Chủ nghĩa duy vật lịch sử là gì?

Toàn bộ lịch sử nhân loại chính xác là ở cuộc đấu tranh của nhân loại để nâng bản thân mình vượt lên trên mức độ con vật. Cuộc đấu tranh dai dẳng này bắt đầu 7 triệu năm trước khi những tổ tiên hominin xa xôi của chúng ta lần đầu tiên đứng thẳng và có thể giải phóng bàn tay để lao động. Kể từ đó, những giai đoạn phát triển xã hội kế tiếp nhau đã nảy sinh trên cơ sở những thay đổi trong sự phát triển của lực lượng lao động sản xuất, tức là, năng lực của chúng ta đối với giới tự nhiên.

Xã hội loài người đã trải qua một chuỗi các giai đoạn mà có thể phân biệt một cách rõ ràng. Mỗi giai đoạn dựa trên một hình thái sản xuất xác định, nó đến lượt tự biểu lộ trong một hệ thống các quan hệ xã hội xác định. Chúng tiếp tục tự biểu lộ trong quan điểm xã hội, tâm lý, đạo đức, luật pháp và tôn giáo xác định.

Quan hệ giữa cơ sở kinh tế của xã hội và kiến trúc thượng tầng (hệ tư tưởng, đạo đức, luật pháp, nghệ thuật, tôn giáo, triết học, v.v.) là không đơn giản và trực tiếp mà hết sức phức tạp và thậm chí còn mâu thuẫn. Những sợi dây vô hình kết nối lực lượng sản xuất và quan hệ giai cấp được phản ánh trong đầu óc của con người một cách méo mó và mơ hồ. Và các ý tưởng vốn bắt nguồn từ quá khứ nguyên thủy có thể đeo bám vào tinh thần tập thể trong một thời gian rất dài, bền bỉ ngoan cường rất lâu sau khi cơ sở thực tại qua đó chúng phát sinh đã biết mất. Tôn giáo là một ví dụ rõ ràng cho điều đó. Đó là mối tương quan biện chứng. Điều này được Engels giải thích một cách rõ ràng:

“Còn nói về những lĩnh vực tư tưởng lơ lửng ở cao hơn nữa trên không trung, như tôn giáo, triết học, v.v., thì chúng đã có một nội dung tiền sử, mà thời đại có sử sách đã thấy có sẵn và tiếp nhận, nội dung mà bây giờ chúng ta phải gọi là sự ngu xuẩn. Những quan niệm sai lầm muôn vẻ ấy về thiên nhiên, về sự cấu tạo của bản thân con người, về những thần linh, về những lực lượng bí ẩn v.v., phần lớn chỉ có một yếu tố kinh tế tiêu cực làm cơ sở, những quan niệm sai lệch về thiên nhiên là cái bổ sung cho trình độ phát triển thấp kém của thời kỳ tiền sử, nhưng phần nào cũng là điều kiện và thậm chí là nguyên nhân của trình độ thấp kém đó. Và mặc dù nhu cầu kinh tế là động lực chính, ngày càng lớn mạnh của sự hiểu biết ngày càng nhiều về thiên nhiên, nhưng chúng ta sẽ chỉ là thông thái rởm nếu cứ đi tìm những nguyên nhân kinh tế cho tất cả những điều ngu ngốc nguyên thủy đó.”

“Lịch sử của khoa học là lịch sử của sự gạt bỏ dần dần những điều ngu ngốc đó, hay là của sự thay thế những điều ngu ngốc đó bằng những điều ngu ngốc mới nhưng ngày càng ít phi lý hơn. Những người gánh trách nhiệm làm việc ấy cũng lại nằm trong những lĩnh vực riêng biệt của sự phân công lao động, và họ tưởng rằng họ làm việc trong một lĩnh vực độc lập. Và trong chừng mực họ là một nhóm độc lập trong sự phân công lao động xã hội thì những hoạt động sản xuất của họ, kể cả những sai lầm của họ, đều tác động trở lại vào toàn bộ sự phát triển của xã hội, và cả sự phát triển kinh tế nữa. Nhưng mặc dầu thế, họ cũng vẫn phải chịu ảnh hưởng chi phối của sự phát triển kinh tế” (Thư và trích thư, Marx-Engels 1984, tr736-7)

Rồi tiếp:

“Thế nhưng, là một lĩnh vực nhất định của sự phân công lao động, triết học của mỗi thời đại phải có một số vật tư tư tưởng nào đó do các triết học trước đó truyền lại, làm xuất phát điểm. Đó là lẽ tại sao những nước lạc hậu về kinh tế lại có thể giữ vai trò đi đầu trong triết học.” (nđd, tr738)

Mọi ý thức hệ, truyền thống, đạo đức, tôn giáo, v.v., đều đóng vai trò quan trọng trong việc định hình tín ngưỡng của con người. Chủ nghĩa Marx không phủ nhận sự thật hiển nhiên này. Đối lập với những gì mà các nhà duy tâm tin vào, ý thức của con người nói chung là cực kỳ bảo thủ. Hầu hết mọi người đều không thích sự thay đổi, đặc biệt là những thay đổi đột ngột và mạnh mẽ. Họ sẽ bám vào những gì họ biết và quen thuộc: tư tưởng, tôn giáo, thiết chế, đạo đức, lãnh đạo và đảng phái trong quá khứ. Thủ tục, thói quen và phong tục tất cả đều nằm như khối chì đè nặng lên vai nhân loại. Vì tất cả những lý do đó ý thức bị tụt lại về phía sau các sự biến.

Tuy nhiên, ở những giai đoạn nhất định những sự kiện lớn lao buộc con người phải chất vấn những niềm tin và nhận định cũ của mình. Họ bị bật ra khỏi sự uể oải đã lâu, sự thờ ơ vô cảm và buộc phải chấp nhận thực tại. Trong những giai đoạn như vậy, ý thức có thể thay đổi một cách mau chóng. Nó cho thấy thế nào là một cuộc cách mạng. Và con đường phát triển xã hội, cái có thể vẫn khá bằng phẳng và không thay đổi trong những giai đoạn lâu dài, đã bị ngắt quãng bởi những cuộc cách mạng vốn là động lực cần thiết của tiến bộ nhân loại.

Link nội dung: https://melodious.edu.vn/da-man-la-gi-a90727.html