Thái Tuế Tinh Quân là ai

Thái Tuế Tinh Quân, còn gọi là Tuế Tinh, Thái Tuế, Tuế Âm, Tuế Quân, còn được gọi là “Lục thập nguyên thần” hay “Lục thập đại tướng quân”. Thái tuế là tên gọi của vị thần trong Đạo giáo nắm quyền sinh quyền sát, quyết định tốt xấu trong một năm đó, mỗi một năm có một vị Thái Tuế cái quản, có 60 vị Thái Tuế luân phiên nhau cai quản nhân gian.

Biên soạn: Đạo sĩ Vô Danh Tử, Càn Khôn Tử

tượng Thái Tuế Tinh Quân

Từ đời Tần, Hán, Thái Tuế được xem là một “hung thần” mà mọi người kính sợ. Có câu “Để Thái Tuế hung, phụ Thái Tuế diệc hung”. Do đó, dân gian tin rằng mạo phạm đến Thái Tuế thì gặp điều hung, mà nương tựa vào Thái Tuế cũng không hay, phương hướng của Thái Tuế là hung phương, cho nên không hướng về phương Thái Tuế, chỉ có thể quay lưng lại là tốt. Không nên động thổ vào phương hướng Thái Tuế của năm đó, nếu phạm sẽ gặp rất nhiều điều không hay.

Từ sau đời Nguyên, Minh Thái Tuế được cho ghi vào danh sách thờ cúng của triều đình và dân gian để mong cầu “nước yên dân ổn”.

Về thiên văn, Thái Tuế chính là Mộc Tinh. Chu kỳ của sao Mộc quay quanh Mặt Trời là mười hai năm nên người xưa gọi sao Mộc là Tuế Tinh hay Thái Tuế, sau phát triển thành Thái Tuế Tinh Quân hay Tuế Quân. Sao này có công năng đè ép các sao Thần Sát, người gặp sao này nếu gặp vận thì xấu nhiều tốt ít, chủ yếu gặp tai nạn bất trắc, nên làm việc phúc thiện. Từ đó, trong dân gian thường có từ “phạm Thái Tuế”, “xung Thái Tuế”, “hình Thái Tuế” hay “thiên xung Thái Tuế” và xuất hiện tục lệ “An Thái Tuế”, tức cúng sao giải hạn, cầu nguyện được vạn sự bình an, cát tường. Ngay từ buổi đầu, tục lệ An Thái Tuế rất giản dị. Ai muốn cúng An Thái Tuế thì nhân dịp trước hay sau tiết Xuân, lấy giấy màu hồng hay vàng viết lên dòng chữ như “Bản niên Thái Tuế Tinh Quân đáo thử (năm nay Thái Tuế Tinh Quân đến đây)”, “Bản niên Thái Tuế Tinh Quân thần vị (thần vị của Thái Tuế Tinh Quân năm nay)”, “Nhất tâm kính phụng Thái Tuế Tinh Quân (một lòng kính thờ Thái Tuế Tinh Quân)”, đem dán trong nhà, hằng ngày dâng hương cầu khấn. Đến cuối năm, đem giấy đó ra đốt với ý nghĩa là “tiễn Thần lên Trời.”

Năm 1190 là năm Canh Tuất, bà Hoàng Thái Hậu Thụy Thánh, mẹ của Kim Chương Tông bị bệnh lâu ngày không khỏi, nên tổ chức “cầu đảo” trị bệnh cho mẹ. Vua cho xây dựng “Đinh Mão Thụy Thánh Điện” (bà mẹ tuổi Đinh Mão) ở Đạo quán . Mục đích là cúng bái vị Thái Tuế năm Đinh Mão gọi là “Lễ Thuận Tinh”, nên Hoàng Thái Hậu được lành bệnh. Vì thế, sau đó cúng bái luôn 60 vị Thái Tuế, cầu cho những năm kế tiếp cũng được tốt lành. Mỗi năm vào ngày mùng tám tháng giêng, đều có tổ chức “ Thuận Tinh Tiết ” (lễ Tiết cúng sao). Từ đó, trong dân gian lưu hành rộng rãi việc dâng cúng lễ sao mỗi năm.

Vậy Thái Tuế là gì? Thái Tuế còn gọi là Thái Tuế Tinh Quân, hoặc Tuế Quân, cũng gọi Thái tuế là Mộc tinh (sao Mộc). Về khoa thiên văn, sao Thái Tuế chính là Mộc Tinh trên bầu trời. Chu kỳ của sao Mộc quay quanh mặt trời là 12 năm. Cho nên người xưa gọi sao Mộc là Tuế Tinh hay Thái Tuế, sau phát triển thành Thái Tuế Tinh Quân hay Tuế Quân. Như vậy, sao Thái Tuế có nguồn gốc liên hệ đến các hành tinh và sao trên bầu trời. Theo tín ngưỡng nhân gian thì đây vốn là chòm sao có sức ảnh hưởng lớn đến vận hạn của một người trong năm.

Tức Thái Tuế cũng có nghĩa vừa là sao, lại vừa là tên gọi của vị thần ở trên Thiên theo đường tâm linh. Mỗi năm, đều có một vị thần minh coi sóc về mọi sự việc của trần gian. Vị thần cai trị một năm đó gọi là Đương cai Thái Tuế, hay còn gọi là niên Thái Tuế. Có tất cả là 60 vị Thái Tuế tương ứng với Lục thập hoa giáp, hay gọi là 60 năm của một “hoa giáp”, là chu kỳ 60 năm để tính lịch âm của phương Đông.

Căn cứ ghi chép trong sách cổ "Thái tuế có 3 loại, một là Thái tuế năm, vận hành sang trái 28 vì tinh tú, 12 năm một chu thiên, bắt đầu thấy ở phía Nam ngoài biển; tháng 1 là Thái tuế tháng, tháng 2 khởi từ ngày Mão, tháng 3 khởi từ ngày Tý, tháng 4 khởi từ ngày Dậu, tháng 5 khởi từ ngày Ngọ, tháng 6 lại quay về Mão"..

Sau này, Thái Tuế được cho ghi vào danh sách thờ cúng để mong cầu “nước yên dân ổn”. Ông liên quan đến việc quản lý cát - tai - họa - phúc qua từng năm của mười hai con giáp. Có thể nói, ông còn là vị thần trong các cuộc tế lễ hàng năm.

Thần Thái Tuế đại đa số là võ tướng xuất thân, nên trong Đạo giáo thần tiên gọi tất cả là Đại tướng quân. Mỗi vị lại có tính tình khác nhau nên việc chấp pháp cũng khác nhau. Nên có quan niệm rằng : năm nào vị Thái Tuế cầm bút, tất có biến động về chính trị văn hóa, năm nào vị Thái Tuế cầm kiếm, tất có biến động về vũ lực, họa hại.

Trong Tử Vi hay Tứ Trụ toán mệnh, Thái tuế cũng là tên gọi của 1 sao, được an theo năm sinh, người sinh năm nào thì sao Thái tuế được an tại cung đó, người nào xung với địa chi năm đó thì gọi là phạm thái tuế. Lại cũng tùy thuộc bản mệnh, các phụ tinh mà suy đoán. Tỉ như Thái Tuế gặp vòng Âm long trực thì bình thường, gặp Tang Tuế Điếu thì chết, Thái Tuế hội hổ phù thì hạn bùng lên dữ dội, gặp Đào Không Sát thì Thái Tuế yên vị.... Lại chia phạm Thái Tuế thành Trực, Hình, Xung, Phá, Hại. Mỗi loại là các biến động khác nhau : đau ốm, buồn phiền, sát thương, thị phi, tai họa... Một điều đặc biệt mà mọi người cần hiểu đó là vị tướng này không phải hung thần. Nhưng đồng thời lại là vị thần có sức ảnh hưởng lớn nhất. Vậy nên mỗi con giáp sẽ trải qua những biến động khác nhau.

Link nội dung: https://melodious.edu.vn/tinh-quan-la-gi-a105284.html