Cỏ thảo văn

Thơ Mới sinh ra chính là sự khẳng định của cái tôi, một sự đối lập với thơ cũ - tức dòng thơ trung đại. Các nhà thơ thi nhau thể hiện cái tôi trên văn đàn, họ dám sống với những cảm xúc thật của bản thân, dám gửi hồn chân thật vào từng con chữ. Và đương nhiên không thể không nhắc đến Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử và Nguyễn Bính.

Đã lâu lắm rồi mình chẳng động vào văn, nhưng khi viết những dòng này vẫn cứ bồi hồi về những câu thơ tình của Xuân Diệu, nó rạo rực nó cuồng mê mà nó cũng thăm thẳm nỗi trăn trở và sự buồn… Dưới đây là tổng hợp ba bài tuỳ bút mình viết về ba nhà thơ, nhờ substacks lưu lại để sau đọc lại mà tấm tắc “uhm, ngày xưa mình mình viết cũng ra gì đấy”!

XUÂN DIỆU VẪN CỨ LÀ XUÂN DIỆU

Thường, nghệ danh là một sự chọn lựa của riêng nghệ sĩ để phân biệt con người văn chương và con người cuộc đời của anh. Vì thế, ta chẳng lấy làm lạ khi Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, Trần Hữu Tri là tên thật của Nam Cao, nhưng lại hết sức bất ngờ khi tên thật của Xuân Diệu vẫn cứ là Xuân Diệu. Bởi cái tên khai sinh ấy nó đúng với cái tạng thơ của ông quá, nó như một cái duyên bút mực mà cũng là cái nghiệp văn chương ông phải mang cả đời.

Nhìn vào Xuân Diệu, ta phải thốt lên ông chính là nhà thơ của mùa xuân. Bài thơ "Vội vàng" đã chứng minh điều đó, rằng trần thế chính là thiên đường non tơ nõn nà cho người đời cảm thụ. Không cần phải có tùng cúc trúc mai làm thi liệu, tất cả thiên nhiên đều thật tuyệt vời trong mùa xuân này: ong bướm, hoa cỏ, ánh sáng,... Và điều đặc biệt trong thiên đường trần thế ấy của Xuân Diệu, thiên nhiên không còn là chuẩn mực để nhà thơ miêu tả con người như trong thi pháp trung đại nữa, mà con người mới là thước đo thẩm mĩ để thiên nhiên soi chiếu:

"Tháng giêng ngon như một cặp môi gần"

Sức Xuân trong Xuân Diệu đối lập đỉnh điểm với quan niệm của thơ cũ. Thơ xưa mang tính sùng cổ, Xuân Diệu chọn ngay tháng giêng để điểm tô. Thơ xưa mang tính ước lệ tượng trưng, Xuân Diệu lấy ngay "cặp môi gần" nõn nà để so sánh, khiến cho mùa xuân trong thi ca không chỉ là cái đẹp cho con mắt, mà con là vị "ngon" bừng tỉnh tâm hồn con người. Nó mang cảm giác nhục cảm luyến ái khiến mùa xuân trở thành mùa tình, cảnh xuân trở thành tình xuân. Chữ Xuân trong Xuân Diệu chính là ở chỗ đó. Xuân không chỉ là mùa xuân, tuổi xuân mà còn là sức sống xuân, tình xuân. "Xuân Diệu" bởi xuân không chỉ là thiên nhiên ẩn chứa tâm hồn con người, như tả cảnh ngụ tình, mà nó chính là một giai nhân khiến người ta mê đắm.

Và người giai nhân xuân tình ấy "không mùa", bởi xuân trong ông không phụ thuộc vào ngoại cảnh, vào thời gian cuộc đời hữu hạn. Nó nảy sinh từ lòng xuân "lai láng" của thi nhân:

"Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm,

Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu

Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều.

Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng."

Những tín hiệu của mùa xuân chỉ "một ít", "vài ba", "mấy cành", "năm bảy" - chúng chẳng vẹn tròn, căng tràn nhựa sống như trong "Vội vàng", nhưng với Xuân Diệu nó vẫn cứ là Xuân, bởi tình xuân ấy xuất phát từ trái tim yêu của nhà thơ, là cốt cách, là cái tạng riêng không bắt chước ai và không ai bắt chước được mình. Tên của ông - Ngô Xuân Diệu - như một bản mệnh ông trời đã định sẵn cho nghiệp thơ của ông vậy, cả đời viết về mùa tình, cả đời viết về mùa xuân bởi chỉ có thể qua con mắt thơ của Xuân Diệu, cuộc đời mới tươi non nõn nà, dào dạt nhựa sống và đắm say tình ái trong bất kể khoảnh khắc nào, vì ông tâm niệm:

"Tình không tuổi, và xuân không ngày tháng"

Hoài Thanh từng nhận định: "Thơ Xuân Diệu là một nguồn sống dào dạt chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽ này", Xuân Diệu là "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới". Nhận định ấy cũng phải thôi, bởi cái mới trong thơ ông không chỉ ẩn chứa trong chữ "Xuân", mà nó còn được cộng hưởng bởi chữ "Diệu", và tạo nên những dòng thơ xuân kỳ diệu đến vô cùng.

HÀN MẶC TỬ hay HÀN MẠC TỬ

Ban đầu, tôi hoang mang về tên của Hàn. Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử? Hàn Mặc Tử nghĩa là người có duyên nợ văn chương, trong khi Hàn Mạc Tử là người đứng sau bức rèm lạnh. Thoạt đọc có vẻ khác nhau nhưng chắc hẳn, hai cái tên này đều liên quan đến tạng thơ, tạng người của Hàn thì mới có thể gây nên cuộc tranh cãi dai dẳng đến thế.

Hàn Mặc Tử là anh chàng bút mực, cái tên đến với Hàn tình cờ như một cái duyên do người bạn thân Quách Tấn gợi ý. Hàn Mạc Tử thêm mảnh trăng non trên đầu, người sau bức rèm lạnh ngắm mảnh trăng ngoài khung cửa, còn gì lãng mạn bằng. Nghe thi vị là thế, nhưng từ xưa đến nay, có ai bảo dính vào duyên bút mực là sướng. Duyên bút mực luôn đi cùng nghiệp văn chương, và Hàn cũng chẳng phải ngoại lệ, thậm chí còn là trường hợp đau thương vô cùng. Chẳng phải tự nhiên Chế Lan Viên không xếp Hàn vào phận "làm thơ", mà là kẻ "bị thơ làm". Cũng chẳng phải tự nhiên mà tự bản thân thi sĩ quan niệm: Đức Chúa trời tạo ra loài thi sĩ tách biệt với loài người, bởi để tận hưởng những hạnh phúc trời ban, tự thân anh phải trả cái giá cắt cổ. Ấy là cái giá máu. Vì thế, không ít người gọi thơ Hàn Mặc Tử là thứ thơ máu:

"Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết

Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh"

Ta đã quen với quan niệm "nhà văn là người cho máu" mà cho rằng cái giá máu Hàn đổ cho thơ và trong thơ là hình ảnh ẩn dụ. Nhưng không, Hàn hút sinh lực của bản mệnh để viết. Thử hỏi có nhà thơ nào tự nhận bản thân "ọc ra từng búng huyết", "ọc ra từng búng thơ" như Hàn? Đau thương trong thơ không phải do tưởng tượng hay nhập thân, đau thương trong thơ Hàn xuất phát từ chính những quằn quại ở đời sống thực.

Tuy nhiên, nếu hiểu đau thương trong thơ Hàn chỉ xuất phát từ những nỗi đau bệnh tật thì quá hẹp. Đó là nỗi đau của một hồn thơ yêu tha thiết mảnh vườn trần thế, nhưng bị đẩy đến rìa của sự sống một cách tuyệt vọng. Càng tuyệt vọng lại càng yêu, càng yêu lại càng tuyệt vọng. Vậy nên, có những lúc, chàng thi sĩ tưởng mình là nàng cung nữ xấu số bị nhốt ở lãnh cung, chỉ có thể tận hưởng vẻ đẹp cuộc sống bằng mộng tưởng:

"Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra"

Hàn ở trong này nhìn ra thế giới tương đẹp ngoài kia, nhưng tất cả như đang dần vụt mất trước sự hiện diện của cái chết. Tất cả những gì tươi đẹp nhất đời Hàn đang tan biến, dần mờ nhạt, mơ hồ cùng sương khói như được phủ một bức rèm lạnh lẽo. Chàng thi sĩ bây giờ mang đúng thân phận hẩm hiu đứng sau bức rèm lạnh lẽo, gặm nhấm nỗi cô đơn không chỉ của một thi sĩ, mà còn của một thân phận người đang phải đối mặt với cái chết. Vậy nên, bút danh Hàn Mạc Tử cũng thật đúng khi nói về số phận của người thi sĩ xấu số này.

Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử, có lẽ vấn đề tranh luận này sẽ khó khép lại. Nhưng tôi tin, vị thế của nhà thơ ấy trên văn đàn vẫn sẽ thật vững chãi và khó để thay thế, như lời Chế Lan Viên: "mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mạc Tử".

Share

VÌ NGUYỄN BÍNH LÀ NHÀ THƠ CỦA LỠ DỞ

Nhắc đến Nguyễn Bính, người ta nhớ đến sự chân quê bao đời của làng quê Việt Nam nằm giữa thời đại đầy hơi thở Tây phương của thơ Mới. Vậy nên người ta thấy Nguyễn Bính hiện lên thật lỡ làng, lỡ dở giữa cái cũ và cái mới, giữa cái tôi và cái ta, giữa cách tân và bảo thủ. Mà con người trong những trạng thái tranh đấu ấy đâu giản đơn, anh ta luôn có một cuộc mâu thuẫn âm ỷ trong chính nội tâm mình, nhập nhằng và thật khó gọi tên.

Chính vì nỗi lòng đan xen rất nhiều tâm sự của anh thôn dân - nho sinh ấy mà có nhiều người nhầm lẫn về thơ Nguyễn Bính. Sự nhầm lẫn ấy có thể diễn ra trên phương diện rất nhỏ, thậm chí chỉ khác biệt một chữ mà những người đọc lướt thơ ông chẳng thể nào nhận ra, nhưng “sai một li đi vạn dặm” mà kết quả là không hiểu thấu đáo hết ý thơ. Chu Văn Sơn từng kể về một cuộc tranh luận ngôn ngữ về bài “Lỡ bước sang nagng” của Nguyễn Bính, về hình ảnh kiếp con chim “lạc đàn” hay “lìa đàn”. Lạc đàn và lìa đàn đọc qua đều thể hiện sự tách biệt giữa bản thân và cộng đồng. Nhưng khác với “lạc đàn” nhấn mạnh kết quả của hành động chia lìa ấy là cảm giác bơ vơ, mất phương hướng, thì “lìa đàn” nhấn mạnh quá trình ý thức rõ ràng sự tách biệt giữa bản thân và cộng đồng, gắn liền với bản mệnh của mình, đang xảy ra nhưng chẳng thể đảo ngược sự việc. “Đang bay cùng mà phải lìa khỏi đàn, ấy mới đau chứ”.

Đứng trước cuộc biến thiên của thời đại được thổi hồn của phương Tây, nhà thơ mang “gen tiểu nông” phải chia lìa con người cũ, văn hóa cũ của mình. Mà còn gì đau đớn hơn tự tay mình xóa bỏ một phần con người của chính mình, còn gì đau đớn hơn khi nhìn thấy những giá trị mình chân quý dần bị xâm lấn bởi những làn sóng mang thái cực đối lập. Khi ấy, anh không thể như cũ, mà cũng chưa thể theo mới, cõi lòng anh cứ bất an buồn tủi trước cảnh chủ nghĩa cá nhân lên ngôi, và anh đang phải chia lìa “bầy đàn” - điều những nhà cách tân thời bấy giờ cho là vòng kiềm tỏa, nhưng anh lại xem đó là cộng đồng mình thuộc về.

Vậy nên người ta từng dùng từ “lỡ làng” cho Nguyễn Bính. Nhưng lại một lần nữa như trường hợp của “lạc đàn”, “lỡ làng” chưa bộc lộ đầy đủ tâm trạng và thân phận của nhà thơ. Lỡ làng hợp dùng cho chuyện tình yêu nam nữ hơn, mà thơ Nguyễn Bính đâu chỉ có thế. Thơ ông ẩn chưa sự “lỡ dở” như một phạm trù lãng mạn, phổ biến cho biết bao kiếp người trong thời đại ấy. Từ “Lỡ bước sang ngang”, sự lỡ dở ngay từ nhan đề , cho đến “Mưa xuân”, tưởng viết về một chuyện tình đẹp mà cũng hóa dở dang. Nó xuyên suốt trong thơ ông, nó là cái nghiệp ông phải trả ở đời sống thực cho bản mệnh thơ của mình, nhưng cũng chính là cái duyên đưa ông gần tới biết bao độc giả chân quê, trở thành “nhà thơ của làng quê Việt Nam”.

Mình viết để lưu giữ những kiến thức và trải nghiệm của mình, và rất vui nếu nó giúp ích gì đó trên chặng đường của mọi người! Like nếu mọi người thấy hữu ích nha, mình sẽ rất vui đoá ^^

Link nội dung: https://melodious.edu.vn/3-dinh-cao-tho-moi-a112264.html