THI PHÁP NGÔN TỪ TRONG "SỐ ĐỎ" CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG - Website của Nguyễn Thị Bích Vân

A.ĐẶT VẤN ĐỀ

1.Lý do chọn đề tài:

Xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã trải qua bước chuyển mình ghê gớm. Đó chính là quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa kéo theo những “lai căng, kệch cỡm, nhố nhăng” vốn xa lạ với văn hóa Việt Nam từ bao đời nay. Xã hội đó đã từng xuất hiện bóng dáng sơ khai trong thơ văn các cụ Nguyễn Khuyến, Tú Xương với những điều được xem là chướng tai gai mắt;

“Khen ai khéo vẽ trò vui thế

Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu”

(Hội Tây - Nguyễn Khuyến)

Những đến hơn 50 năm sau, cái xã hội đang trong quá trình “Âu hóa” đó mới thật sự được phản ánh một cách toàn diện, dữ dội trong các tác phẩm của các nhà văn hiện thực đầu thế kỷ XX mà có thể nói tiêu biểu nhất là tác gia Vũ Trọng Phụng.

Vũ Trọng Phụng là một nhà văn lớn đầy tài năng, là một trong những cây bút xuất sắc nhất của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại những thập niên đầu thế kỷ XX. Sinh ra từ trong một gia đình nghèo khổ, cuộc đời Vũ Trọng Phụng là sự bươn chải mưu sinh, cọ xát với cuộc sống cơm áo gạo tiền. Chính vì thế, từ những ngày đầu cầm bút bước vào làng văn, trong khi trận bút chiến nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh đang diễn ra rầm rộ trên văn đàn thì Vũ Trọng Phụng đã dứt khoát đứng về phái nghệ thuật vị nhân sinh. Quan điểm sáng tác của Vũ Trọng Phụng trên báo “Ngày nay” hết sức khẳng khái: “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời (…). Các ông muốn theo tiểu thuyết tuỳ thời, chỉ nói cái gì thiên hạ thích nghe, nhất là sự giả dối. Chúng tôi chỉ muốn nói cái gì đúng sự thực, thành ra nguy hiểm, vì sự thực mất lòng” (Để đáp lời báo Ngày nay).Và các sáng tác của ông trong đó có Số đỏ đã ra rời trước sau đều trên lập trường quan điểm sáng tác đó.

Vũ Trọng Phụng để lại nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại. Về thể loại tiểu thuyết, với Giông tố và Số đỏ cùng ra đời năm 1936 đã đưa tên tuổi Vũ Trọng Phụng trở thành một cây bút tiểu thuyết xuất sắc nhất những năm 30 của thế kỷ XX. Trong đó, Số đỏ là tác phẩm được đánh giá cao nhất trong toàn bộ tác phẩm của ông.

Nhà văn Bùi Huy Phồn nhận xét: “Trong các tác phẩm của ông Phụng, tôi thích Số đỏ hơn cả”

Nhà văn Nguyễn Khải cho rằng cùng với một số tác phẩm hiện thực khác, Số đỏ là “cuốn sách ghê gớm có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học”.

Nhà phê bình văn học Hoàng Thiếu Sơn đánh giá : “Số đỏ - cuốn “truyện bợm” kì tài”.

Vũ Trọng Phụng là một nhà văn lớn đầy tài năng. Ông đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của nền văn học Việt Nam theo hướng hiện đại hóa, trước hết là ở lĩnh vực tiểu thuyết. Nhưng có lẽ đặc sắc và quan trọng hơn

cả, cái làm nên phần hồn của tiểu thuyết “Số đỏ” đó là nghệ thuật ngôn từ. Với lối dùng từ sắc sảo, với giọng điệu đầy tính hài hước, đùa bỡn, tác giả đã phơi bày mặt trái của xã hội đương thời. Và cũng thông qua cách xây dựng nhân vật, cách dùng từ độc đáo, tác giả đã thể hiện niềm khát vọng vô biên của mình về cuộc sống.

Tiếp cận tác phẩm kiệt xuất này từ góc nhìn thi pháp ngôn từ sẽ giúp ta hiểu hơn về giá trị của tác phẩm. Và đây cũng là lí do mà bản thân người viết muốn chọn để trình bày với niềm say mê đối với Số đỏ của Vũ Trọng Phụng.

2.Phạm vi đề tài:

Nghiên cứu thi pháp là nghiên cứu cách thức, phương pháp, phương thức tạo ra tác phẩm văn học mà nhà văn đã sử dụng trong quá trình sáng tác; tức là nghiên cứu thủ pháp, kỹ thuật của nhà văn trong tác phẩm. Tuy nhiên, muốn khảo sát những điều trừu tượng như vậy thì không có con đường nào khác ngoài việc phải tiếp cận các yếu tố hình thức của tác phẩm. Bới vì chỉ duy nhất ở đó, các biện pháp có tính chất kỹ thuật mới có lý do tồn tại. Có ba phương diện chủ yếu thường được chú ý khi nghiên cứu thi pháp là: Ngôn từ nghệ thuật, thế giới hình tượng, tổ chức tác phẩm.

Cả ba phương diện này đều được thể hiện hết sức phong phú trong Số đỏ. Với phạm vi hạn hẹp của bài viết, người viết chỉ muốn bàn đến phương diện thi pháp ngôn từ trong tác phẩm này.

3.Phương pháp nghiên cứu:

Đọc hiểu, nghiên cứu tài liệu, thống kê, phân tích, tổng hợp

B.THI PHÁP NGÔN TỪ TRONG SỐ ĐỎ

Muốn đánh giá đúng một tác phẩm nghệ thuật, phải nắm được đặc điểm thể loại và khuynh hướng cảm hứng của nó. Theo ý kiến giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh “Số đỏ là một cuốn tiểu thuyết trào phúng được viết theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa”. Nếu xem xét tác phẩm trên phương diện nghệ thuật thì trào phúng là giá trị nghệ thuật điển hình của tác phẩm này.Ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm cũng góp phần tạo nên giá trị nghệ thuật đó.

Thi pháp ngôn từ trong Số đỏ thể hiện ở trên những phương diện:

1.Ngôn từ nghệ thuật trong Số đỏ mang tính hình tượng sâu sắc và được thể hiện trên những mặt cơ bản sau:

1.1 Đó chính là sự mô phỏng, phỏng nhại cái hiện thực xã hội ở Việt Nam những năm 30 của thế kỷ XX.

Số đỏ nhại cái trò Âu hóa, tức là một nền văn minh phương Tây cho những dân tộc dã man phương Đông. Vũ Trọng Phụng đã chọn giai đoạn ầm ĩ nhất, rầm rộ nhất, phong trào Mặt trận bình dân để nhại. Với Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã đặt lên một sân khấu hài kịch mà ở đó ông dựng lại, mô phỏng lại cuộc đời với mọi giai tầng trong xã hội, nhại lại các trào lưu văn hóa, trào lưu chính trị, trào lưu văn học, trào lưu nghệ thuật... Trong Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã nhại lại biết bao nhiêu cái “hóa” của một xã hội hỗn loạn: Âu hóa, bình dân hóa, lãng mạn hóa, đô thị hóa, trừu tượng hóa, chính trị hóa ...

Số đỏ chỉ khoảng trên dưới ba mươi nhân vật có tên và không tên mà đã tập hợp thành đủ các hạng người trong xã hội thành thị Việt Nam vào những năm 30 của thế kỷ XX, từ vú em, u già, anh bếp, đứa bé nhặt banh quần, chị hàng mía, ông thầy số, mấy cụ lang băm, những thành viên của một gia đình trưởng giả tứ đại đồng đường, những me Tây, những vua thuốc lậu kiêm chủ khách sạn, những nhà hoạt động xã hội, nhà cải cách Âu hóa: chính khách, nhà báo, nghệ sĩ, nhà thể thao, thầy thuốc, thi sĩ, ông hội viên hội khai trí tiến đức, ông sư kiêm chủ bút gõ mõ, những người Nhà nước như: cò, cẩm, mật thám, cảnh sát giới, đến cả giám đốc Chính trị Đông Dương, đến cả vua nước láng giềng với những cố vấn quân sư người Đức, người Nhật.

Trước hết, Số đỏ là cái cười nhại tầm cỡ lớn về xã hội đang trên đà Âu hóa - không khí lãng mạn hóa đô thị Hà Nội lúc bấy giờ. Cái không khí lãng mạn trên văn đàn Tự lực văn đoàn, những vụ tự tử ở Hồ Gươm, hồ Trúc Bạch là có thật, đã được nhại thành mốt “tôi có hai cái tình” với những nhân vật “bán sử nữ” như cô Tuyết với những lời sáo rỗng: “Em sung sướng quá đi mất! Em muốn chết anh ạ! Em muốn tự tử!”, hay cô gái lãng mạn Hoàng Hôn “người đàn bà đức hạnh, tân tiến” chủ trương người đàn bà “muốn ra giống đàn bà” thì phải giữ trinh tiết với hai người... Hay phong trào áo tân thời Lemur đã được nhại thành “cải cách bề ngoài”, “cải cách bề trong” với các kiểu áo Ngây thơ, Lưỡng lự, Hãy chờ một phút...; Hội họa trừu tượng thì nhại thành “những cái thẹo lộn xuôi, lộn ngược”. Thơ lãng mạn cũng không thoát khỏi cái cười nhại. Đây là chàng thi sĩ lãng mạn chính cống, mặt hốc hác, thân gầy còm -kẻ si tình cô Tuyết, muốn “bắt chim” nàng và ngêu ngao những vần thơ tuyệt vọng. Tức mình, Xuân Tóc Đỏ dõng dạc ngâm bài thơ “Giải cảm” châm biếm không thua gì thơ Tú Mỡ khiến chàng thi sĩ phải đỏ mặt rút lui. Hay cái không khí tân thời lây lan rất nhanh trong các giai tầng xã hội thậm chí đến giới tu hành cũng “tân thời” theo lối nhại sư Tăng Phú: “Tín đồ nhà Phật chúng tôi bút chiến nguyền rủa nhau là ghẻ ruồi, ghẻ Tàu, ghẻ lào, hắc lào, hóa hủi, cụt chân, cụt tay, thế cơ”.

Số đỏ còn là cái cười nhại tầm cỡ về những cái được gọi là trò chơi chính trị của bộ máy chính quyền đương thời. Vũ Trọng Phụng chẳng ngần ngại gì mà không lôi tuột cả bộ máy chính trị khổng lồ ấy xuất hiện ở đoạn cuối truyện với quan Toàn quyền, Thống sứ, vua Xiêm, vua nội các, các quan hầu Đức, Nhật với kèn nổi lên, cờ xí rợp trời. Vũ Trọng Phụng lại chọn cái sân quần bất hủ (cái sân quần ở đầu truyện uể oải với tiếng ve sầu buồn bã và kết thúc truyện với sự náo nhiệt, oai hùng) làm thành “vũ đài chính trị’ mà quyền lực chuyển giao rất nhanh. Với ngôn từ của Vũ Trọng Phụng, cái uy nghiêm ấy phút chốc mà sụp đổ trở thành cái bỡn cợt đầy lố bịch: nước Xiêm bị Đức, Nhật “xui khôn xui dại”, từ những tiếng hô “Nước Pháp dân chủ vạn tuế:, “Thánh cung vạn tuế”, “Chính phủ Bình dân vạn tuế” nhường bước cho tiếng hô “Xuân Tóc Đỏ vạn tuế”, “Sự đại bại vạn tuế”, “Líp líp lơ”. Cái chớt nhả lấn át cái trịnh trọng, chính thống. Bài hùng biện cuối truyện của Xuân Tóc Đỏ có thể nói là một cái cười nhại lớn nữa của Vũ Trọng Phụng đối với các bài diễn văn của các nhà chính khách lúc bấy giờ. Bài diễn văn “rất Tây” với những từ ngữ đao to búa lớn: “hòa bình”, “Tổ quốc”, “nạn can qua”, “hy sinh”, “cao thượng”...kết hợp với ngôn ngữ điệu bộ rất kịch của Xuân Tóc Đỏ: “Nó vỗ vào ngực”, “Nó đấm tay xuống không khí”, “Nó giơ cao tay lên”, “Nó đập tay xuống” đã tạo thành cảnh thăng hoa kiệt xuất của Xuân, đưa nó trở thành một “vĩ nhân” trong mắt quần chúng. Vỡi cái nhại cuối cùng này, Vũ Trọng Phụng đã vạch rõ bản chất giả dối, lừa bịp, mị dân của toàn thể bộ máy chính trị thực dân lúc bấy giờ. Hay đồng nhất cái chính quyền ấy với bản chất bịp bợm, khôn lỏi của hạng người ma cà bông mà thằng Xuân là tiêu biểu.

1.2 Hình tượng Xuân Tóc Đỏ mang tính cách điển hình.

Nếu nói Số đỏ với các đám nhân vật điển hình đủ các hạng người, với những hoàn cảnh điển hình từ gia đình ra xã hội, từ vỉa hè và nhà xăm đến nơi đón rước vua chúa đã làm nên bộ sử thi về xã hội thành thị Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc thì cũng chẳng có gì là quá. Giữa cái xã hội nhố nhăng đó, giữa lúc nhúc những nhân vật kệch cỡm và lố bịch đó thì hình tượng Xuân Tóc Đỏ là nhân vật trung tâm mang những nét tính cách điển hình của cái gọi là “Âu hóa” ấy.

Vậy Xuân Tóc Đỏ là ai? Với thiên tiểu thuyết dài hai mươi chương, ngôn từ của Vũ Trọng Phụng đã tung hoành đầy hứng thú, đã vẽ ra trước mắt mọi người một vùng hoang tưởng khủng khiếp để rồi Xuân Tóc Đỏ từ một tên ma-cà-bông đã trở thành một vĩ nhân cứu quốc.

Trước hết có thể nói, Xuân Tóc Đỏ là một hình tượng cụ thể. Vũ Trọng Phụng đã tạo dựng một nhân vật có đầy đủ tên gọi, hình dáng, điệu bộ cử chỉ, cách nói năng ... Ngôn từ của ông rất thống nhất trong việc tái hiện nhân vật trung tâm này nhưng đồng thời nhà văn cũng luôn sử dụng những đối nghịch để thể hiện tính nhiều mặt của nhân vật.

Ngay cái tên “Xuân Tóc Đỏ” cũng mang những ý nghĩa trái ngược. Tóc đỏ là dấu hiệu điển hình để nhận diện nhân vật này, là kết quả của những năm tháng bươn chải của kiếp ma cà bông khốn khổ: “Mẹ kiếp, chứ xưa nay có mua mũ bao giờ mà tóc chả đỏ”. Thế nhưng với cặp trai gái tân thời ở khách sạn Bồng Lai lại tán dương: “Bẩm, tóc ngài nhuộm đẹp lắm, rất hợp thời trang”.

Còn về điệu bộ, cử chỉ và cách nói năng của Xuân Tóc Đỏ. Nếu theo dõi theo hành trình “số đỏ” của Xuân thì người đọc không khó nhận ra những hành động rất quen thuộc của nhân vật này đã dần dần thích nghi với hoàn cảnh và phát huy quyền lực của nó theo sự thăng hoa của Xuân Tóc Đỏ.

“Xuân Tóc Đỏ cứ sấn sổ đưa tay ra toan cướp giật ái tình...”, “Xuân Tóc Đỏ lại cười hí hí như ngựa...” (chương I)

“Xuân Tóc Đỏ bắt tay xong, ưỡn ngực lên cất giọng lanh lảnh nói to:

-Thưa ngài, ngài là một người chồng mọc sừng” (chương VIII)

“Xuân Tóc Đỏ cứ đứng vênh váo ưỡn ngực ra nhận cái chức đồng nghiệp với ông giám đốc sở.” (chương XIII)

“Xuân Tóc Đỏ” ưỡn ngực lên, dõng dạc nói:

-Còn tôi, thì tôi đang giáo dục cái xác thịt cho cậu ấy và cả mẹ cậu ấy!” (chương VIII)

“Xuân Tóc Đỏ ưỡn ngực ra mà rằng:

-Me sừ Xuân, giáo sư quần vợt, cái hi vọng của Bắc Kì” (chương XVI)

Đặc biệt là màn hùng biện kết hợp với ngôn ngữ điệu bộ rất ăn ý với nhau: “nó vỗ vào ngực”, “nó đấm tay xuống không khí”, “nó giơ cao tay lên”, “nó đập tay xuống”, “Như một bậc vĩ nhân nhũn nhặn, nó giơ quả đấm chào loài người...” (chương XX)

Còn về ngôn ngữ hay cách nói năng thì Vũ Trọng Phụng đã duy trì cho nhân vật này một lớp từ vựng rất điển hình mà ông hội viên hội Khai trí tiến đức muốn xin phép nó để đưa vào từ điển. Đó là lớp từ vựng đầu đường xó chợ của xuất thân kiếp ma cà bông như nó nhưng lớp từ đó cứ mặc nhiên theo Xuân đi vào giới thượng lưu và được chấp nhận cũng như một thứ mốt. Hãy thử điểm lại những phát ngôn của Xuân Tóc Đỏ:

“-Chả nước mẹ gì cả! Than ôi cái cảnh đêm thu tịch mịch càng làm như gợi khách đa sầu!” (Chương I)

“-Mẹ kiếp! Chứ xưa nay có mua mũ bao giờ mà tóc chả đỏ!” (Chương I)

“-Nước mẹ gì! Bóp với chả bóp!” (chương II)

“-Mẹ kiếp! Chứ con với chả cái!” (chương II)

“-thế này thì nước mẹ gì” (chương III )

“-Mẹ kiếp! Quần với chả áo!” (chương III)

“-Mẹ kiếp! Đồ láo” (chương XVII)

“-Thế thì nước mẹ gì cơ chứ” (chương XX)

Về phương diện bề ngoài là như thế, còn khi miêu tả tính cách của Xuân Tóc Đỏ, ngôn từ của Vũ Trọng Phụng đã thỏa sức tung hứng . Tính cách của Xuân Tóc Đỏ chính là những mặt đối lập hoạt kê được thể hiện qua sự tung hứng của các nhân vật bâu quanh nó.

Xuân Tóc Đỏ là ai? Người kể chuyện thì bảo nó là “một đứa vô giáo dục”, “tinh quái”, “thạo đời” và khi nó “bắt đền” vị tiết phụ thì đánh giá nó là đứa “còn biết gì là nghĩa lý, là đạo đức nữa”, thế nhưng lúc khác, người kể chuyện lại bảo “nó thông minh tính bẩm”, nó có nhân nghĩa vì lúc đổi đời thì không quên ơn ông thầy số nghèo; ở chót đỉnh vinh quang, nó vẫn không quên “bà bạn gái” Phó Đoan để xin cho bà cái bằng “Tiết hạnh khả phong Xiêm La”. Vợ chồng nhà Văn Minh thì thừa nhận Xuân Tóc Đỏ “nhanh mồm nhẹ miệng, cử chỉ ngộ nghĩnh” và nhờ nó mà cửa hiệu may Âu hóa phát đạt. Bà Phó Đoan đánh giá nó là “người thông minh, có học thức, bụng dạ hào hiệp”. Đốc tờ Trực Ngôn gọi nó là “ông bạn thân”. Cụ bà cố Hồng gọi nó là “quan bác sĩ”. Sửng sốt nhất là Victor Ban, ông ta như không tin ở mắt mình nữa: thằng Xuân Tóc Đỏ từ thằng ma cà bông thổi loa bán thuốc lậu di tinh, mộng tinh giờ trở thành trang phong lưu quân tử giữa đám người thượng lưu với cách đánh ban rất sang, với giọng điệu trịch thượng. Đó là những nhận định đầy mâu thuẩn. Ngôn từ Số đỏ tạo nên một nhân vật đầy bí ẩn.

Buồn cười nhất là ngay cả chính Xuân tóc Đỏ cũng không hiểu được mình là ai. Có khi nó nói “Tôi thì danh giá gì! Hạ lưu! Ma cà bông! Nhặt ban quần!” hoặc có khi nó bảo với vợ chồng văn Minh “ Con thì không cha, không mẹ, lêu lổng từ bé, nhặt quần, bán phá xa, đã làm nhiều nghề hèn...”, có khi nó thành thực bảo với cụ bà cố Hồng: “Thưa cụ, quả con vô học, xưa nay nhặt ban quần, hạ lưu, không biết thuốc ạ!”. Nhưng có khi nó ưỡn ngực tự giới thiệu: “Me sừ Xuân, giáo sư quần vợt, cây hi vọng của Bắc Kỳ”, hoặc “Me sừ Xuân nguyên sinh viên trường thuốc, giáo sư quần vợt, giám đốc hiệu Âu hóa, phụ nữ tân thời”. Nhưng thật nực cười, lúc nó là nó thì mọi người không chấp nhận. Lúc nó không phải là nó thì mọi người xun xoe phỉnh nịnh. Thành thử thằng Xuân Tóc Đỏ ngỡ ngàng không hiểu nó là ai? Xuân Tóc Đỏ tuy vô học nhưng không phải là kém thông minh. Vì thông minh lại thêm tính cách bịp bợm, láu cá, lừa đảo và tinh quái mà nó sớm thích nghi và từng bước khai thác triệt để cái hoàn cảnh “số đỏ” của nó. Lúc đầu, nó là đối tượng lợi dụng của xã hội thượng lưu tư sản đó. Nhưng dần dần nó đã biến cái xã hội ấy thành đối tượng lợi dụng của nó. Sống trong sự trọng vọng của xã hội tư sản, Xuân dần dần trở nên kiêu ngạo, coi khinh tất cả và thật kì lạ, chính thái độ kiêu ngạo này càng khiến mọi người càng thêm kính sợ. Cái uy tín của Xuân, vì thế cứ “to tướng mãi ra” đến mức nó ưỡn ngực xưng “ta” và gọi quần chúng là “mi” khi diễn thuyết. Nhưng thật kì lạ chính đám đông cuồng nộ kia đã nhất loạt tung hô “Xuân Tóc Đỏ vạn tuế!”. Xuân Tóc Đỏ chính là sự tổng hợp của nhiều tính cách khác nhau, Hoài Anh đã nhận xét rằng “Vũ Trọng Phụng, nhà hóa học của những tính cách” cũng là vì vậy. Ngôn từ Số đỏ đã tạo dựng nên một cái cười nhại đầy tầm cỡ. Số đỏ tái hiện một chế độ nực cười, đầy ảo ảnh.

Có thể nói Xuân Tóc Đỏ là một hình tượng văn học với những nét tính cách điển hình đại diện cho một tầng lớp xã hội lúc bấy giờ. Nếu dùng biện pháp chiếu ứng giữa nhân vật này với hiện thực xã hội đô thị Việt Nam dưới chế độ thực dân thì Xuân Tóc Đỏ là hình mẫu sống động cho cái xã hội “Âu hóa”, cho phong trào Bình dân giả tạo mà giới cầm quyền đang phỉnh nịnh dân chúng. Xuân Tóc Đỏ là cái cầu nối giữa hai giai tầng xã hội hay chính xác hơn là sự kết hợp của hai giai tầng xã hội: tầng lớp thượng lưu kệch cỡm, lố lăng và tầng lớp hạ lưu ma cà bông nghèo hèn, gian manh. Với hình tượng Xuân Tóc Đỏ, Vũ Trọng Phụng đã vạch trần bản chất văn minh Âu hóa, phong trào Bình dân giả dối, mị dân của chế độ cầm quyền. Cái văn minh Âu hóa, cái Mặt trận Bình dân do thực dân Pháp chủ trương chẳng qua chỉ là những trò gian manh, bịp bợm, nhố nhăng, lố bịch của những hạng người như Xuân Tóc Đỏ và giới bạn bè thượng lưu của nó mà thôi.

2.Tính mơ hồ, đa nghĩa của ngôn từ trong Số đỏ:

2.1“Những lớp sóng ngôn từ trong Số đỏ” (từ dùng của Đỗ Đức Hiểu)

Quả đúng như vậy, “Với Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã sáng tạo ra một thể loại tiểu thuyết mới, tiểu thuyết cười, tiểu thuyết đa thanh, đa âm, đa sắc diện, để tái hiện một xã hội đang chuyển động dữ dội, đang hóa thân một cách quái dị”. Và để tái hiện được cái không khí náo nhiệt, xô bồ đó, Vũ Trọng Phụng đã khai thác triệt để khả năng tái hiện của ngôn từ tạo nên tầng tầng lớp lớp những đợt sóng ngôn từ xô đẩy, giằng xé lẫn nhau. Xã hội được mô phỏng trong Số đỏ với sự xuất hiện của nhiều tầng lớp xã hội, với những phong trào chính trị, những trào lưu văn hóa nghệ thuật hổ lốn, trộn lẫn vào nhau. Nhưng giữa những cái ngập ngụa đó vẫn dễ dàng nhận thấy những giọng điệu, những lớp ngôn từ khác nhau của từng lớp người trong Số đỏ.

Trước hết, lớp ngôn từ của vỉa hè thể hiện rõ ngay từ những chương đầu của tiểu thuyết. Đó là không gian vắng lặng, tiêu điều với vài người bán chanh ế ẩm, cô hàng mía đanh đá, ông thầy số ngáp vặt với ngổn ngang những từ ngữ đầu đường xó chợ “chả nước mẹ gì”, “hàng đã ế bỏ mẹ ra thế này...”, “xin một tị! Một tị tỉ tì ti thôi!”. Đó là không gian chật hẹp nơi bóp cảnh sát, gồm bà bán bún chả “đa tư lự”, một thằng ma cà bông đang co ro nằm ngủ “ngáy như kéo gỗ” và vợ chồng con cái người ăn mày bắt chấy cho nhau “rất nên thơ”.

Tiếp đến, là lớp sóng ngôn từ của giới thượng lưu, những ông chủ, bà chủ, những nhà trí thức dự phần vào công cuộc “cải cách xã hội”. Đó là bà Phó Đoan “nhất định thủ tiết với hai ông”, cụ cố Hồng với kiểu ôm ngực ho sù sụ tuy chẳng biết gì nhưng lúc nào cũng “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”, vợ chồng Văn Minh lúc nào cũng “Âu hóa”, “coi trọng Bình dân thôi! Để chỗ cho Bình dân! Bình dân vạn tuế!”, nhà cải cách y phục Týp phờ nờ “Tôi yêu phụ nữ”, thêm vào đó là ông Phán dây thép lúc nào cũng huênh hoang “tôi là một người chồng mọc sừng”, rồi nào là đốc tờ Trực Ngôn, ông Joseph Thiết..., rồi điểm xuyết thêm là cậu Phước đã lớn tồng ngồng nhưng lúc nào cũng ngúng nguẩy “Em chã” ... Tất cả ngôn ngữ đó vừa lôm côm vừa buồn cười đáo để.

Rồi phải kể đến ngôn ngữ “tân thời” của các cô gái tân thời nhại theo văn chương lãng mạn lúc bấy giờ như cô Hoàng Hôn, cô Tuyết với ngôn từ thơ mộng “Tôi là một trang bán sử nữ, nghĩa là còn trinh một nữa...”, “Ê, ê, đốt anh đi”, “Em sung sướng quá! Em muốn chết, anh ạ! Em muốn tự tử...” v.v... Thậm chí, các nhà sư “tân thời” cũng góp mặt trong sân khấu hài Số đỏ như sư Tăng Phú -“vị sư tân thời”, “dốc lòng mộ đạo” với ngôn ngữ đắc thắng: “Bần tăng mà kiện tại tòa thì phải thua hộc máu mồm” và “Tín đồ nhà Phật chúng tôi bút chiến nguyền rủa nhau là ghẻ ruồi, ghẻ Tàu, ghẻ Lào, hắc lào, hóa hủi, cụt chân, cụt tay, thế cơ”. Ngôn từ của các nhà sư “tân thời” là sự trộn lẫn giữa những từ ngữ đạo Phật và từ ngữ tàn bạo...

Rồi còn phải kể đến lớp ngôn từ hành chính của bộ máy quan chức cầm quyền. Chức lớn như ông Giám đốc chính trị Đông Dương với những từ ngữ hùng hồn : “vận mệnh của đất nước”, “nạn chiến tranh”, “Chính phủ Pháp chủ trương hòa bình, các ngài phải trông gương đó mà tránh cho nạn núi xương, sông máu!”, chức nhỏ như các anh Cẩm Minđơ, Mintoa “Buồn lắm, chỉ muốn chết quách” chỉ vì một nỗi “dân chúng chỉ vì báo chí mà đâm ra văn minh, không còn Cẩm phạt nhiều như trước nữa”.

Điểm tô thêm vào bức tranh ngôn từ đa sắc, đa thanh đó là mớ ngôn ngữ lai căng, hỗn tạp của người Việt đang “Tây hóa” hay của cảnh sát Tây, lính Tây với thứ Tiếng Việt lơ lớ nào là “Ơ voa nhé! Mai nhé!”, “Được lắm! Dernieres creations!”, “A bas Xuan! A bas Xuan”... Nhưng lợm cợm giữa cái “hiện đại" đó lại là lớp từ Hán Việt đầy tính nghiêm trang để trở thành lố bịch trong lá số tử vi của ông thầy bói “ Tuần triệt đương đầu kiếp không thân mệnh... Âm dương tuần triệt tại tiền” hay màn đón tiếp vua Xiêm đi thăm Bắc kì với những lời tung hô: “Nước Pháp dân chủ vạn tuế!”, “Thánh thượng vô cương!”...

Có thể nói, ngôn ngữ của đủ hạng người đã tạo thành “lớp sóng ngôn từ” trong Số đỏ. Chúng tồn tại đan xen lẫn nhau, tương phản đối lập nhau, tâng bốc nịnh bợ nhau, thâm nhập lẫn nhau tạo thành một tập hợp hổn loạn những phong cách kì dị, quái gở để biểu đạt chính cái xã hội quái gở ấy.

2.2 “Sự phá sản của ngôn ngữ” (từ dùng của Võ Thị Quỳnh).

Với nghệ thuật trào phúng bậc thầy trong cách dùng từ, đặt câu, Vũ Trọng Phụng đã mang đến cho Số đỏ những lớp nghĩa thật hài hước đến lạ lùng. Nhà văn đã sử dụng biện pháp “đánh tráo khái niệm” , tạo ra những “chân lý” mang đầy tính “phi lý”. Những khái niệm tạo những nét hiểu mới đầy trào phúng trong chính những nét nghĩa tưởng chừng như mâu thuẩn. Hãy điểm lại những “chân lý” đó để mà cùng thấm thía cái sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật gây cười của Vũ Trọng Phụng:

-“Sau cuộc hiếp trái phép đến ngay cuộc hiếp đúng luật, nghĩa là cuộc làm phép cưới”

-“tam giác là ... là cái thẹo! Mà cái thẹo thì là chữ A”; “Cái thẹo lộn xuôi thì mới là chữ U, còn cái thẹo chổng ngược thì chính là chữ A”

-“bao giờ cả xã hội này biết thưởng thức cái đẹp về ... bộ đùi của người đàn bà thì mới hiểu giá trị của những bức vẽ khỏa thân...”

-“Quần áo để tô điểm, để làm tăng sắc đẹp, chứ không phải để che đậy. Bao giờ ... mà y phục tiến bộ đến cực điểm, đi đến chỗ tận thiện tận mỹ, thì nghĩa là y phục phải không còn ... che đậy cái gì của người đàn bà nữa!”

-“Hở cánh tay và hở cổ là Dậy thì.”; “Hở đến nách và hở nữa vú là Ngây thơ””; “Thắt đáy, nở ngực, nở đít là Lời hứa”

-“Phụ nữ nghĩa là vợ con chị em người khác,chứ không phải vợ con chị em của tôi”

-“con cụ là một nhà cách mệnh trong vòng pháp luật...”

-”đồng bóng cũng là một lối thể thao, nhưng lối ấy đã bất hợp thời trang”

-“gọi là sân quần thì ai mà chả tưởng là để phơi quần”

-“mọc sừng là một cái xấu của cấp tiến chứ không phải của bảo thủ”

-“Tôi là một trang bán sử nữ, nghĩa là còn trinh một nữa, nghĩa là demivierge”

-‘ra vì cái vú cao su mà thành ra chúng mình hiểu rõ cái bụng dạ thực thà của nhau! Nếu chúng ta sung sướng, ấy cũng chỉ vì đôi vú cao su của cuộc cải cách xã hội ... vậy.”

-“bà đã lẳng lơ theo đúng nghĩa lý sách vở của thánh hiền, nghĩa là bà được mừng thầm rằng mình đã trót hư hỏng một cách có tính chất khoa học”

Đó là những cách định nghĩa, những chân lý của các nhà cải cách xã hội, những nhà văn minh Âu hóa mà chẳng qua chỉ là những mớ hỗn độn về ngôn từ, đem khái niệm này trộn lẫn với nội hàm của khái niệm khác để tạo ra những cách hiểu mới có tính “hiện đại, văn minh” và kèm theo sau đó là nụ cười kín đáo mà sâu cay của Vũ Trọng Phụng về những thói trưởng giả kệch cỡm, những lối tân thời mà hết sức lố lăng.

“Sự phá sản của ngôn ngữ” còn nằm chính ở ý nghĩa mà từ ngữ biểu thị nữa. Hình thức không còn phù hợp với nội dung thậm chí đi ngược lại nội dung nữa, nghĩa là từ và nội dung biểu thị của từ không đồng nhất với nhau . Chính việc “cố ý” trong sử dụng ngôn từ có tính khoa trương phóng đại như vậy mà Vũ Trọng Phụng đã tạo ra những mâu thuẩn trào phúng làm nối tiếp những tiếng cười trong Số đỏ. Chẳng hạn như bà Phó Đoan - một mụ đầm dâm đãng thì được gọi bằng những cái tên hết sức mĩ miều: “Một me Tây chân chính”, “một tín đồ của chủ nghĩa khỏa thân”, “quyết tâm thủ tiết với hai đời chồng”. Một cụ cố Hồng chẳng biết gì cả nhưng lúc nào cũng chỉ một câu: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”. Sư cụ chùa Bà Banh kiện thưa đến “hộc máu mồm”, “khẩu chiến” về các loại “ghẻ” thì làm gì có đạo đức mà cho mình là người am hiểu “Phật giáo là cao thâm huyền bí lắm”. Đến nhân vật trung tâm là Xuân Tóc Đỏ - một tên ma cà bông gian manh, bịp bợm lại được xưng danh là “quan đốc Xuân”, “cái hi vọng của Bắc Kỳ”, “anh hùng cứu quốc” thì đúng là ngôn ngữ đã đi đến chỗ “phá sản” hoàn toàn.

3. Cách tổ chức tác phẩm - một nội dung quan trọng của thi pháp ngôn từ Số đỏ.

Muốn đánh giá đúng một tác phẩm thì phải xác định được thể loại và khuynh hướng sáng tác của nó. Nói về thể loại của Số đỏ thì giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng đây là một cuốn “tiểu thuyết trào phúng viết theo khuynh hướng chủ nghĩa hiện thực” còn Võ Thị Quỳnh lại cho rằng đây là cuốn “tiểu thuyết phóng sự”. Vũ Trọng Phụng được mệnh danh là “Vua phóng sự đất Bắc” nên phóng sự là một thể loại rất thành công của ông và nhờ đó mà ông có tầm hiểu biết sâu rộng về cuộc đời cũng như một nhãn quan nghệ thuật rất sắc sảo. Nhìn vào các tiêu đề của truyện mới thấy sự khác thường của Số đỏ với những cuốn tiểu thuyết cùng thời. Tác phẩm có hai mươi chương, trừ chương XVI (có hai tiêu đề) thì các chương còn lại đều có ba tiêu đề. Trong từng chương, các tiêu đề này thật xa lạ và không ăn khớp gì với nhau:

Chương V:

Bài học tiến bộ của Xuân Tóc Đỏ

Hai quan điểm về gia đình và xã hội

Vâng, tôi là người chồng mọc sừng!

Chương XIV:

Ôi, nhân tình thế thái

Người bạn gái trung thành chết

Quan đốc Xuân nổi giận

Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy là các tiêu đề trong từng chương có tính câu khách, giật gân đầy hấp dẫn theo kiểu phóng sự. Toàn bộ hai mươi chương với năm mươi chín tiêu đề rời rạc, độc lập nhưng khi đặt nó vào hệ thống hoàn chỉnh của tác phẩm thì lại đủ sức khái quát đầy đủ toàn bộ nội dung tác phẩm.

Khi xem xét kỹ lưỡng các tiêu đề thì ta sẽ phát hiện dụng ý nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng trong việc sử dụng ngôn từ có tính mâu thuẩn, đối lập ngay chính trong cấu trúc của một tiêu đề chẳng hạn như: “ Minh + Văn = Văn Minh” (chương I); “Cuộc khẩu chiến của mấy nhà khoa học” (chương VII); “Cảnh Bồng Lai trên cõi thế”, “Một triết lý của người đàn bà ngoại tình” (chương IX); “Một cuộc tranh nhau mọc sừng” (chương X); “Hạnh phúc của một tang gia”, “Một đám ma gương mẫu” (chương XV);“Vụ hiểu lầm sung sướng vinh quang” (chương XVI); Chính vì cấu trúc tiêu đề chương mang sẵn cấu trúc mâu thuẩn như vậy mà kích thích trí tò mò, tưởng tượng của người đọc, tạo nên sự hấp dẫn từ đầu đến cuối của tác phẩm cũng như làm nên nghệ thuật trào phúng rất thành công của tác giả.

Bên cạnh cách đặt tên tiêu đề chương thì cách đặt tên cho nhân vật của Vũ Trọng Phụng cũng đáng chú ý tìm hiểu. Trong gần ba mươi nhân vật thì có rất ít nhân vật có tên cụ thể như: Xuân, Tuyết, Joseph Thiết, Victor Ban. Còn các nhân vật còn lại, tên gọi được cấu tạo theo các kiểu sau: Gọi theo tính chất công việc: Chị hàng mía, ông thầy bói, bà Phó Đoan, ông Cẩm Tây, Nhà Mỹ thuật, ông Phán dây thép... Gọi theo tính cách, dấu hiệu đặc biệt: ông Đốc Trực ngôn, Xuân tóc đỏ,cụ cố Hồng, cậu tú Tân, cụ Lang tỳ, cụ Lang Phế, cậu Phước, sư Tăng Phú ... Gọi theo tên nhân vật khác: vợ nhà Mỹ thuật, cụ bà, Người nhân tình, văn Minh vợ, văn Minh chồng, ... Nguyễn Phong Nam cho rằng “cách gọi tên không đơn thuần là một ký hiệu đại diện nhân vật mà chủ yếu là bộc lộ một cách nhìn, một thái độ của người kể chuyện đối với nhân vật”. Các nhân vật đặt tên theo kiểu gián tiếp là phổ biến trong tác phẩm phải chăng đã khắc sâu, nhấn mạnh hơn đặc điểm nhân vật, đồng thời làm nhòe đi nét xác thực, nét cá thể của nó, tạo nên biểu tượng về nhân vật. Thành thử, các nhân vật này lại trở thành các nhân vật mang tính khái quát, điển hình cho một lớp người nào đó trong xã hội.

Một yếu tố ngôn từ góp phần làm nên sự vang danh của Số đỏ phải kể đến việc dùng từ, ngữ pháp của tác phẩm. Số đỏ là cái cười nhại xã hội “Âu hóa” của đô thị Việt Nam dưới chế độ thực dân Pháp cai trị. Vũ Trọng Phụng đã diễn tả trung thực tinh thần đô thị ấy, ở đây chính là những sự kiện chớp nhoáng, hấp tấp, vội vã. Tất cả là ngẫu nhiên, là vô trách nhiệm, đầy lộn xộn, rối rắm. Biết bao nhiêu liên từ, trạng từ, phó từ “chợt”, “tự nhiên”, “tình cờ”, “vừa lúc ấy”, “đột ngột”... tác giả đã sử dụng để miêu tả cái tinh thần đô thị ấy: “Xuân chợt thấy bóng bà Văn Minh”, “Tuyết chợt nhìn thẳng ra phía xa”, “chợt cánh cửa bị đẩy mạnh”, “chợt Xuân Tóc Đỏ nghe thấy sau lưng nó”, “Xuân Tóc Đỏ bỗng trông thấy ông thầy số”, “lúc ấy, tình cờ ở nhà cụ cố Hồng, có đủ mặt”, “tức thì ông cụ ngồi nhỏm dậy cả quyết: “tôi sẽ gả con Tuyết cho thằng Xuân”... và còn nhiều nữa. Chức năng của những từ này rất đa dạng: đó là sự chuyển tiếp, đó là sự bất ngờ - biến cố trên chưa kết thúc, biến cố dưới đã ập đến, đó là cái ngẫu nhiên, cái không ổn định, cái bất trắc, cái số phận bị động của con người. Sự “Âu hóa”, “cải cách xã hội” vì thế cũng chỉ là sự áp đặtt, sự cưỡng bức được diễn đạt bằng một thời gian phi nước đại đầy cập rập, mong manh có thể đứt gánh giữa đường lúc nào không biết.

Đó là về cách dùng từ còn cách lựa chọn cấu trúc câu văn cũng là điều đáng chú ý của tác phẩm này. Vũ Trọng Phụng đã sử dụng đa dạng các kiểu câu nhưng nổi bật nhất là các dạng câu cảm thán, câu định nghĩa, câu so sánh. Với dạng câu định nghĩa, tác giả đã đưa ra nhiều cách định nghĩa mới mẻ đầy hài hước theo tinh thần “cải cách xã hội” :

-“tam giác là ... là cái thẹo! Mà cái thẹo thì là chữ A...”

-“Hở cánh tay và hở cổ là Dậy thì. “Hở đến nách và hở nữa vú là Ngây thơ””; “Thắt đáy, nở ngực, nở đít là Lời hứa”

-“Vì mọc sừng là cái xấu của cấp tiến chứ không phải của bảo thủ”

-“Tôi là một trang bán sử nữ, nghĩa là còn trinh một nữa” .....

Còn các dạng câu so sánh thì đưa ra những hình ảnh khập khiểng , đối sánh bất ngờ cũng không ngoài mục đích tạo ra tiếng cười trào phúng:

-“Phòng giam thì bằng cái lỗ mũi”

-“Mỗi khi bắt phạt được một đám thì nhân viên sở cẩm sướng như trúng số độc đắc”

-Cụ cố Hồng “ngáp như một nhà buôn gặp hồi kinh tế khủng hoảng”

-“Xuân Tóc Đỏ không hiểu rằng mình đã bị khinh bỉ như một nhà đạo đức chân chính bị khinh bỉ”

-“Cụ ông bèn ngáp dài một cái, nước mắt nước mũi chảy ra như những người nghiện thuốc phiện đứng đắn và hút có phương pháp”

-Sư ông lấm lét nhìn Xuân rồi gãi tai “như một sư ông hợp thời trang”.

Một loại câu cũng rất được Vũ Trọng Phụng khai thác là câu cảm thán. Với loại câu này, tác giả đã làm cho sắc màu trào phúng càng thêm rõ nét đồng thời gián tiếp thể hiện thái độ châm biếm của nhà văn. Thử điểm một số câu nói đầy tính cường điệu trong tác phẩm :

-Văn Minh khen ngợi ý tưởng tham gia thể thao của bà Phó Đoan: “Một cuộc đắc thắng của thể thao! Một cuộc tiến bộ của nước Việt Nam! Sự cường thịnh của nòi giống!”

-Các thầy cảnh sát than thở vì không còn được phạt nhiều như trước bởi vì: “Ngày nay dân ta văn minh mất rồi, rõ thảm hại!”

-Nhà thiết kế trang phục TYPN than thở vì công chúng không hiểu nổi những tác phẩm đầy”sáng tạo” của anh ta: ‘Trời ơi! Cái óc mỹ thuật của bình dân Việt Nam thật là thảm hại!”

-Tiếng reo của Xuân Tóc Đỏ và Tuyết vì cho rằng nhờ đôi vú cao su mà Xuân đã “kiểm tra” và phát hiện “hàng thật” của Tuyết để rồi bắt đầu một “tình yêu”: “Âu hóa vạn tuế! Vú cao su vạn tuế!”

-Sự ngưỡng mộ, khâm phục đến mụ mẫm của quần chúng đối với trận ban thất bại của Xuân Tóc Đỏ từ đó đẩy nó lên vị thế của bậc “vĩ nhân”, “ anh hùng cứu quốc”: “ Xuân Tóc Đỏ vạn tuế! Sự đại bại vạn tuế!”

Vơi thủ pháp cường điệu, khoa trương trong cách dùng từ đặt câu, ngôn từ của Số đỏ làm đậm thêm chất trào phúng, cứ từ từ, thong thả mà đưa cái “xã hội đang trên đà Âu hóa” ấy bước lên những bậc thang trào phúng và đột ngột rơi vào tiếng cười châm biếm thỏa thuê lúc nào không biết.

4.Giọng điệu trần thuật:

Số đỏ là một tiểu thuyết trào phúng độc đáo. Ngay chính lời văn, giọng điệu trần thuật trong tác phẩm cũng thấm đẫm chất trào phúng ấy. Số đỏ được trình bày theo giọng điệu cợt nhả, nhạo báng, châm chọc. Trong giọng điệu này, có thể phân thành nhiều sắc thái, nhiều lối vẻ khác nhau. TS.Nguyễn Phong Nam nhận xét rằng “Số đỏ là tác phẩm có nhiều giọng điệu, là một ví dụ tiêu biểu cho tính chất hiện đại của văn xuôi nước nhà”. Sở dĩ Số đỏ có nhiều giọng điệu, bởi vì bản thân người kể phải đảm đương nhiều vị trí khác nhau: vừa là người dẫn dắt câu chuyện vừa là quần chúng để đánh giá nhân vật nhưng cũng có khi người kể lại hóa thân thành nhân vật để nói hộ suy nghĩ, bày tỏ thái độ giúp nhân vật. Điều này giúp cốt truyện trở nên khách quan hơn, giúp người đọc đánh giá được nhân vật hay sự việc toàn diện hơn từ nhiều góc nhìn khác nhau. Nhưng dù nhìn ở góc độ nào đi nữa thì giọng điệu chính vẫn là trào phúng, là những kiểu cười khác nhau về sắc thái mà thôi.

Thử tìm hiểu một số đoạn giới thiệu về các nhân vật “tên tuổi” trong tác phẩm:

-Đây là nhân vật Văn Minh: ‘Từ độ được nhiều người gọi là Văn Minh, ông ta thấy cần phải chủ trương cuộc Âu hóa thì cái tên mới khỏi vô nghĩa. Một cái linh hồn khỏe trong một cái xác thịt khỏe! Phát minh được chân lý ấy rồi, đi đâu ông cũng hăng hái cổ động cho thể thao. Vợ ông trước nhất, rồi đến người khác. Ông không thể thao, thể dục cũng không, vì không có thì giờ!(người dẫn nhập vai nhân vật để phân bua) Cái chương trình Âu hóa của ông ta làm cho ông ta lúc nào cũng phải trầm tư mặc tưởng.” Giọng điệu trần thuật rất tỉnh táo nhưng rất hài hước, ngôn từ đây mâu thuẩn hay “đảo ngược thế giới khách quan”. Người ta chủ trương Âu hóa để làm nên sự văn minh, còn ở đây vì cái tên của ông là Văn Minh nên bắt buộc ông phải làm Âu hóa. Người ta “phát minh” ra những sáng chế khoa học thì ông “phát minh” ra “chân lý” mà là “chân lý” của phần “con” nhiều hơn cái phần “người”: ‘một linh hồn khỏe trong một cái xác thịt khỏe!”. Mâu thuẩn ngay trong chủ trương “hăng hái cổ động cho thể thao” với thực tế “ông không thể thao, thể dục” gì sất. Giọng điệu tỉnh táo nhưng châm biếm kín đáo đã phần nào giới thiệu một con người “thùng rỗng kêu to”, rởm đời mà thôi.

-Đây là nhân vật bà Phó Đoan được giới thiệu với giọng điệu châm chọc bỡn cợt trong từng câu văn cụ thể: “Còn lai lịch bà Phó Đoan, thì kể ra nghe cũng hay hay” (giọng nhạo báng ngấm ngầm). “Hồi đương xuân, bà bị một người lính Tây hiếp, lúc bà mới ở nhà quê ra tỉnh xem hội Đình Chiến. Sau cuộc hiếp trái phép đến ngay cuộc hiếp đúng luật, nghĩa là cuộc làm phép cưới.” ( giọng điệu nhạo báng cao hơn không chút thương cảm cho chuyện “bị hiếp” mà buồn cười vì chuyện “hiếp đúng luật”). “Người lính ấy sau thành một ông Phó Đoan” (giọng điệu có phần ngạc nhiên lạ lùng vì hành vi xấu xa nhưng phát triển thành quan lại.) “Ăn ở với nhau độ mười năm, ông Phó Đoan chết, chết trung thành với nhà nước, chết chung tình với vợ, chết như những người yêu vợ quá sức. Rồi bà lấy một ông Phán trẻ được hai năm thì ông chồng nội hóa cũng lăn cổ ra chết.” (giọng điệu hài hước dù kể về hai cái chết của hai ông chồng ) “Vì lẽ chưa ai thấy bà có nhân tình, nên những ngọn lưỡi rắn độc phao rằng những ngọn lửa tình do những kẻ chim bà không được đã khêu lên, bà bắt ông Phán phải dập tất cả.”(người dẫn truyện nhại giọng điệu phân bua của bà Phó Đoan để cải lại với thiên hạ). “bà chính chuyên đến nỗi chồng bà kiệt lực, cạn lực, phải trốn xuống suối vàng” (giọng điệu đầy mỉa mai, lột rõ bản chất dâm đãng của bà Phó Đoan).

-Để làm rõ tính cách nhân vật chính, người kể chuyện có khi hoàn toàn nhập vai Xuân Tóc Đỏ : “Xuân đứng cười thầm một mình, bà Phó Đoan tuy già nhưng còn hư hơn các thiếu nữ ngây thơ nhiều, điều ấy nó biết lắm. Nó chỉ gật đầu một cái là ăn thua ngay! Nhưng mà già như thế thì còn ... nước mẹ gì! Họa chăng có các tiền! Nó nghĩ thế rồi càng phục ông thầy số là tài, khi ông bảo nó năm nay gặp vận đào hoa.” Ở đây, người dẫn truyện đã thật sự nhập thân vào nhân vật Xuân Tóc Đỏ, bởi lẽ cái kiểu phát ngôn kia, cái từ “nước mẹ” kia, cái dấu chấm cảm đầy băn khoăn suy tính kia thì đích thị là giọng điệu thằng Xuân rồi. Giọng điệu trần thuật như vậy càng góp phần làm sáng tỏ chiều sâu nội tâm của nhân vật.

-Phần nhiều lời văn trong Số đỏ là lời đối thoại, các lời miêu tả rất ít. Nhưng ngay trong những đoạn đối thoại sôi nổi đó, lời người dẫn truyện dù xuất hiện ít nhưng lại vô cùng cần thiết. Những lời dẫn xen kẻ lời thoại càng góp phần cụ thể hóa tính cách, suy nghĩ, thái độ của nhân vật. Chẳng hạn như đoạn đối thoại giữa Xuân Tóc Đỏ và Tuyết ở khách sạn Bồng Lai:

“Ngừng một lúc, Tuyết lại nói:

-À, thế cụ via và bà cụ ở nhà thế nào?

Ngơ ngác mất vài phút để đủ thì giờ hiểu, Xuân mới nói một cách buồn rầu:

-Anh chẳng may bồ côi sớm.

Tuyết chớp hai con mắt lúc đó lóe những ánh sáng hạnh phúc, nói:

-Cứ một điều ấy cũng đủ cho anh đáng mặt lấy tôi làm vợ đấy! Tôi lấy anh thì tôi không có mẹ chồng! Sướng chưa! Bồ côi sớm như anh thế là tốt số lắm!”

Trong ba câu dẫn truyện trên, dù rất ngắn gọn, rất kiệm lời nhưng vẫn cung cấp thêm những nét tính cách của các nhân vật đối thoại: Xuân Tóc Đỏ thì thành thật, có phần lạ lẫm vì chưa thích nghi với ngôn ngữ “văn minh” của Tuyết, còn Tuyết thì lạnh lùng, thực dụng đến độ “vô duyên” trước bất hạnh của người khác. Lời trần thuật và lời đối thoại rất ăn khớp với nhau, tung hứng với nhau góp phần tạo nên tính lô-gíc, kết cấu hoàn chỉnh của tác phẩm.

Còn đối với những lời thoại của nhân vật thì giọng điệu cũng hết sức độc đáo. Các nhân vật tác động lẫn nhau, kết hợp lẫn nhau, tung hứng cho nhau dẫn đến một sự cộng hưởng về giọng điệu. “Nhân vật này nhại lại giọng điệu của nhân vật khác. Các nhân vật nhại lời nhau, người kể cũng lại phỏng nhại lời nhân vật để câu chuyện phát triển” (nhận xét của Nguyễn Phong Nam). Ví dụ như câu: “Chúng tôi rất được hân hạnh” được Xuân Tóc Đỏ dùng thường xuyên là nhại lại lời của nhà mỹ thuật trang phục. Câu nói của Văn Min Nguyễn Thị Bích Vân @ 15:14 06/07/2014 Số lượt xem: 12035

Link nội dung: https://melodious.edu.vn/nhung-cau-noi-hay-trong-so-do-a96469.html