Lý Thái Tông

Lý Thái Tông李太宗Hoàng đế Việt Nam Hoàng đế Đại Cồ ViệtTrị vì1 tháng 4 năm 1028 - 3 tháng 11 năm 1054(26 năm, 216 ngày) Tiền nhiệmLý Thái TổKế nhiệmLý Thánh TôngThông tin chungSinh29 tháng 7, 1000Hoa Lư, Đại Cồ ViệtMất3 tháng 11, 1054(1054-11-03) (54 tuổi)Điện Trường Xuân, Thăng Long, Đại Cồ ViệtAn tángThọ LăngHậu phi Hậu phi Linh Cảm Hoàng hậu Đinh Hoàng hậu Vương Hoàng hậu Thiên Cảm Hoàng hậu Tên thật Niên hiệu Tôn hiệuKhai Thiên Thống Vận Tôn Đạo Quý Đức Thánh Văn Quảng Vũ Sùng Nhân Thượng Thiện Chính Lý Dân An Thần Phù Long Hiện Thể Nguyên Ngự Cực Ức Tuế Công Cao Ứng Chân Bảo Lịch Thông Huyền Chí Áo Hưng Long Đại Địch Thông Minh Từ Hiếu Hoàng đế (開天統運尊道貴德聖文廣武崇仁尚善政理民安神符龍見體元禦極億歲功高應真寶歷通玄至奧興龍大定聰明慈孝皇帝)Thụy hiệukhông rõ[a]Miếu hiệuThái Tông (太宗)Triều đạiNhà LýThân phụLý Thái TổThân mẫuLinh Hiển Hoàng thái hậuTôn giáoPhật giáo

Lý Thái Tông (chữ Hán: 李太宗 29 tháng 7 năm 1000 - 3 tháng 11 năm 1054) là vị hoàng đế thứ hai của triều đại nhà Lý trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì đất nước trong 27 năm, từ 1028 đến khi qua đời vào năm 1054. Ông được đánh giá là một vị hoàng đế tài giỏi, thời đại của ông, con ông là Lý Thánh Tông, cháu ông là Lý Nhân Tông được xem là thời thịnh vượng của nhà Lý, sử gọi thời kỳ này là Bách niên Thịnh thế (百年盛世).

Hoàng đế Thái Tông được mô tả là uy dũng hơn người, từ khi còn là thái tử thì đã quen việc chiến chinh, trải qua loạn tam vương mà lên ngôi, khi trị vì thì anh minh, sáng suốt, bách chiến bách thắng, công danh rạng rỡ triều Lý, làm tiền đề cho các đời sau phát triển phồn thịnh. Vua củng cố quyền lực cho nhà Lý, trong nước thì dùng chính sách hòa thân - gả công chúa cho các quan Châu mục để giữ tình hòa hiếu, đồng thời dẹp loạn đảng Nùng Trí Cao và các cuộc nội loạn khác; bên ngoài thì chinh phạt Chiêm Thành. Đối với quần thần, vua thường tỏ ra nhân từ, như việc không xử tội các vương làm loạn trong loạn tam vương mà còn phục chức, lại thưởng phạt bề tôi phân minh. Đối với nhân dân, vua luôn chăm lo đời sống nhân dân, khuyến khích sản xuất nông nghiệp, nhiều lần miễn thuế cho dân, ban hành bộ luật Hình thư cùng nhiều điều luật khác giúp ổn định trật tự xã hội, lại cho xây dựng nhiều công trình đền, chùa giúp Phật giáo hưng thịnh. Đối với kẻ thù bại trận như Chiêm Thành, vua lại còn mở đức hiếu sinh, nghiêm cấm binh lính tàn sát bừa bãi. Sử gia đánh giá ông như Hán Quang Vũ Đế đánh đâu được đấy, công tích đánh dẹp uy nghi, công sức giúp ổn định tình hình biên cương loạn lạc còn vượt hơn cả Đường Thái Tông.

Tuy vua có phần quá sùng đạo Phật, với kẻ phản nghịch thì có lúc lại nhân từ quá độ, nhưng sử gia hậu thế như Ngô Sĩ Liên lại cho rằng đấy chính là đức để truyền lâu dài cho hậu thế.[1] Các sử gia hậu thế cũng lấy việc vua hay khoe khoang thái quá để chê trách ông "chưa hiền".[2]

Lý Thái Tông tên khai sinh là Lý Phật Mã (李佛瑪), còn có tên khác là Lý Đức Chính (李德政),[3][4] là đích trưởng tử của Lý Thái Tổ. Ông sinh vào ngày 29 tháng 7 năm 1000 (âm lịch 26 tháng 6 âm lịch năm Canh Tý) vào niên hiệu Ứng Thiên thứ 7, ở phủ Trường Yên tại kinh đô Hoa Lư, Ninh Bình, lúc này Lý Thái Tổ vẫn còn làm quan dưới triều nhà Tiền Lê.[2][3]

Về mẹ của vua, trong chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư viết:[2]

"Mẹ là hoàng hậu họ Lê, sinh vua vào ngày 26 tháng 6 năm Canh Tý, niên hiệu Ứng Thiên năm thứ 7 [1000] thời Lê, ở phủ Trường Yên".

Về sau, các nhà nghiên cứu lịch sử dựa theo các thần tích, thần phả Hán Nôm ở khu vực Cố đô Hoa Lư khẳng định mẹ Lý Phật Mã là Lê Thị Phất Ngân, con gái vua Lê Đại Hành và hoàng hậu Dương Vân Nga.[5] Như vậy, ông chính là cháu ngoại của Lê Đại Hành và Dương Vân Nga.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, khi hoàng tử Phật Mã mới sinh, ở phủ Trường Yên có con trâu của nhà dân tự nhiên thay sừng khác, người có trâu ấy cho là điềm không lành, lấy làm lo ngại. Có người giỏi chiêm tinh, bói toán đi qua nhà người ấy cười mà nói rằng: "Đó là điềm đổi mới thôi, can dự gì đến nhà anh" thì người ấy mới hết lo. Việt sử lược lại chép thêm rằng người bói toán này còn nói rằng đây là điềm năm Sửu sinh người làm thiên tử. Tuy nhiên, hoàng tử phật Mã lại sinh năm Tý. Tương truyền thuở nhỏ ông đã có 7 nốt ruồi sau gáy như chòm sao thất tinh (sao Bắc Đẩu).[2]

Khi còn nhỏ, cùng bọn trẻ con chơi đùa, Lý Phật Mã đã có thể sai bảo được chúng, bắt chúng đi dàn hầu trước sau và hai bên như nghi vệ các quan theo hầu thiên tử. Lý Công uẩn, lúc bấy giờ vẫn còn làm tướng triều Lê, thấy thế vui lòng, nhân nói đùa rằng: "Con nhà tướng nên bắt chước việc quân, cần gì phải kẻ rước người hầu?", Phật Mã tuy còn ít tuổi nhưng trả lời ngay rằng: "Kẻ rước người hầu thì có xa lạ gì với con nhà tướng? Nếu xa lạ thì sao ngôi vị không ở mãi họ Đinh mà lại về họ Lê, đều do mệnh trời thôi". Lý Công Uẩn lấy chuyện ấy làm kinh lạ, từ đấy càng yêu quý hơn.[2]

Cuối năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi vua, tức vua Lý Thái Tổ, chính thức lập ra nhà Lý. Vua cha lập con trưởng Lý Phật Mã làm Đông cung Thái tử.[6] Năm 1010, khi hoàng tử Phật Mã đã lên 10 tuổi, triều đình nhà Lý dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long (Hà Nội ngày nay).

Năm 13 tuổi (1012), thái tử được phong hiệu là Khai Thiên vương (開天王),[6] lập phủ ở ngoài nội cung để được làm quen với các quan lại và dân chúng.[7] Trong thời gian làm Thái tử, ông nhiều lần được cử làm tướng cầm quân đi dẹp loạn và đều lập được công.

Năm 1019, thái tử được trao quyền Nguyên soái, cầm quân vào nam đánh Chiêm Thành ở trại Bố Chính. Khi đại quân vượt biển, đến núi Long Tỵ, có rồng vàng hiện ra trên thuyền ngự, ông đi đến đỡ lấy rồng.[6] Trận này quân nhà Lý thắng lớn, chém được tướng Chiêm, người Chiêm chết đến quá nửa.[8]

Năm 1024, thái tử cầm quân đi đánh Phong châu. Năm 1025, ông đi đánh Diễn châu, lập được công lao hiển hách, Thái Tổ Hoàng đế rất hài lòng.[9][10]

Năm 1027, thái tử lên phía bắc đánh châu Thất Nguyên (Lạng Sơn). Cùng năm ấy, ông ban áo ngự cho một đạo sĩ tên Trần Tuệ Long (陳慧隆) ở quán Nam Đế quán. Đêm ấy có ánh sáng hiện lên khắp quán, Tuệ Long hoảng hồn dậy thì thấy rồng vàng ở trên mắc áo. Mọi người đều cho rằng đấy là mệnh trời, thái tử Lý Phật Mã quả đúng là mang mệnh thiên tử.[6]

Thái tử nổi tiếng khắp kinh thành, bản tính nhân từ, sáng suốt đĩnh ngộ, thông hiểu đại lược văn võ, còn như lục nghệ lễ, nhạc, ngự, xạ, thư, số không môn gì là không tinh thông am tường.[6]

Năm 1028, Thái Tổ Hoàng đế băng hà, chưa tế táng xong, thì các hoàng thân Vũ Đức vương, Dực Thánh vương và hoàng tử Đông Chinh vương đã đem quân đến vây thành để tranh ngôi của Thái tử. Bấy giờ các quan đứng đầu là Lý Nhân Nghĩa xin Thái tử Phật Mã cho đem quân ra thành quyết được thua một trận. Khi quân của Thái tử và quân các vương đối trận, thì quan Vũ vệ tướng quân là Lê Phụng Hiểu rút gươm ra chỉ vào Vũ Đức vương mà bảo rằng: "Các người dòm ngó ngôi cao, khi dễ tự quân, trên quên ơn tiên đế, dưới trái nghĩa tôi con, vậy Phụng Hiểu xin dâng nhát gươm này!"[11][12]

Nói xong tướng quân Lê Phụng Hiểu chạy xông vào chém Vũ Đức vương ở trận tiền. Quân các vương trông thấy sợ hãi bỏ chạy cả thì liền bị quân triều đình đuổi theo và giết chết hết. Chỉ có Dực Thánh vương và Đông Chinh vương là trốn thoát được.[11][3][13] Sử gọi sự kiện ba vương tranh ngôi với thái tử Lý Phật Mã này là Loạn tam vương.

Dẹp xong loạn tam vương, ngày Kỷ Hợi (tức 1 tháng 4 năm 1028), Thái tử Lý Phật Mã lên ngôi, tức là vua Lý Thái Tông. Ông đổi niên hiệu là Thiên Thành (天成). Sau khi vua đã lên ngôi, Dực Thánh vương và Đông Chinh vương đến cửa khuyết để xin hàng và chịu tội. Vua nghĩ tình cốt nhục bèn xuống chiếu tha tội cho, và lại phục chức cũ cho cả hai người.[14][15] Quần thần dâng vua tôn hiệu "Khai Thiên Thống Vận Tôn Đức Quý Đức Thánh Văn Quảng Vũ Sùng Nhân Thượng Thiện Chính Lý Dân An Thần Phù Long Hiện Thể Nguyên Ngự Cực Ức Tuế Công Cao Ứng Chân Bảo Lịch Thông Huyền Chí Áo Hưng Long Đại Địch Thông Minh Từ Hiếu Hoàng Đế."[3] Vua xuống chiếu lấy tiền lụa trong quốc khố để ban phát cho muôn dân.[16][15]

Cũng trong tháng 4 năm 1028, nghe tin Vũ Đức vương bị giết trong cuộc chiến ngai vàng, Khai Quốc vương Lý Long Bồ đóng ở phủ Trường Yên (cố đô Hoa Lư) lòng càng bất bình. Long Bồ cậy có núi sông hiểm trở nên trước đây chiêu nạp những kẻ vong mạng để đánh cướp lương dân, nay nghe loạn tam vương thì đem phủ binh cát cứ làm phản triều đình.[15] Vua liền thân đi đánh. Ngày vua đến Trường Yên, Khai Quốc vương đầu hàng. Vua hạ lệnh rằng: "Ai cướp bóc của cải của dân thì chém." Quân sĩ nghiêm theo, không mảy may xâm phạm. Đại quân vào thành Hoa Lư, dân trong thành đem dâng biếu trâu rượu đứng đầy đường. Vua sai sứ tuyên chỉ động viên, cả thành vui to. Vua từ phủ Trường Yên về, xuống chiếu tha tội cho Khai Quốc vương,[3] vẫn cho tước như cũ.[16][17]

Cũng vì sự phản nghịch của Tam vương, Lý Thái Tông mới lập lệ rằng cứ hàng năm, các quan phải đến đền Đồng Cổ (ở làng Yên Thái, Hà Nội) làm lễ đọc lời thề rằng: "Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, ai bất hiếu bất trung, xin quỷ thần làm tội."[16] Các quan ai trốn không đến thề phải phạt 50 trượng.[18][15]

Ngày 6 tháng 5 năm 1028, nhân lúc có dấu vết thần nhân hiện ra ở chùa Vạn Tuế, các quan trong triều liền xin vua lập Thái tử. Vua nghe theo và lập hoàng tử Lý Nhật Tôn làm Đông cung thái tử, người sau này trở thành vua Lý Thánh Tông. Sau đó, vua cho lập bảy hoàng hậu, phong cha của các hoàng hậu các tước An quốc thượng tướng, Phụ quốc thượng tướng, Khuông quốc thượng tướng.[16] Vua cũng cho phong các chức thái sư, thái phó, thiếu bảo, khu mật viện, tham tri chính sự, đại tướng,...[3][17] định các cấp bậc cho tăng đạo và định lại lực lượng cấm quân để bảo vệ kinh thành.[16][19] Đến tháng 7 năm 1028, vua cho đặt ngày sinh nhật mình làm tiết Thiên Thánh, rồi cho kết trúc làm núi mô hình với 5 ngọn, lại cho cắm cờ xí, làm hình chim bay, trang trí vàng ngọc, rồi cho phường chèo đến trong núi để thổi kèn, thổi sáo, múa hát mua vui. Hôm ấy, vua lại ban yến tiệc cho bầy tôi.[2][17] Sử thần Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư và các sử quan trong Khâm định Việt sử đều chê trách việc vua tố chức yến tiệc vui chơi ngay lúc đang để tang và chưa an táng tiên đế là việc thất lễ. Đến tháng 10 cùng năm, tiên đế mới được an táng ở Thọ Lăng, phủ Thiên Đức, thụy hiệu là Thần Vũ Hoàng Đế, miếu hiệu là Thái Tổ.[2][17]

Năm 1049, vua Lý Thái Tông cho dựng chùa Diên Hựu, tức chùa Một Cột.

Tháng 6 năm 1029, rồng hiện lên ở nền điện Càn Nguyên. Vua nói với tả hữu rằng: "Trẫm phá điện ấy, sang phẳng nền rồi mà rồng thần còn hiện. Có lẽ đó là đất tốt, đức lớn hưng thịnh, ở chỗ chính giữa trời đất chăng?". Bèn sai Hữu ty mở rộng quy mô, nhắm lại phương hướng mà làm lại, đổi tên là điện Thiên An. Bên tả dựng điện Tuyên Đức, bên hữu dựng điện Diên Phúc, thềm trước điện gọi là Long Trì. Phía đông thềm rồng đặt điện Văn Minh, phía tây đặt điện Quang Vũ, hai bên tả hữu thềm rồng đặt lầu chuông đối nhau để dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng thì đánh chuông lên. Bốn xung quanh thềm rồng đều có hành lang để tụ họp các quan và sáu quân túc vệ.[6] Phía trước làm điện Phụng Thiên, trên điện dựng lầu Chính Dương làm nơi trông coi tính toán giờ khắc, phía sau làm điện Trường Xuân, trên điện dựng gác Long Đồ làm nơi nghỉ ngơi du ngoạn. Bên ngoài đắp một lần thành bao quanh gọi là Long Thành.[6][19]

Năm 1030, Thái Tông lại sai làm điện Thiên Khánh ở trước điện Trường Xuân để làm chỗ nghe chính sự. Điện làm kiểu bát giác, trước sau đều bắc cầu Phượng Hoàng.[6][20]

Trong hai lần vua thân chinh đánh giặc vào năm 1029 và 1033, vua đều để thái tử ở kinh thành giám quốc. Đến tháng 8 năm 1033, vua phong thái tử làm Khai Hoàng Vương, cho ở cung Long Đức rồi cho xây phủ đệ cho các hoàng tử khác. Vua lại xuống chiếu cho đúc quả chuông một vạn cân đặt ở lầu chuông Long Trì.[21]

Thái Tông Hoàng đế tuy phải đánh dẹp liên miên, nhưng cũng không bỏ bê việc nội trị mà luôn chăm lo quốc lực. Đặc biệt, ông tỏ ra là vị hoàng đế có lòng thương dân. Hễ năm nào đói kém hoặc đi đánh giặc về, lại giảm thuế cho dân trong hai ba năm.

Tháng 10 năm 1030, cả nước được mùa to. Vua thân ra ruộng xem nông dân gặt lúa[19] rồi đổi tên cánh ruộng ấy thành ruộng Vĩnh Hưng.[6][20] Tháng 3 năm 1031, vua lấy ngân khố ra thuê thợ làm chùa quán ở các hương ấp, tổng cộng đến 150 công trình.[19] Ngày 1 tháng 4 cùng năm, vua đến Tín Hương ở Đỗ Động giang cày ruộng tịch điền, rồi đổi tên ruộng ấy là ruộng Ứng Thiên.[22][23]

Trong khoảng những năm 1030 - 1034, có hai nhà sư là Nghiêm Bảo Tính và Phạm Minh Tâm tự thiêu, tro kết thành thất bảo.[b] Vua lấy làm điềm lạ và liền xuống chiếu đem thất bảo ấy giữ ở chùa Trường Khánh để thờ cúng, rồi vua cũng cho đổi niên hiệu từ Thiên Thành sang Thông Thụy vì sự việc này.[21][24] Tháng 8 năm 1034, vua đến chùa Trùng Quang núi Tiên Du rồi sai người dựng kho, đặt tên Trùng Hưng để chứa kinh. Đến thang 11 cùng năm, vua cho đóng thuyền lớn, đặt tên là Vạn An.[21]

Năm 1035, vua cho mở chợ Tây Nhai, chợ Trường Lan[23] và dãy phố dài ở chợ ấy, rồi xuống chiếu bắc cầu Thái Hòa ở sông Tô Lịch. Vua phong lập người ái phi (không rõ tên) làm Thiên Cảm hoàng hậu; phong hoàng tử Nhật Trung làm Phụng Càn Vương,[c] các hoàng tử khác đều được phong tước hầu.[25][23]

Cuối năm 1035, sau khi đánh dẹp xong giặc Ái Châu và dẹp loạn Nguyễn Khánh, vua xuống chiếu phát 6 nghìn cân đồng để đúc chuông đặt ở chùa Trùng Quang. Đại Việt sử ký toàn thư chép lại chuyện theo cổ sử thời Lý khi ấy rằng khi chuông đúc xong thì không đợi người kéo mà tự di chuyển được, chỉ chốc lát đã đến chùa, cứ như có thần linh đẩy giúp. Vì việc phải chép lại một câu chuyện gần như là hoàn toàn "phản khoa học" vào một bộ biên niên sử chính thống, sử gia Ngô Sĩ Liên đã có lời phê bình rằng:[25]

"Phàm vật hình vuông thì đứng, hình tròn thì đi, chuông có thể đi được là vì hình tròn. Có lẽ là kéo nó đi, không nhọc đến sức người, như có thần giúp vậy. Nay ta hãy xem như cây gỗ lớn mười mấy người khiêng không nổi, một người đẩy ngang thì nó lăn tròn mà đi. Chuông cũng thế, sư chùa muốn làm cho đạo mình có vẻ thần diệu, mới nói phao lên như thế để đánh lừa mà thôi. Những chuyện như dấu vết người thần, ánh sáng xá lỵ, cây ưu đàm nở hoa, tượng Phật cổ nổi lên,... đều do bọn các nhà sư ra cả. Người cầm bút chép sử đương thời không xét lý lẽ, cứ theo thế mà chép vào sử sách."

Tháng 1 năm 1036, vua cho mở hội ở Long Trì và khánh thành tượng phật Đại Nguyện, rồi cho đại xá thiên hạ. Đến tháng 2, vua cho chép kinh Đại Tạng rồi lưu trữ ở kho Trùng Hưng. Sau khi châu Hoan làm phản rồi quy hàng triều đình vào tháng 2 năm 1031, đến tháng 4 năm 1036, vua cho đặt hành dinh ở châu Hoan rồi đổi tên châu thành Nghệ An.[26] Đây là cũng cột mốc mà tên gọi Nghệ An chính thức được sử dụng. Đến năm 1037, vua xuống chiếu cho dựng đến 50 kho ở châu Nghệ An.[27] Tháng 7, triều đình mở hội đua thuyền, vua đến xem ở điện Hàm Quang.[26] Sau đó, vua lại cho đóng các thuyền tên Vĩnh Xuân, Nhật Quang. Đến tháng 8, vua lại ngự điện Hàm Quang xem đua thuyền.[28]

Tháng 2 năm 1038, vua thân hành ra cửa Bố Hải để tiến hành lễ cày ruộng Tịch điền.[26] Vua tế Thần Nông, tế xong tự mình cầm cày xuống ruộng. Các quan can rằng: "Đó là việc của nông phu, bệ hạ việc gì phải làm thế?". Vua đáp rằng: "Trẫm không tự cày cấy thì lấy gì mà có xôi cúng, lại lấy gì cho thiên hạ noi theo?" Nói xong, vua đẩy cày ba lần mới thôi.[28][29]

Tháng 2 năm 1039, Nùng Tồn Phúc ở châu Quảng Nguyên làm phản triều đình rồi nhanh chóng bị vua thân chinh dẹp yên. Đến tháng 4, con vua Chiêm Thành dẫn theo người đến hàng phục triều đình. Tháng 5, động Vũ Kiến thuộc châu Quảng Nguyên dâng vua một khối vàng sống nặng 112 lạng.[26] Tại huyện Liên (thuộc huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn cũ), châu Lộng Thạch, châu Định Biên phát hiện ra hố bạc. Vì những sự việc liên tiếp này, triều thần xin vua đổi niên hiệu thành "Càn Phù Hữu Đạo" và xin tăng tôn hiệu thêm 8 chữ là: "Kim Dũng Ngân Sinh, Nùng Bình Phiên Phục" (nghĩa là Vàng nổi bạc sinh, dẹp họ Nùng, phiên thuộc - tức Chiêm Thành - quy phục). Vua đáp: "[..] Vừa rồi, giặc Nùng dẹp yên, Chiêm Thành quy phụ, động sinh vàng ròng, đất trồi bạc trắng, ý chừng có điều gì mà được thế chăng? Hay sắp xảy ra việc gì để cảnh cáo chăng? Trẫm rất lo sợ, sao đáng để tôn sùng tên đẹp hiệu vinh. Lời bàn của các khanh nên đình bãi".[30][31] Triều thần nghe vậy nhưng vẫn cố nài vua mãi thì vua mới chịu nhận. Từ đó, năm Thông Thụy thứ 6 (1039) đổi thành năm Càn Phù Hữu Đạo thứ 1.[32][26] Về việc sửa tôn hiệu này, sử gia Lê Văn Hưu có lời phê phán vua là không có học, khoe khoang thô bỉ:[32]

Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Văn Vương, Vũ Vương đều lấy một chữ làm hiệu, chưa từng thấy có tăng thêm tôn hiệu bao giờ. Đế vương thời sau thích khoe khoang mới có tôn hiệu đến vài chục chữ. Nhưng chỉ lấy công đức mà xưng tụng, chưa bao giờ lấy đồ vật và tên man di xen chắp vào. Thái Tông chịu nhận cho bầy tôi dâng tám chữ "Kim Dũng Ngân Sinh, Nùng Bình Phiên Phục" làm hiệu thì việc khoe khoang lại thô bỉ nữa. Thái Tông không có học nên không biết, nhưng bọn Nho thần dâng lên những chữ ấy để nịnh hót vua thì không thể bảo là không có tội.

Khâm định Việt sử cũng có lời phê bình rằng vua chỉ dẹp có mỗi đám giặc cỏ Nùng Tồn Phúc mà đã "tự cao, tự đại", coi mình đã bình được thiên hạ, còn bề tôi thì bợ đỡ, nịnh hót, vua thì giả vờ khiêm nhường để nhận tôn hiệu, trên dưới đều làm trái.[31]

Năm 1040, vua ra lệnh lấy hết gấm vóc hàng nước Tống trong cung ra may áo ban cho các quan, từ ngũ phẩm trở lên thì áo bào gấm, từ cửu phẩm trở lên thì áo bào vóc. Vua phát hết gấm vóc và dạy cho cung nữ dệt được gấm vóc.[33] Từ đó trong cung chuyên dùng hàng tự dệt, không dùng hàng của nước Tống nữa.[32] Đến tháng 10, vua cho mở hội La Hán ở Long Trì, đại xá thiên hạ, tha tội lưu, tội đồ và miễn một nửa tiền thuế cho thiên hạ. Trước đây, vua sai thợ tạc hơn nghìn pho tượng Phật, vẽ hơn nghìn bức tranh Phật, làm bảo phướn hơn một vạn lá. Đến dịp mở hội này thì cũng đã xong, vua liền cho làm lễ khánh thành.[32][33] Tháng 10 năm 1041, vua ngự đến núi Tiên Du. Khi về, vua xuống chiếu phát 7.560 cân đồng trong kho để đúc tượng Phật Di Lặc và hai vị Bồ tát Hải Thanh và Công Đức cùng chuông để ở viện ấy.[18] Đến tháng 11, vua xuống chiếu cho Uy Minh hầu Lý Nhật Quang, con thứ 8 của Lý Thái Tổ, làm Tri châu Nghệ An. Nhật Quang khi nhậm chức ở Nghệ An thì làm việc có ân huệ với dân,[33] xây trại Bà Hòa để thu tô thuế ở Nghê An rồi chứ vào đó, lại cho xây các đồn bằng đất bằng đất cho việc biên phòng với Chiêm Thành. Đến khi triều đình chinh phạt Chiêm Thành năm 1044 thì Nhật Quang được vua giao việc vận tải quân lương và làm tốt việc này, khiến lương thực cho quân đội luôn đầy đủ.[34] Sau chiến thắng với Chiêm Thành, Nhật Quang được vua phong tước vương, khi mất thì được nhân dân châu Nghệ An lập đền thờ.[33]

Tháng 10 năm 1042, sau khi ban hành bộ luật Hình Thư, vua xuống chiếu đổi niên hiệu thành Minh Đạo. Năm Càn Phù Hữu Đạo thứ 6 (1042) đổi thành năm Minh Đạo thứ 1.[18][35] Khâm định Việt sử chê trách vua việc đặt niện hiệu Minh Đạo này trùng với niên hiệu của Tống Nhân Tông từ năm 1032 đến 1033 trước đó.[36] Năm ấy, cả nước gặp nạn đói to.[37] Tháng 12 năm 1043, khi đang chuẩn bị chinh phạt Chiêm Thành, vua cho đúc tiền Minh Đạo[35] ban cho các quan văn võ.[38] Tháng 11 năm 1044, vua khải hoàn về kinh sau khi đánh được Chiêm Thành. Triều thần ngày vui ấy mà xin vua đổi niên hiệu thành Thiên Cảm Thánh Vũ, tăng tôn hiệu thêm 8 chữ là Thánh Đức Thiên Cảm Tuyên Uy Thánh Vũ, và được vua chuẩn y. Cũng trong năm ấy, Đại Cồ Việt lại được mùa to,[39] vua liền xuống chiếu miễn một nửa tiền thuế cho dân, một phần cũng là để bù đắp lại gánh nặng kinh tế mà dân phải chịu trong gần 1 năm chiến tranh với Chiêm Thành.[40]

Tháng 2 năm 1049, vua cho đổi niên hiệu thành Sùng Hưng Đại Bảo.[40][41] Đến tháng 10, vua khởi đầu cho việc xây dựng chùa Diên Hựu. Tương truyền, vua nằm mơ thấy Phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt ông lên tòa. Sau đó, vua kể lại chuyện đó với bầy tôi; và cho dựng cột đá, làm tòa sen đặt lên như đã thấy trong mộng, theo lời khuyên của nhà sư Thiền Tuệ.[42] Cột tòa sen đó trở thành ngôi chùa, khi đó có tên là chùa Diên Hựu (延祐寺),[40] với nghĩa là "phúc lành dài lâu" hay "phước bền dài lâu".

Hằng năm cứ đến ngày 8 tháng 4 âm lịch, vua lại tới chùa làm lễ tắm Phật. Các nhà sư và nhân dân khắp kinh thành Thăng Long cùng dự lễ. Sau lễ tắm Phật là lễ phóng sinh, vua đứng trên một đài cao trước chùa thả một con chim bay đi, rồi nhân dân cùng tung chim bay theo trong tiếng reo vui của một ngày hội lớn.

Tháng 1 năm 1051, vua định lại phép khảo hạch các quan lại,[42] sau đó thăng chức cho các quan làm việc lâu năm cho triều đình mà giữ tiết tháo, không phạm lỗi. Đến tháng 8 cùng năm, vua cho ban vải lụa, tiến bạc cho toàn dân. Đến tháng 11, vua cho đào kênh Lẫm (thuộc Hà Nam Ninh - Ninh Bình, ngày nay kênh đã bị bồi lấp thành đất bằng, chỉ còn lại cái đầm, gọi là đầm Lẫm).[42] Tháng 1 năm 1052, vua phong các hoàng tử làm vương hầu, các hoàng nữ làm công chúa.[40]

Ngày 5 tháng 1 năm 1053, trong nước xảy ra động đất. Đến ngày 10, rồng vàng hiện ở gác Đoan Minh. Quần thần thấy vậy thì chúc mừng vua, duy có nhà sư Pháp Ngữ nói: "Rồng bay trên trời, nay lại hiện ở dưới là điềm không lành".[43][44] Triều đình nhà Lý vào lúc đó đang phải đối mặt với loạn Nùng Trí Cao, một cuộc nổi loạn làm xáo trộn biên giới cả ba nước Đại Cồ Việt, Đại Tống và Đại Lý.

Nhà Lý đến triều Thái Tông tổ chức quân đội theo chế độ dân đinh, tức nam đến 18 tuổi thì ghi tên vào "hoàng sách" (sổ bìa vàng), gọi là "hoàng nam", để đóng thuế thân và phục vụ trong quân ngũ nếu có lệnh động viên. Nam 20 tuổi trở lên gọi là "đại hoàng nam".[37] Với lực lượng cấm quân bảo vệ kinh thành, khi vừa lên ngôi, vua đặt 10 vệ điện tiền cấm quân mỗi vệ đều chia ra tả hữu trực để bảo vệ cấm thành.[16][17]

Về việc biên phòng ở phía Nam giáp với Chiêm Thành, tháng 8 năm 1041, vua phong Uy Minh hầu Lý Nhật Quang làm quan tri chậu Nghệ An. Nhật Quang cho xây các đồn bằng đất bằng đất phục vụ cho việc biên phòng với Chiêm Thành. Châu Nghệ An đóng vai trò quan trong trong việc vận tải lương thảo trong cuộc chiến với Chiêm Thành năm 1044.[34]

Tháng 11 năm 1042, vua xuống chiếu cho các lộ đặt trạm gác để quan sát các nơi.[35] Để phục vụ cho việc thông tin - liên lạc giữa các nơi và với triều đình, tháng 3 năm 1047, vua cho đặt trấn Vọng Quốc và 7 trạm, các trạm đều dựng ụ bia, để làm chỗ trọ cho người man di.[40][39][34]

Trong thời gian trị vị, vua cũng cho đóng nhiều thuyền với cả mục đích dân sự lẫn quân sự. Tháng 9 năm 1043, để chuẩn bị cho cuộc chinh phạt Chiêm Thành, vua sai đóng mấy trăm thuyền lớn.[35] Tháng 12 năm 1044, sau khi chiến thắng Chiêm Thành, vua cho định rõ pháp luật về tội đào ngũ. Theo đó, nếu quân lính đào ngũ thì phải khép vào một trong ba hạng tội lưu đày,[40] gồm đày đi cận châu (Nghệ An, Thanh Hóa, ...), đày đi ngoại châu (Bố Chính), đày đi viễn châu (Tân Bình,...).[45] Tháng 1 năm 1051, vua cho đặt quân tùy xa long,[d][41] gồm hai lực lượng nội - ngoại.[44]

Căn cứ vào các ghi chép lịch sử, không rõ chi tiết việc tổ chức quân đội đời vua Thái Tông gồm các binh chủng nào, và quy chế bổ nhiệm tướng lĩnh cho các chiến dịch quân sự như thế nào, vì vua thường thân chinh đánh giặc trong phần lớn các cuộc chiến này. Các chiến dịch quân sự đời vua Thái Tông diễn ra gần như là liên tục, từ những ngày đầu vua mới đăng cơ cho đến những năm cuối đời, với quy mô lớn - nhỏ khác nhau, từ việc đánh dẹp các châu mục ly khai, phản loạn, cho đến chinh phạt Chiêm Thành, Ai Lao và dẹp loạn họ Nùng.

Ngày 1 tháng 4 năm 1040, vua xuống chiếu cho thái tử xét xử sơ thẩm những vụ kiện tụng của nhân dân trong nước rồi mới tâu lên. Vua lại cho lấy điện Quảng Vũ làm nơi để thái tử xử kiện.[33] Sử gia Ngô Sĩ Liên phê bình rằng vua phong cho thái tử coi việc kiện tụng như thế là làm sai chức phận của thái tử, vì việc ấy xưa nay chưa có, lại lấy điện Quang Vũ làm nơi xử kiện là không đúng chỗ.[32]

Tháng 6 năm 1041, Điện tiền chỉ huy sứ Đinh Lộc và Phùng Luật mưu làm phản. Lộc và Luật bị bắt rồi giao cho thái tử xét xử, bọn Lộc và Luật đều bị xử tội chết.[32][26] Khâm định Việt sử lại chép là vua hạ chiếu cho quan lại trong triều, chứ không phải thái tử, xử án vụ mưu phản này.[33]

Vua còn chủ trương cải cách tư pháp thông qua việc định các bậc hình phạt, các cách tra hỏi. Tháng 5 năm 1042, vua xuống chiếu rằng các quan chỉ huy quân cận vệ nếu bỏ trốn thì phạt 100 trượng, thích vào mặt 50 chữ và xử tội đồ. Những người đã có tiền án, tiền sự, bị đày làm lính mà nếu trốn vào núi rừng, đồng nội để làm trộm cướp thì xử 100 trượng, thích vào mặt 30 chữ. Con của quan trấn trại mà bỏ trốn cũng phải tội như thế.[18] Kẻ nào ăn trộm trâu của công thì xử 100 trượng, phạt 1 con thành 2 con. Kẻ nào ban đêm vào nhà gian dâm vợ cả, vợ lẽ người ta, người chủ đánh chết ngay lúc bấy giờ thì không bị tội.[18][46]

Vua xuống chiếu về việc phú thuế của trăm họ, cho phép người thu, ngoài 10 phần phải nộp quan được lấy thêm một phần nữa, gọi là "hoành đầu", để làm bổng lộc. Lấy quá thì xử theo tội ăn trộm, trăm họ có người tố cáo được tha phú dịch cho cả nhà trong 3 năm, người ở kinh thành mà cáo giác thì thưởng cho bằng hiện vật thu được.[36] Nếu quản giáp, chủ đô và người thu thuế thông đồng nhau thu quá lệ, tuy xảy ra đã lâu, nhưng có người tố cáo thì quản giáp, chủ đô và người thu thuế cũng phải tội như nhau.[18]

Đến tháng 10 năm 1042, vua ban hành bộ luật Hình thư. Trước kia, việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan lại giữ luật pháp câu nệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt, thậm chí có người bị oan uổng quá đáng. Đế lấy làm thương xót, sai trung thư san định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời thế, chia ra môn loại, biên thành điều khoản, làm thành sách Hình thư của một triều đại, để cho người xem dễ hiểu.[46] Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện. Đến đây phép xử án được định chế rõ ràng, cho nên vua mới đổi niên hiệu là Minh Đạo và đúc tiền Minh Đạo.[37] Bộ luật Hình thư năm 1042 được xem là bộ luật đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.

Tháng 11 năm 1042, vua xuống chiếu cho những người từ 70 tuổi trở lên, 80 tuổi trở xuống, từ 10 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống và những người ốm yếu cho đến các thân thuộc hoàng tộc từ hạng Đại công trở lên phạm tội thì cho chuộc bằng tiền,[35] nếu phạm tội thập ác thì không được theo lệ này.[37] Tội thập ác theo hình luật cũ[e] gồm: 1) âm mưu phản quốc; 2) âm mưu làm việc đại nghịch (giết vua, giết cha); 3) âm mưu phản bội; 4) hung ác bạo nghịch; 5) bất đạo đức; 6) đại bất kính; 7) bất hiếu với cha mẹ; 8) không hòa thuận với anh em; 9) bất nghĩa; 10) loạn luân.[46]

Tháng 2 năm 1043, vua xuống chiếu rằng hễ cứ 3 quan thì cùng giám sát 1 quan, đặc biệt nếu có ai chứa giấu đại hoàng nam thì 3 người đều bị tội cả.[37]

Tháng 8 năm 1043, vua xuống chiếu rằng kẻ nào đem bán hoàng nam trong dân gian làm gia nô, đã bán rồi thì đánh 100 trượng, thích vào mặt 20 chữ, chưa bán mà đã làm việc cho người thì cũng đáng trượng như thế, thích vào mặt 10 chữ; người nào biết chuyện mà cũng mua thì xử giảm một bậc.[37][46] Đến tháng 10 năm 1043, khi chiến dịch phạt Chiêm đang cận kề, vua xuống chiếu rằng quân sĩ bỏ trốn quá 1 năm xử 100 trượng, thích vào mặt 50 chữ, chưa đến 1 năm thì xử theo mức tội nhẹ, kẻ nào quay lại thì cho về chỗ cũ. Quân sĩ không theo xa giá cũng xử trượng như thế và thích vào mặt 10 chữ. Đến tháng 12 cùng năm, vua đến hành dinh Cổ Lãm (châu Cổ Pháp) rồi xuống chiếu rằng kẻ nào ăn cướp lúa mạ và tài vật của dân, nếu đã lấy rồi thì xử 100 trượng, nếu chưa lấy được nhưng làm cho người bị thương thì xử tội lưu dày.[38]

Dưới triều vua còn có ty chuyên trách việc giám sát vải vóc, lụa là trong dân, gọi là Quyến khố ty. Tháng 11 năm 1044, vua xuống chiếu, định hình phạt cho người nhận hối lộ bằng lụa trong Quyến khố ty, ai nhận riêng một thước lụa thì xử 100 trượng, từ 1 tấm đến 10 tấm trở lên thì bị phạt trượng theo số tấm, rồi bị tù khổ sai 10 năm. Đến tháng 12, vua xuống chiếu cấm quan coi ngục sai tù làm việc riêng, ai phạm thì xử 80 trượng, thích chữ vào mặt và giam vào lao.[40][45]

Năm 1048, có Phạm Khứ Liêu mưu phản rồi bị cáo giác. Khứ Liêu bị xử tử bằng cách rót thịt ở chợ Đông.[39] Đại Việt sử lược không chép chức tước của Khứ Liêu là gì.

Tháng 3 năm 1051, vua cho đúc chuông lớn để ở điện Long Trì, dân ai có oan ức gì không bày tỏ được thì đánh chuông ấy để tâu lên.[44][42]

Năm 1028, khi tiên đế Thái Tổ băng hà và triều Lý rơi vào loạn tam vương, vua Tống được tin Đại Cồ Việt có loạn thì liền xuống chiếu cho các châu Ung, Khâm, Quảng, Huệ tăng cường phòng thủ, đề phòng việc bất trắc ở phía Nam.[4] Đến năm 1029, khi các vương làm loạn đã bị dẹp yên và thái tử Phật Mã đã chính thức nối ngôi vua, nhà Tống sai sứ sang viếng tang tiên đế rồi phong tân vương làm Quận vương. Tháng 4 năm 1030, vua sai sứ sang nhà Tống đáp lễ.[6][19][20]

Tháng 1 năm 1033, Chân Lạp sang cống.[22][47] Châu Hoan sau khi bị triều đình đánh bại và đã quy hàng vào năm 1031 thì đến tháng 6 năm 1034 dâng vua con thú một sừng. Vua liền sai sứ đem con thú ấy sang biếu nhà Tống. Đến tháng 8 cùng năm, vua lại sai sứ sang biếu nhà Tống hai con voi. Nhà Tống ban cho sứ nhà Lý Đại tạng kinh để tạ lễ.[21][24]

Tháng 10 năm 1036, khi các châu, đạo của Đại Cồ Việt vừa làm phản nhà Lý, vừa đánh phá các châu Tư Lăng của nhà Tống, cướp trâu ngựa, đốt nhà cửa rồi rút chạy, thì vua Tống xuống chiếu trách Đại Cồ Việt, khiến vua Thái Tông phải thân chinh đánh dẹp mà bắt kẻ cầm đầu trị tội.[4]

Năm 1038, nhà Tống phong vua làm Nam Bình Vương, ngay thời điểm triều đình chuẩn bị dẹp loạn Nùng Tồn Phúc.[30][26][29]

Tháng 4 năm 1039, con vua Chiêm Thành là Địa Bà Lạt cùng 5 thuộc cấp sang quy phục triều đình.[30][26] Tháng 8 cùng năm, vua sai sứ sang nước Tống tiếp tục việc thông hiếu như cũ. Đến tháng 12, Chân Lạp sang cống.[32][26][31]

Tháng 8 năm 1040, quan Chiêm Thành trại Bố Chính là Bố Linh, Bố Kha, Lan Đà Tinh đem bộ thuộc hơn trăm người sang quy phục triều đình.[32][48]

Tháng 9 năm 1042, vua lại sai sứ mang voi thuần sang biếu nhà Tống.[18] Ngày 1 tháng 12 năm 1044, vua cho đặt trạm Hoài Viễn ở bờ sông Gia Lâm làm quán nghỉ trọ cho người nước ngoài khi đến chầu.[40][39]

Với Chiêm Thành, thì ngoài những trường hợp quan lại và người trong hoàng tộc tự nguyện quy phục triều Lý, các quốc vương Chiêm Thành không tiến cống cho Đại Cồ Việt một lần nào trong suốt 16 năm, từ lúc tiên đế Thái Tổ băng hà (năm 1026) cho đến năm 1044. Đến tháng 4 năm 1043, giặc cướp Chiêm Thành lại còn đánh cướp dân ven biển phía Nam của Đại Cồ Việt và bị quân Lý đánh bại. Sự việc này như giọt nước làm tràn ly khiến cho vua quyết chí chinh phạt Chiêm Thành vào tháng 1 năm 1044. Cuộc chinh phạt diễn ra trong gần 8 tháng và Đại Cồ Việt toàn thắng, chém hàng vạn đầu giặc, bắt được hàng nghìn tù binh và nhiều cung nữ Chiêm Thành, thu được nhiều vàng bạc, châu báu và voi thuần.[1]

3 năm sau cuộc chiến năm 1044 giữa hai nước, đến năm 1047, sứ Chiêm Thành sang triều cống thì bị vua xuống chiếu cho giữ lại ở châu Chân Đăng (nay là Lâm Thao, Vĩnh Phú), vì vua Chiêm là Úng Nặc (còn gọi là Ung Ni) vô lễ với Đại Cồ Việt.[39] Đến tháng 3 năm 1050, Chiêm Thành cho sứ sang dâng voi trắng.[44][42]

Năm 1050, vua cho đặt các động Huyết Hạn, Đại Phát và Văn Tương ở châu Tây Bình của nhà Tống để làm biên giới giữa hai nước.[41]

Sau cuộc chiến năm 1014 giữa Đại Cồ Việt và Đại Lý đời vua Thái Tổ cho đến tận ngày vua Lý Thái Tông mất vào năm 1054, sử không chép bất cứ một sự kiện gì về việc đối ngoại và giao thương giữa hai nước.

Khi còn là thái tử, vua đã được tiên đế cho làm quen với việc chinh chiến, nhiều lần xuất binh đánh dẹp giặc giã trong nước và chinh phạt Chiêm Thành. Vua khi trưởng thành lại là người có thiên tư đĩnh ngộ, thông lục nghệ, tinh thao lược, quen việc dùng binh, lại còn trải qua loạn tam vương mới có được ngôi báo, lại gặp lúc trong nước có nhiều giặc giã, Chiêm Thành và Ai Lao thì thường xuyên quấy nhiễu nên vua thường thân chinh đi đánh đông dẹp bắc.

Thời bấy giờ vua không đặt quan tiết trấn; phàm việc binh việc dân ở các châu là đều giao cả cho người châu mục. Còn ở mạn thượng du thì có người tù trưởng quản lĩnh. Cũng vì quyền những người ấy to quá, cho nên thường hay có sự phản nghịch. Giống như tiên đế, vua vẫn giữa lệ kết thông gia với các châu mục.[17] Ngày 7 tháng 3 năm 1029, vua gả công chúa Bình Dương cho châu mục châu Lạng (tức Lạng Sơn ngày nay) là Thân Thiệu Thái.[6][19] Tuy nhiên, việc đối đãi hòa nhã của triều đình với các châu mục vẫn không ngăn được việc một số châu mục làm loạn. Tháng 3 năm 1029, người ở giáp[f] Đản Nãi[g] thuộc Ái Châu[19] dấy binh làm phản triều đình. Đến ngày 1 tháng 4 cùng năm, vua thân chinh đi đánh, và để thái tử ở lại kinh đô giám quốc. Quân triều đình nhanh chóng đánh dẹp được quân phản loạn[19] rồi vua cho người ở giáp đào kênh Đản Nãi.[6][20]

Tháng 8 năm 1029, châu Hoan dâng vua kỳ lân,[6][19] tỏ ý quy thuận triều đình, nhưng đến tháng 1 năm 1031 thì châu Hoan lại làm phản. Đến ngày 1 tháng 2 cùng năm, vua thân chinh đi đánh. Quân triều đình đến nơi thì dân châu Hoan đều ra hàng cả. Vua liền xuống chiếu tha tội cho các quan ở châu ấy và cho người đi phủ dụ dân chúng.[22][19][47]

Đầu năm 1033, châu Định Nguyên (thuộc Yên Bái ngày nay) làm phản.[47] Ngày 8 tháng 2 cùng năm, vua liền thân chinh đi đánh. Quân đến đóng ở châu Chân Đăng thì có người đàn bà dâng vua con gái và được vua nhận làm phi. Đến ngày 17 thì quân triều đình phá được giặc rồi trở về kinh đô.[22][23] Sử gia Ngô Thì Sĩ chê cười vua vì khi thân chinh đánh giặc mà lại còn rước con gái về để làm phi, thành ra chuyện nhảm nhí, mất đi oai phong của bậc chiến tướng.[47][49] Đến tháng 9, châu Trệ Nguyên làm phản. Tháng 10, vua thân chinh đi đánh, đến cuối tháng 11 thì phá được giặc. Ngày 1 tháng 12 cùng năm, vua đem quân về kinh đô.[21][23][24]

Tháng 9 năm 1035, người ở Ái Châu làm phản. Vua thân chinh đi đánh, cho hoàng tử Nhật Trung - Phụng Càn Vương ở lại kinh đô giám quốc.[27] Quân triều đình đến Ái Châu thì vua cho ban yến tiệc cho quan quân, tướng sĩ ở hành dinh trước khi ra trận. Lúc bấy giờ có Định thắng đại tướng Nguyễn Khánh - người được vua phong tước ngay khi vừa lên ngôi[16] - tỏ ra thái độ bất thường và hổ thẹn với vua, lại còn đi đứng thất tiết, giao tiếp lạ thường khiến vua sinh nghi mà bảo với các phi tần rằng Nguyễn Khánh thế nào cũng làm phản, khiến cho các phi tần ngạc nhiên.[23][h] Sau đó, quân triều đình đánh dẹp được quân nổi loạn Ái Châu, trị tội quan châu mục và phủ dụ dân chúng.[25] Cùng lúc ấy, vua nhận được tin từ Phụng Càng Vương rằng đồng đản của Nguyễn Khánh đã mưu phản triều đình, đúng như lời vua nói. Các phi tần lúc trước được vua kể chuyện Nguyễn Khánh mưu phản, nay nghe được tin này thì lạy vua thán phục mà bảo rằng: "Bọn thiếp nghe nói thánh nhân thấy được chỗ chưa hiện hình, biết trước việc chưa xảy ra, nay được chính mắt trông thấy."[25][27]

Loạn Nguyễn Khánh bị dẹp yên, vua xuống chiếu cho bắt Nguyễn Khánh cùng đồng đảng giải về kinh sư. Ngày 1 tháng 11 năm 1035, vua khải hoàn về kinh, ban tiệc rượu và thưởng công các tướng sĩ đánh dẹp ở châu Ái. Sau đó, vua cho xử Nguyễn Khánh cùng những kẻ chủ mưu khác, tất cả đều bị xẻo thịt, băm xương, những kẻ khác thì xử theo tội nặng nhẹ khác nhau.[25]

Vì đã phải đánh dẹp nhiều châu mục làm loạn đến thời điểm này, triều đình tiếp tục đẩy mạnh chính sách hòa thân. Tháng 3 năm 1036, vua gả công chúa Kim Thành cho châu mục châu Phong là Lê Tông Thuận.[23] Tháng 8, vua gả công chúa Trường Ninh cho châu mục châu Thượng Oai là Hà Thiện Lãm.[28] Tuy nhiên, việc này cũng không làm dứt được sự phản loạn của các châu mục mà vương triều Thái Tông phải đối mặt.

Tháng 10 năm 1036, đạo Lâm Tây (nay thuộc hai tỉnh Sơn La, Lai Châu) và các châu Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên vừa làm phản triều đình,[23] vừa đánh phá các châu Tư Lăng của nhà Tống, cướp trâu ngựa, đốt nhà cửa rồi về.[4] Ngày 1 tháng 2 năm 1037, vua thân chinh đi đánh đạo Lâm Tây, thái tử Lý Nhật Tôn được vua phong làm Đại nguyên soái, đi đánh các châu Đô Kim,[26] Thường Tân, Bình Nguyên. Đến tháng 3, vua dẹp yên được đạo Lâm Tây rồi cho quân hồi kinh.[28][27]

Sau khi triều đình đánh dẹp Nùng Tồn Phúc năm 1039 và Nùng Trí Cao năm 1041, tháng 9 năm 1042, châu Văn làm phản triều đình.[35] Ngày 1 tháng 10 cùng năm, vua cho thái tử làm đại nguyên soái đi đánh châu Văn.[18][36] Tháng 1 năm 1043, Ái Châu làm phản, đến tháng 2 thì châu Văn lại làm phản. Ngày 1 tháng 3, vua cho thái tử đi đánh Ái Châu, Phụng Càng Vương đi đánh châu Văn.[35] Dẹp được giặc ở châu Văn, Phụng Càng Vương dâng vua 4 con ngựa tốt.[37][46] Tháng 9 năm 1050, động Vật Dương (thuộc huyện Thạch Lâm (cũ), Cao Bằng) làm phản rồi nhanh chóng bị triều đình đánh dẹp.[44] Đại Việt sử lược lại chép là năm 1050, Nùng Trí Cao chiếm động Vật Dương giáp châu An Đức của nhà Tống để làm bàn đạp đánh phá nhà Tống trong những năm tiếp theo.[41] Cũng trong năm 1050, người ở giáp Long Trì, Ngũ Huyện Giang thuộc Ái Châu làm phản.[41] Sử không chép là cuộc nổi loạn này bị triều đình đánh dẹp hay tự tan rã, vì ở những năm 1050 này, triều đình đang sắp bị cuốn vào một cuộc nổi loạn lớn vào những năm cuối đời của vua Lý Thái Tông: Loạn Nùng Trí Cao.

Tháng 4 năm 1043, giặc cướp Chiêm Thành thuận theo chiều gió mà cướp bóc dân ven biển. Vua sai Đào Xử Trung đi đánh, dẹp yên được.[37] Vì việc ấy, vua nói với quần thần rằng: "Tiên đế mất đi, đến nay đã 16 năm rồi, mà Chiêm Thành chưa từng sai một sứ giả nào sang là cớ gì ? Uy đức của trẫm không đến họ chăng? Hay là họ cậy có núi sông hiểm trở chăng ?" Các quan đáp: "Bọn thần cho rằng đó là vì đức của bệ hạ tuy có đến nhưng uy thì chưa rộng. Sao thế? Vì từ khi bệ hạ lên ngôi đến giờ, họ trái mệnh không đến chầu, bệ hạ chỉ ban ơn để vỗ về, chưa từng ra oai dùng võ để đánh phạt, đó không phải là cách làm cho người ta sợ oai. Bọn thần e rằng các chư hầu khác họ trong nước đều như Chiêm Thành cả, há chỉ riêng người Chiêm mà thôi đâu". Từ đấy, vua bèn sắp sửa binh thuyền sang đánh Chiêm Thành.[37][34] Đến tháng 9 năm 1043, vua xuống chiếu cho đóng hàng trăm chiến thuyền. Đến tháng 12, vua xuống chiếu cho quân sĩ sửa soạn giáp binh, dự kiến đến tháng 2 năm sau sẽ chinh phạt Chiêm Thành.[38]

Ngày Quý Mão, tháng 1 năm 1044, vua thân chinh đi đánh Chiêm Thành, thái tử ở lại kinh đô giám quốc,[38] giao cho trị châu Nghệ An Lý Nhật Quang vận tải quân lương.[34] Vì thuận chiều gió nên thuyền quân Lý tiến rất nhanh từ kinh đô đến cửa biển Tư Khách (cửa Tư Hiền ngày nay) chỉ trong có mấy ngày.[1][35]

Quân Chiêm dàn trận ở phía nam sông Ngũ Bồ. Vua truyền cho quân đổ bộ lên bờ bắc sông Ngũ Bồ, rồi đặt quân sĩ dựng cờ nổi trống, sang tắt ngang sông mà đánh quân Chiêm.[34] Quân Lý chưa đánh đến mà quân Chiêm đã tan vỡ. Quân Lý đuổi bắt và chém được hơn 3 vạn thủ cấp, bắt sống 5.000 người và 30 con voi.[1][39] Tướng Chiêm là Quách Gia Di chém chết vua Sạ Đẩu (Jaya Simhavarman II) đem đầu sang xin hàng. Bấy giờ quân Chiêm Thành và dân bản xứ bị giết rất nhiều, máu nhuộm cả chiến trường, xác chất đầy đồng. Vua trông thấy động lòng thương, ra lệnh: "Kẻ nào giết bậy người Chiêm Thành thì sẽ giết không tha."[1][39]

Đến tháng 7 năm 1044, vua tiến binh đến quốc đô Phật Thệ (nay ở làng Nguyệt Hậu, phường Vỹ Dạ, tỉnh Thừa Thiên-Huế), vào thành bắt được vương phi Mỵ Ê và các cung nữ đem về, rồi sai sứ đi phủ dụ dân Chiêm Thành. Đến tháng 8, vua cho thu quân về,[39] đến Nghệ An thì vua gia phong tước vương cho tri châu Lý Nhật Quang vì có công vận tải quân lương, khiến việc tiếp tế lương ăn luôn được đầy đủ.[34] Đến ngày 1 tháng 9, vua về đến đến hành điện Ly Nhân (thuộc Nam Hà - Ninh Bình ngày nay) thì gọi Mỵ Ê sang hầu vua. Mỵ Ê giữ tiết không chịu lấy vua, rồi nhảy xuống sông tự tử. Mỵ Ê được vua khen là trinh tiết, phong làm Hiệp Chính Hựu Thiện phu nhân.[1][50]

Vua khải hoàn về kinh, làm lễ tế cáo thắng trận ở miếu Thái Tổ rồi mở tiệc rượu mừng chiến thắng. Trận này, quân Lý bắt được hơn 5 nghìn tù binh, và thu được nhiều vàng bạc, châu báu và voi thuần của Chiêm Thành. Vua xuống chiếu cho các tù binh Chiêm Thành được định cư từ trấn Vĩnh Khang đến Đăng Châu (nay là Quy Hóa), đặt hương ấp phỏng tên gọi cũ của Chiêm Thành.[1][50] Đến tháng 11 cùng năm, vua ban thưởng cho những người có công đi đánh Chiêm Thành. Đến tháng 5 năm 1046, vua cho dựng cung riêng cho các cung nữ Chiêm Thành.[40][39]

Tháng 9 năm 1048, vua sai tướng quân Phùng Trí Năng đi đánh Ai Lao, bắt được rất nhiều người và gia súc mang về.[40][45]

Các châu Quảng Nguyên, Vạn Nhai (nay là Cao Bằng, Bắc Thái - Thái Nguyên) vốn do họ Nùng trấn thủ. Nùng Tồn Phúc là thủ lĩnh châu Thảng Do, em là Tồn Lộc làm thủ lĩnh châu Vạn Nhai, em trai của A Nùng, vợ Tồn Phúc, là Đương Đạo làm thủ lĩnh châu Vũ Lặc đều thuộc châu Quảng Nguyên, hàng năm đều triều cống thổ sản cho triều đình.[30] Sau Tồn Phúc giết Tồn Lộc và Đương Đạo, chiếm cả đất hai châu của Lộc và Đạo. Đến tháng 12 năm 1038, Tồn Phúc làm phản triều đình, bỏ triều cống, tự xưng là "Chiêu Thành Hoàng đế", lập A Nùng làm "Minh Đức Hoàng hậu", phong cho con là Trí Thông làm "Nam Nha Vương", rồi tự đặt tên châu Quảng Nguyên và các vùng đất chiếm được là nước Trường Sinh, và chuẩn bị binh mã, xây thành kiên cố để cát cứ.[30][26][29]

Tháng 1 năm 1039, thủ lĩnh châu Tây Nông là Hà Văn Trinh tâu vua việc Nùng Tồn Phúc làm phản. Tháng 2 cùng năm, vua thân chinh đi đánh. Quân triều đình tiến đến châu Quảng Nguyên thì Tồn Phúc cùng gia quyến và cả bộ lạc đều trốn vào núi. Quân triều đình đuổi bắt được Nùng Tồn Phúc và con là Nùng Trí Thông, cùng gia quyến cả thảy 5 người. Chỉ có A Nùng và người con khác của Tùng Phúc là Nùng Trí Cao chạy thoát.[26] Vua cho san phẳng thành hào của Tồn Phúc, rồi cho quan quân chiêu hàng đám tàn quân và vỗ yên dân chúng rồi thu quân về.[30][29]

Nùng Tồn Phúc cùng đồng đản bị đóng cũi giải về kinh đô.[26] Vua xuống chiếu kể tội bọn Tồn Phúc dám tiếm xưng niên hiệu hoàng đế, tụ họp quân phản nghịch để làm hại dân chúng biên thùy, không biết noi theo truyền thống xưng thần, triều cống của các đời họ Nùng trước, rồi ra lệnh chém hết cả.[30]

Năm 1041, Nùng Trí Cao cùng mẹ là A Nùng từ động Lôi Hỏa (ở tây bắc tỉnh Cao Bằng ngày nay) về đánh chiếm châu Thảng Do, lập ra nước Đại Lịch.[36] Vua sai tướng lên đánh bắt được đem về Thăng Long. Nhưng vua nghĩ trước đã giết cha và anh, nay thương tình không giết Trí Cao, tha cho về và lại phong cho làm Quảng Nguyên mục, rồi cho cai quản thêm bốn động Lôi Hỏa, Bình, An, Bà và châu Tư Lang.[18][26] Ngày 1 tháng 9 năm 1043, lúc triều đình đang chuẩn bị chinh phạt Chiêm Thành, vua cho sứ đến châu Quảng Nguyên ban đô ấn Trí Cao, lại gia phong cho tước Thái bảo.[38][35][34]

Tháng 12 năm 1044, khi vua đã hồi kinh sau khi đánh thắng Chiêm Thành, Trí Cao về chầu triều đình.[40][39]

Năm 1048, Trí Cao lại làm phản, chiếm giữ động Vật Ác (phía tây Cao Bằng). Vua sai thái úy Quách Thịnh Dật đi đánh. Quân triều đình vừa đến vây thì chợt trời tối đen, trong động của Trí Cao lại có tiếng sét đánh, xé tan thân thể của các tù trưởng. Cả động đều kinh hãi, Trí Cao lại đầu hàng triều đình.[40][39]

Năm 1052, Nùng Trí Cao lại làm phản, xưng là Nhân Huệ Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Nam. Trí Cao xin phụ thuộc vào nhà Tống nhưng vua Tống Nhân Tông không cho. Trí Cao bèn đem quân sang đánh đất triều Tống,[41] phá trại Hoàng Sơn, bao vây những châu Ung, Hoành, Quý, Đằng, Ngô, Khang, Đoan, Củng, Tầm sau đó tiến đến vây hãm thành Quảng Châu. Trí Cao cho quân vây cả năm tuần nhưng không lấy được thành.[44] Sau đó, quân của Trí Cao vào Ung Châu, giết tướng tá binh sĩ nhà Tống hơn 3000 người, bắt sống hàng vạn dân chúng. Quân của Trí Cao đi đến đâu thì đốt phá đến đấy. Trước tình cảnh này, triều đình nhà Tống lo sợ. Khu mật sứ Địch Thanh dâng biểu xin đi đánh thì được vua Tống Nhân Tông phong làm "Tuyên huy sứ đô đại đề cử, tổng quyền tiết việt" để đi đánh Trí Cao.[44]

Lý Thái Tông dâng biểu sang Trung Quốc xin mang quân phối hợp đánh Trí Cao thì được vua Tống ưng thuận. Khi quân Lý sắp vào biên giới, tướng Nhà Tống là Địch Thanh can vua Tống nên tự đánh dẹp vì sợ quân Lý vào lấn chiếm. Vua Tống nghe theo lời Địch Thanh rồi bèn sai các tướng Dư Tĩnh, Dương Điền và Tôn Miện đi đánh dẹp Nùng Trí Cao và xuống chiếu cho Lý Thái Tông rằng không cần quân Lý giúp.[43][51] Dương Điền đánh mãi không được. Nùng Trí Cao dâng biểu xin lĩnh chức Tiết độ sứ Ung châu và Quý châu, vua Tống đã toan thuận cho Trí Cao đầu hàng thì Địch Thanh can không nên và xin đem quân đi đánh.[43][i]

Đầu năm 1053, Địch Thanh ra quân đánh bại Nùng Trí Cao. Trí Cao bỏ chạy. Tháng 10 năm 1053, Trí Cao sai Lương Châu đến cầu cứu Đại Việt. Lý Thái Tông sai Chỉ huy sứ Vũ Nhị đi tiếp ứng cho Trí Cao.[43] Nhưng quân Lý chưa tới nơi thì Trí Cao lại bị Địch Thanh đánh bại, Cao phải chạy trốn sang nước Đại Lý. Quân Lý rút về. Về sau người Đại Lý bắt Nùng Trí Cao chém lấy đầu đem nộp Nhà Tống. Nhà Tống giết luôn gia quyến của Trí Cao. Từ đó họ Nùng tuyệt diệt.[43]

Về chuyện này, sử thần Lê Văn Hưu có lời bàn:[38]

Năm trước, Nùng Tồn Phúc phản nghịch, tiếm hiệu, lập nước, đặt quan thuộc, Thái Tông đã trị tội Tồn Phúc mà tha cho con là Trí Cao. Nay Trí Cao lại noi theo việc trái phép của cha thì tội lớn lắm, giết đi là phải, nếu lấy lại tước và áp phong, giáng là thứ dân, thì cũng phải. Thái Tông đã tha tội, lại cho thêm mấy châu quận nữa, ban cho ấn tín, phong làm Thái bảo, như thế là thưởng phạt không có phép tắc gì. Đến khi Trí Cao gây tai họa ở Quảng Nguyên, lại đem quân đi đánh, mượn cớ là viện trợ láng giềng, có khác gì thả cọp beo cho cắn người, rồi từ từ đến cứu không? Đó là vì Thái Tông say đắm cái lòng nhân nhỏ của nhà Phật mà quên đi mất cái nghĩa lớn của người làm vua.

— Đại Việt sử ký toàn thư

Tháng 7 năm 1054, vua xuống chiếu cho Hoàng thái tử Lý Nhật Tôn được phép coi chầu nghe chính sự. Đến ngày Mậu Dần tháng 9, vua không được khỏe. Đến ngày 1 tháng 10 âm lịch (tức ngày 3 tháng 11 năm 1054), vua băng hà tại điện Trường Xuân, sau 27 năm trị quốc, hưởng dương 54 tuổi.[51] Miếu hiệu là Thái Tông, thụy hiệu không được chép lại trong sách sử. Trước linh cữu, Hoàng thái tử Lý Nhật Tôn kế thừa hoàng vị, tức vua Lý Thánh Tông.[51]

Lý Thái Tông là vị hoàng đế tài giỏi. Hơn 30 năm chinh chiến và trị quốc, ông đã củng cố nền cai trị của nhà Lý, chống lại những nguy cơ chia cắt, cát cứ, bạo loạn, xâm lấn, đồng thời thu phục lòng dân, ban hành luật pháp, phát triển Phật giáo, kinh tế khiến cho nước Đại Cồ Việt trở nên vững mạnh.

Đại Việt sử ký toàn thư có nhận xét về vua:[2]

Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc, giống như Hán Quang Vũ đánh đâu được đấy, công tích sánh với Đường Thái Tông. Nhưng người quân tử còn lấy việc khoe khoang thái quá để chê trách vua chưa hiền.

Khi Lý Thái Tổ vừa mất, nhà Lý đối mặt với loạn tam vương và đứng trước nguy cơ trượt theo vết xe đổ của các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, khi chỉ truyền được 1 đời thì gặp phải đại loạn và dẫn đến việc bị thoán đoạt. Tuy nhiên, uy tín, tài năng, và sự quyết đoán của thái tử cùng tướng Lê Phụng Hiểu đã khiến cho tình hình nhanh chóng được ổn định trở lại. Các vương làm loạn nhanh chóng bị dẹp yên và quy hàng.

Nhiều lần dùng binh từ nam chí bắc nhưng Lý Thái Tông tỏ ra là vị hoàng đế bao dung, nhân hậu. Các nhà sử học cho rằng Lý Thái Tông cũng như nhiều hoàng đế nhà Lý khác có lượng khoan hồng vì ảnh hưởng của quốc giáo là đạo Phật. Trừ người thân Vũ Đức vương làm loạn bị giết, với những vương tôn phản loạn khác ông đều tha tội. Tuy nhiên, các tướng lĩnh mưu phản khác trong triều thì vẫn bị xử tử.

Tôn hiệu của vua cũng nhận khá nhiều lời chỉ trích từ các sử gia hậu thế. Tôn hiệu của vua đến hơn 50 chữ, giống như tiên đế Thái Tổ, bị sử gia Ngô Sĩ Liên phê bình trong Đại Việt sử ký toàn thư: "Kinh thư tôn xưng vua Nghêu là Phóng Huân, vua Thuấn là Trùng Hoa. Bề tôi đời sau lấy đức hạnh thực mà tôn xưng vua, đến hơn mười chữ đã là nhiều lắm rồi. Bấy giờ bầy tôi dâng tôn hiệu đến 50 chữ, thế là không biết kê cứu cổ học mà chỉ biết nịnh vua. [Lý] Thái Tổ nhận mà không từ, đó là muốn khoe khoang để cho đời sau không ai hơn được. Thế là sai. Sau, Tôn Thái Tông cũng đến gần 50 chữ là vì bắt chước ở đây."[52] Việc vua đồng ý cho triều thần tăng tôn hiệu thêm 8 chữ "Kim Dũng Ngân Sinh, Nùng Bình Phiên Phục" nhân việc các châu động phát hiện vàng bạc để dâng vua và triều đình dẹp loạn Nùng Tồn Phúc, gia quyến hoàng tộc Chiêm Thành hàng phục triều đình, bị sử gia Lê Văn Hưu phê phán là khoe khoang thô bỉ,[32] còn Khâm định Việt sử thì phê bình là vua "tự cao, tự đại", giả vờ khiêm nhường để nhận tôn hiệu từ bề tôi nịnh hót.[31]

Về cuộc chiến với Chiêm Thành năm 1044 - chiến dịch quân sự lớn nhất trong suốt thời gian trị vì của vua - thì hành động vua nghiêm cấm binh sĩ tàn sát người Chiêm được sử thần Ngô Sĩ Liên khen ngợi: "Tấm lòng ấy của vua cũng như tấm lòng của Tống Thái Tổ chăng? Truyền ngôi được lâu dài là phải lắm."[1]

Trái lại, Khâm định Việt sử có lời chê trách vua khá nặng nề về toàn bộ cuộc chiến này:

Bây giờ không nghe nói có việc người Chiêm vào lấn cướp thì không phải là bất đắc dĩ mà dùng binh, thế mà muốn phô sức mình, thích lập công nghiệp, buông thả lòng dục, giết hại mạng người! Thậm chí cướp bắt phụ nữ để chứa đầy vào hậu cung: việc này lại càng thất đức! So với Mị Ê, thật đáng thẹn chết! Huống chi khúc điệu Tây Thiên là thanh âm mất nước, gây nên sự mê muội cho con cháu đời sau![j] Thế thì trong sự thất đức lại càng thất đức hơn nữa! Thái Tông là bậc vua hiền mà làm như thế, thực đáng tiếc! Về phần bầy tôi bấy giờ cũng không sao tránh khỏi cái tội nống ác của vua!

Tuy nhiên, cáo buộc "Bây giờ không nghe nói có việc người Chiêm vào lấn cướp thì không phải là bất đắc dĩ mà dùng binh" của Khâm định Việt sử là không xác đáng, vì Đại Việt sử ký toàn thư có chép rằng giặc cướp Chiêm Thành thuận theo chiều gió mà cướp bóc dân ven biển vào tháng 4 năm 1043.[37] Sự việc này cộng với việc Chiêm Thành trong suốt 16 năm không triều cống cho Đại Cồ Việt đã trở thành lí do để vua quyết chinh phạt Chiêm Thành.

Với cuộc nổi loạn của Nùng Trí Cao vào những năm cuối đời của vua thì dù Nùng Trí Cao nhiều lần làm phản nhưng vẫn được vua đối đãi khá rộng lượng. Vì vậy, sử gia Ngô Sĩ Liên theo quan điểm Nho giáo chê vua "mê hoặc theo thuyết từ ái của đạo Phật mà tha tội cho bề tôi phản nghịch":[51]

Sử khen vua là người nhân triết, thông tuệ, có đại lược văn võ, lục nghệ không nghề gì không tường. Vì có tài đức ấy, nên có thể làm mọi việc, song câu nệ về lễ yến hưởng vua tôi, đương lúc đau thương mà cũng vui chơi, khiến cho đạo chí hiếu có thiếu sót. Mê hoặc bởi cái thuyết từ ái của Phật mà tha tội cho bề tôi phản nghịch thì lòng nhân ấy thành ra nhu nhược, đó là chỗ kém."

— Đại Việt sử ký toàn thư

Tuy nhiên, theo tác giả Lê Văn Siêu trong sách Việt Nam văn minh sử, việc ông hậu đãi Nùng Trí Cao là một thâm ý kiểu "thất cầm Mạnh Hoạch" của Gia Cát Lượng khiến Trí Cao kính phục và cảm kích. Sau này, dù Trí Cao còn ý định xưng hùng, nổi loạn cũng sang gây họa cho nhà Tống (và kêu gọi cả vua Thái Tông cùng xé đế quốc Tống) chứ không còn gây họa cho Đại Cồ Việt.[53]

  1. Kim Thiên Hoàng hậu Mai thị (靈感皇后)[54]
  2. Vương hoàng hậu (王皇后)
  3. Đinh hoàng hậu (丁皇后)
  4. Thiên Cảm hoàng hậu họ Dương (天感皇后)

Một số hoàng hậu không rõ tên, tổng cộng 8 người:

STT Danh hiệu Tên Cha Ghi chú 1 Kim Thiên Hoàng hậu

(靈感皇后)

Mai thị Mai Hựu Sinh hạ hoàng tam tử Lý Nhật Tôn, sau này chính là vua Lý Thánh Tông. 2 Vương hoàng hậu

(王皇后)

Vương thị Vương Đỗ[16] 3 Đinh hoàng hậu

(丁皇后)

Đinh thị Đinh Ngô Thượng[16] 4 Thiên Cảm hoàng hậu

(天感皇后)

Dương thị Không rõ tên Sách lập tháng 7 âm lịch năm Thông Thuỵ thứ hai (1035). Bà nguyên là vợ lẽ được sủng của vua.[24] Theo dã sử là vai cô của Thượng Dương Hoàng hậu. 5 Không rõ tên Là con gái người đàn bà họ Đào, được dâng vua ở châu Chân Đăng khi vua thân chinh đánh châu Định Nguyên vào năm 1033.[22] 6 Không rõ tên 7 Không rõ tên 8 Không rõ tên

Lý Thái Tông có hai người con trai trước đó đều yểu mệnh, Nhật Tôn là con trai thứ 3.

Hoàng Tử STT Danh hiệu Tên Sinh mất Ghi chú 1 Hoàng trưởng tử 1020-1020 Chết yểu 2 Hoàng nhị tử 1021-1022 Chết yểu 3 Lý Thánh Tông Lý Nhật Tôn

(李日尊)

1023-1072 Mẹ là Linh Cảm Hoàng hậu Mai thị. 4 Phụng Càn vương Lý Nhật Trung

(李日中)

1025-1043 Con gái lớn là công chúa Lý Ngọc Kiều được vua Thánh Tông nhận làm con nuôi. Công chúa là nội tổ mẫu của Linh Chiếu hoàng hậu Lê thị- sinh mẫu vua Lý Anh Tông. Công Chúa STT Danh hiệu Ghi chú 1 Bình Dương công chúa

(平陽公主)

Năm 1029 gả cho châu mục Lạng châu là Thân Thiệu Thái. 2 Trường Ninh công chúa

(长宁公主)

Tháng 8 năm 1036 gả cho châu mục Thượng Oai là Hà Thiện Lãm (何羡覧).[28] 3 Kim Thành công chúa

(慶城公主)

Tháng 3 năm 1036 gả cho châu mục Phong châu là Lê Tông Thuận (黎順宗).[23]
chùa Duyên Ninh ở kinh đô Hoa Lư, gắn với giai thoại tuổi thơ Vua Lý Thái Tông.

Lý Thái Tông cùng với các vua triều Lý được thờ ở khu di tích đền Đô, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Vùng đất Cố đô Hoa Lư vốn là nơi sinh trưởng và gắn bó với tuổi thơ 10 năm của Lý Thái Tông trước khi kinh đô Đại Cồ Việt được dời về Thăng Long nên tại đây còn nhiều di tích liên quan trực tiếp đến cuộc đời và sự nghiệp của vị vua này. Đó là các di tích chùa Duyên Ninh trong thành Tây Hoa Lư, tương truyền là nơi sinh ra vua; di tích hang Thầy Bói ở gần cầu Đông là nơi ở của người tiên đoán điềm lành khi vua sinh ra. Di tích động Am Tiên thờ chung 2 vua đầu đời Lý cùng với Hoàng hậu Phất Ngân. Di tích chùa Dầu được Lý Thái Tông trực tiếp cho xây dựng để hoàng thân nhà Lý tu hành.

Quanh khu vực cửa Thần Phù (Ninh Bình) có nhiều di tích thờ Lê Đại Hành cùng phối thờ Lý Thái Tông là 2 vị vua đã xây dựng hệ thống phòng tuyến quân sự tại khu vực này, đó là các đình Quảng Công, đình Từ Đường, đền Thượng Ngọc Lâm, đền Vua Lê Đại Hành ở 3 xã Yên Thái, Yên Lâm và Lai Thành. Có ý kiến cho rằng Lý Thái Tông do từng có tuổi thơ 10 năm gắn bó với vùng đất Cố đô Hoa Lư trước khi về với Thăng Long nên sau này xây chùa Một Cột, đền Đồng Cổ, đền thờ Phạm Cự Lượng ở Thăng Long; đào kênh Lẫm, đầm Lẫm ở cửa Thần Phù (Ninh Bình) và thực hiện nghi lễ cày ruộng Tịch điền đều noi theo truyền thống từ thời ông ngoại của mình là vua Lê Đại Hành.

  1. ^ Căn cứ Toàn thư thì Lý Thái Tông có được truy tôn thụy hiệu, nhưng tên hiệu không thấy chép trong sử sách.
  2. ^ Nguyên văn trong Đại Việt sử ký toàn thư, trang 93 chép là: "Bấy giờ hai nhà sư là Nghiêm Bảo Tính và Phạm Minh Tâm thiêu mình cháy kết thành thất bảo", chú giải: "Theo Pháp hoa kinh, thất bảo - bảy thứ quý là: vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, ngọc, mã não, trân châu (ngọc trai) mai khôi (ngọc đỏ)"; sự việc này có mâu thuẫn với các ghi chép về những vụ tự thiêu của các bậc hòa thượng trong lịch sử cận đại, cũng như mâu thuẫn với y học hiện đại, vì các bậc hòa thượng tự thiêu trong lịch sử cận đại thường để lại xá lợi, chứ không kết thành một lúc cả bảy loại "bảo vật" quý.
  3. ^ Đại Việt sử lược chép là Thừa Càn Vương.
  4. ^ Sử không chú giải lực lượng này thuộc quân - binh chủng nào.
  5. ^ Nguyên văn trong Khâm Định Việt Sử, Chính Biên - Quyển III, trang 126, chú thích 4 ghi là "Hình luật cũ có mười tội ác sau đây..."; chứ không ghi rõ có phải tội thập ác này được liệt kê trong bộ luật Hình thư hay đã được quy định trong hình luật ở các triều đại trước đó.
  6. ^ Giáp là đơn vị hành chính thời Lý, xem bài viết Hành chính Đại Việt thời Lý và chú giải 2, trang 91, Đại Việt sử ký toàn thư.
  7. ^ Đại Việt sử ký toàn thư phỏng đoán vùng này ngày nay là Đan Nê, núi Đồng Cổ huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hóa
  8. ^ Đại Việt sử lược chép là vua nói chuyện Nguyễn Khánh làm phản với "kẻ tả hữu", chứ không phải phi tần.
  9. ^ Nội dung này được Khâm định Việt sử trích dẫn lại theo Cương mục tục biên
  10. ^ Đời Lý Cao Tông cho nhạc công chơi nhạc mô phỏng lại khúc điệu Tây Thiên của Chiêm Thành, âm thanh vừa trong trẻo lại thê lương như lời ai oán của kẻ vong quốc khiến ai nghe cũng đều rơi lệ. Tăng phó Nguyễn Thường thấy thế thì nói: “[...] nhạc nước loạn thì ai oán, vì giận chính sự sai lạc; nhạc nước mất thì bi thương, vì nhớ dân khốn khổ. Nay thánh thượng du ngoạn không chừng, chính giáo rối loạn, dân chúng khổ sở, ngày càng trầm trọng, lại ngày ngày nghe âm thanh ai oán, chẳng phải là điềm loạn mất đó sao ? [...]” Về sau, sự loạn vong trong nước quả đúng như lời nói ấy. Nhà Lý khủng hoảng và suy yếu dẫn dến diệt vong từ đời Lý Cao Tông

Link nội dung: https://melodious.edu.vn/ly-thai-tong-a97593.html