Vanvn- Nguyễn Quang Thiều là một hiện tượng độc đáo trên thi đàn cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21. Thơ anh, và cả con người anh nữa, có cái gì vừa bí ẩn, vừa cuốn hút khiến tôi luôn tò mò. Và lúc này thì tôi đang ngồi trong một căn phòng tĩnh lặng đối diện với anh. Đôi mắt mở to, đằm lặng và đen thẳm anh nhìn tôi, giọng trầm trầm: “Tôi là người sống lẫn lộn, với những giấc mơ và sự kỳ dị bên cạnh cậu ạ”. Câu chuyện của chúng tôi đã bắt đầu một cách tự nhiên như thế…

Sự thực, khi tiếp xúc với anh, tôi không thể nào hết ngỡ ngàng bởi sự giản dị. Không biểu lộ vẻ gì là một con người hiện đại, thậm chí trông anh còn có phần cũ kỹ, cổ xưa. Vậy mà, con người ấy đã viết nên những bài thơ hết sức mới mẻ, lạ lẫm khiến cho biết bao người phải trăn trở, thậm chí kinh ngạc. Nguyễn Quang Thiều nói tiếp: “Có thể văn bản để lại không được như ý muốn, nhưng khi tôi viết thì đó là thời khắc tôi tự do nhất để đi đến tận cùng giấc mơ của mình. Lúc tôi viết tôi đẹp đẽ và hạnh phúc biết nhường nào!”
Trong suy nghĩ của tôi, thơ Nguyễn Quang Thiều là một dấu hỏi treo lơ lửng trong làng văn đã nhiều năm nay. Khi tập thơ Sự mất ngủ của lửa ra đời và sau đó được trao giải của Hội Nhà văn Việt Nam (1993), nó thực sự tạo ra sự phân hóa với nhiều quan điểm khác nhau. Và đến tận bây giờ, sự bỡ ngỡ đó vẫn còn chưa hết. Tôi thuộc thế hệ sau anh. Điều may mắn của tôi là được sống trong một thời đại mà gần như cả dân tộc đang làm một cuộc lột xác, tự vượt lên trên những định kiến cũ để xác lập những giá trị mới. Đó là một thời đại đau đớn và bấp bênh khiến nhiều người bỗng thấy bơ vơ khi những giá trị cũ bỗng bị tan biến và cái mới thì xiết bao xa lạ, bí hiểm, luôn thay hình đổi dạng. Trong văn chương, có thể nói đã có từng trận bão lớn cuốn xoáy và hình thành những dòng chảy mới.
Thơ là nơi đã diễn ra những xung động dữ dội và sâu xa bậc nhất vì ở đó hàm chứa sự va đập các giá trị, các quan điểm thẩm mỹ, cả sự va đập của tâm linh, tiềm thức cũng như ngôn ngữ. Nguyễn Quang Thiều là nhà tiên phong khởi đầu một dòng chảy mới trong thơ. Thực ra, đổi mới là một nhu cầu mạnh mẽ, tất yếu của lịch sử. Và mỗi nhà thơ đích thực bao giờ cũng hàm chứa những nhân tố mới. Đổi mới trong thơ Việt sau cách mạng tháng Tám cũng có nhiều hình vẻ. Bên cạnh dòng chảy chính thống với những bậc danh tài được khẳng định, đã có người vượt thoát để hình thành một quỹ đạo riêng như Văn Cao, Lê Đạt, Trần Dần, Việt Phương, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Bình Phương, Mai Văn Phấn… Nói vậy để thấy, đổi mới thơ để hình thành ra nền thơ hiện đại hôm nay không chỉ có Nguyễn Quang Thiều. Trước anh đã có. Sau anh, một thế hệ trẻ hình thành với những tài năng độc đáo đã bắt đầu khẳng định mình.
Nhưng Nguyễn Quang Thiều là một “hộp đen” để chúng ta giải mã những vấn đề của thơ Việt hôm nay. Tuyển thơ lần thứ nhất của Nguyễn Quang Thiều mang tên Châu thổ tập hợp 144 bài thơ do anh sáng tác trong gần 30 năm. Đọc từ những bài đầu tiên được viết trước khi Nguyễn Quang Thiều đi học ở Cu Ba và chưa ảnh hưởng chút gì văn hoá Mỹ La Tinh, ta đã thấy nó mới mẻ, ảo diệu, phức tạp và nhiều yếu tố trong đó sẽ phát triển dần trong những bài thơ anh viết về sau sau này:
“Phăng phắc một lá sen già/ Đợi ta trên miền nước lặng/ Hỡi người hái hoa kiếp trước/ Kiếp này có hóa bình không”
…
“Ngẩng mặt một vầng mây đỏ/ Nổ vang tiếng sấm lưng trời/ Cúi đầu một vầng cỏ trắng/ Nở xòe tám hướng bốn phương” - (Lễ tạ)
Đọc những tác phẩm từ thời kỳ đầu, ta có cảm giác như Nguyễn Quang Thiều là một tài năng bẩm sinh. Càng về sau thơ anh càng trở nên rậm rạp, phong phú và nhiều bí ẩn. Dù mang đến những cách nhìn mới lạ, những suy tự khác thường, nhưng trong mỗi câu từ, trong mỗi hình ảnh đều mách bảo ta, nguồn gốc thơ Nguyễn Quang Thiều không phải là sự du nhập từ cõi xa lạ nào, mà khởi phát từ trái tim rung cảm, từ nỗi đau thân phận của chính mình:
“Ta khóc vụng một ngày thưa bóng mẹ/ Tiếng gà buồn mổ rỗ mặt hoàng hôn” - (Mười một khúc cảm)
Trước sau anh vẫn chỉ muốn là một người nhà quê:
“Tôi xin ở kiếp sau làm một con chó nhỏ/ Để canh giữ nỗi buồn - báu vật cố hương tôi.”- (Bài hát về cố hương)
Nguyễn Quang Thiều gắn bó với quê hương một cách kỳ lạ. Anh sinh ra ở xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, Hà Tây, nơi gắn liền với dòng sông Đáy, với làng quê buồn nghèo và hồn hậu, nơi chứa đầy những huyền thoại, những nghi lễ, những tù túng và huyễn hoặc. Anh hay nhắc đến ký ức về bà nội bị liệt phải nằm bất động trong một góc nhà. Bà nằm đó, mà kể cho anh nghe những câu chuyện tưởng tượng, những ký ức huyền hoặc nhuốm màu ma quái… Và chính những điều đó, đã gieo vào tuổi thơ anh những cảm thức khác lạ. Trở thành một hành trang trong tư duy sáng tạo sau này.
Chưa đến 20 tuổi, rời quê, Nguyễn Quang Thiều ra Hà Nội, học ở một trường văn hóa và ngoại ngữ. Rồi đi làm. Mỗi đêm trực ban anh lại ngồi đọc thơ. Tình yêu thơ kỳ lạ đã thôi thúc anh đọc đến thuộc làu thơ của hàng trăm nhà thơ. Và anh bắt đầu làm thơ như một sự đòi hỏi của vô thức, của bản năng. Đó là những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Ngày ấy anh đâu giám nghĩ mình sẽ trở thành một nhà thơ… Rồi những bài thơ ra đời ngày một nhiều, anh tập hợp lại thành tập thơ Ngôi nhà tuổi 17. Đó là những cảm xúc đẹp đẽ, trong sáng buổi ban đầu, nhưng sau khi tập thơ ra đời, Nguyễn Quang Thiều không bằng lòng với mình và lại trăn trở, hùi hụi viết.

Tập thơ thứ 2 Sự mất ngủ của lửa ra đời sau đó không lâu. Với tập thơ này Nguyễn Quang Thiều đã lần đầu tiên mang đến một thứ thơ khác, một thứ thơ khởi phát từ nội lực mạnh mẽ chất chứa những trầm tích bí mật, những huyền thoại bị vùi lấp, những gấp khúc của tư duy và sự hoang thẳm của những cơn mơ… Tựa như một cảnh giới kỳ dị, vừa ảo huyền, sương khói, vừa mộng mị lại vừa trần trụi, bộn bừa, không màu mè; vừa đơn sơ, vừa quen thuộc lại vừa ẩn chứa vẻ xa lạ…
Nguyễn Quang Thiều bảo, thật oan cho anh nếu nghĩ rằng anh cố tình du nhập vào trong nước một lối thơ nào đó ở nước ngoài. Không. Không phải vậy đâu. Hồi viết Sự mất ngủ của lửa anh viết gần như bằng bản năng. Một cái gì hoang sơ và thẳm sâu réo gọi, thôi thúc anh cầm bút. Và đó là những dòng thơ tuôn chảy từ trong tâm hồn, từ cội nguồn của tâm tư, từ mạch ngầm của ký ức bao đời dồn tụ lại. Dù có năm năm học ở Cu Ba, nhưng Nguyễn Quang Thiều kể, anh chỉ được học tiếng Tây Ban Nha, tiếng Anh và những tác phẩm kinh điển của thế giới. Lúc ấy anh không hiểu nhiều văn học hiện đại của Mỹ La Tinh và cũng chưa có một ý thức đầy đủ về sứ mệnh đổi mới trong thơ hiện đại. Với anh, làm thơ lúc ấy thật hồn nhiên và nó như một nhu cầu tự thân nhằm giải thoát mình.
Dù vậy, Nguyễn Quang Thiều không dừng lại trước những giới hạn nào. Anh, không ngừng khai thác những vỉa quặng mới của đời sống. Chính vì thế, thơ anh như những dòng nham thạch nóng bỏng, ngổn ngang, hỗn độn của tâm linh. Nó phá bỏ cái khuôn thức thường thấy và mang một tiềm thức khác, hoặc một tiềm thức bị khuất lấp đã quá lâu đến mức người ta có cảm giác ngỡ ngàng.
Sau cái giải thưởng vinh quang của Hội Nhà văn, anh gặp không ít sự đắng đót. Những năm 1994-1995 đã bùng lên một cuộc tranh luận về thơ kéo dài và dữ dội. Nhiều người không hiểu Nguyễn Quang Thiều… Bây giờ thì anh nhìn nhận điều đó thật bình tĩnh. Anh tâm sự: “Trong tôi có quá nhiều điều khó hiểu. Đến cả bố mẹ tôi cũng không hiểu tôi, những người thân khác cũng không hiểu thì đồng nghiệp không hiểu cũng là chuyện bình thường”. Và anh đã đón nhận tất cả mọi khen chê để rồi vượt qua nó mà tiếp tục sáng tác. Nguyễn Quang Thiều cho rằng những sự khen chê trong từng ấy năm không ảnh hưởng nhiều đến sáng tác của anh. Khi sáng tác là khi anh đối diện với chính mình, với tiềm thức, với những ước vọng và nỗi đau, với những cơn mơ và sự đơn độc của cõi lòng mình.
Anh tỏ ra chiêm nghiệm: “Tôi cho rằng quá trình sáng tạo trong thơ là quá trình phục hồi ký ức, phục hồi những phần sống từ những kiếp trước của chúng ta. Khi viết tôi chỉ dựa vào trực giác bên trong của mình.” Nguyễn Quang Thiều nói tiếp: “Tôi muốn thơ là nơi mình được biểu lộ chính mình. Nơi ấy tôi được thả lòng mình, giống như một buổi chiều không có việc gì làm, tôi đã đi ra cánh đồng, đi mãi từ cánh đồng này sang cánh đồng khác và khi quay lại lạc mất lối về…”
Dù là viết nhiều thể loại như tản văn, phê bình, truyện ngắn, kịch bản phim và gây được chú trên tất cả các thể loại. Nhưng, sự bùng nổ của Nguyễn Quang Thiều là ở thơ của anh. Đó là phần tinh túy nhất, thành công nhất, lạ lùng nhất ở con người sáng tạo của Nguyễn Quang Thiều.

Thơ Nguyễn Quang Thiều tác động đến người đọc theo một cách rất khác so với thơ ca truyền thống. Bí mật quan trọng nằm ở đây. Nguyễn Quang Thiều kể: Một lần, một cô giáo cấp hai ở nông thôn được anh tặng thơ. Không lâu sau, anh nhận được thư của cô giáo đó nói rằng, cô có cảm giác như tập thơ đã làm bung vỡ con người cũ của cô, nhào nặn lại tâm tư và suy nghĩ của cô, mở ra những cánh cửa bí mật trong tâm hồn cô… Tôi chia sẻ với Nguyễn Quang Thiều một cảm giác tương tự như thế khi tiếp cận với thơ anh. Cơ chế tác động của thơ ca truyền thống bao gồm việc trình bày một thông điệp thông qua những hình tượng thơ và gây ấn tượng bằng thủ pháp ngôn ngữ, từ đó, cuốn hút người đọc tìm hiểu bài thơ và qua việc hiểu bài thơ dần liên tưởng đến cuộc đời. Ở thơ Nguyễn Quang Thiều, công đoạn này đã được rút gọn. Cảm giác như thơ Nguyễn Quang Thiều là một thứ hóa chất, ngay lập tức khi tiếp xúc với nó, người đọc đã phải trăn trở, vật vã với những ngẫm suy miên man không dứt. Những câu thơ, tứ thơ cứ bám riết lấy từng nơ ron thần kinh mà tác động trực tiếp vào nó. Nguyễn Quang Thiều chủ trương một lối thơ mà với mỗi người đọc, tùy theo cảm nhận và trình độ, sẽ hình thành trong họ “một văn bản khác”. Anh bảo, đấy mới là đích đến của anh.
Một nhà thơ phương Tây đã nói đại ý rằng Nguyễn Quang Thiều là một nhà thơ đích thực “vì không ai biết trước trong mỗi bài thơ anh sẽ đưa người đọc đến đâu và điều gì sẽ diễn ra ngay tức thì”. Có vẻ như mỗi chữ với Nguyễn Quang Thiều đều hàm chứa một bí mật. Cả bài thơ là một thế giới với những cánh cửa bí ẩn đóng kín không biết đâu mà dò. Đặc điểm này nảy sinh từ việc các ý tưởng rất khác nhau, biên độ của tưởng tượng được mở rất rộng giữa những câu thơ đặt cạnh nhau. Và vì thế, để đi từ câu thơ này sang câu thơ khác, người đọc phải dò dẫm qua những khoảng mờ, những khúc gãy. Những câu thơ sau đây là một ví dụ (và những ví dụ về việc mở rộng liên tưởng giữa các câu thơ như thế có rất nhiều trong thơ Nguyễn Quang Thiều):
“Những con rắn thủy táng trong rượu/ Linh hồn chúng bò qua miệng bình cuộn quanh đáy chén/ Bò tiếp đi… bò tiếp đi qua đôi môi bạc trắng
Có một kẻ say gào lên những khúc bụi bờ// Một chóp mũ và một đôi giày vải/ Mắt lơ ngơ hoang hoải đến chân trời/ Nhóm u uất trong những vòm tháp cổ/ Người suốt đời hoảng hốt với hư vô// Như đá vỡ, như vật vờ lau chết/ Thơ âm âm, thơ thon thót giật mình/ Kinh hãi chảy điên cuồng như lửa liếm/ Ngửa mặt cười trong tiếng khóc mộng du” -(Trong quán rượu rắn)
Từ chuyện những con rắn bị “thủy táng” đến “những vòm tháp cổ”, đến “tiếng khóc mộng du” là những ký hiệu nghệ thuật xa cách nhau được đặt trong một trường liên tưởng với những khoảng mờ, đứt gãy, nhưng vẫn tạo nên một tín hiệu thẩm mỹ chung cho bài thơ. Và đó chính là ấn tượng độc đáo của thơ Nguyễn Quang Thiều, hàm chứa một phần bí mật tạo nên gương mặt thi ca của anh trong lịch sử văn học.
Xét về trường thẩm mĩ, thơ Nguyễn Quang Thiều phức tạp. Người ta thấy rõ trong thơ anh cả những cái đẹp thuần khiết, cả sự giản dị đến lạ thường, và có cả những yếu tố kỳ dị, đôi khi kinh rợn. Thơ Nguyễn Quang Thiều khiến người ta cảm giác như một thứ quặng phức hợp, trộn lẫn những yếu tố nguyên thủy và sự lẫn lộn của tiềm thức. Trong nhiều trường hợp Nguyễn Quang Thiều cố tình gạn lọc cái đẹp trong sự rạn vỡ, hao khuyết, tật nguyền, trong những phế tích và sự hoang dại.
Ở cấp độ ngôn ngữ, Nguyễn Quang Thiều đã tạo nên một sự pha trộn ngoạn mục giữa ngôn ngữ thi ca truyền thống với vần luật, thang âm, tính ước lệ và ngôn ngữ văn xuôi. Câu thơ của Nguyễn Quang Thiều vì thế được kéo giãn, có thể uốn lượn, gấp khúc và ôm vào nó nhiều yếu tố liệt kê, kể lể. Thơ Nguyễn Quang Thiều vì thế hợp với đọc bằng mắt hơn là lối ngâm đọc truyền thống. Tính diễn xướng, sự ước lệ bị tước bỏ làm cho thơ có thể diễn đạt được những nội dung đời thường hơn và phong phú hơn.
Từ vô thức đến ý thức… Nguyễn Quang Thiều như được sinh ra để ngập chìm trong dòng chảy cuộn xiết gập ghềnh của dòng thơ hiện đại. Sau sự bừng lóe của tài năng bẩm sinh là hành trình tìm kiếm không ngừng và khổ cực. Tôi hiểu, Nguyễn Quang Thiều là người cô đơn. Cái thế giới tâm hồn anh, cái thế giới thơ anh không dễ bước vào. Vậy nên, anh vẫn thường lắng tai nghe một tiếng nói chân thành, mở hồn đón đợi những tiếng vọng của yêu thương, đồng điệu.
Nguyễn Quang Thiều tâm sự: “Tôi có một cảm giác rất lạ… Đó là sự gắn bó với những ngôi mộ của những người thân đã mất. Năm nào tôi cũng về quê và đưa những đứa con tôi đi thăm mộ ông bà…” Anh có cảm nhận rất rõ mối tương liên giữa người sống với người đã chết, sự gắn kết huyền bí của tâm linh giữa thế hệ này với thế hệ khác và sự đồng điệu sâu xa của con người với linh hồn của đồng quê, xứ sở:
“Tôi hát bài ca về cố hương tôi/ Bằng khúc ruột tôi đã chôn ở đó/ Nó không tiêu tan/ Nó thành con giun đất/ Bò âm thầm dưới vại nước, bờ ao/ Bò quằn quại qua khu mồ dòng họ/ Bò qua bãi tha ma làng chết đói/ Đất đùn lên máu chảy ròng ròng” - (Bài hát về cố hương)
Dù bận nhiều, trải qua nhiều cương vị, nhưng Nguyễn Quang Thiều vẫn tiếp tục viết rất sung sức. Tập thơ Nhật ký người xem đồng hồ đánh dấu một bước tiến khác của Nguyễn Quang Thiều khi anh trở thành người tiên phong sử dụng đậm đặc yếu tố siêu tưởng như một phương cách nghệ thuật để tạo ra cả một thế giới nghệ thuật độc đáo, với cơ chế tạo nghĩa riêng cho văn bản và ám ảnh không dứt đối với người đọc:
“Có một người gọi cửa/ Giọng vang từ mù sương/ Và một người kiếp trước/ Đứng như cây bên đường// Một con chim cất tiếng/ Trong vòm họng hàng cây/ Một bông hoa chợt sáng/ Hồ ban mai dâng đầy//Ngày cuối của mùa đông/ Đã lên đường rất sớm/ Gửi lại trên cánh đồng/ Dải khói mờ tháng chạp// Và một người mở cửa/ Cười trong hoa góc vườn/ Ngôi nhà vừa nhóm lửa/ Mùa đã về reo vang” -(Người mở cửa buổi sáng)
Gần đây anh cho ra mắt tập trường ca Lò mổ gửi gắm nhiều ngẫm suy về nhân sinh và nghịch lý của sự sống. Nhà thơ Trần Đăng Khoa cho rằng tập thơ này đánh dấu một trong những đỉnh cao nhất trong hành trình thơ Nguyễn Quang Thiều, nó cho thấy sự đổi mới liên tục, không ngừng nghỉ của nhà thơ. Lò Mổ tựa như một tổng phổ về thơ Nguyễn Quang Thiều. Ở đó có dấu ấn của một tư tưởng táo bạo, đặt ra một cái nhìn hồ nghi về những điều tưởng như mặc nhiên được thừa nhận trong cuộc sinh tồn của con người, cày xới lên trong người đọc những suy tư và dày vò, đập vỡ những quan niệm cũ. Về bút pháp, tác phẩm này là sự hòa trộn của yếu tố hiện thực, siêu thực, phi lý, giả tưởng và nghệ thuật sắp đặt, nghệ thuật thị giác. Với tính phức tạp đặc biệt và phi truyền thống, cá nhân hóa cao độ, Lò mổ nối tiếp vào cuộc dấn thân đầy mạo hiểm và không mệt mỏi, đầy ước vọng của Nguyễn Quang Thiều:
“Một ngọn cỏ tự do làm nên thảo nguyên/ Một cái cây tự do làm thành cánh rừng/ Một con cá tự do làm thành biển cả/ Một cánh chim tự do làm thành bầu trời/ Một con người tự do làm thành vũ trụ”- (Lò Mổ)
Sự nghiệp của Nguyễn Quang Thiều tựa như một cột mốc. Sự xuất hiện của anh trên thi đàn đã đánh dấu một dòng chảy mới của thơ hiện đại ngày một lan rộng và kéo dài. Bên cạnh lối thơ truyền thống, dòng chảy mới này làm cho thơ Việt thêm phong phú và sinh động hơn, sâu sắc hơn, nhưng cũng huyền bí, khó tiếp cận hơn.

Tôi chia tay anh sau gần hai tiếng đồng hồ trò chuyện về chuyện thơ, chuyện đời. Vẫn giọng trầm trầm, anh nói: “Cậu là người nhận được nhiều điều trong thế giới thơ tôi”. Không, không hẳn thế đâu. Tôi không dám nhận mình như thế. Thế giới thơ anh thăm thẳm. Những gì tôi cảm nhận được hôm nay cũng chỉ là một phần rất nhỏ. Tự nhiên tôi cứ hình dung, con đường vào thơ anh phải đi qua những hành lang mờ tối, thỉnh thoảng lại gặp một cánh cửa đóng kín. Và khi mở được tầng cửa này lại thêm những hành lang và cánh cửa bí ẩn khác. Mở những cánh cửa thơ Nguyễn Quang Thiều đồng nghĩa với việc người đọc cũng tự mở cửa những cõi thẳm sâu trong tiềm thức, tâm linh chính mình.
THIÊN SƠN