A. MỞ ĐẦU
Văn học nói chung và thi ca nói riêng luôn là nơi cất giữ, chứa đựng những tư tưởng, tình cảm của các bậc hiển Nho xưa. Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm là những tập thơ Nôm có giá trị khai phá, mở đường cho nền thơ Việt. Những bài thơ Nôm làm mê đắm lòng người đã kết tinh những dấu hiệu tư tưởng của thời đại và tư tưởng mỗi cá nhân tác giả. Một trong những âm hưởng vọng lại trong thơ hai ông là tư tưởng nhàn dật, thể hiện qua việc tìm về cuộc sống thanh đạm, thoát ly khỏi vòng danh lợi, và sống hòa hợp với thiên nhiên. Các bài thơ của hai ông đều có những nét tương đồng về tư tưởng này, như tìm kiếm sự an nhiên, tự tại trong tâm hồn và cuộc sống, thể hiện qua hình ảnh núi sông, cây cỏ, và sự ung dung, tự tại của con người.
B. NỘI DUNG
1. Những tiền đề chung
1.1. Khái niệm cảm hứng nhàn
1.1.1. Cảm hứng
- Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê định nghĩa: “Cảm hứng là trạng thái tâm lí đặc biệt, khi sức chú ý được tập trung cao độ, kết hợp với cảm xúc mãnh liệt, tạo điều kiện để óc tưởng tượng sáng tạo hoạt động tích cực và có hiệu quả, là trạng thái cảm hứng”[22, 142].
- Theo Từ điển thuật ngữ văn học, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên thì cho rằng “cảm hứng” hay còn gọi là “cảm hứng chủ đạo” được biểu hiện là “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm, xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật gắn liền với một tư tưởng nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm” [2, 38].
1.1.2. Cảm hứng nhàn
- Nhàn là một đề tài phổ biến trong văn học trung đại. Nói đến nhàn là nói đến một nét tư tưởng văn hóa sâu sắc của người xưa, đặc biệt của tầng lớp trí thức phong kiến. Nhàn là một phạm trù tư tưởng ăn sâu trong tâm thức các trí thức Nho học người xưa, nhưng mỗi người có một cách thể hiện và xây dựng về triết lí ấy khác nhau.
- Cảm hứng nhàn là sống hòa hợp với tự nhiên, hợp với tu dưỡng nhân cách, có điều kiện để sáng tác thơ văn, để di dưỡng tinh thần.
1.2. Cơ sở lý luận của cảm hứng nhàn qua hai tập thơ
1.2.1. Hoàn cảnh xã hội:
Sau chiến thắng quân Minh ở đầu thế kỉ XV, Đại Việt bước vào một giai đoạn phát triển mới trong khí thế hân hoan phấn khởi của một đất nước vừa được hồi sinh. Một trang sử mới cũng được mở ra với triều đại nhà Lê. Vương triều Lê buổi đầu đã chọn hệ tư tưởng Nho gia kết hợp với tinh thần tự cường dân tộc làm nền tảng để xây dựng một thể chế nhà nước phong kiến hiệu quả nhất. Thế kỉ XV là thời kì thịnh đạt nhất của chế độ phong kiến ở Đại Việt và Nho giáo đang hưng thịnh. Nguyễn Trãi quan tâm đến chữ “danh” và chữ “lợi”. Nhưng đến thế kỉ XVI, triều Lê suy thoái dần. Giai cấp phong kiến xa dần mục đích an dân lợi quốc để đi vào con đường hưởng thụ và chăm lo vun vén quyền lợi cá nhân. Giá trị của đồng tiền lên ngôi. Từ đó dẫn đến nhiều mâu thuẫn xã hội nảy sinh như một hệ quả tất yếu. Bởi thế, Nguyễn Bỉnh Khiêm đi tìm thú vui thanh cao cho tâm hồn và giữ gìn một nhân cách ngay thẳng, trong sạch.
1.2.2. Tư tưởng của hai tác giả:
Cả hai tác giả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên”. Tuy nhiên, ở mỗi tác giả sự ảnh hưởng đó theo từng mức độ đậm nhạt khác nhau.
Ở Nguyễn Trãi tư tưởng yêu nước thương dân, chủ nghĩa hành động tích cực là mặt trội nổi, chữ nhàn chìm xuống thứ yếu, chỉ được xem như là biện pháp để tu dưỡng tính tình, giữ đạo đức thanh cao bởi vì thế kỉ XV là thế kỉ của chiến thắng và xây dựng đất nước, là thời đại hào hùng và sinh khí. Thời đại ấy qua rồi. Đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, đại đa số ý thức được nhân phẩm đã tìm đến cái nhàn và nhiều lúc coi nó là cứu cánh của đời.
Không phải Nguyễn Trãi không thấu hiểu quy luật “công thành thân thoái”, nhưng thời Nguyễn Trãi là thời khởi đầu nhà Lê, đất nước ta vừa độc lập sau hơn hai mươi năm đô hộ của giặc Minh, tình hình còn nhiều khó khăn nhưng mang tiềm lực phát triển, rất cần có bàn tay hiền tài kiến thiết. Tấm lòng của Nguyễn Trãi là tấm lòng nhân nghĩa dạt dào, ưu quốc ái dân nhưng không được tin dùng nên ông phải trở về. Dù sống giữa quê hương trong cảnh nhàn rỗi, vui với cảnh đẹp và cuộc sống thôn quê nhưng tấm lòng ông vẫn luôn hướng về đất nước, nhân dân. Ông không cam tâm nhàn tản để an hưởng riêng mình mà chấp nhận xả thân cống hiến cho đất nước.
Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông là một con người vừa có lòng lo đời nồng nhiệt nhất cũng vừa hết sức ca ngợi và tâm đắc đối với cái nhàn. Hai điều đó tưởng như mâu thuẫn, khó có thể cùng tồn tại nhưng thực ra nó là một tâm trạng tất nhiên phản ánh sự phân hóa tư tưởng một cách phức tạp của tầng lớp trí thức phong kiến ở thế kỉ XVI. Quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không hề đi ngược lại đạo đức Nho học, rất hài hòa với tinh thần Lão Trang và cả Phật giáo. Nó là một đóa hoa thơm ngát được kết tinh từ vẻ đẹp bảng lảng của 3 tôn giáo tuyệt đẹp và vẫn còn giữ nguyên giá trị đến ngày nay. Trở về với thiên nhiên là tinh thần đẹp ăn sâu trong tâm thức của người Á Đông xưa nay.
Không phải Nguyễn Bỉnh Khiêm không quan tâm đến thế sự so với Nguyễn Trãi, mà thời đại của ông là thời trước Lê Trung Hưng, là giai đoạn chế độ phong kiến đã suy tàn, nhiều thối nát, rối ren. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có nhiều cố gắng giúp nước, giúp dân nhưng vẫn không thay đổi được cục diện. Tuy về ở ẩn, không làm quan những ông vẫn giúp nước bằng những lời khuyên sáng suốt cho các thế lực phong kiến đương thời.
2. So sánh cảm hứng nhàn của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm qua thơ Quốc âm
2.1. Những điểm giống nhau
- Cả hai tác giả đều bộc lộ cảm hứng nhàn trong sáng tác, trước hết là giống nhau ở con đường lựa chọn “lánh đục về trong”.
- Họ đềuthể hiện lối sống hòa mình với thiên nhiên, trở về với cuộc sống chân chất, bình dị ở chốn nhà quê.
- Họ đềucó nhân cách trong sạch, cao đẹp, coi thường danh lợi, vinh hoa phú quí.
2.2. Những điểm khác nhau
Nguyễn Trãi nổi bật trong phong thái một nghệ sĩ, Nguyễn Bỉnh Khiêm nổi bật trong phong thái một triết nhân. Theo đó, nếu nhàn dật trong thơ Nguyễn Trãi chủ yếu được thể hiện thành những dòng mạch tâm trạng qua những áng thơ trữ tình thì tư tưởng nhàn dật của Nguyễn Bỉnh Khiêm nghiêng về thể hiện những vấn đề nhận thức qua những bài thơ giàu tính triết lí. Tuy nhiên, sự khác biệt ấy chỉ mang tính tương đối vì một số bài của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm diễn ra sự ngược lại: trữ tình đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm và triết lí trong thơ Nguyễn Trãi.
2.2.1. Cảm hứng nhàn của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập
2.2.1.1. Tư tưởng của Nguyễn Trãi bộc lộ cảm hứng nhàn
- Nguyễn Trãi đã cảm thấy vui vì cho rằng mình may mắn được gặp thời thế tốt lành:
Phúc thay, sinh gặp thuở thăng bình
Nấn ná qua ngày được dưỡng mình
(Tự thán, bài 29)
Cho nên ông đã dốc hết công sức, tài trí để xây dựng, vun đắp một xã hội vua sáng, tôi hiền. Nhưng dần dần, bản chất của chế độ phong kiến cũng bộc lộ rõ ra. Vua Lê nghe lời dèm pha, ton hót của bọn nịnh thần cuối cùng quay sang sát phạt những người có công với triều đình, trong đó có Nguyễn Trãi. Trước hiện thực của cuộc đời và lòng người hiểm hóc:
Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn
Lòng người quanh nữa nước non quanh
(Bảo kính cảnh giới, bài 9)
Nguyễn Trãi rơi vào trạng thái buồn đau, cô độc. Ông thất vọng khi nhận ra cuộc đời cay đắng, ông quay về nơi “thôn dã” mong được “yên thân”.
2.2.1.2. Biểu hiện của cảm hứng nhàn
Tính chất nghệ sĩ trong thơ nhàn Nguyễn Trãi biểu hiện ở một tâm hồn giàu rung cảm trước thiên nhiên tạo vật, ở tâm thế vừa phóng khoáng quảng đại trước tự nhiên, vừa chất chứa nhiều tâm sự u uất, tất cả cùng đan xen hòa quyện trong một nội tâm phong phú và vô cùng sâu sắc. Thơ Nôm Nguyễn Trãi được viết dưới các đề mục: Tự thán (41 bài), Tự giới (61 bài), Tự thuật (11 bài), tổng cộng là 113/254 bài thơ Nôm. Các thi đề khác như Thuật hứng , Trần tình…đều tự nói về mình cả.
- Thứ nhất, nhàn là ở cách sống giản dị mà tự do, phóng khoáng, gần gũi thiên nhiên tươi đẹp, tận hưởng kho báu trời cho:
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc
Thuyền chở yên hà nặng vạy then.
(Thuật hứng, bài 24)
Thiên nhiên có quan hệ thân tình với Nguyễn Trãi có lẽ từ thuở thiếu thời, lúc còn ở với ông ngoại tại Côn Sơn - để những thông xanh suối biếc đã đi vào kí ức ấu thơ tạo nên niềm khao khát, hoài vọng suốt đời ông. Ngọn núi quê nhà trở thành “cố sơn” và cây, đá, gió, trăng đã thành bạn cố giao. Bất kì ở đâu, thiên nhiên với Nguyễn Trãi vẫn không xa lạ mà là bạn cũ, anh em, thậm chí nhiều lúc như thể người yêu. Với thiên nhiên, nhà thơ mở rộng lòng tiếp đón, ông nâng niu từng cánh hoa muộn, ánh trăng tàn:
Viện có hoa tàn, chăng quét đất
Nước còn nguyệt hiện, sá thôi chèo
(Mạn thuật, bài 10)
Và thấy người bạn ấy cũng hiểu ông, đem tình đáp lại tình:
Khách đến, chim mừng, hoa xẩy động
Chè tiên, nước ghín, nguyệt đeo về
(Thuật hứng, bài 3)
Nhàn bộc lộ cái nhìn trìu mến, tự hào. Thiên nhiên là xóm làng, vườn ao, cây trái, hoa cỏ bình dị hiền hòa mà xinh xắn, nên thơ. Một ngõ trúc, một con đường làng cũng xiết bao vẻ đáng yêu, gợi biết bao tình cảm:
Thu im cửa trúc mây phủ,
Xuân tạnh, đường hoa gấm phong.
(Thuật hứng, bài 11)
- Thứ hai, giống với Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi cũng hòa vào cuộc sống lao động mộc mạc của con người:
Một cày một cuốc thú nhà quê
Áng cúc lan xen vãi đậu kê
(Thuật hứng, bài 3)
Cuộc sống nhàn dật còn gắn với công việc lao động của người dân quê, với ruộng vườn thôn dã: ương hoa, vun đất ải, vãi đậu kê, vun trúc, cấy muống, ương sen, nuôi cá, phát cỏ, lấy củi, vớt bèo… vốn từ thi nhân sử dụng phong phú, đa dạng, miêu tả cụ thể chính xác công việc của người dân lao động. Phải là người gắn bó và yêu cuộc sống thôn quê thì Nguyễn Trãi mới có những vần thơ sâu sắc đến vậy. Trong giai đoạn ngặt nghèo, thi nhân yêu thích phong thái thoải mái, tự nhiên của Lão Trang: Áo mặc âu chi cũ quản đen (Bảo kính cảnh giới , bài 13). Có lúc ông bộc lộ mình thật hồn nhiên, thư thái:
Ngõ tênh hênh nằm cửa trúc
Say lểu thểu đứng đường thông
(Thuật hứng, bài 16)
Có lẽ chỉ khi bước sang địa hạt của của Lão Trang thì Nguyễn Trãi mới có được những giây phút không bị bó buộc bởi những quy tắc và khuôn phép của Nho gia. Một loạt từ ngữ với hàm nghĩa “đủ” được tác giả vận dụng linh hoạt: dầu có, dầu đủ bữa, miễn có, yên đòi phận… Thậm chí, nhà thơ còn thấy mình thật giàu có, thừa thãi với sản vật quê nhà và thiên nhiên hữu tình: “Giàu những của tự nhiên ấy” (Tự thán - 35).
Có khi, niềm vui cũng ở trong công việc lao động hằng ngày như dạy học trò hay đốn củi:
Đạp áng mây, ôm bó củi
Ngồi bên suối, gác cần câu
(Trần tình, bài 5)
Ở đây, chúng ta thấy có sự hòa đồng giữa triết lý Nho và Đạo trong tư tưởng Ức Trai. Người ẩn dật muốn đặt mình thoát khỏi thói tục, tự yên vui với cuộc sống nhàn tản quê kiểng. Tư tưởng đó gần gũi với Nho gia: bần nhi lạc,quân tử thực vô cầu bão. Thật khó để có thể tách bạch được trong chân dung nhà nho ẩn dật Nguyễn Trãi ranh giới giữa Nho và Đạo. Cả hai tư tưởng đã đan xen, hòa trộn tạo nên phẩm cách và tâm hồn thanh cao của tác giả. Tư tưởng Lão Trang đã góp phần cho nhà nho một mẫu hình nhân cách khi muốn xử và tàng, bổ sung cho phần khuyết thiếu của Nho giáo về mặt nhân sinh, xã hội.
Ông luôn tự hào rằng mình giàu có bởi những thức ăn của tự nhiên dâng sẵn:
Quê cũ nhà ta thiếu của nào,
Rau trong nội, cá trong ao
(Mạn thuật, bài 13)
Với kẻ ở ẩn, chuyện ăn uống không chút xa hoa mà đạm bạc dân dã. Nguyễn Bỉnh Khiêm hài lòng với thu ăn măng trúc đông ăn giá (Bạch Vân quốc ngữ thi tập), Nguyễn Khuyến thì đầu trò tiếp khách trầu không có (Bạn đến chơi nhà). Còn Nguyễn Trãi thì hài lòng với: kê khoai (Mạn thuật, bài 1), dưa muối (Thuật hứng, bài 22) … Một cuộc sống mang tính tự cung tự cấp tùy theo mùa vụ. Trang phục của nhà nho ẩn dật Nguyễn Trãi được khắc họa đầy đủ nhưng vô cùng giản dị và gần gũi với thiên nhiên như sợi gai, sợi thô, cỏ…
Cơm ăn chẳng quản dưa muối
Áo mặc nài chi gấm thêu
(Thuật hứng, bài 22)
Vậy, ông tìm đến thiên nhiên, không chỉ như cái đẹp để ngắm nhìn, thưởng thức mà còn như một đối tượng quan sát, suy nghiệm, phát hiện chân lí cuộc sống để thỏa mãn nhu cầu tâm thức:
Ẩn cả lo chi thành thị nữa
Nào đâu là chẳng đất nhà quan
Cuộc sống của Nguyễn Trãi có sự cân đối giữa phục vụ và vui thú, tuy việc quan vẫn không quên tu dưỡng tâm hồn, nâng cao tri thức về thế giới xung quanh, khám phá những điều mới lạ trong cuộc sống. Niềm vui trong cách sống ấy đã giúp nhà thơ vượt qua những nghịch cảnh đáng buồn. Trước sau ông vẫn giữ một tấm lòng ưu ái, một nhân cách cao thượng. Ngay cả lúc làm quan, Nguyễn Trãi vẫn giữ được một tinh thần ung dung thư thái như “ông tiên trong lầu ngọc”, tấm lòng trong sáng như băng của con người không cầu danh lợi, khi lui về quê vẫn tích cực làm việc trong điều kiện sống của mình. Đó cũng là sự kế thừa và phát huy tinh thần nhân văn rộng mở của thời Lí - Trần, tổng hợp cả Nho, Phật, Đạo trên cơ sở tư tưởng Việt Nam.
Mặt khác, thi nhân say sưa thưởng ngoạn những thú vui phong lưu tao nhã như: ngắm trăng, đọc sách, làm thơ, đánh đàn, chơi cờ, uống rượu, uống trà…
Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén
Ngày vắng xem hoa bợ cây
(Ngôn chí, bài 10)
Cặp thời gian sóng đôi: đêm - ngày phù hợp với cảm nhận thời gian của văn học trung đại, thời gian tĩnh tại gắn với điểm thời gian liên tiếp nhau. Hai câu thơ đối nhau và hỗ trợ, liên kết tạo nên vòng thời gian liền nhau, tạo cảm giác về nối tiếp giữa đêm và ngày đầy ắp thú vui không dứt. Hơn thế, Nguyễn Trãi có cảm giác mãn nguyện và giàu có đến mức tràn đầy:
Sách một hai phiên làm bầu bạn
Rượu năm ba chén đổi công danh
(Tự thán , bài 10)
Đặc biệt, cách uống trà của thi nhân có những độc đáo riêng biệt. Uống trà từ lâu được coi là thanh thú dành cho tâm hồn, được các bậc trí thức hết sức ưa chuộng, là nét đẹp văn hóa của dân tộc. Chén trà trong Quốc âm thi tập được nhắc đến nhiều lần, nhưng mỗi lần xuất hiện đều có một nét khám phá riêng của người pha trà. Việc thưởng thức trà thật nên thơ và nhiều sức gợi:
Chè tiên nước kín in bầu nguyệt
(Thuật hứng, bài 6)
Với người xưa, uống trà không chỉ để giải khát mà còn để tìm phút giây thư thái cho tâm hồn. Nguyễn Trãi uống trà để họa cùng xúc cảm ngắm trăng, xua tan mọi muộn phiền trần tục:
Cởi tục trà thường pha nước tuyết
Tìm thanh trong vắt tạn chè mai
(Ngôn chí, bài 1)
Mỗi lần uống trà là mỗi lần Nguyễn Trãi tự thanh lọc chính mình ra khỏi bụi trần, tách mình khỏi thói đời đen bạc và giữ lấy cốt cách cao khiết của một cao sĩ.
Qua đó, ta thấy được Nguyễn Trãi luôn có sự đấu tranh lựa chọn giữa xuất - xử. Có lúc tác giả bằng lòng với cuộc sống thanh nhàn:
Một phút thanh nhàn trong buổi ấy
Nghìn vàng ước đổi được hay chăng
(Tự thán, bài 7)
Mãn nguyện với thú lâm tuyền, nâng niu phút giây thanh nhàn, nhưng cũng có lúc Nguyễn Trãi trăn trở lòng trung hiếu. Dù yêu thiên nhiên tha thiết, nhưng ông cũng không do dự khi đón nhận cơ hội được dốc sức vì xã tắc để thực hiện hoài bão vẫn cồn cào: “Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông” (Thuật hứng, bài 5). Đằng sau con người phóng khoáng, hồn nhiên với cỏ cây là con người trĩu nặng suy tư về trách nhiệm đối với xã hội, luôn ấp ủ khát vọng trí quân trạch dân. Đó cũng là tâm trạng day dứt khôn nguôi. Lui về được vui thú điền viên, trút được niềm trăn trở chính sự. Nhưng âu lo việc nước lại là lẽ sống của Ức Trai. Bế tắc, nhiều khi Nguyễn Trãi thấy mình như con thuyền trên sóng nước giữa bóng tối không thể đỗ lại nhưng đến bến bờ nào lại chẳng hay: “Con thuyền mọn chăng khứng đỗ /Trời ban tối biết về đâu”. Chọn con đường quay về vui thú nhàn tản không phải là lẽ sống của thi nhân mà đó là sự lựa chọn theo lẽ xuất - xử của Nho gia để bảo toàn danh tiết theo triết lý minh triết bảo thân.
Từ đó, ta thấy rằng, Nguyễn Trãi thân nhàn nhưng tâm không nhàn, ông vẫn canh cánh một điều rằng:
Còn có một lòng âu việc nước,
Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung
(Tự thuật, bài 23)
Với Nguyễn Trãi, vận mệnh của đất nước, hạnh phúc của nhân dân, đó là điều quan trọng nhất. Trong những giây phút nhàn rỗi, ông có điều kiện nhìn đời, nhìn người sâu sắc hơn. Trước hết, ông day dứt khi chữ “hiếu” với người cha chưa thực hiện được:
Quân thân chưa báo lòng canh cánh,
Tình phụ cơm trời áo cha.
(Ngôn chí, bài 7)
Mặt khác, Nguyễn Trãi nhớ đến những người bạn tri kỷ một thời:
Trúc mai bạn cũ họp nhau quen
(Thuật hứng, bài 1)
Không chỉ lo cho cha hay nhớ đến bạn bè, ông còn lo lắng cho nhân dân và luôn tìm cách khuyên nhủ họ đứng vững giữa cuộc đời đen tối lúc bấy giờ.Và xã hội càng đen tối bao nhiêu, ta thấy Nguyễn Trãi càng mơ ước cuộc sống tươi đẹp cho con người bấy nhiêu:
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương
(Bảo kính cảnh giới, bài 43)
Ông mơ ước có được cây đàn của vua Thuấn gảy lên khúc “Nam phong” ca ngợi cảnh thái bình, thịnh trị, nhân dân no ấm, đủ đầy. Mặt khác, ông còn khuyên nhủ mọi người Hãy sống chan hòa với quê hương, hàng xóm, láng giềng:
Việc ngoài hương đảng chớ đôi co,
Thấy kẻ anh hùng hãy nhẫn cho
…Chớ đua huyết khi nên hận
Làm mất lòng người những lo
(Bảo kính cảnh giới, bài 49)
Nguyễn Trãi khuyên mọi người ra đến làng mạc, đối xử với những người xung quanh hãy lấy chữ hòa, chữ nhẫn làm tôn chỉ. Chớ có đôi co dùng giằng dẫn đến làm mất lòng người. Đọc những câu thơ trên, ta nghe thấy tiếng nói ân tình, ân nghĩa của Nguyễn Trãi.
Có lẽ không có tác giả nào lại giằng co, day dứt, trăn trở như Nguyễn Trãi. Nguyễn Dữ, Nguyễn Hàng về ở ẩn trong tâm thế thanh thản, nhẹ nhàng. Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm có vị thế ung dung làm thày thiên hạ, chủ động quan sát thời thế chừng mực kín đáo và “quan nhà Nguyễn” thì dứt khoát “cáo về đã lâu”. Còn Nguyễn Trãi thì hăm hở dâng biểu tạ ơn khi được gọi ra làm quan và không tránh được thị phi phải chịu cảnh xót xa.
2.2.1.3. Đặc sắc nghệ thuật thể hiện cảm hứng nhàn trong thơ Quốc âm thi tập
- Ngôn ngữ thơ trong sáng, giản dị, tinh tế. Lớp ngôn ngữ chỉ sự nhàn nhã xuất hiện khá nhiều như: say lểu thểu, thú nhà quê, ẩn cả lo chi, hớp nguyệt, xem hoa, sách làm bầu bạn, rượu đổi công danh, phút thanh nhàn…
- Hình ảnh thơ mang hơi thở của cuộc sống đời thường, ít mang tính tượng trưng, ước lệ như: ương hoa, vun đất ải, vãi đậu kê, vun trúc, cấy muống, ương sen, nuôi cá, phát cỏ, lấy củi, vớt bèo…
- Sự cách tân trong thể thơ, đặc biệt là sáng tạo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn, thoát dần khỏi tính “quy phạm” của văn học cổ điển, để bộc lộ cảm xúc riêng tư của cá nhân tuôn chảy hơn. Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi sử dụng kiểu kết cấu câu thơ độc đáo, sáng tạo. Đó là 46% kết cấu kiểu câu hỏi tu từ.
- Nguyễn Trãi còn Việt hóa dùng điển tích để bộc lộ quan điểm sống hay gửi gắm tâm sự của bản thân trong giây phút thanh nhàn.
2.2.2. Cảm hứng nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong “Bạch Vân quốc ngữ thi tập”
2.2.2.1. Tư tưởng bộc lộ cảm hứng nhàn
Đầu tiên là cảm hứng nhàn toát ra từ tư tưởng nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó là xuất phát từ quan niệm cuộc đời tạm bợ, dời đổi luôn luôn, không gì bền vững:
Mây nổi chiêm bao có thấy đâu
Lâng lâng từng trải sự sang giàu
Sao dời vật đổi trong nền tướng
Nước chảy hoa bay áng cửa hầu.
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 99)
Rõ ràng quan niệm này có phần bị chi phối bởi thực tế thay đổi không ngừng ở thế kỉ XVI. Nguyễn Bỉnh Khiêm chứng kiến bao cuộc tranh giành, chém giết, phế lập, hưng suy, nay đen, mai trắng…Và ông chán ghét hiện thực rối ren ấy, tìm cho mình một thái độ “lánh đục về trong” một nhân sinh quan “nhàn”:
Nói nên chăng chớ làm chi nữa
Lẩn thẩn thì nên kẻ bạc đầu.
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 99)
Nhàn là “vô sự”, để mới có thể sống yên vui, thoát khỏi ảnh hưởng của thế cuộc. Và để được “vô sự”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chủ trương “dĩ hòa vi quý”:
Chữ rằng: “nhân dĩ hòa vi quý”
Vô sự thì hơn, kẻo phải lo.
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 99)
Có nghĩa là từ bỏ đấu tranh, bởi đấu tranh cuối cùng cũng không đi tới đâu, vì chẳng ai chịu kém ai. Tốt hơn là “sự đời ai phải ai trái chẳng nên nói đến làm gì nữa”. Không thể không thấy đây là chỗ hạn chế của Nguyễn Bỉnh Khiêm, mặc dù ông vốn xuất phát từ thiện ý “dĩ hòa vi quý” là vì ông đã quá đau lòng trước cảnh tranh giành, chém giết và tha thiết mong muốn mọi người nhất là những người nắm giữ quyền lực hãy thôi đi tham vọng và bạo lực để không còn đầu rơi máu đổ, tàn hại sinh linh.
Nhưng dù sao bên cạnh đó cũng phải thấy ý nghĩa tích cực là nhà thơ đã tìm về cuộc sống điền viên để khỏi cộng tác với những kẻ đương quyền mà ông cho là không xứng đáng, để tìm thú vui thanh cao cho tâm hồn và giữ gìn một nhân cách ngay thẳng, trong sạch. “Nhàn” là một thái độ phản kháng xã hội - tuy là phản kháng không trực tiếp.
2.2.2.2. Biểu hiện của cảm hứng nhàn
- Biểu hiện thứ nhất, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm ca ngợi nếp sống thanh bần. Vì thế mà khi từ quan về quê, rời xa lối thụ hưởng vật chất đắm mình trong bả vinh hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi của thiên nhiên hào phóng bằng một tấm lòng hòa hợp với tự nhiên. Tận hưởng tài lộc từ thiên nhiên bốn mùa, nhà thơ cũng được hấp thụ tinh khí trời đất để gọt rửa bao lo toan vướng bận riêng tư:
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 73)
“Tìm nơi vắng vẻ’’ cũng là tránh nơi lợi danh huyên náo, nhưng không phải là trốn tránh, là cách biệt với thế giới bên ngoài, xa rời cuộc sống. Nguyễn Bỉnh Khiêm trở về công việc của bậc tao nhân mặc khách với ‘’cày mây, cuốc nguyệt, gánh yên hà’’, trở về với “ một mai, một cuốc, một cần câu’’ của một lão nông. “Nhàn’’ của Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ biểu hiện của an bần lạc đạo, của ung dung, tự tại mà còn biểu hiện của một phong thái sống cởi mở, hồ hởi với tạo vật, biết gắn mình với thiên nhiên. Cũng giống Nguyễn Trãi, ông về với ruộng vườn, hòa mình với thiên nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sống thật “thích chí’’ giữa trăng hoa, chim muông :
Lẩn thẩn ngày qua lại tháng qua,
Một năm xuân tới một phen già.
Ái ưu vằng vặc trăng in nước,
Danh lợi lâng lâng gió thổi hoa.
Án sách vẫn còn án sách cũ,
Nước non bạn với nước non nhà.
Cuộc cờ đua chí dù cao thấp,
Ta muốn thanh nhàn thú vị ta.
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập)
Hay:
Bến nguyệt, thuyền kề, hai bãi mía
An mây, cửa khép một cành pheo
Cá tôm tối chát bên kia bến
Củi đốt ngày mua mé nọ đè
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập)
Vì thế mà khi từ quan về quê, rời xa lối thụ hưởng vật chất đắm mình trong bả vinh hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi của thiên nhiên hào phóng bằng một tấm lòng hòa hợp với tự nhiên. Tận hưởng tài lộc từ thiên nhiên bốn mùa, nhà thơ cũng được hấp thụ tinh khí trời đất để gọt rửa bao lo toan vướng bận riêng tư:
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 73)
Ông cũng tìm được ở đó một không gian đất trời không thoảng chút hoa lệ, không mang hơi thở giàu sang phú quý, chỉ có màu xanh của cây cỏ, màu vàng của ánh trăng. Mà tự do sảng khoái yêu thích:
Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 73)
Cuộc sống giản dị ấy được thiên nhiên che chở, đất trời là tặng phẩm là nguồn sống có sẵn không cần phải đua đòi hay tranh giành mới có được. Hay nói đúng ông sống thuận lẽ tự nhiên, mùa nào thức ấy, có chi dùng nấy, rất thong dong, trong lành. Nguyễn Bỉnh Khiêm tả về cuộc sống bình dị của mình tuy nghèo mà không hèn, giọng điệu lại rất lạc quan, sắc thái vô cùng tươi sáng. Điều đó đủ thấy cuộc sống của ông là một chân trời tự do trong lành, ông thực hành đúng cái đạo của hiền nhân: “tri túc”.
Trong cảnh thanh nhàn, ông bày tỏ tình cảm yêu thương gắn bó với thiên nhiên:
Non nước có mùi lòng khách chứa
Trúc mai làm bạn hứng thơ nồng.
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 30)
Nguyễn Bỉnh Khiêm tự nhận là "ông tiên giữa cõi đời", và cõi đời đó có thể nói chính là làng Trung Am quê hương ông. Nguyễn Bỉnh Khiêm quả thật đã sống "thích chí" giữa trăng nước, cỏ hoa, chim muông, làng xóm. Khó có thể tìm được trong kho tàng thơ Nôm nước nhà những câu thơ hay, giàu hình tượng mà độc đáo viết về sự hòa hợp, hài lòng một cách hồn nhiên vui vẻ giữa nhà thơ và thiên nhiên quê hương đến như những câu sau:
Nép mình qua trước chốn xôn xao,
Mấy sự bên tai, gió thổi phào.
Cửa trúc vỗ tay cười khúc khích,
Hiên mai vắt cẳng hát nghêu ngao.
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 83)
- Thứ hai, nhàn đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm sống thuận theo lẽ tự nhiên. Ông thường nói đến rượu và thơ, nhưng dường như ông không ham rượu, không say và không tìm quên trong say. Trong hơn 160 bài thơ Nôm, có 16 bài Nguyễn Bỉnh Khiêm nói đến rượu, nhưng chỉ có 13 lần rượu thực sự liên quan đến ông. Song ngay trong 13 lần ấy, ít nhất cũng đã có bốn lần ông không uống hoặc chưa uống. Mượn rượu để bày tỏ lối sống phóng khoáng, không ép mình vào khuôn khổ gò bó:
Rượu đến cội cây ta sẽ uống
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 73)
Nối chén, đêm âu bóng quế tan
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 23)
Rượu chuốc han thầm ngõ Hạnh Hoa
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 120)
Cơm một lưng, rượu một bầu
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 122)
Có một lần ông nói đến cảm nhận về vị rượu là một cảm giác không mấy thích thú:
Vếu váo câu thơ cũ rích,
Khề khà chén rượu hăng xì.
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 84)
Tuy nhiên "ông nhàn" am Bạch Vân rất thích trà, yêu trăng, yêu hoa, ưa thích các món ăn măng, giá, cá, tôm, dưa muối thanh đạm, thả hồn quyến luyến với bến nước, thuyền câu, mây chiều, gió sớm... Những bài thơ về đề tài này một mặt nói lên tình yêu thiên nhiên trong sáng và khỏe khoắn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, một mặt cũng khắc họa tâm hồn cao khiết, không ham danh lợi, vui cuộc sống thôn dã đạm bạc, mang phong thái triết nhân của ông. Nhiều bài đã đạt đến tính trữ tình trong sáng và sâu sắc.
- Thứ ba, nhàn đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm là vượt lên danh lợi tầm thường, coi danh hoa phú quý là hư vô, không đáng bận tâm:
Ái ưu vằng vặc trăng in nước,
Danh lợi lâng lâng gió thổi hoa.
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập)
Cũng từ cảm hứng nhàn toát lên vẻ đẹp nhân cách cao cả, khí tiết vững vàng không khuất phục thói đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 73)
Lựa chọn cách sống nhàn ẩn đó, tuy chưa phải là một giải pháp tích cực, trước sau Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn giữ một tấm lòng ưu ái, đó chính là điều đáng quý nhất:
Niềm xửa trung ái thề chẳng phụ
Cảnh cũ điền viên thú đã quen.
(Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài 1)
Nguyễn Bỉnh Khiêm chấp nhận cuộc sống cần lao của một lão nông tri điền, mặc cho người đua đòi chạy theo bao thú vui phù phiếm, ông vẫn giữ tâm thế bình thản, điềm nhiên với cuộc sống thanh bần mình đã chọn. Trước hết ta phải hiểu cái nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là kiểu nhàn hưởng lạc, nhàn lười biếng vì không quan tâm sự đời. Người xưa thường cho rằng “nhàn cư vi bất thiện”, người quân tử có học không bao giờ để thân mình được thảnh thơi. Nguyễn Bỉnh Khiêm hướng đến cái nhàn trong tâm, không vướng bận danh lợi đua chen, tâm nhàn và thân nhàn.
2.2.2.3. Đặc sắc nghệ thuật thể hiện cảm hứng nhàn trong thơ “Bạch Vân quốc ngữ thi tập”
- Ta thấy xuất hiện nhiều bài thơ, câu thơ chứa chữ nhàn và các từ ngữ có nghĩa tương đương như: dửng dưng, thong thả, tự tại…Theo ông, nhàn trước hết là tự tại, nghĩa là thư thái, không có điều gì phiền muộn. Tự tại của Nguyễn Bỉnh Khiêm là sự thỏa mãn, tự biết mình, không ham muốn vị thế của người khác, con người đạt đến độ tự do tuyệt đối. Chữ tự tại xuất hiện dày đặc ở các bài: 14, 16, 17, 31, 59, 72, 149…Chữ ‘’nhàn’’ bàng bạc suốt cuộc đời thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, rất nhiều bài thơ của ông nhắc tới chữ ‘’nhàn’’. Trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập có 31 lần,…được dùng rất linh hoạt: thân nhàn, thanh nhàn, an nhàn, phận nhàn, nhàn rỗi , thú nhàn…Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, chữ ‘’nhàn’’ trở thành một ám ảnh nghệ thuật, bởi nó không chỉ bộc lộ những tâm trạng riêng của ông, gắn liền với thời cuộc mà còn thể hiện một quan niệm triết học của ông, một cách ứng xử trước thời thế.
- Nhàn đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm là một hứng thú đặc biệt. Ông sử dụng một vốn từ phong phú để diễn đạt những hứng thú, những thú vui gắn liền với một nội dung rất cụ thể. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đạt được đến cái nhàn của Lão - Trang, thân nhàn và tâm thanh thản, ở mọi tình huống đều giữ cho mình một trạng thái chủ động, ung dung. Biện pháp đối lập, các từ luyến láy phát huy tối đa hiệu quả nghệ thuật biểu đạt.
- Xét về mặt ngôn ngữ cũng như hình tượng thơ, thơ xưa, nhất là thơ Đường luật thiên về sử dụng những hình ảnh ước lệ, trang nhã hơn là những hình ảnh cụ thể, bình dị như mai, cuốc, cần câu, ao, cá, tôm, củi… Có thể gọi đây là hiện tượng phá vỡ tính quy phạm và là một cách Việt hóa thể thơ Đường luật.
C. KẾT LUẬN
1. Cảm hứng “nhàn” trong Quốc âm thi tập: day dứt, dùng dằng giữa hai chiều xuất xử, “nhàn thân không nhàn tâm”. Còn cảm hứng “nhàn” trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập: ung dung, tự tại, nhàn nhã,… “nhàn thân, nhàn tâm” .
2. Nếu như Nho giáo đề cao tinh thần nhập thể cứu đời, đề cao kỉ cương, phép tắc thì Lão - Trang lại muốn tháo tung hết mọi sự ràng buộc để sống thuận theo lẽ tự nhiên. Thế nhưng cả hai tư tưởng này không hề loại trừ nhau mà trở nên cặp đối trọng tồn tại song song trong nền văn hóa Trung Quốc cũng như Việt Nam thời xưa. Các trí thức Nho học Việt Nam một mặt nhất quán tinh thần nhập thế, trả nợ công danh nhưng sâu trong tâm hồn lại khát khao trở về với thiên nhiên, sống cuộc sống ruộng vườn. Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm là hai nhà thơ gửi gắm cảm hứng nhàn qua những bài thơ Nôm có tính khai phá, mở đường.
Tác giả: Trương Thị Như Huệ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Link nội dung: https://melodious.edu.vn/bach-van-quoc-ngu-thi-tap-a105545.html