp phiêu dạt chẳng có gì, Gió tây thổi dạt chiếc khăn con.
9/249. U Cư II
Thập tải phong trần khứ quốc xa, Tiêu tiêu bạch phátký nhân gia. Trường đồnhật mộ tân du thiểu, Nhất thất xuânhàn cựu bệnh đa. Hoại bích nguyệt minh bàn tích dịch, Hoang trì thủy hạc xuất hà ma Hành nhân mạc tụng Đăng Lâu phú Cường bán xuân quang tại hải nha (nhai)
9/249. Ở NƠI U TỊCH II
Mười năm gió bụi xa lìa quê Khách trọ nhà người đến bạc tóc Đường dài ngày xuống thưa bạn mới Một nhà xuân lạnh bệnh cũ nhiều Tường nát, trăng sáng mối leo quanh Ao hoang, nước cạn ếch nhái nhẩy Người phương xa đừng đọc phú Đăng lâu nữa Quá nửa tuổi xuân còn lưu lạc nơi góc biển
10/249. MẠN HỨNG I
Bách niên thân thế ủy phong trần Lữ thực giang tân hựu hải tân, Cao hứng tửu vô hoàng các mộng Hư danh vị phóng bạc đầu nhân Tam xuân tích bệnh bần vô dược Táp tải phù sinh hoạn hữu thân Dao ức tha hương thiên lý ngoại Trạch xa đoạn mã quý đông lân
10/249. MẠN HỨNG ITrăm năm thân thế phó mặc gió bụi trần Lang thang ăn nhờ miền sông lại miền biển Cái hứng mộng lầu vàng không còn nữa Danh hão vẫn chưa tha kẻ bạc đầu Ba tháng xuân nghèo không thuốc ốm liên miên Ba mươi năm sống lênh đênh cứ lo cái thân Nhớ quê hương đã xa ngoài ngàn dậm Thẹn mình với hàng xóm ngồi xe ngựa thung dung
11/249. MẠN HỨNG II
Hành cước vô căn nhiệm chuyển bồng Giang nam giang bắc nhất nang không Bách niên cùng tử văn chương lý Lục xích phù sinh thiên địa trung Vạn lý hoàng quan tương mộ cảnh (1) Nhất đầu bạch phát tản tây phong Vô cùng kim cổ thương tâm xứ Y cựu thanh sơn tịch chiếu hồng
11/249. Mạn Hứng IIBước chân không bén rễ di chuyển như cỏ bồng Sông Nam sông Bắc một hầu bao rỗng Trăm năm chết xác vì văn chương Thân sáu thước sống lênh đênh trong trời đất Vạn dặm mũ vàng cảnh đã xế chiều Một mài đầu bạc tung bay theo gió tây Chuyện mới cũ gây thương cảm vô cùng Núi xanh vẫn mãi nhuộm ánh chiều hồng
12/249. XUÂN DẠ
Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm? Tiểu song khai xứ liễu âm âm Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm Ky lữ đa niên đăng hạ lệ Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm. Nam đài thôn ngoại Long Giang thủy (1) Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm (kim)
12/249. ĐÊM XUÂN
Đêm tối thì cảnh sáng tìm đâu ra? Ngoài song cửa chỉ thấy liễu âm u Sông nước đi mãi nên mang bệnh Áng xuân về mưa gió suốt trong đêm Đất khách nhiều năm giọt lệ rơi trong đènđêm Quê nhà xa nghìn dặm nhìn trăng mà động lòng Bên giòng sông Long, ngoài thôn Nam Đài Một dòng sông lạnh tiễn đưa mới cũ
13/249. LƯU BIỆT NGUYỄN ĐẠI LANG
Tây phong tiêu táp phất cao lâm Khuyn tận ly bôi thoại dạ thâm Loạn thế nam nhi tu đối kiếm (1) Tha hương bằng hữu trong phân khâm Cao sơn lưu thủy vô nhân thức (2) Hải giác thiên thai hà xứ tầm? Lưu thủ Giang-nam nhất phiến nguyệt Dạ lai thường chiếu lưỡng nhân tâm
13/249. LƯU BIỆT CÙNG ANH NGUYỄN
Gió tây hiu hắt tạt rừng cao Cạn chén rượu khua vẫn chuyện rào Thân trai thời loạn thẹn nhìn kiếm Đất khách chia tay luống nghẹn ngào Non cao nước chảy nào ai rõ Góc biển chân trời biết tìm đâu? Còn lại mảnh trăng sông nam đó Đêm khuya soi sáng lòng hai ta
14/249. TỐNG NGUYỄN SĨ HỮU NAM QUY (1)
Nam Sơn hữu điểu hàm tinh hoa Phi khứ phi lai khinh võng la (2) Hồng Lĩnh hữu nhân lai tố chủ Bạch đầu vô lại bất hoàn gia Sinh bình văn thái tàn lung phượng, Phù thế công danh tẩu xác hà Qui khứ cố hương hảo phong nguyệt, Ngọ song vô mộng đáo thiên nha (nhai)
14/249. TIỄN NGUYỄN SĨ HỮU VỀ NAMNúi Nam có chim đầy thông minh Bay tới bay lui, lưới coi khinh Hồng Lĩnh nay có người làm chủ, Đầu bạc thẹn ta vẫn lênh đênh Chữ đành xơ xác như chim sa Công danh vuột như rắn chui hang. Quê cũ bạn về cùng trăng gió Ngủ trưa chẳng mộng bến trời xa
15/249. THU CHÍ
Tứ thời hảo cảnh vô đa nhật Phao trịch như thoa hoán bất hồi Thiên lý xích thân vi khách cửu Nhất đình hoàng điệp tống thu lai Liêm thùy tiểu các tây phong động Tuyết ám cùng thôn hiểu giác ai Trù trướng thôi quang lưu bạch phát Nhất sinh u tứ vị tằng khai
15/249. THU ĐẾN
Bốn mùa cảnh đẹp có bao ngày Qua vút thoi đưa không trở lại Ngàn dậm năm dài thân đất khách, Một sân thu đến lá vàng đầy Gió tây, gác nhỏ, rèm lung lay Tù và vẳng sớm, buồn tuyết bay Xót xa thời gian làm tóc bạc Một đời u uất mãi không khuây
16/249. THU DẠ - I
Phồn tinh lịch lịch lộ như ngân Đông bích hàn trùng bi cánh tân Vạn lý thu thanh thôi lạc diệp Nhất thiên hàn sắc tảo phù vân Lão lai bạch phát khả liên nhữ Trú cửu thanh sơn vị yếm nhân. Tối thị thiên nhai quyện du khách, Cùng niên ngọa bệnh Tuế giang tân (1)
16/249. ĐÊM THU ISao đầy lấp lánh, sương bạc trắng Vách đông, dế gặp lạnh kêu buồn Ngàn dặm tiếng thu giục lá rơi, Không vẩn mây, bầu trời lạnh ngắt. Già nua tóc bạc thật đáng thương, Núi xanh ở mãi không chán người. Khách xa đã mỏi mệt bên trời, Suốt năm bệnh hoạn,Tuế giang nằm
17/249. THU DẠ - II
Bạch lộ vi sương thu khí thâm (1) Giang thành thảo mộc cộng tiêu sâm. Tiễn đăng độc chiếu sơ trường dạ Ác phát kinh hoài mạt nhật tâm (2) Thiên lý giang sơn tần trướng vọng, Tứ thời yên cảnh độc trầm ngâm Tảo hàn dĩ giác vô y khổ, Hà xứ không khuê thôi mộ châm (3)
17/249. ĐÊM THU II
Móc trắng thành sương thu đìu hiu Cây cỏ thành quanh nhuốm tiêu điều Mình ta khêu đèn đêm dài dặc Một thân vắt tóc chí nguyện nhiều Ngàn dặm núi sông buồn hiu hắt Bốn mùa phong cảnh luống ngậm ngùi Mới lạnh đã khổ áo không có Tiếng ai đập vải rộn bóng chiều
18/249. KHẤT THỰC
Tằng lăng trường kiếm ỷ thanh thiên Triển chuyển nê đồ tam thập niên Văn tự hà tằng vi ngã dụng Cơ hàn bất giác thụ nhân liên
18/249. XIN ĂN
Hiên ngang với trường kiếm nhìn trời Ba mươi năm lăn lội bùn chơi Văn chương một thân chẳng giúp được Nghèo đói ngờ đâu chịu ơn người
19/249. TẠP NGÂM
Đạp biến thiên nha hựu hải nha (1) Càn khôn tùy tại tức vi gia Bình sinh bất khởi thương dăng niệm (2) Kim cổ thùy đồng bạch nghị oa? Liêu lạc tráng tâm hư đoản kiếm Tiêu điều lữ muộn đối thời ca Bế môn bất ký xuân thâm thiển Đản kiến đường lê lạc tận hoa
19/249. TẠP NGÂMGóc biển chân mây đều đi qua Trời đất ở đâu cũng là nhà Ruồi nhặng bình sinh chẳng hề nghĩ Xưa nay ai chịu chung tổ oa Bằng lặng làm hư thanh kiếm ngắn Buồn thiu lữ thứ lắng khúc ca Đóng cửa nào hay xuân sớm muộn Chỉ thấy cây lê rụng hết hoa
20/249. BÁT MUỘN
Thập tải trần ai ám ngọc trừ (1) Bách niên thành phủ bán hoang khư Yêu ma trùng điểu cao phi tận (2) Trỉ uế càn khôn huyết chiến dư Tang tử binh tiền thiên lý lệ (3) Thân bằng đăng hạ sổ hàng thư Ngư long lãnh lạc nhàn thu dạ Bách chủng u hoài vị nhất sư
20/249. XUA NỖI BUỒNMười năm thềm ngọc cát bụi mờ Trăm năm thành nhuộm nửa tiêu sơ Chim sâu nhỏ bé bay tan tác Máu chiến qua rồi đất nước dơ Giặc quê nhà nghìn dặm sa lệ Mấy hàng thư thân thích dưới đèn Đêm thu vắng cá rồng lặng lẽ Trăm mối buồn làm sao dẹp được
21/249. TRỆ KHÁCH
Trệ khách yêm lưu Nam Hải trung (1) Tịch liêu lương dạ dữ thùy đồng Qui hồng bi động thiên hà thủy Thú cổ hàn xâm hạ dạ phong Nhân đáo cung đồ vô hảo mộng Thiên hồi khổ hải xúc phù tung (2) Phong trần đội lý lưu bì cốt Khách chẩm tiêu tiêu lưỡng mấn bồng
21/249. NGƯỜI KHÁCH BÊ TRỆKhách suy kiệt mãi vùng biển nam Đêm khua vắng lặng chỉ một thân Chim hồng bi oán nước sông động Trống thú nơi biên lạnh gió hè Cùng đường cách chi có gấm mộng Trời hồi biển khổ giục gót chân Xương da một kẻ nhuốm gió trần Gối khách bơ phờ hai mái tóc
22/249. ĐẠI NHÂN HÝ BÚT (1)
Thác lạc nhân gia Nhị thủy tân Cư nhiên biệt chiếm nhất thành xuân Đông tây kiểu các kiêm thiên khởi Hồ Hán y quan đặc địa phân Mục túc thu kiêu kim lặc mã (2) Bồ đào xuân túy ngọc lâu nhân Niên niên tự đắc phồn hoa thắng Bất quản nam minh kỷ độ trần
22/249. THAY NGƯỜI VIẾT ĐÙA CHƠIBãi sông Nhị, nhà nhà hàng lớp Chiếm cảnh xuân nổi bật cả thành Cầu gác đông tây nhà cao ngất Xiêm y Hồ Hán thật rõ ràng Ngựa mang giàm vàng ăn mục túc Lầu ngọc thưởng xuân uống bồ đào Năm tháng nhởn nhơ vui hưởng thú Chẳng màng đao binh nơi bể nam
23/249. HOÀNG MAI KIỀU VÃN DIỂU
Hoàng Mai kiều thượng tịch dương hồng Hoàng Mai kiều hạ thủy lưu đông Nguyên khí phù trầm thương hải ngoại Tình lam thôn thổ loạn lưu trung Đoản soa như chẩm cô chu nguyệt Trường dịch đồng xuy cổ kính phong Đại địa văn chương tuỳ xứ kiến Quân tâm hà sự thái thông thông
23/249. NGẮM CẢNH CHIỀU TRÊN CẦU HOÀNG MAIHoàng Mai nhuộm đỏ ánh tà dương Dước cầu nước chảy hướng về đông Khí trời chìm nổi vùng biển ngoại Khí lam tỏa rộng giữa giòng sông Dưới trăng ngư phủ một thuyền lẻ Lốicũ gió bay tiếng sáo đồng Cảnh đẹp đất rộng đâu cũng có Việc chi mà phải vội vội vàng
24/249. DAO VỌNG CÀN HẢI TỬ
Mang mang hải thuỷ tiếp thiên xu (1) Ẩn ước cô từ xuất tiểu chung Cổ mộ hàn liên phù chử mộ Tình yên thanh dẫn hải môn thu Hào thiên tướng tướng đan tâm tận (2) Phủ địa Quỳnh nhai khối nhục vô (3) Tiếu nhĩ Minh phi trường xuất tái (4) Tì bà bôi tửu khuyến Thiền Vu
24/249. TỪ XA NHÌN ĐỀN CỜNMênh mông nước biển cận bên trời Xa trông đền lẻ chốn ngoài khơi Cây già lạnh lẽo đầy chim đậu Cửa bể mùa thu khói chơi vơi Tướng tài dốc võ hết một lòng Quỳnh nhai vùi xương thịt giòng vương Nực cười Chiêu phi ra ngoài ải Đàn ca chuốc rượu nịnh chúa Mường
25/249. TÁI DU TAM ĐIỆP SƠN
Vân tế sơn Tam Điệp Thiên nhai khách tái du Nhãn trung thu đại địa Hải ngoại kiến ngư chu Chướng tĩnh phong loan sấu Thiên hàn thảo mộc thu Hành nhân hồi thủ xứ Vô ná cố hương sầu
25/249. THĂM LẠI ĐÈO BA DỘIĐèo Ba Dội cao ngất Khách xa lại tới thăm Cái nhìn gom trời đất Thuyền cá biển xa xăm Sương tan núi trơ trọi Trời lạnh cây cỏ dàu Người khách ngoái nhìn lại Nhớ nhà càng thêm sầu
26/249. ĐỘ PHÚ NÔNG GIANG CẢM TÁC
Nông thủy đông lưu khứ Thao thao cánh bất hồi Thanh sơn thương vãng sự Bạch phát phục trùng lai Xuân nhật thương thuyền hợp Tây phong cổ lũy khai Du nhân vô hạn cảm Phương thảo biến thiên nhai
26/249. QUA SÔNG PHÚ NÔNG CẢM TÁCSông Phú Đông nước chảy về đông Cuồn cuộn nước trôi không ngược giòng Non xanh thương cảm chuyện xưa cũ Nay ta trở về tóc điểm sương Ngày xuân tấp nập khách thuyền buôn Trống trải thành hoang ngập gió tây Khách xa chan chứa niềm thương cảm Cỏ cây xanh miết cuối chân mây
27/249. HỌA HẢI ÔNG ĐOÀN NGUYỄN TUẤN
“GIÁP DÂN PHỤNG MỆNH NHẬP PHÚ XUÂN KINH ĐĂNG TRÌNH LƯU BIỆT ĐẮC THÀNH CHƯ HỮU” CHI TÁC
Hoành sơn sơn ngoại lĩnh nam trình Cầm kiếm tương tùy thướng ngọc kinh Thỏ tủy vị hoàn tân đại dược Bài bì nhưng lụy cựu phù danh Thương minh thủy dẫn bôi trung lục Cố quốc thiềm tùy mã hậu minh Thử khứ gia huynh như kiến văn Cùng đồ bạch phát chính tinh tinh
27/249. HỌA VẦN BÀITHƠ “NĂM GIÁP DẦN (1794) VÂNG MỆNH VÀO KINH PHÚ XUÂN, LÚC LÊN ĐƯỜNG LƯU BIỆT CÁC BẠN Ở BẮC THÀNH” CỦA HẢI ÔNG ĐOÀN NGUYỄN TUẤN
Núi Hoành từ giã ông hướng nam Vừa đàn vừa kiếm tiến vào thành Thuốc chế tủy thỏ chưa thành đạt Vì da beo tốt nên lụy danh Nước biếc ngoài khơi sáng rượu bình Quê cũ trăng soi vó ngựa đêm Nếu gặp anh tôi có nhắn hỏi Thưa tôi tóc bạc kiếp lênh đênh
28/249. GIANG ĐÌNH HỮU CẢM
Ức tích ngô ông tạ lão thì Phiêu phiêu bồ tứ thử giang mi Tiên chu kích thủy thần long đấu Bảo cái phù không thụy hạc phi Nhất tự y thường vô mịch xứ Lưỡng đê yên thảo bất thăng bi Bách niên đa thiểu thương tâm sự Cận nhật Trường An đại dĩ phi
28/249. GIANG ÐÌNH CẢM XÚC CẦU HOÀNG MAINhớ xưa khi già cha về đây Ngựa xe giong ruỗi ven sông này Thuyền tiên rẽ nước như rồng đấu Tàn quý trong mây như hạc bay Từ khi áo đẹp không còn nữa Hai bờ sầu thảm phủ cỏ cây Trăm năm bao chuyện đời khổ não Trường An nay cũng lắm đổi thay
29/249. ỨC GIA HUYNH
Lục tháp thành nam hệ nhất quan (1) Hải vân dạ độ thạch toàn ngoan (2) Cùng xu lam chướng tam niên thú Cố quốc yên hoa nhị nguyệt hàn Nhất biệt bất tri hà xứ trú Trùng phùng tương tác tái sinh khan Hải thiên mang diểu thiên dư lý Thần phách tương cầu mộng diệc nan
29/249. NHỚ ANHTháp sáu thành nam nơi anh sống Đêm vượt đèo Hải đá cả đống Ba năm đồn xa vùng lam chướng Tháng hai quê cũ lạnh khói hương Một phen từ biệt nay ở đâu Gặp nhau lại được chắc kiếp sau Trời biển mênh mông đường ngàn dặm Khó cả thấy nhau trong mộng sâu
30/249. KÝ MỘNG
Thệ thủy nhật dạ lưu Du tử hành vị quy Kinh niên bất tương kiến Hà dĩ úy tương ti (tư) Mộng trung phân minh kiến Tầm ngã giang chi mi Nhan sắc thị trù tích Ý sức đa sâm si Thỉ ngôn khổ bệnh hoạn Kế ngôn cửu biệt ly Đái khấp bất chung ngữ Phảng phất như cách duy (1) Bình sinh bất thức lộ Mộng hồn hoàn thị phi ? Điệp sơn đa hổ trĩ Lam thủy đa giao ly Đạo lộ hiểm thả ác Nhược chất tương hà y (2) Mộng lai cô đăng thanh Mộng khứ hàn phong xuy Mỹ nhân bất tương kiến Nhu tình loạn như ti (3) Không ốc lậu tà nguyệt Chiếu ngã đan thường y
30/249. GHI LẠI GIẤC MỘNGNgày đêm nước chảy rề rề Người đi xa mãi ngày về biết đâu Bao năm chưa gặp lại nhau Lấy gì an ủi nỗi sầu nhớ thương Mộng nay thấy được người mong Gặp ta ngay ở ven sông bến bờ Mặt trông vẫn vẻ như xưa Nhưng xiêm luộm thuộm bao giờ thấy đâu Trước thì kể chuyện ốm đau Sau thì than thở nỗi sầu cách xa Nghẹn ngào lời nói chẳng ra Tuồng như màn trướng chia lìa hai phương Bình thường ta chẳng rành đường Trong cơn mộng mị không lường thực hư Núi Tam Điệp hổ báo dư Nước sông Lam có kình ngư vẫy vùng Đường đi hiểm trở vô cùng Một thân yếu đuối biết nương nơi nào? Mộng đến bên ngọn đèn hao Mộng đi gió lạnh lao xao thổi cùng Giai nhân chẳng được tương phùng Tấm lòng rối loạn lùng bùng ngẩn ngơ Ánh trăng nhà trống thẩn thơ Chiếu trên manh áo đơn sơ thân buồn
31/249. MY TRUNG MẠN HỨNG
Chung Tử viên cầm tháo nam âm (1)(2) Trang Tích bệnh chung do Việt ngâm (3) Tứ hải phong trần gia quốc lệ Thập tuần lao ngục tử sinh tâm Bình Chương di hận hà thời liễu (4) Cô Trúc cao phong bất khả tầm (5) Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ Hồng Xơn xơn hạ Quế Giang thâm
31/249. CẢM HỨNG TRONG TÙKhúc Nam Chung Tử gảy đàn vang Ốm đau ngâm lời Việt họ Trang Bốn bể phong trần rơi nước mắt Mười tuần lao ngục sống chết cam Bình Chương không tan một mối hận Cô Trúc gương cao khó mà tầm Tấm lòng bứt rứt làm sao tỏ Chân núi Hồng, sông Quế tình thâm
32/249. THÔN DẠ
Thanh thảo thôn tiền ngọa lão ông Giang nam dạ sắc thướng liêm lung Mãn thiên minh nguyệt nhất trì thủy Bán bích hàn đăng vạn thụ phong Lão khứ vị tri sinh kế chuyết Chướng tiêu thời giác túc tâm không Niên niên kết đắc ngư tiều lữ (1) Tiếu ngạo hồ yên dã thảo trung
32/249. THÔN VỀ ĐÊMLão ông nằm trước xóm cỏ Thanh Sông nam sắc tối phủ lên mành Trăng sáng đầy trời soi ao nước Đèn cheo leo lét gió lạnh tanh Già đến chưa hay mưu sinh vụng Chướng tan mới biết nhẹ tênh lòng Năm ròng kết bạn người đốn củi Cười vang giữa hồ khói cỏ đồng
33/249. KÝ HỮU
Mạc mạc trần ai mãn thái thông Bế môn cao chẩm ngọa kỳ trung Nhất thiên minh nguyệt giao tình tại Bách lý Hồng sơn chính khí đồng Nhãn đề phù vân khan thế sự Yêu gian trường kiếm quải thu phong Vô ngôn độc đối đình tiền trúc Sương tuyết tiêu thời hợp hóa long.
33/249. GỬI BẠNCát bụi mịt mù chốn trần gian Đóng cửa nằm khàn gối tựa cao Một trời trăng sáng lưu tình bạn Trăm dặm Hồng sơn chính khí hào Việc đời trước mặt nhẹ như mây Kiếm dài bên cạnh gió lung lay Trúcngoài sân trước ta lặng ngắm Ngày tuyết tan đi hóa rồng bay
34/249. KÝ HUYỀN HƯ TỬ (1)
Thiên Thai sơn tiền độc bế môn (2) Tây phong trần cấu mãn trung nguyên Điền gia bất trị Nam Sơn đậu (3) Bần hộ thường không Bắc Hải tôn (4) Dã hạc phù vân thời nhất kiến Thanh phong minh nghuyệt dạ vô ngôn Viễn lai chí thủ tương tầm lộ Gia tại Hồng Sơn đệ nhất thôn (5)
34/249. GỬI ANH HUYỀN HƯNhà núi Thiên Thai cửa then cài Cát bụi Trung nguyên lộng gió bay Nam Sơn ta chẳng ưng trồng đậu Nghèo xơ, rượu Bắc Hải có đâu Hạc cùng mây sao mà khó gặp Gió với trăng chẳng ngỏ một lời Đường xa tìm đến nhớ lời dặn Đầu xóm núi Hồng nhà của tôi
35/249. KÝ GIANG BẮC HUYỀN HƯ TỬ
Trường An khí bất tức: Hương tứ tại thiên nha (nhai): Thiên nha bất khả kiến Đã kiến trần dữ sa Tây phong thoát mộc diệp Bạch lộ tổn hoàng hoa Trân trọng hảo tự ái Thu ca sương lộ đa
35/249. GỬI ANH HUYỀN HƯ Ở PHÍA BẮC SÔNGTrường An bặt tin rồi: Nhớ nhà tận chân trời Chân trời nào thấy được: Chỉ thấy bụi tơi bời: Gió tây thổi lá rơi Sương rũ tàn cúc vàng Anh nhớ hãy giữ thân Vào thu sương càng nặng
36/249. ĐỘ LONG VĨ GIANG
Cố quốc hồi đầu lệ Tây phong nhất lộ trần Tài qua Long Vĩ thủy Tiện thị dị hương nhân Bạch phát sa trung hiện Ly hồng hải thượng văn Thân bằng tân khẩu vọng Vị ngã nhất triêm cân
36/249. QUA SÔNG LONG VĨNhìn lại quê hương giọt lệ tràn Gió tây thổi bụi đường gian nan Long Vĩ giòng sông ngang qua đó Đất người ngơ ngác khách lạ thân Một bãi cát kia rõ đầu bạc Trên cao chim biển kêu lìa đàn Bạn bè trên bến nhìn nhau mãi Chiếc khăn đẫm lệ cũng vì ta
37/249. BIỆT NGUYỄN ĐẠI LANG TAM THỦ
I
Ngã thả phù giang khứ Tống quân qui cố khâu Càn khôn dư thảo ốc Phong vũ túc cô chu Thu dạ ngư long trập Thâm sơn mi lộc du Hưu kỳ bất thậm viễn Tương kiến tại Trung Châu (1)
37/249. TIỄN ĐƯA ANH NGUYỄNI
Giòng sông tôi đi qua Đưa anh về quê nhà Trời đất một mái tranh Mưa gió một thuyền xa Đêm thu rồng cá ẩn Núi sâu nai rừng ra Ngày vui gần đến nơi Gặp nhau tại Bắc Hà
38/249. BIỆT NGUYỄN ĐẠI LANG TAM THỦ
II
Tống quân quy cố khâu Ngã diệc phù giang hán Thiên lý bất tương văn Nhất tâm vị thường gián Dạ hắc sài hổ kiêu Nguyệt minh hồng nhạn tán Lưỡng điạ các tương vương Phù vân ưng bất đoạn
38/249. TIỄN ÐƯA ANH NGUYỄNII
Tiễn anh về chốn xưa Rồi tôi cũng qua sông Ngàn dặm sẽ bặt tin Một lòng chẳng gián đoạn Đêm báo hùm hung hãn Trăng hồng nhạn bay cùng Hai ngả đều trông mong Mây trời trôi không ngừng
39/249. BIỆT NGUYỄN ĐẠI LANG TAM THỦ
III
Quân quy ngã diệc khứ Các tại loạn ly trung Sinh tử giao tình tại Tồn vong khổ tiết đồng Sài môn khai dạ nguyệt Tàn lạp tẩu thu phong Thiên lý bất tương kiến Phù vân mê thái không
39/249. TIỄN ĐƯA ANH NGUYỄNIII
Anh về thì tôi cũng rời Hai ta cùng cảnh trong thời loạn ly Thân tình sống chết bất di Mất còn khí tiết vẫn y tâm nguyền Cửa tre mở dưới trăng đêm Dãi dầu nón rách trong thềm gió thu Xa nhau nghìn dặm ngậm ngùi Mây trôi mờ mịt ngẩn ngơ trên trời
40/249. NÓI Ý MÌNH
Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh Tỉnh thủy vô ba đào Bất bị nhân khiên xả Thử tâm chung bất dao Túng bị nhân khiên xả Nhất dao hoàn phục chỉ Trạm trạm nhất phiến tâm Minh nguyệt cổ tỉnh thủy
40/249. NÓI Ý MÌNHTrăng sáng soi giếng cũ Nước giếng phẳng lặng tanh Nếu người không động đến Thì lòng chẳng lao xao Ví dù có khoắng lên Lao xao rồi lại lặng Vằng vặc một tấm lòng Như trăng soi giếng cũ
41/249. HÀNH LẠC TỪ Nhị Thủ
I
Tuấn khuyển hoàng bạch mao Kim linh hệ tú cảnh Khinh sam thiếu niên lang Khiên hướng nam sơn lĩnh Nam sơn đa hương mi Huyết nhục cam thả phì Kim đao thiết ngọc soạn Mỹ tửu lũy bách chi Nhân sinh vô bách tải Hành lạc đương cập kỳ Vô vi thủ bần tiện Cùng niên bất khai mi Di Tề vô đại danh (1) Chích Cược vô đại lợi (2) Trung thọ chỉ bát thập (3) Hà sự thiên nhiên kế Hữu khuyển thả tu sát Hữu tửu thả tu khuynh Nhãn tiễn đắc táng dĩ nan nhận Hà sự mang mang thân hậu danh?
41/249. BÀI TỪ VUI CHƠII
Chó đẹp vàng đốm trắng Cổ xinh mang chuông vàng Có chàng trẻ áo ngắn Dắt về hướng núi nam Núi nam nhiều hương nai Máu thịt đầy thơm ngon Dao vàng soạn món quý Rượu ngon có cả trăm Người khó sống trăm năm Vui chơi được lúc nào Cần chi mà tằn tiện Quanh năm chẳng nở mày Danh Di Tề chẳng lớn Chích Cược chẳng giàu to Tuổi thọ chỉ tám mươi Lo chi chuyện ngàn năm Có chó cứ việc sát Có rượu cứ uống tràn Trước mặt được mất khó mà biết Mịt mùng danh hậu lo làm chi!
42/249. HÀNH LẠC TỪ II Nhị Thủ
II
Sơn thượng hữu đào hoa Xước ước như hồng ỷ Thanh thần lộng xuân nghiên Nhật mộ trước nê trỉ
Hảo hoa vô bách nhật Nhân thọ vô bách tuế Thế sự đa suy di Phù sinh hành lạc sự
Tịch thượng hữu kỹ kiều như hoa Hồ trung hữu tửu như kim ba Thúy quản ngọc tiêu hoãn cánh cấp Đác cao ca xứ thả cao ca
Vương Nhung nha trù thủ tự tróc (1) Nhật nhật cối kê thường bất túc Tam công đài khuynh hảo lý tử Kim tiền tán tác tha nhân phúc
Hựu bất kiến Phùng Đạo vãn niên xưng cực quý (2) Lịch chiếu bất ly khanh tướng vị Chung minh đỉnh thực cánh hoàn không Thiên tải đồ lưu “Trường lạc tự” (3)
Nhãn tiền phú quý như phù vân Lãng đắc kim nhân tiếu cổ nhân Cổ nhân phần dinh dĩ luy luy Kim nhân bôn tẩu hà phân phân
Cổ kim hiền ngu nhất khâu thổ Sinh tử quan đầu mạc nagn độ Khuyến quânẩm tửu thả vi hoan Tây song nhật lạc thiên tương mộ
42/249. BÀI TỪ VUI CHƠI IIII
Núi cao hoa đào thắm Đẹp tươi như lụa hồng Sáng sớm giỡn cùng xuân Chiếu tối thành bùn cặn
Hoakhó đẹptrăm ngày Người mấy ai tuổi trăm Việc đời nhiều đổi thay Yêu sống cứ vui vầy
Bên tiệc có gái đẹp như hoa Trong vò có rượu quý vàng ánh Sáo xanh tiêu ngọc hồi khoan nhặt Được ca vang, hãy cứ ca vang
Có thấy không Vương Nhung tay gảy toán ngà Ngày nào cũng tính mà lòng không ưng Đài tam công nghiêng, mận quý tàn Bạc tiền tán cho người ta hưởng
Lại thấy kìa Phùng Đạo lão giầu sang là thế Trải bao triều khanh tướng vững vàng Chuông rung bạc quý còn đâu nữa Ngàn năm Trường Lạc lưu một chương
Phú quí trước mắt tựa mây trôi Người nay cười mũi kẻ xa xưa Người xưa mồ mả đầy cả đống Người nay vẫn mải miết ngược xuôi
Hiền hay ngu cũng trơ nấm đất Sống rồi chết ai tránh được đây Lời rằng cứ uống rồi chơi Kìa bên song cửa trời đà xế tây
43/249. LAM GIANG
Thanh thần vọng Lam Giang Lam Giang trướng thu thủy Ngư miết du khâu lăng Ngưu mã mê nhai sĩ Dĩ ngạn băng bạo lôi Hồng đào kiến kỳ quỷ Nguy hiểm thắng nhân tâm Khuynh phúc diệc thiên ý Ngã vọng Lam Giang đầu Thốn tâm thường chủy chủy Thường khủng nhất thất túc Cốt một vô để chỉ Như hà thế gian nhân Thừa hiểm bất tri úy Khứ giả hà thao thao Lai giả thượng vị dĩ Đế đức bản hiếu sinh Ná đắc trường như thị Nghĩ khu Thiên Nhận sơn (1) Điền bình ngũ bách lý
43/249. SÔNG LAMSớm ra nhìn sông Lam Mùa thu nước lên đầy Cá bơi trên gò bãi Trâu ngựa lạc bến bờ Bờ lở ầm như sấm Sóng dâng như thủy quái Nguy hiểm vượt lòng người Sụt lở do ý trời Ta nhìn đầu sông Lam Lòng dạ sao áy náy Nhỡ không may sảy chân Chìm xuống tận đáy sâu Người thế gian hay nhỉ Chẳng nề hà hiểm nguy Kẻ đi qua ào ào Người trở về cũng nhiều Trời vốn đức thương người Cớ sao để như vầy Cầu đẩy núi Thiên Nhận Lấp trăm dặm dòng sông
44/249. NINH CÔNG THÀNH (1)
Độc thướng cao sơn nhãn giới tân Anh hùng vãng sự quải giang tân Nhất thành thượng hạ tận kiều mộc Thập lý uy phong kiến cổ nhân Thử địa bắc nam quy nhất trục Đương thì tỉnh táo trú tam quân Thập niên vị tiết nam nhi hận Đàn kiếm trường ca đối bạch vân
44/249. THÀNH ÔNG NINHMột mình lên núi cảnh ta trông Chuyện cũ anh hùng nơi bến sông Cây cao trên dưới đầy thành cổ Người xưa mười dặm còn oai phong Ngày nay nam bắc chung một gộp Thời xưa giếng bếp chốn ba quan Hận làm trai mười năm còn mắc Đối mây trắng gõ kiếm ca vang
45/249. KHAI SONG
Môn tiền yên cảnh cận như hà? Nhàn nhật khai song sinh ý đa Lục nguyệt bồi phong bằng tỉ địa (1) Nhất đình tích vũ nghĩ di oa Thanh chiên cựu vật khổ trân tích (2) Bạch phát hùng tâm không đốt ta (3) Tái bệnh thượng tu điều nhiếp lực Bất tri thu tứ đáo thùy gia?
45/249. MỞ CỬA SỔCảnh vật ra sao ở trước nhà? Ngày nhàn mở cửa xem cảnh xa Sáu tháng chim bay nương theo gió Một sân nước đọng kiến rời xa Khư khư lo giữ nệm xanh mãi Tóc bạc khí hùng nhuốm phôi phai Còn bệnh phải lo tu bổ sức Chẳng biết ý thu tạt nhà ai?
46/249. ĐỐI TỬU
Phu tọa nhàn song túy nhỡn khai Lạc hoa vô số há thương đài Sinh tiền bất tận tôn trung tửu Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi? Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ Niên quang ám trục bạch đầu lai Bách ky đản dắt chung triêu túy Thế sự phù vân chân khả ai
46/249. NGỒI UỐNG RƯỢUNhàn ngồi bên cửa mắt nửa say Trên thảm rêu xanh hoa rụng đầy Lúc sống rượu chén không uống cạn Chết đi ai tưới ruợu mộ đây? Sắc xuân đổi chim vàng xa lánh Tháng ngày ám tóc bạc càng dồn Ước cả năm cứ say sưa miết Việc đời mây nổi thật đáng buồn
47/249. SƠN THÔN
Vạn sơn thâm xứ tuyệt phong trần Thác lạc sài môn bế mộ vân Trưởng giả y quan do thị Hán (1) Sơn trung giáp tý quýnh phi Tần (2) Mục nhi giác chủy hoang giao mộ Cấp nữ đồng liên ngọc tỉnh xuân Ná đắc khiêu ly phù thế ngoại Trường tùng thụ hạ tối nghi nhân
47/249. XÓM NÚISâu giữa muôn núi khuất gió trần Cổng tre rải rác lẩn trong mây Người sang còn mặc y kiểu Hán Tháng năm trong núi khác đời Tần Chiều về mục đồng gõ sừng trâu Giếng ngọc gái quê kéo nước gàu Ước gì thoát được cõi trần tục Ngồi dưới cây tùng thú biết bao.
48/249. ĐIẾU LA THÀNH CA GIẢ (1)
Nhất chi nùng diễm há bồng doanh Xuân sắc yên nhiên động lục thành Thiên hạ hà nhân liên bạc mệnh Trủng trung ưng tự hối phù sinh Yên chi bất tẩy sinh tiền chướng Phong nguyệt không lưu tử hậu danh Tưởng thị nhân gian vô thức thú Cửu tuyền khứ bạn Liễu Kỳ Khanh (2)
48/249. VIẾNG CA NỮ ĐẤT LA THÀNHMột cành hoa đẹp rời cõi tiên Dung nhan diễm lệ sáu thành nghiêng Đời ai thương cho kẻ bạc mệnh Hối kiếp phù sinh dưới mồ riêng Lúc sống nghiệp phấn không rửa hết Chết đi còn lại tiếng phong lưu Nghĩ rằng thế gian chẳng ai biết Suối vàng làm bạn cùng Liễu Khanh
49/249. TẠP THI I Nhị thủ
Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên Xuân lan thu cúc thành hư sự Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ Bạch vân ngọa bệnh Quế Giang biên Thôn cư bất yếm tần cô tửu Thượng hữu nang trung tam thập tiền
49/249. THƠ TẠP IKẻ tài đầu bạc hướng trời than Lòng hùng sinh kế cùng gian nan Xuân lan thu cúc không được việc Hè nồng đông lạnh cướp tuổi xuân Chó vàng vui mãi dưới Hồng Lĩnh Mây trắng bệnh hoài cạnh Quế Giang Ở thôn thỏa thích được mua rượu Tiền ba mươi đồng túi rỉnh rang
50/249. Tạp Thi II
Hồng Sơn nhất sắc lâm bình cừ Thanh tịch khả vi hàn sĩ cư Thiên lý bạch vân sinh kỷ tịch Nhất song minh nguyệt thướng cầm thư Tiểu đề tuẫn tục can qua tế Giam mặc tàng sinh lão bệnh dư (1) Diệp lạc hoa khai nhãn tiền sự Tứ thời tâm kính tự như như
50/249. THƠ TẠP IISắc núi Hồng soi làn nước phẳng Một nhà nho ngụ chốn lặng tanh Mây trắng ngàn dậm quanh giường phủ Trăng kia một mảnh giọi sách đàn Loạn ly theo thói đời cười khóc Lão bệnh nín thinh dưỡng thân tàn Lá rơi hoa nở việc trước mắt Bốn mùa tâm trạng vẫn nhẹ nhàng
51/249. MẠN HỨNG
Long Vĩ châu biên đa bạch âu (1) Lam Giang đường thượng hữu hàn nho (2) Nhất sinh từ phú tri vô ích Mãn giá cầm thư đồ tự ngu Bách tuế vi nhân bi thuấn tức Mộâ niên hành lạc tích tu du (3) Ninh tri dị nhật tây lăng hạ Năng ẩm trùng dương nhất tích vô (4)
51/249. MẠN HỨNGÂu trắng đầy cả bãi sông Long Có một hàn nho ngụ sông Lam Một đời thi phú chẳng có lợi Sách đàn đầy kệ càng dại thêm Trăm năm sống đó thoảng một chốc Tuổi nhiều vui thú ngắn một lát Không biết gò tây khi nằm xuống Giọt rượu Trùng Dương uống được chăng?
52/249. NGỌA BỆNH I Nhị Thủ
Đa bệnh đa sầu khí bất thư Thập tuần khốn ngọa Quế Giang cư (1) Lệ thần nhập thất thôn nhân phách (2) Cơ thử duyên sàng khiết ngã thư Vị hữu văn chương sinh nghiệt chướng (3) Bất dung trần cấu tạp thanh hư (4) Tam lan song hạ ngâm thanh tuyệt (5) Điểm điển tinh thần du thái sợ (6)
52/249. Nằm Bệnh IBệnh nhiều sầu thảm cứ triền miên Quế Giang ngả bệnh mười tuần liền Thần ôn vào nhà muốn bắt viá Chuột dạn leo giường gậm sách yên Đã có văn chương gây nghiệt đâu Chẳng để bụi trần lẫn sách trong Giò lan bên cửatiếng ngâm vắng Chới vơi tinh thần cõi hư không
53/249. Ngoạ bệnh II
Xuân hàn hạ thử cố tương xâm Nhất ngoạ Hồng Sơn tuế nguyệt thâm Minh kính hiểu hàn khai lão sấu Sài phi dạ tĩnh bế thân ngâm Thập niên túc tật vô nhân vấn (1) Cửu chuyển hoàn đan hà xứ tầm (2) An đắc huyền quan minh nguyệt hiện (3) Dương quang hạ chiếu phá quần âm
53/249. Nằm Bệnh IIXuân rét hạ nóng thêm quấy rầy Nhiều năm Hồng Lĩnh nằm dất dây Sáng lạnh kính soi già gầy cọm Đêm vắng than vãn cửa tre cài Mười năm bệnh cũ nào ai hỏi Thuốc tiên chín luyện tìm đâu ra Ước mong cửa chính vầng trăng tỏ Giọi ánh sángdương đuổi u tà
54/249. DẠ HÀNH
Lão nạp an miên Hồng Lĩnh vân Phù âu tĩnh túc noãn sa tân Nam minh tàn nguyệt phù thiên lý Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân Hắc dạ hà kỳ mê thất hiểu Bạch đầu vô lại chuyết tàng thân Bất sầu cửu lộ chiêm y duệ Thả hỷ tu mi bất nhiễm trần
54/249. ĐI ĐÊMSư già ngủ trong Hồng Lĩnh mây Chim âu yên ấm bãi cát dầy Trăng tàn biển nam xa ngàn dặm Lối cũ gió lạnh tụ thân đầy Tối đêm mịt mờ sao chưa sáng Đầu bạc không nhà vụng ẩn thân Chẳng ngại đi lâu sương ướt áo Còn mừng râu mày khỏi bụi trần
55/249. TẠP NGÂM I
Thu thanh nhất dạ độ Lam hà (1) Vô ảnh vô hình nhập ngã gia Vạn lý tây phong lai bạch phát Nhất song thu sắc tại hoàng hoa Bách niên ai lạc hà thời liễu Tứ bích đồ thư bất yếm đa Đình thực cô tùng cao bách xích Bất tri Thanh đế nại nhân hà (2)
55/249. TẠP NGÂM ITiếng thu vượt sông Lam đêm qua Không hình không ảnh chợt lọt nhà Muôn dặm gió tây bạc thêm tóc Bên cửa sắc thu vàng thêm hoa Trăm năm vui khổ bao giờ cạn Bốn vách sách thơ chang ngại đầy Trước sân cây tùng cao trăm thước Chúa xuân khó xử người trồng cây?
56/249. TẠP NGÂM II
Long Vĩ gia đầu ốc nhất gian U cư sầu cực hốt tri hoan Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt Xử sĩ môn tiền thanh giả san Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt Đăng tiền đẩu tửu khởi suy nhan Tào đầu trung nhật vô yên hỏa Song ngoại hoàng hoa tú khả san
56/249. TẠP NGÂM IIĐầu sông Long Vĩ có một nhà Ẩn nhân buồn quá phát vui ra Tâm đạt lòng quang như trăng tỏ Trước nhà toàn núi xanh ngát xa Chồng sách nương gối đỡ thân bệnh Bên đèn nhấp rượu giúp sắc da Sau bếp suốt ngày chẳng nhóm lửa Ngoài cửa no ngắm đóa hoàng hoa
57/249. TẠP NGÂM III
Mạc mạc thu quang bát nguyệt thâm Mang mang thiên khí bán tình âm Thụ phong cao trúc minh thiên lại Linh vũ hoàng hoa bố địa câm (kim) Viễn tụ hàn xâm du tử mộng Trừng đàm thanh cộng chủ nhân tâm Xuất môn từ bộ khan thu sắc Bán tại giang đầu phong thụ lâm
57/249. TẠP NGÂM IIIMan mác cảnh thu tháng tám trầm Mênh mông trời nửa nắng nửa râm Hưởng gió trúc cao vang tiếng sáo Hứng mưa hoa cúc vàng đầy sân Hơi núi lạnh len thân kẻ mộng Nước đầm trong bồi lòng chủ nhân Nhàn nhã ra cửa sắc thu ngắm Đầu sông thấy nửa rừng phong gần.
58/249. TẶNG THỰC ĐÌNH
Thiên hạc đàm ngư hà xứ tầm La thành nhất biệt thập niên thâm (1) Đồng niên đối diện cách thiên nhưỡng (2) Vãng sự hồi đầu thành cổ câm (kim) Bạch phát tiên ma bần sĩ khí Đề bào trân trọng cố nhân tâm (3) Mạc sầu tịch địa vô giai khách Lam thủ Hồng sơn túc vịnh ngâm (4)
58/249. TẶNG ANH THỰC ĐÌNHChim trời cá nước tìm đâu ra Chục năm ròng rã biệt thành La Cùng năm đối mặt trời chia cách Chuyện xưa nghĩ lại như cũ xa Bạc đầu sờn chí khí kẽ sĩ Áo thô trân quý tâm người xưa Chớ lo hẻo lánh không bạn đến Núi Lĩnh sông Lam ca càng ưa
59/249. PHÚC THỰC ĐÌNH
Đông hàn hạ thử cố xâm tầm Lão đại đầu lô tuế nguyệt thâm Kinh quốc oanh hoa thiên lý ngoại Giang hồ soa lập thập niên câm Tụ đầu nan đắc thường thanh mục (1) Lý phát đương tri vị bạch tâm Lam thủ Hồng sơn vô hạn thắng Bằng quân thu thập trợ thanh ngâm
59/249. TRẢ LỜI ANH THỰC ĐÌNHĐông rét hạ nóng trôi lần qua Đầu bạc tháng ngày chồng chất pha Hoa, chim kinh quốc xa ngàn dặm Phiêu lưu áo nón đã mười năm Chốn hội hè khó gặp kẻ mắt xanh Chải tóc chợt thấy lòng còn vướng Núi Hồng nước Lam cảnh đẹp thanh Tha hồ anh cảm thơ đề xướng
60/249. LIỆP
Y quan đạt giả chí thanh vân (1) Ngô diệc lạc ngô mi lộc quần Giả thích nhàn tình an tại hoạch (2) Bỉnh trừ dị loại bất phương nhân Xạ miên thiển thảo hương do thấp Khuyển độ trùng sơn phê bất văn Phù thế vi hoan các hữu đạo Khu xa ủng cái thị hà nhân (3)
60.249. ĐI SĂNMặc người vinh hiển rộng đường mây Riêng ta vui thú cùng bầy nai Cho tâm thư thái, đâu cần bắt Ví dù hại thú chẳng hại ai Chồn ngủ bãi cỏ mùi còn đấy Chó sủa băng núi tiếng thoảng tai Đời người tìm vui có nhiều lối Kẻ xe lọng rước biết là ai
61/249. KÝ HỮU
Hồng Sơn sơn nguyệt nhất luân minh Thiên Lý Trường An thử dạ tình (1) Thái phác bất toàn chân diện mục (2) Nhất châu hà sự tiểu công danh (3)
Hữu sinh bất đái công hầu cốt Vô tử chung tầm thỉ lộc minh Tiễn sát bắc song cao ngọa giả (4) Bình cư vô sự đáo hư linh
61/249. GỬI BẠNNúi Hồng đêm sáng ánh trăng rơi Trường An ngàn dăm dạ rối bời Ngọc sâu trong đá khó giữ mặt Sá gì danh mọn chốn xa xôi
Sanh ra công hầu đâu được rắc Sống dai có ngày bạn cùng nai Ước gì nằm khểnh bên cửa bắc An nhàn chẳng bận rộn tâm ai
62/249. LA PHÙ GIANG THỦY CÁC ĐỘC TỌA
Thủy các các hạ, giang thủy thâm Thủy các các thượng, nhân trầm ngâm Du du vân ảnh biến thần tịch Cổn cổn lãng hoa phù cổ câm
Trần thế bách niên khai nhãn mộng Hồng Sơn thiên lý ỷ lan tâm Bồi hồi đối ảnh độc vô ngữ Bạch phát sổ hành thùy ngã khâm
62/249. NGỒI MỘT MÌNH TRÊN THỦY CÁC Ở SÔNG LA PHÙDưới sàn lầu thủy thẳm nước sông Trên sàn lầu thủy khách trầm ngâm Sớm chiều lang thang mây chuyển bóng Sóng vờn cuồn cuộn cuốn cổ kim
Trăm năm cuộc thế mở mắt mộng Ngàn dặm tựa song nhớ núi Hồng Bồi hồi ngắm cảnh lời chẳng thốt Trên áo phất phơ tóc bạc buông
63/249. SƠ NGUYỆTHấp đắc dương quang tái thướng thiên Sơ tam sơ tứ vị đoàn viên Thường Nga trang kính vi khai hạp Tráng sĩ loan cung bất thướng huyền
Thiên lý quan sơn vô cải sắc Nhất đinh sương lộ cộng sầu miên Bồi hồi chính ức Hồng Sơn dạ Khước tại La phù giang thủy biên
63/249. TRĂNG NONVừa ló dạng hút ánh sáng trời Mùng ba mùng bốn trăng còn vơi Nàng Nga gương sáng vừa hé nắp Cung cong tráng sĩ dây còn lơi
Ngàn dậm quan san không đổi sắc Đầy sân sương rắc ngủ buồn thêm Nao lòng nhớ lại đêm Hồng Lĩnh Sông nước La Phù nay kề bên
64/249 NGẪU HỨNG Nhị thủ ISơ canh cổ giác ngũ canh kê Chung dạ bồi hồi tứ chuyển mê Minh nguyệt mãn thiên hà cố cố Tây phong suy ngã chính thê thê
Thương tàn vật tính bi phù hĩnh (1) Khắc lạc thiên chân thất mã đề (2) Nhược ngô sơn trung mi lộc hữu Yên hà cựu thoại bất kham đề
64/249 NGẪU HỨNGI
Tiếng trống canh đầu, gà canh năm Bồi hồi thao thức nghĩ quẩn quanh Trăng sáng sao trời vẫn vậy vậy Gió tây thổi buốt rét căm căm
Thương chân vịt ngắn chẳng nối được Thương ngựa gọt móng mất chân thiên Trên núi có duyên hươu làm bạn Chuyên xưa mây khói chẳng bàn thêm
65/249 NGẪU HỨNG Nhị thủ
II
Nhất lệ thiên thai sái đoạn bồng La Phù giang thượng khởi thu phong Hoàng vân bạch thủy lưỡng tương chiếu Cấp quản bi ti vạn bất đồng
Lục xích câu mi trường dịch dịch Tứ thời phao trịch thái thông thông Chinh hồng ảnh lý gia hà tại? Ẩn ẩn Quỳnh vân tam lưỡng phong
65/249 NGẪU HỨNGII
Nhỏ lệ thương thân như cỏ bồng La Phù thu gió trổi trên sông Mây vàng chiếu xuống làn nước bạc Tiếng đàn tiếng sáo như lạc cung
Tấm thân sáu thước cứ chao đao Bốn mùa vùn vụt tựa thoi đưa Nhà đâu dưới bóng chim hồng đảo Thấp thoáng mây Quỳnh vài núi cao
66/249. MỘ XUÂN MẠN HỨNGNhất niên xuân sắc cửu thập nhật Phao trịch xuân quang thù khả liên Phù thế công danh khan điểu quá Nhàn đình tiết tự đái oanh thiên
Trắc thân bất xuất hữu hình ngoại Thiên tuế trường ưu vị tử tiền Phù lợi vinh danh chung nhất tán Hà như cập tảo học thần tiên
66/249. CUỐI XUÂN CẢM HỨNGMột năm xuân thắm chín mươi ngày Nỡ để xuân trôi thật tiếc thay Công danh tựa cánh chim chợt vút Sân nhàn thời tiết theo oanh bay
Còn thân làm sao trốn khỏi kiếp Ngàn năm bận bịu chuyện sống còn Danh hão chung cuộc rồi cũng biến Sao bằng theo học đạo thần tiên
67/249. THANH MINH NGẪU HỨNGĐông phong trú dạ động giang thành Nhân tự bi thê, thảo tư thanh Xuân nhật hữu thân phi thiếu tráng Thiên nhai vô tửu đối thanh minh Thôn ca sơ học tang ma ngữ Dã khốc thời văn chiến phạt thanh Khách xá hàm sầu dĩ vô hạn Mạc giao mao thảo cận giai sinh
67/249. TIẾT THANH MINH NGẪU HỨNGGió đông thổi suốt đêm qua thành Người cứ sầu thảm, cỏ cứ xanh Tấm thân ngày xuân không trẻ nữa Thanh minh không rượu thôi cũng đành Dân ca thêm hiểu kẻ trồng dâu Nức nở ngoài đồng vẳng chiến tranh Day dứt khách xa buồn vô kể Chớ để cỏ tranh mọc gần quanh
68/249. THANH QUYẾT GIANG VĂN DIỂU (1)Phù kiều tận xứ xuất bình điền Lịch lịch thanh sơn tại nhãn tiền Cổ kính tiều qui minh nguyệt đảm Triều môn ngư tống tịch dương thuyền
Mang mang viễn thủy tam xuân thụ Lạc lạc nhân gia lưỡng ngạn yên Cực mực hương quan tại hà xứ? Chinh hồng sổ điểm bạch vân biên
68/249. CHIỀU NGẮM CẢNH TRÊN SÔNG THANH QUYẾTQua cầu nổi thấy đồng bằng xa Giăng giăng dẫy núi trước mắt ta Đường cổ tiều ông về trăng sáng Nước triều thuyền đẩy dưới nắng tà
Mênh mông nước trải mờ cây cối Lác đác nhà dân khói bên sông Nhướng mắt tìm quê hương cố quận Chỉ thấy mây trắng đốm chim hồng
69/249. ĐỒNG LUNG GIANG
Đồng Lung giang thủy khứ du du Kim cổ nhàn sầu bất trú lưu Sa chủy tàn lô phi bạch lộ Lũng đầu hàn nguyệt ngọa hàn ngưu
Loạn sơn thúy tiếp cô thành mộ Thủy trúc hàn sinh tiểu điếm thu Tiễn nhĩ dã âu tùy thủy khứ Phù sinh lao lực kỷù thời hưu?
69/249. SÔNG ĐỒNG LUNGĐồng Lung nước chảy cuốn mịt mờ Mối sầu mới cũ chẳng lưu bờ Cuối bãi cò trắng bay qua sậy Đâu ghềnh trăng lạnh trâu nằm mơ
Núi xanh lởm chởm nối thành vắng Hơi trúc thu lạnh chiếc lều xinh Thèm như đàn âu lượn trên sóng Cực đến bao giờ kiếp phù sinh?
70/249. ĐỒNG LƯU LỘTHƯỢNG DAO KIẾN SÀI SƠNSài Sơn sơn thượng đa phù vân Sài Sơn sơn hạ thạch lân lân Đồng Lư lộ thượng tây kiều thủ Tú sắc thương nhiên lai chiếu nhân
Lịch lịch lâu đài thiên ngoại kiến Vi vi trung cổ nguyệt trung văn Thanh sam tẩu biến hồng trần lộ Viên hạc hà tòng nhận cựu lân?
70/249. NHÌN SÀI SƠN TRÊN ĐƯỜNG ĐỒNG LƯTrên đỉnh Sài Sơn mây xen mây Còn núi Sài Sơn đá chiếm đầy Con đường Đồng Lư trời tây ngắm Sắc xanh tuyệt mỹ chiếu người đây
Từ xa lâu đài thấy rõ mắt Vẳng nghe tiếng trống ánh trăng bày Áo xanh chốn bụi hồng dạo khắp Vượn hạc nhận ra phải gặp may?
71/249. LẠNG SƠN ĐẠO TRUNG (1)
Vạn mộc sơn tiền khả bốc cư Bạch vân tại tụ thủy thông cừ Sơn tăng đối trúc lưỡng vô dạng Mục thụ kỵ ngưu nhất bất như
Ảnh lý tu mi khan lão hỷ Mộng trung tùng cúc ức qui dư Tọa gia thôn tẩu đa nhàn sự (2) Chỉ vì bình sinh bất độc thư
71/249. TRÊN ĐƯỜNG ĐI LẠNG SƠNGiữa rừng cây rậm dựng được nhà Mây núi tích tụ khe nước ra Kìa tăng, kìa trúc bình yên quá Sướng nhất cưỡi trâu mục đồng xa
Soi kính mày râu thấy mình già Cúc tùng trong mộng muốn về nhà Làm kẻ ngồi nhàn trong thôn xóm Không hề đọc sách càng nhẩn nha
72/249. VỌNG PHU THẠCH
Thạnh da? nhân da? bỉ hà nhân? Độc lập sơn đầu thiên bách xuân Vạn kiếp yểu vô vân vũ mộng (1) Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân
Lệ ngân bất tuyệt tam thu vũ Đài triện trường minh nhất đoạn văn Tứ vọng liên sơn diểu vô tế Độc giao nhi nữ thiện di luân
72/249. ĐÁ NGÓNG CHỒNGPhải người? Phải đá? Hỏi ai đây? Sừng sững trên núi ngàn năm nay Chẳng mộng mây mưa cả vạn kiếp Cổ kim thanh khiết thân vẫn đầy
Dòng lệ mưa thu không ngưng chảy Thảm rêu như khắc đoản văn chương Bốn bề núi dăng hàng lớp lớp Dành riêng phận nữ giữ đạo thường
73/249. ĐỀ NHỊ THANH ĐỘNG
Bàn cổ sơ phân bất ký niên Sơn trung sinh quật, quật sinh tuyền Vạn ban thủy thạch thiện đại xảo Nhất lạp càn khôn khai tiểu thiên
Mãn cảnh giai không hà hữu tướng (1) Thử tâm thường định bất ly thiền Đại sư vô ý diệc vô tận (2) Phủ thán thành trung đa biến thiên
73/249. ĐỀ ĐỘNG NHỊ THANHBàn cổ xưa nay bao năm rồi Hang sâu trong núi nước vẫn trôi An bài khéo léo suối cùng đá Một hạt càn khôn một mảnh trời
Khắp cõi là không sao có tướng Tấm lòng thiền đạo quyết không vơi Phật cao không tâm cũng không ý Nhìn thành thay đổi dạ bồi hồi
74/249. QUỈ MÔN ĐẠO TRUNG
Quỷ môn thạch kính xuất vân côn (căn) (1) Chinh khách nam qui dục đoạn hồn Thụ thụ đông phong suy tống mã Sơn sơn lạc nguyệt dạ đề viên
Trung tuần lão thái phùng nhân lãn (2) Nhất lộ hàn uy trượng tửu ôn Sơn ổ hà gia đại tham thụy? Nhật cao do tự yểm sài môn
74/249. TRÊN ĐƯỜNG QUA QUỈ MÔNĐường qua Quỉ môn tỏa khói mây Lữ khách xuôi nam dạ gây gây Gió đông chèn cây thổi ngựa tiễn Trăng lặn đầu non vượn hú đầy
Nửa già tiếp khách đâm lười biếng Đi đường gặp lạnh rượu nhấp hoài Nhà ai xóm núi còn ham ngủ? Mặt trời đã lên cửa vẫn cài
75/149. XUÂN TIÊU LỮ THỨ
Tiêu tiêu bồng mấn lão phong trần Ám lý thiên kinh vật hậu tân Trì thảo vị lan thiên lý mộng (1) Đình mai dĩ hoán nhất niên xuân (2)
Anh hùng tâm sự hoang trì sính Danh lợi doanh trường lụy tiếu tần Nhân tự tiêu điều xuân tự hảo Đoàn Thành thành hạ nhất triêm cân (3)
75/149. ĐÊM XUÂN LỮ THỨĐầu tóc bạc phơ với gió trần Cảnh vật thấy đổi sợ muôn phần Còn mộng “ao cỏ” xa ngàn dặm Cây mai sân trước lại một xuân
Trí hùng một tâm đà nguội lạnh Công danh thêm lụy khóc cười nhăn Thân thể tang thương, xuân vẫn đẹp Đứng dưới Đoàn Thành lệ sũng khăn
76/249. KHỔNG TƯỚC VŨ Khổng tước phủ hoài độc Ngộ phục bất khả y Ngoại lộ văn chương thể Trung tàng sát phạt ky
Nhân khoa dung chỉ thiện Ngã tích vũ mao kỳ Hải hạc diệc hội vũ Bất dữ thế nhân tri
76/249. CHIM CÔNG MÚAGan lòng chim công độc Ăn vào chẳng chữa được Trông ngoài chim đẹp thế Trong thân độc hại người
Ai khen đẹp cái dáng Ta tiếc lông tuyệt vời Hạc biển cũng múa đấy Nhưng che mắt người đời
77/249. ĐIỆP TỬ THƯ TRUNGVân song tằng kỷ nhiễm thư hương (1) Tạ khước phong lưu vị thị cuồng Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịnh Tàn hồn vô lệ khốc văn chương
Đố ngư dị tỉnh phồn hoa mộng Huỳnh tản nan hôi cẩm tú trường (2) Văn đạo dã ưng cam nhất tử (3) Dâm thư do thắng vị hoa mang.
77/249. CON BƯỚM CHẾT TRONG SÁCHLưu trong phòng sách đà nhiễm hương Từ giã phong lưu chẳng cuồng ngông Chết sớm chút duyên lưu cùng sách Hồn tàn khôn lệ cảm văn chương
Mọt sách vượt qua cơn gấm mộng Đóm đèn khôn tắt tấm lòng vương Nghe đạo sớm vui dù phải chết Say thơ hơn cả đắm hoa hương
78/249. ĐỘC TIỂU THANH KÝ (1)
Tây Hồ hoa uyển tận thành khư Độc điếu song tiên nhất chỉ thư Chi phấn hữu thần liên tử hậu Văn chương vô mệnh lụy phần dư (2)
Cổ kim hậnsựthiên nan vấn Phong vận kỳoan ngã tự cư Bất tri tam bách dư niên hậu (3) Thiên hạhàn hân khấpTố Như?
78/249. ĐỌC TẬP TIỂU THANH KÝHồ Tây vườn Uyển thành gò hoang Biết nàng bên cửa cánh thơ tàn Má đào có thiêng hẳn nhỏ lệ Thơ văn vắn số đốt còn vương
Khó hỏi nhà trời hận xưa nay Lậm vòng phong nhã đã cùng mang Ba trăm năm tới làm sao biết Người đời có ai khóc Như chăng?