Tuổi vị thành niên là bao nhiêu tuổi? Các quy định liên quan tuổi vị thành niên

1. Trẻ vị thành niên là gì?

Trẻ vị thành niên là người chưa đến độ tuổi được pháp luật coi là đủ khả năng để sử dụng quyền, làm nghĩa vụ và chịu trách nhiệm.

Trẻ vị thành niên là giai đoạn có nhiều biến động, phát triển phức tạp hơn các giai đoạn trước. Ở giai đoạn này, trẻ vị thành niên sẽ có những thay đổi lớn về mặt tâm lý và thể chất. Trẻ có tính độc lập hơn, thích thể hiện bản thân, thích mộng mơ và có những thay đổi lớn về mặt nhận thức, trí não,...

2. Độ tuổi vị thành niên là bao nhiêu tuổi?

Theo Điều 1, Luật Trẻ em 2016, số 102/2016/QH13 quy định:

Trẻ em là người dưới 16 tuổi.

Tại khoản 1 Điều 20 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 có quy định:

Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên.

Tại khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định:

Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.

Tuy nhiên, Nhà nước chưa có một quy định nào của pháp luật quy định về độ tuổi của tuổi vị thành niên. Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO) độ tuổi vị thành niên thuộc lứa tuổi 10-19 tuổi.

Như vậy, hiện nay Việt Nam không có quy định cụ thể về độ tuổi vị thành niên là bao nhiêu tuổi. Pháp luật Việt Nam chỉ quy định về người thành niên là người từ đủ 18 tuổi, người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi và trẻ em là người dưới 16 tuổi.

3. Năng lực hành vi của tuổi vị thành niên theo quy định

Để xác định được năng lực hành vi của tuổi vị thành niên (từ 10 - 19 tuổi), cần xác định năng lực hành vi đối với người chưa thành niên (dưới 18 tuổi) và người thành niên (từ 18 tuổi trở lên) theo quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành.

3.1 Năng lực hành vi đối với người chưa thành niên

Căn cứ Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015 quy định năng lực hành vi của người chưa thành niên như sau:

3.2 Năng lực hành vi đối với người thành niên

Theo Điều 20 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23, 24 của Bộ luật này.

Theo đó, trừ những trường hợp mất năng lực hành vi, người khó khăn trong việc làm chủ hành vi thì người thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Mỗi cá nhân sẽ đều có khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự.

3.3 Những trường hợp không có năng lực hành vi

Theo Điều 22, 23, 24 Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định về các trường hợp không có năng lực hành vi, cụ thể như sau:

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người là mất năng lực hành vi dân sự, người khó khăn trong nhận thức hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc người có quyền và lợi ích liên quan, Tòa án sẽ ra quyết định hủy bỏ tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, người khó khăn trong nhận thức hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự đối với người đó.

4. Tuổi vị thành niên phạm tội bị xử lý như thế nào?

Tùy theo mức độ nghiêm trọng và hậu quả của hành vi phạm tội sẽ có những mức xử lý khác nhau. Căn cứ theo Điều 98, 99, 100, 101 Bộ Luật Hình sự 100/2015/QH13 và sửa đổi, bổ sung 2017 số 12/2017/QH14, các hình thức xử lý đối với người dưới 18 tuổi (trong đó có những người thuộc độ tuổi vị thành niên) như sau:

4.1 Hình phạt cảnh cáo

4.2 Phạt tiền

4.3 Cải tạo không giam giữ

4.4 Phạt tù có thời hạn

Trong trường hợp người dưới 18 tuổi bị kết án nhưng được coi là không có án tích nếu người đó có độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý hoặc trường hợp người bị áp dụng biện pháp tư pháp.

Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích nếu trong thời hạn 3 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới tính từ khi hết hiệu lực thi hành bản án.

Link nội dung: https://melodious.edu.vn/k8-la-may-tuoi-a112138.html