Ca dao tục ngữ là gì?
Ca dao tục ngữ là tập hợp những câu hát, câu nói chữ được lan truyền rộng rãi rộng khắp trong cộng đồng của một tộc người. Ca dao tục ngữ tồn tại ở khắp nơi, từ những lời ru của mẹ, cho đến những cuộc hội thoại văn chương của những thầy đồ.
Xem thêm: 5 phút tìm hiểu nhanh các thể loại văn học dân gian Việt Nam.
Xét về nghĩa, ca dao là một từ ghép nguyên, với “ca” là một bài hát có chương, có giai điệu, còn “dao” là một bài hát không có giai điệu hoặc chương khúc. Chính vì tính linh hoạt này mà ca dao được con người vô thức sử dụng, sưu tầm từ những lời ăn tiếng nói, cung kính lễ nghĩa thường ngày. Các bài đồng dao cho trẻ em có thể thấy ở khắp mọi nơi, cũng được lưu trữ dưới hình thức ca dao tục ngữ, rồi phổ thêm nhạc để thành nhịp điệu dễ nhớ, dễ hát cho trẻ em.
Thành ngữ tục ngữ là gì?
Trong tiến trình phát triển ca dao tục ngữ, những lời răn dạy con người cũng xuất hiện, như một nhu cầu chính yếu. Để truyền lại những chiêm nghiệm, quan sát của mình, các cụ Việt Nam xưa đã phối chúng lại thành những câu tục ngữ ngắn, mang hàm ý về những bài học cuộc sống, những lời răn đe mà các cụ đã tích góp qua nhiều đời. Chính vì lẽ đó, ca dao tục ngữ luôn song hành cùng nhau: ca dao giúp tục ngữ dễ nhớ, dễ hiểu nhờ phổ nhạc, tục ngữ giúp ca dao có thêm những tầng nghĩa, dành cho nhiều nhóm đối tượng cùng đọc, cùng hiểu.
Cùng với sự phát triển của tục ngữ, thành ngữ ra đời như một lời bình phẩm các hiện tượng trong đời sống, không mang ý nghĩa giáo dục như tục ngữ. Thay vào đó, thành ngữ thường dùng để thể hiện sự quan sát tinh tường, cùng với đó là lời bình dí dỏm mang lại tiếng cười.Thành ngữ và tục ngữ được gắn với nhau như một cách biểu hiện vừa duy mỹ (cái đẹp) vừa nhân văn (sâu cay, thâm thúy).
Xem thêm: Ca dao là gì?
Mãi sau này khi thơ lục bát ra đời vào khoảng thế kỷ XV, con người Việt Nam đã tìm thấy một hình thức lưu trữ ca dao vô cùng hiệu quả, từ đó ca dao tục ngữ xuất hiện dưới dạng thơ lục bát ngày một nhiều, chiếm phần lớn trong kho tàng văn học Việt. Bên cạnh đó, thành ngữ tục ngữ cũng trở nên phổ biến, với mỗi chủ đề đều xuất hiện những câu thành ngữ tục ngữ châm biếm, thể hiện tư duy duy mỹ của người Việt Cổ.
Xem thêm: Thơ lục bát là gì?
Tổng hợp ca dao tục ngữ Việt Nam theo chủ đề
1. Ca dao thành ngữ tục ngữ Việt Nam chủ đề gia đình
- Bán anh em xa, mua láng giềng gần.
- Ăn cháo, đá bát
- Ai ơi bưng bát cơm đầyDẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
- Công cha như núi Thái SơnNghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy raMột lòng thờ mẹ kính chaCho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
- Anh em như thể chân tayRách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.
- Khôn ngoan đối đáp người ngoàiGà cùng 1 mẹ chớ hoài đá nhau
- Ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành.
- Cha mẹ sinh con, trời sinh tính.
- Một giọt máu đào hơn ao nước lã.
- Uống nước nhớ nguồn.

- Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo.
- Gió mùa thu, mẹ ru con ngủNăm canh chày, thức đủ năm canh.
- Lên non mới biết non caoNuôi mẹ mới biết công lao mẹ hiền.
- Cá không ăn muối cá ươnCon cãi cha mẹ trăm đường con hư
- Cha mẹ nuôi con biển hồ lai lángCon nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày
- Chiều chiều ra đứng ngõ sauTrông về quê mẹ ruột đau chín chiều.
- Sẩy cha còn chú, mất mẹ bú vú dì.
- Chị ngã em nâng.
- Công cha nặng lắm ai ơiNghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.
- Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.
- Mồ côi cha ăn cơm với cá, mồ côi mẹ liếm lá đầu đường.
2. Những câu ca dao, thành ngữ tục ngữ Việt Nam châm biếm
- Trống chùa ai đánh thì thùngCủa chung ai khéo vẫy vùng, thành riêng.
- Muốn ăn gắp bỏ cho người,Gắp đi gắp lại, lại rơi vào mình.
- Thế gian chuộng của, chuộng côngNào ai có chuộng người không bao giờ.
- Cà cuống uống rượu la đà,Chim ri ríu rít bò ra lấy phần,Chào mào thì đánh trống quânChim chích cởi trần, vác mõ đi rao.
- Chập chập thôi lại cheng chengCon gà trống thiến để riêng cho ThầyĐơm xôi thì đơm cho đầyĐơm vơi thì thánh nhà thầy mất thiêng.
- Trên đồng cạn dưới đồng sâuChồng cày vợ cấy con trâu đi bừaMay mà hôm ấy trời mưaCó thằng con rể đi bừa cùng trâu.
- Con cò chết rũ trên cây,Cò con mở lịch xem ngày làm ma.
- Sống thì cơm chẳng cho ănChết thì xôi thịt, làm văn tế ruồi.
- Cây cao bóng mát không ngồiRa ngồi chỗ nắng trách trời không mây.
- Số cô chẳng giàu thì nghèoNgày ba mươi Tết thịt treo trong nhàSố cô có mẹ có chaMẹ cô đàn bà, cha cô đàn ôngSố cô có vợ có chồngSinh con đầu lòng chẳng gái thì trai.

- Ăn mày mà đòi xôi gấc.
- Cô kia con cái nhà ai,Mà cô ăn nói dông dài hử cô.Cô điên cô dại cô rồCô ra kẻ chợ cô vồ lấy giai.
- Hỡi cô má phấn môi son,Chân đi chữ bát còn toan chê chồng.Chồng cô cao ngỏng cao ngòng,Đêm đêm cô với cũng không tới nào.
- Rung rinh nước chảy qua đèoBà già tập tễnh mua heo cưới chồng
- Chồng người đánh Bắc dẹp ĐôngChồng em ngồi bếp giương cung bắn gà.
- Còn duyên, kén cá chọn canhHết duyên, ếch đực cua kềnh cũng vơ.Con duyên kén những trai tơHết duyên ông lão cũng vơ làm chồng.
- Rượu chè cờ bạc lu buHết tiền, đã có mẹ cu bán hàng.
- Bói cho một quẻ trong nhàCon heo bốn cẳng, con gà hai chân.
- Hòn đá mà biết nói năng,Thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn.
- Công đâu ghẹo gái có chồngNhư tát nước cạn, uổng công cày bừa.
- Còn duyên, anh cưới ba heo
- Hết duyên, anh cưới con mèo cụt đuôi.
- Nghèo mà làm bạn với giàuĐứng lên ngồi xuống nó đau cái đì.
- Buồn buồn ngồi đốt đống rơmKhói bay nghi ngút chẳng thơm chút nàoKhói bay lên tận thiên tàoNgọc Hoàng phán hỏi: thằng nào đốt rơm?
- Xưa nay thế thái nhân tìnhVợ người thì đẹp, văn mình thì hay.
- Mai mưa, trưa nắng, chiều nồmTrời còn luân chuyển, huống mồm thế gian.
- Đứng núi này, trông núi nọ.
- Thế gian còn mặt mũi nàoĐã nhổ lại liếm làm sao thành người.
- Ăn như rồng đói, nói như rồng leo, làm như mèo mửa

- Cha chung thì không ai khóc
- Vẽ người vẽ mặt khó vẽ xương.Biết người biết mặt khó biết lòng
- Sống thì cơm chẳng cho ănChết thì xôi thịt, làm văn tế ruồi.
- Cây cao bóng mát không ngồiRa ngồi chỗ nắng trách trời không mây.
- Làm trai thì đáng nên traiChống gối khom lưng gánh 2 hạt vừng.
- Xưa kia ăn đâu ở đâuBây giờ có bí, chê bầu rằng hôi.
- Trọc đầu mang tiếng bất lươngKìa như có tóc cũng phường gió trăng.
- Lỗ mũi mười tám gánh lôngChồng yêu chồng bảo tơ hồng trời choĐêm nằm thì ngáy o oChồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhàĐi chợ thì hay ăn quàChồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơmTrên đầu những rác cùng rơmChồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu
- Bà Bảy đã tám mươi tưNgồi trông cửa sổ gửi thư kén chồng.
- Không chồng ăn bữa nồi nămĂn đói ăn khát mà cầm lấy hơiCó chồng ăn bữa nồi mườiĂn đói ăn khát mà nuôi lấy chồng,
- Gái đâu có gái lạ lùng,Chồng chẳng nằm cùng, nổi giận đùng đùng ném chó xuống ao.Đêm đến chồng lại lần vào,Vội vàng vác sọt đi trao chó về.
- Đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng cạn
- Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng.
- Đêm đông giá ngắt như đồng,Hỡi người thục nữ phòng không lạnh lùng.Hỏi cô nay đã có chồng,Hay còn đợi khách anh hùng sứt môi.
- Đàn bà yếu chân mềm tay,
- Làm ăn chẳng được, lại hay nỏ mồm.
- Đàn bà chẳng phải đàn bàThổi cơm cơm khét, muối cà cà ôi.
- Bà già đi chợ cầu ĐôngXem một quẻ bói lấy chồng lợi chăngThầy bói gieo quẻ nói rằngLợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn.
- Rau tôm nấu với ruột bầuChồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.
- Cầm chài mà vải bụi treCon gái mười bảy đi ve ông già!
- Củ lang nấu lộn củ mìCháu lấy chồng dì kêu dượng bằng anh.
- Chính chuyên lấy được chín chồngVê viên bỏ lọ gánh gồng đi chơiAi ngờ quang đứt lọ rơiBò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng
- Hai tay cầm hai quả hồngQuả chát phần chồng, quả ngọt phần trai
- Chỉ đâu mà buộc ngang trờiThuốc đâu mà chữa con người lẳng lơ.
- Cái cò là cái cò kìĂn cơm nhà dì, uống nước nhà côĐêm nằm thì ngáy o oChửa đi đến chợ đã lo ăn quà.
- Anh em hiền thật là hiềnBởi một đồng tiền mà mất lòng nhau
- Chồng người cưỡi ngựa bắn cungChồng em ngồi bếp cầm thun bắn ruồi.
- Chồng người bế Sở sông NgôChồng em ngồi bếp rang ngô cháy quần.
- Chồng người thổi sáo thổi tiêuChồng em ngồi húp bún riêu bỏng mồm.
- Làm trai rửa bát, quét nhàVợ gọi thì: Dạ, bẩm bà tôi đây!
- Cái cò lặn lội bờ aoHỡi cô yếm đào lấy chúng tôi chăng?Chú tôi hay tửu hay tămHay uống chè đặc hay nằm ngủ trưaBan ngày thì muốn trời mưaBan đêm thì muốn cho thừa trống canh.
- Ăn mày đứt tay, nhà giàu đổ ruột.
3. Chùm ca dao thành ngữ tục ngữ than thân
Thành ngữ tục ngữ than thân là một bộ phận văn học dân gian nổi tiếng, dùng để chỉ những người phụ nữ yếu thế trong xã hội. Chùm ca dao này dùng nhiều hình ảnh ẩn dụ, so sánh, dùng hình ảnh tự nhiên để phản ánh thế bị động, khó bề xoay xở của những người phụ nữ Việt dưới thời Phong Kiến trọng nam khinh nữ.
- Thân em như trái bần trôiGió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.
- Thân em cúc mọc bờ rào,Kẻ qua ngắt nhụy, người vào bẻ bông.”
- Thân em như miếng cau khô,Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày.
- Thân em như giếng giữa đàng,Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân.
- Thân em như hạt mưa ràoHạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa.
- Thân em như hạt mưa saHạt vào đài các hạt ra ruộng cày.”
- Thân em như ớt chín câyCàng tươi ngoài vỏ càng cay trong lòng.”
- Thân em như quế giữa rừngThơm tho ai biết ngát lừng ai hay.”
- Thân em như tấm lụa đàoPhất phơ giữa chợ biết vào tay ai
- Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngátĐứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh môngThân em như chẽn lúa đòng đòngPhất phơ giữa ngọn nắng hồng ban mai.
4. Ca dao tục ngữ về kinh nghiệm sản xuất
Bên cạnh thành ngữ tục ngữ châm biếm, các lời dạy về kinh nghiệm sống cũng được rút kết thành ca dao tục ngữ, giúp biến những lời dạy thành một dạng sưu tầm lưu truyền hiệu quả.
- Đêm tháng năm chưa nằm đã sángNgày tháng mười chưa cười đã tối.
- Chuồn chuồn bay thấp thì mưaBay cao thì nắng, bay vừa thì râm
- Gió đông là chồng lúa chiêm,Gió bắc là duyên lúa mùa.
- Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa
- Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.
- Nhất canh trì, nhì canh viên, tam canh điền
- Tháng chạp thì mắc trồng khoai,Tháng giêng trồng đậu tháng hai trồng cà.Tháng ba cày vỡ ruộng ra,Tháng tư bắc mạ thuận hòa mọi nơi.Tháng năm gặt hái vừa rồi,Bước sang tháng sáu lúa trôi đầy đồng.Nhà nhà vợ vợ chồng chồng,Đi làm ngoài đồng sá kể sớm trưa.Tháng sáu tháng bảy khi vừa,Vun trồng giống lúa bỏ chừa cỏ tranh.Tháng tám lúa giỗ đã đành,Tháng mười cắt hái cho nhanh kịp người.Khó khăn làm mấy tháng trời,Lại còn mưa nắng thất thời khổ trông.Cắt rồi nộp thuế nhà công,Từ rày mới được yên lòng ấm no.
- Nhai kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa
- Con trâu là đầu cơ nghiệp
- Giàu đâu những kẻ ngủ trưaSang đâu những kẻ say sưa tối ngày.
- Cày đồng đang buổi ban trưaMồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.Ai ơi, bưng bát cơm đầy,Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần!
5. Ca dao thành ngữ tục ngữ về kinh nghiệm trong cuộc sống
- Kính trên nhường dưới
- Khó mà biết lẽ, biết lờiBiết ăn, biết ở hơn người giàu sang.
- Của cho không bằng cách cho.
- Ở có đức, mặc sức mà ăn
- Hoặc buôn bán, hoặc thợ thuyềnNghề gì cũng sẽ làm nên sang giàu.
- Nhiễu điều phủ lấy giá gươngNgười trong một nước phải thương nhau cùng.
- Của một đồng công một lượng
- Trăm hay không bằng tay quen
- Ăn cắp quen tay ngủ ngày quen mắt.
- Một nghề cho chín còn hơn chín nghề.

- Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời.
- Tam nam bất phú, tứ nữ bất bần.
- Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
- Giấy rách phải giữ lấy lề
- Đói cho sạch, rách cho thơm
- Sang sông phải bắc cầu kiềuMuốn con hay chữ phải yêu lấy thầy.
- Dù ai nói ngả nói nghiêngLòng ta vẫn vững như kiềng ba chân
- Có công mài sắt, có ngày nên kim.
- Đừng nên lấy phấn bì vôi,Lấy trôn con đĩ so môi thợ kèn.
- Nói lời phải giữ lấy lời,Đừng như con bướm, đậu rồi lại bay.
Hy vọng với tuyển tập 100+ câu nói ca dao, thành ngữ tục ngữ Việt Nam theo chủ đề, bạn đã có những bài học thú vị về những lời nói từ ông bà xưa đúc kết lại. Tham gia ngay làm thành viên Twinkl để đón đọc những tài liệu mới nhất bạn nhé!