Xã Tên khácSấu Giá, Cổ SởHành chínhQuốc gia Việt NamThành phố Hà NộiThành lập
1945 (thành lập)
16/6/2025 (tái lập)
Địa lýTọa độ: 21°3′39″B 105°39′57″Đ / 21,06083°B 105,66583°Đ / 21.06083; 105.66583 Diện tích17,41 km²Dân số (2025)Tổng cộng58.830 ngườiKhácWebsiteduonghoa.hanoi.gov.vn
Dương Hòa là một xã ngoại thành nằm ở phía Tây thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 trong đó về việc sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Cát Quế, Đắc Sở, Dương Liễu, Minh Khai, Yên Sở (huyện Hoài Đức cũ) thành xã mới có tên gọi là xã Dương Hòa.[1]
Xã Dương Hòa có vị trí địa lý:
Phía Bắc giáp xã Đan Phượng và xã Hát Môn.
Phía Tây giáp xã Quốc Oai.
Phía Nam giáp xã Sơn Đồng.
Phía Đông giáp xã Hoài Đức.
Đình Yên Sở
Xã Dương Hòa được thành lập vào năm 1945 trên cơ sở tách 2 làng Dương Liễu và Mậu Hòa thuộc tổng Dương Liễu, huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.
Xã Dương Cát được thành lập vào năm 1945 trên cơ sở tách 4 làng Cát Ngòi, Đắc Sở, Quế Dương, Yên Sở thuộc tổng Dương Liễu, huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.
Năm 1956, xã Dương Hòa tách thành 2 xã Dương Liễu và Minh Khai, xã Dương Cát tách thành 3 xã Cát Quế, Đắc Sở, Yên Sở.
Xã Dương Hòa gồm có 46 thôn: Minh Hiệp 1, Minh Hiệp 2, Minh Hiệp 3, Minh Hòa 1, Minh Hòa 2, Minh Hòa 3, Minh Hòa 4, Chàng Chợ, Đồng Phú, Hòa Hợp, Chùa Đồng, Mới, Chàng Trũng, Đồng, Đình Đầu, Quê, Gia, Hợp Nhất, Me Táo, Thống Nhất, Đoàn Kết, thôn 1, thôn 2, thôn 3, thôn 4, thôn 5, thôn 6, thôn 7, thôn 8, thôn 9, thôn 10, Yên Sở 1, Yên Sở 2, Yên Sở 3, Yên Sở 4, Yên Sở 5, Yên Sở 6, Yên Sở 7, Yên Sở 8, Yên Sở 9, Đông, Trung Kỳ, Sơn Hà, Đông Hạ, Chùa Ngụ, Diềm Xá.[2]
Trên địa bàn xã 2 thôn Cát Ngòi và Quế Dương có một phần người dân theo đạo Thiên chúa.
Đình và chùa trên địa bàn xã đã được nhà nước xếp hạng công nhận là di tích lịch sử văn hoá.
Trên địa bàn xã Dương Hòa có nhiều di tích lịch sử cấp quốc gia là Quán Giá - Rừng Giá; chùa Hương Trai; đền Mẫu Quế Duơng;[3] đền Vật;[4] đền Mậu Hòa; đền Dương Liễu; chùa Đại Bi; chùa Vĩnh Phúc;
Quán Giá là nơi thờ Tướng công Thái uý Lý Phục Man một người con của làng Giá - Yên Sở đã có công giúp Lý Bí lập nên nhà nước Vạn Xuân ở thế kỷ thứ VI.
Danh sách di tích, di chỉ trên từng khu vực xếp theo số lượng:
- Thôn Quế Dương có 9 điểm: di chỉ khảo cổ học Vinh Quang, chùa Đại Bi, chùa Vĩnh Phúc, chùa Phổ Am, đình Quế Dương, đền Vật, đền mẫu Quế Dương, võ chỉ Quế Dương, nhà thờ hoàng giáp Nguyễn Thúc Thông và tiến sĩ Nguyễn Tiên Sạn.
- Thôn Dương Liễu có 8 điểm: trong đó thôn Dương Liễu cổ có 6 điểm như chùa Hương Trai, chùa Linh Châu, đền Dương Liễu, đình hàng tổng, nhà thờ tiến sĩ Phí Đăng Nhậm, nhà thờ tiến sĩ Nguyễn Danh Dự. Ngoài ra xưa kia cạnh thôn Dương Liễu có thôn Khả Liễu nay đã chuyển đi nhưng để lại 2 di tích là đình Khả Liễu nay là điếm Hạ thôn Hoa, chùa Khả Liễu hay chùa Đồng.[5]
- Thôn Yên Sở có 6 điểm: chùa Pháp Vũ, chùa Ngọc Tân, quán Giá, văn chỉ Yên Sở, chùa Lụa, từ chỉ Trần Danh Tiêu.[6]
- Thôn Mậu Hòa có 4 điểm: chùa Địa Linh, đền Mậu Hòa, đình Mậu Hòa, nhà thờ tiến sĩ Nguyễn Ích Tốn.[7]
- Thôn Đắc Sở có 4 điểm: chùa Phúc Lâm, đình Đắc Sở, nhà thờ lãnh binh Vương Trí Hải, tượng đài Tiếng Bom Sấu Giá.[8]
Trên địa bàn xã Dương Hòa có 3 làng nghề chế biến nông sản ở Dương Liễu, Cát Quế và Minh Khai với sản phẩm nổi bật là miến dong. Ngoài ra xã còn có đặc sản bánh gai ở Yên Sở và vùng Đắc Sở chuyên trồng phật thủ.[11][12]
Xã Dương Hòa có nhiều đặc sản, sản vật địa phương như:
Bánh gai làng Giá[13]
Bánh tro Đắc Sở
Miến dong, bún khô Minh Khai
Miến dong, bún khô Dương Liễu
Phật thủ Đắc Sở
Bưởi đường Quế Dương[14]
Các tuyến giao thông quan trọng trên địa bàn xã Dương Hòa:
Đường vành đai 4 Hà Nội
Đường tỉnh 422: Hoài Đức - Quốc Oai
Đường đê tả Đáy (đoạn qua xã có tên là đường Lý Phục Man): kết nối với Quốc lộ 32, Đại Lộ Thăng Long, Quốc lộ 6...
Hệ thống xe buýt: 66, 163.
Lý Phục Man: Vị tướng thời vua Lý Nam Đế. Quê ở thôn Yên Sở.
Nguyễn Thúc Thông (1425 - ?): Hoàng giáp năm Thái Hòa thứ 6 (1448). Quê ở thôn Quế Dương.
Nguyễn Ích Tốn (1455 - 1510): Đồng tiến sĩ xuất thân năm giáp thìn 1484 niên hiệu Hồng Đức thứ 15, ông là một trong Tao Đàn nhị thập bát tú. Quê ở thôn Mậu Hòa.
Nguyễn Tiên Sạn (1510 - 1586): Tiến sĩ năm nhâm thìn 1532 niên hiệu Đại Chính thứ 3 triều Mạc. Quê ở thôn Quế Dương, ông chính là cháu nội của Hoàng giáp Nguyễn Thúc Thông, làm quan giữ chức Đề Hình Giám Sát Ngự Sử.
Nguyễn Danh Siêu (? - ?): Tả Đô Đốc hàm tòng nhất phẩm làm quan dưới triều Lê Trung Hưng. Quê ở giáp Bài Thượng thôn Quế Dương, hiện được thờ tại di tích Võ Chỉ Quế Dương hay còn gọi Cầu Hàng Đội.
Nguyễn Diễn (? - ?): Thượng tướng, Thế quận công, Khuê Trung hầu, quốc lão hoa công thời Lê Trung Hưng. Quê ở thôn Quế Dương, hiện thờ tại di tích Võ Chỉ Quế Dương.
Nguyễn Hiền Tài (? - ?): Tán trị công thần, đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, thái thường tự khanh, tước Văn Quế tử, ông kiêm nhiệm cả hai ban văn võ nên cũng là võ quan với chức vụ đô chỉ huy sứ ty hàm chánh tam phẩm thời Lê Trung Hưng. Quê ở giáp Bài Thượng thôn Quế Dương, hiện thờ tại di tích Võ Chỉ Quế Dương. Ông làm quan khoảng niên hiệu Đức Long (1629-1634).
Nguyễn Phi Kiến (1564 - 1628): Tiến sĩ năm Vĩnh Tộ thứ 5 (1623). Quê ở thôn Dương Liễu.
Phí Đăng Nhậm (1618-?): Tiến sĩ năm 1661 thời vua Lê Thần Tông. Quê ở thôn Dương Liễu.
Nguyễn Danh Dự (1657 - 1714): Danh thần thời Lê trung hưng. Quê ở thôn Dương Liễu.
Trần Danh Tiêu (1709 - 1758): Hàn Lâm Đại Học Sĩ, Phượng Lĩnh bá trụ quốc. Quê ở thôn Yên Sở.
Nguyễn Văn Uyên: Hộ Bộ Đô Lại triều Lê Trung Hưng. Quê giáp Vĩnh Trung thôn Quế Dương, hiện thờ tại di tích Võ Chỉ Quế Dương.
Trần Nhuận: Hiệu Uý Các Nha, võ quan đời Lê Trung Hưng. Quê ở giáp Vĩnh Trung thôn Quế Dương, hiện thờ tại di tích Võ Chỉ Quế Dương.
Nguyễn Chiếu Minh: Hiệu Uý Các Nha, võ quan đời Lê Trung Hưng. Quê ở giáp Vĩnh Trung thôn Quế Dương, hiện thờ tại di tích Võ Chỉ Quế Dương.
Nguyễn Quý Công (? - ?): Phó bảng ngạch võ khoảng niên hiệu Tự Đức nhà Nguyễn, làm quan tới chức Chánh Lãnh Binh hàm chánh tam phẩm. Quê ở thôn Quế Dương, hiện thờ tại di tích Võ Chỉ Quế Dương.
Vương Trí Hải tự Phúc Quảng: Phó quản cơ, lãnh binh niên hiệu Tự Đức nhà Nguyễn. Quê ở thôn Đắc Sở.
Nguyễn Bá Luận (1887 -1968): Hồng Lô Tự Khanh triều Nguyễn. Quê ở thôn Dương Liễu.
Nguyễn Quang Dương (sinh năm 1962): Nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương. Quê gốc thôn Quế Dương nay vẫn còn từ đường, sau này chuyển lên sống ở thôn Dương Liễu.
Nguyễn Quang Đức (sinh năm 1971): Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương. Quê gốc thôn Quế Dương nay vẫn còn từ đường, sau này chuyển lên sống ở thôn Dương Liễu
Dương Nghiễm Mậu (1936 - 2016): Nhà văn Việt Nam. Quê ở thôn Mậu Hòa.
Kim Xuyến (sinh năm 1945): Nghệ sĩ ưu tú, diễn viên. Quê ở thôn Yên Sở.