Người yêu thơ Trung Hoa xếp Bạch Cư Dị chỉ sau “thi tiên” Lý Bạch và “thi thánh” Đỗ Phủ. Vậy thơ ca Bạch Cư Dị có gì đặc sắc mà được đánh giá cao đến vậy? Mời bạn cùng tìm hiểu về cuộc đời và tác phẩm của thi sĩ Bạch Cư Dị qua bài viết dưới đây.
Bạch Cư Dị (白居易) sinh ngày 28 tháng 2 năm 772 SCN tại Hà Nam, tên tự là Lạc Thiên (樂天). Tổ tiên ông là người Thái Nguyên, Sơn Tây sau này di cư tới Hạ Khê, Vị Nam, Thiểm Tây (nay là tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc).
Bạch Cư Dị sinh ra trong gia đình quan lại nhỏ, trong thời kỳ Mạt Đường. Ông ra đời vào lúc mà chính quyền trung ương của họ Lý đã suy yếu sau loạn An Lộc Sơn, vì thế xã hội nhà Đường lúc bấy giờ không còn được như thời đỉnh cao, các mâu thuẫn trong xã hội đã khá gay gắt, hoàn cảnh của cuộc sống lúc bấy giờ đã ảnh hưởng khá lớn đến tư tưởng trong các tác phẩm của Bạch Cư Dị.
Từ nhỏ, vì loạn lạc mà gia đình Bạch Cư Dị phải di cư đến miền quê nghèo để sinh sống, chứng kiến người dân lầm than đói khổ đã tác động lớn đến quá trình trưởng thành của ông. Tuy trong thời buổi loạn lạc nhưng ông được giáo dục rất tốt, từ nhỏ đã chứng tỏ mình là người thông minh, 9 tuổi ông đã hiểu âm vận, 15 tuổi bắt đầu làm thơ, tuy vậy vì các biến cố trong cuộc sống mà đến năm 800 (28 tuổi) ông mới đậu tiến sĩ và được bổ nhiệm làm Tả thập di ở triều đình của hoàng đế Đường Đức Tông (Lý Quát).
Năm 815, vì hạch tội nhóm quyền thần mà ông bị giáng chứng, rời khỏi kinh thành Trường An biếm về làm Tư mã Giang Châu. Cũng vì không hợp với các quyền thần bấy giờ mà quan lộ của Bạch Cư Dị phải chịu nhiều phen lao đao.
Năm 820, ông được điều về kinh thành làm quan dưới thời vua Đường Mục Tông (Lý Hằng). Tuy nhiên vì chán ngán trước triều đình kết bè kéo cánh tranh quyền đoạt lợi, ông dâng sớ để được đi làm quan ở Hà Bắc, sớ không được chấp nhận, ông quyết định tự rời kinh đô.
Năm 822 ông được cử làm Thứ sử Hàng Châu. Năm 825 làm Thứ sử Tô Châu. Ở những địa phương này ông đều dụng công làm thủy lợi. Những công trình mà ông cho khởi công xây dựng đã giúp dân chúng có thể yên tâm sinh sống, làm ruộng vì thế dân chúng rất kính yêu ông.
Sau này ông được triệu về kinh nhận chức Thái tử Thiếu phó, đến năm 842 Bạch Cư Dị về hưu khi đang đảm nhận chức Hình bộ Thượng thư.
Năm 846 ông mất ở Hương Sơn, Lạc Dương, thọ 70 tuổi ở thời vua Đường Tuyên Tông (Lý Thầm). Khi ông mất Tuyên Tông có làm bài thơ điếu để tỏ lòng thương tiếc như sau:
"Sáu mươi năm sáng tác ngọc liền châu, Ai đã chỉ đường làm thi tiên? Phù vân không gắn tên Cư Dị, Tạo hóa vô vi tự Lạc Thiên. Đồng Tử ngâm nga Trường hận khúc, Hồ nhi ca hát tỳ bà thiên. Văn chương đã đến cùng trăm họ. Mỗi độ nhớ khanh trẫm đau buồn."
Những năm cuối đời Bạch Cư Dị chú tâm nghiên cứu Phật pháp ở Hương Sơn, Lạc Dương vì thế được mệnh danh (tự xưng) là Hương Sơn cư sĩ (香山居士). Ông còn có những tên hiệu khác như Túy ngâm tiên sinh (醉吟先生) hay Quảng Đại giáo hóa chủ (廣大教化主).

Khác với chủ nghĩa lãng mạn trong thơ của “thi tiên” Lý Bạch, Bạch Cư Dị kế thừa chủ nghĩa hiện thực của “thi thánh” Đỗ Phủ - có lẽ vì cuộc đời cũng trải qua nhiều thăng trầm, tuy vậy thơ ông không trầm uất, nghẹn ngào như thơ của "thi thánh" Đỗ Phủ mà thường là châm biếm, mỉa mai nhẹ nhàng. Các tác phẩm của ông luôn thấm nhuần tư tưởng nhân đạo, nhân văn với phong cách thơ ca giản dị, mang hơi thở của cuộc sống, phản ánh đời sống khổ cực của các tầng lớp dân chúng thấp kém.
Vì chủ đề gần gũi và lời thơ bình dị nên các tác phẩm của ông rất phổ biến trong dân gian, đương thời lúc ông còn sống thơ ca của ông đã phổ biến khắp Đại Đường và có ảnh hưởng đến các nước lân bang như Cao Ly, Đại Việt, Tân La, Nhật Bản,...
Một số tác phẩm nổi bật của Bạch Cư Dị nói về hiện thực cuộc sống dân chúng có thể kể đến như Tỳ bà hành, Quan ngải mạch, Mại thán ông, Liễu lăng,....
Trong bài thơ Quan ngải mạch (Xem gặt lúa) Bạch Cư Dị kể về đời sống gian truân vất vả của người nông dân. Trong bài thơ ông bày tỏ tâm trạng xấu hổ vì bản thân nhận bổng lộc 1 năm tới “300 phương gạo” (1 phương gạo = 12kg gạo) khi mà người nông dân còn phải đi lượm từng bông lúa sau mùa gặt.
Bài thơ Quan Ngải Mạch - Bạch Cư Dị - Hoàng Tạo dịch
Nhà nông ít tháng rỗi, Tháng năm càng rộn ràng. Đêm qua gió nam thổi, Lúa chín lợp bờ vàng. Thúng cơm các bà đội, Bầu nước trẻ con mang. Theo đem cơm ra ruộng Trai tráng trên gò nam. Chân bỏng sôi hơn đất, Cật cháy ánh mặt trời. Mải miết không biết nóng, Chỉ tiếc ngày hè dài. Lại có một bà nghèo, Ôm con đứng bên cạnh, Tay phải nhặt bông rơi, Tay trái đeo giỏ rách. Thoáng chuyện bà mới góp, Người nghe thấy bồi hồi: “Ruộng nhà bán nộp thuế, Mót chút để cầm hơi!” Nay mình công cán gì? Việc nông tang chẳng biết, Lương hưởng ba trăm phương, Cuối năm ăn chẳng hết. Nghĩ lại thấy thẹn thùng, Suốt ngày lòng bứt rứt.

Hay bài thơ Ông bán than (Mại thán ông) nổi tiếng ông làm để miêu tả công việc kiếm sống khổ cực của người bán than lương thiện. Làm việc vất vả là thế nhưng khi gặp quyền thế bức ép, “ngàn cân than” đổi lấy “Nửa tấm lụa hồng, một trượng the” thì chỉ biết tiếc nhưng chẳng làm gì được.
Mại thán ông - Bạch Cư Dị - Hoàng Tạo dịch
Ông bán than! Đốt củi đốt than trong núi Nam, Mặt mày tro bụi khói lửa ám, Mái tóc hoa râm tay đen ngòm! Bán than được tiền ông tính toán: Phần sắm quần áo, phần gạo cơm. Thương thay! Trên mình áo mỏng dính, Lòng lo than rẻ, mong trời lạnh! Đêm qua ngoài thành tuyết hàng thước, Sớm đánh xe than, rãnh băng ướt, Trâu mỏi, người đói, mặt trời cao, Bùn lầy cửa Nam tạm nghỉ bước. Băng băng đôi ngựa, kìa ai nhỉ? Áo vàng, áo trắng hai quan thị. Tay giơ giấy tờ, mồm quát: “Sắc!” Quay xe hò trâu kéo về bắc. Một xe than nặng hơn ngàn cân, Người nhà vua lấy, tiếc chẳng được. Nửa tấm lụa hồng, một trượng the, Buộc lên sừng trâu, không lấy? Mặc!

Trong bài bài Liễu lăng Bạch Cư Dị hỏi những người “múa hát ở Cung Chiêu Dương” (ý chỉ những người giàu, có quyền thế) có buông lời thở than khi nhìn những tấm lụa đẹp đẽ sinh ra từ công sức vất vả của người thợ dệt lụa ở Giang Nam:
Bạch Cư Dị - Liễu lăng - Ngô Văn Phú dịch
Thấy chăng ai, vẻ màu lụa nõn? Chẳng giống the, lụa mỏng cũng không. Núi Thiên Thai, trước ánh trăng, Thác cao trắng xoá, bốn lăm thước dài. Hoa văn in, đẹp tươi lạ mắt, Như khói lan, hoa tuyết bay bay. Lụa ai dệt? Áo cho ai? Dệt là gái Việt, áo may phi tần. Năm ngoái lệnh vua ban, sứ đến, Mẫu từ trời, thợ kén trong dân. Nhạn bay, ngoài cõi mây vần, Giang Nam, màu nước mùa xuân nhuộm mềm. Tay áo rộng, may quần đúng kiểu, Sáng sao Kim, sao Đẩu vào đêm. Hoa lay khi lụa soi nghiêng, Chiêu Dương người múa, ơn trên cao dầy. Nghìn vàng tấm áo này nên giá, Phấn nhoè, mồ hôi vã đắng cay. Dầm bùn đất, vẫn mê say, Dệt nên lụa nõn, đêm ngày gắng công. Những tơ lụa tầm thường khó sánh, Tay nhức vì sợi mảnh, khâu dầy. Chiêu Dương múa hát là ai? Thấy người dệt, hẳn buông lời thở than.
Hoặc một trong những bài thơ được yêu thích nhất của ông là Tỳ bà hành được viết để cảm thương cho cuộc sống lênh đênh lưu lạc giang hồ của thân phận con hát hèn mọn trong xã hội bấy giờ.
Đoạn dẫn bài thơ Tỳ bà hành do chính Bạch Cư Dị chấp bút: Năm Nguyên Hòa thứ 10, ta về giữ chức tư mã ở quận Cửu Giang (Giang Châu). Qua mùa thu năm sau, đêm ra tiễn khách bên bến sông Bồn, chợt nghe thuyền ai có tiếng đàn tỳ bà vọng lại. Nghe trong tiến đàn thánh thót, âm vang điệu nhạc ở kinh đô. Bèn hỏi gốc gác. Người đàn bà trả lời rằng “Tôi vốn là con hát, quê ở Trường An, học đàn tỳ bà với hai danh sư Mục và Tào. Nay tuổi đã cao, nhan sắc tàn tạ, lấy chồng làm con buôn (thường theo thuyền buôn đi đây đi đó)”. Nghe vậy, cho dọn rượu ra đãi, xin nàng đàn lại cho nghe. Lúc đàn xong cảm xúc vô vàn, nàng bèn kể lại cuộc đời mình từ lúc còn trẻ, vui sướng, cho tới lúc lưu lạc giang hồ khổ nhọc. Ta về đây làm quan đã được hai năm thanh thản yên ổn. Hôm nay nghe nàng này nói chuyện, cảm thương cho số phận lưu đày! Bèn làm một bài thơ dài tặng nàng ta, gồm 616 chữ, gọi là Tỳ bà hành.

Tỳ bà hành - Bạch Cư Dị - Phan Huy Thực dịch
Bến Tầm Dương, canh khuya đưa khách. Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu. Người xuống ngựa, khách dừng chèo, Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ty. Say những luống ngại khi hầu rẽ, Nước mênh mông đượm vẻ gương trong. Tiếng tỳ chợt vẳng trên sông, Chủ khuây khoả lại, khách dùng dằng xuôi. Lần tiếng sẽ hỏi ai đàn tá? Lửng tiếng đàn, nấn ná làm thinh. Dời thuyền theo hỏi thăm tình, Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui. Mời mọc mãi thấy người bỡ ngỡ, Tay ôm đàn che nửa mặt hoa. Vặn đàn vài tiếng dạo qua, Tuy chưa trọn khúc, tình đà thoảng hay. Nghe não nuột mấy dây bứt rứt, Dường than niềm tấm tức bấy lâu. Chau mày, tay gảy khúc sầu, Giãi bày mọi nỗi trước sau muôn vàn. Ngón buông, bắt, khoan khoan dìu dặt, Trước “Nghê thường”, sau thoắt “Lục yêu”. Dây to nhường đổ mưa rào, Nỉ non dây nhỏ như trò chuyện riêng. Tiếng cao thấp lần chen liền gảy, Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu. Trong hoa, oanh ríu rít nhau, Suối tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh. Tiếng suối lạnh, dây mành ngừng tắt, Ngừng tắt nên phút bặt tiếng tơ. Ôm sầu, đau giận ngẩn ngơ, Tiếng tơ lặng lẽ bấy giờ càng hay. Bình bạc vỡ tuôn đầy mạch nước, Ngựa sắt giong, thét ngược tiếng đao. Cung đàn trọn khúc thanh tao, Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây. Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt, Một vầng trăng trong vắt lòng sông. Ngậm ngùi đàn bát xếp xong, Áo xiêm khép nép hầu mong giải lời. Rằng xưa vốn là người kẻ chợ, Cồn Hà Mô trú ở lân la. Học đàn từ thuở mười ba, Giáo phường đệ nhất sổ đà chép tên. Gã thiện tài sợ phen dừng khúc, Ả Thu Nương ghen lúc điểm tô. Ngũ Lăng, chàng trẻ ganh đua, Biết bao the tấm chuốc mua tiếng đàn. Vành lược bạc gãy tay nhịp gõ, Bức quần hồng hoen ố rượu rơi. Năm năm lần lữa vui cười, Mải gió trăng chẳng đoái hoài xuân thu. Buồn em trẩy, lại sầu dì thác, Lần hôm mai đổi khác hình dung. Cửa ngoài xe ngựa vắng không, Thân già mới kết đôi cùng khách thương. Khách trọng lợi khinh thường ly cách, Mải buôn chè, sớm tếch miền khơi. Thuyền không đậu bến mặc ai, Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng. Ðêm khuya, sực nhớ vòng tuổi trẻ, Lệ trong mơ hoen vẻ phấn son. Nghe đàn ta đã chạnh buồn, Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời. Cùng một lứa bên trời lận đận, Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau. Từ xa kinh khuyết bấy lâu, Tầm Dương đất trích, gối sầu hôm mai. Chốn cùng tịch lấy ai vui thích, Tai chẳng nghe đàn địch cả năm. Sông Bồn gần chốn cát lầm, Lau vàng, trúc võ nảy mầm quanh hiên. Tiếng chi đó nghe liền sớm tối, Cuốc kêu sầu, vượn hót nỉ non. Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn, Lần lần tay chuốc chén son riêng ngừng. Há chẳng có ca rừng địch nội, Giọng líu lo, nhiều nỗi khó nghe. Tiếng tỳ nghe dạo canh khuya, Dường như tiên nhạc gần kề bên tai. Hãy ngồi lại gảy chơi khúc nữa, Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca. Tần ngần dường cảm lời ta, Dén ngồi bắt ngón đàn đà kíp dây. Nghe não nuột khác tay đàn trước, Khắp tiệc hoa tuôn nước lệ rơi. Lệ ai chan chứa hơn người? Giang châu Tư Mã đượm mùi áo xanh.
Có thể thấy dù đi đâu, làm gì thì Bạch Cư Dị luôn hòa nhập và chú tâm quan sát cuộc sống của nhân dân. Sự quan sát thường xuyên đó đã giúp ông hiểu và cảm thấy xót xa cho thân phận con người trong xã hội phong kiến để từ đó thai nghén ra những bài thơ tuyệt phẩm nói lên tiếng lòng, tiếng thở than, ngậm ngùi của người dân thấp kém. Đồng thời những bài thơ ấy cũng rung lên hồi chuông cảnh báo cho vua chúa, quan lại, giai cấp thống trị biết mà tự sửa mình.
Xem thêm: Tổng hợp 46 bài thơ Đường hay nhất mọi thời đại 25 bài thơ tình bất hủ Việt Nam, những áng thơ tình yêu bất diệt Tổng hợp 3254 câu thơ Kiều của đại thi hào Nguyễn Du
Bạch Cư Dị để lại cho đời sau số lượng tác phẩm đồ sộ lên tới gần 2.800 tác phẩm, phần lớn trong đó là thơ ca. Những tác phẩm tiêu biểu của ông có thể kể đến như:
Các tác phẩm khác:
DANH SÁCH TÁC PHẨM CỦA BẠCH CƯ DỊ
Nói về Bạch Cư Dị không thể không nhắc tới Trường hận ca (長恨歌), bài thơ xuất sắc nhất của ông được mệnh danh là “Tuyệt thế thi ca”. Bài thơ Trường hận ca mượn câu chuyện của Hán Vũ Đế (Lưu Triệt) và Lý phu nhân để nói về cuộc tình nổi tiếng trong lịch sử giữa Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng) và Dương Quý Phi (Dương Ngọc Hoàn). Trong bài thơ Bạch Cư Dị miêu tả tình yêu bằng bút pháp tuyệt đẹp ẩn chứa giọng điệu mỉa mai cuộc sống xa hoa, dâm dật không quan tâm đến dân chúng của bậc vua chúa làm nức lòng người yêu thơ.
Đức vua Hán mến người khuynh quốc Trải bao năm tìm chuốc công tai Nhà Dương có gái mới choai Buồn xuân khóa kín chưa ai bạn cùng Lạ gì của tuyết đông ngọc đúc Chốn ngai vàng phút chốc ngồi bên Một cười trăm vẻ thiên nhiên Sáu cung nhan sắc thua hờn phấn son Trời xuân lạnh suối tuôn mạch ấm Da mỡ đông kỳ tắm ao Hoa Vua yêu bận ấy mới là Con hầu nâng dậy coi đà mệt thay Vàng nhẹ bước lung lay tóc mái Màn phù dung êm ái đêm xuân Đêm xuân vắn vủn có ngần Ngai rồng từ đấy chậm phần vua ra Suốt ngày tháng tiệc hoa vui mãi Đêm xuân tàn, xuân lại còn đêm Ba nghìn xinh đẹp chị em Ba nghìn yêu quý chất nêm một mình Nhà vàng đúc, đêm thanh ấm áp Lầu ngọc cao, say ắp mầu xuân Anh em sướng đủ mọi phần Mà cho thiên hạ có lần rẻ trai Vẳng tiên nhạc khắp nơi nghe biết Làn gió đưa cao tít Ly cung Suốt ngày múa hát thung dung Tiếng tơ, tiếng trúc say lòng quân vương Ầm tiếng trống Ngư Dương kéo đến Khúc Nghê Thường tan biến như không Chín lần thành khuyết bị tung Nghìn xe, muôn ngựa qua vùng Tây Nam Đi lại đứng hơn trăm dậm đất Cờ thuý hoa bóng phất lung lay Sáu quân rúng rắng làm rầy Mày ngài trước ngựa lúc này thương ôi! Ai người nhặt thoa rơi bỏ đất Ôi! Thuý Kiều ngọc nát vàng phai Quân vương bưng mặt cho rồi Quay đầu trông lại, máu trôi lệ dàn Gió tung bụi mê man tản mác Đường thang mây Kiếm Các lần đi Vắng tanh, dưới núi Nga My Mặt trời nhạt thếch, tinh kỳ buồn tênh Đát Ba Thục non xanh nước biếc Lòng vua cha thương tiếc hôm mai Thấy trăng luống những đau người Đêm mưa đứt ruột, canh dài tiếng chuông Phút trời đất quay cuồng vận số Bánh xe rồng đến chỗ ngày xưa Đất bùn chỗ chết còn trơ Thấy đâu mặt ngọc! Bây giờ Mã Ngôi! Đầm vạt áo, vua tôi giọt lệ Gióng dây cương, ngựa tế về đông Cảnh xua dương liễu, phù dung Vị Ương, Thái Dịch hồ cung vẹn mười Phù dung đó, mặt ai đâu tá? Mày liễu đâu? Cho lá còn như Càng trông hoa liễu năm xưa Càng xui nước mắt như mưa ướt đầm Xuân đào lý gió đêm huê nở Thu khi mưa rụng lá ngô đồng Kìa Nam Uyển, nọ Tây Cung Đầy thềm ai quét lá hồng thu rơi? Vườn lê cũ những ai con hát? Mái tóc coi trắng phớt lạ lùng Những ai coi giữ tiêu phòng? Mày xanh thuở ấy nay cùng già nhăn Trước cung điện nhìn sân đêm tối Đom đóm bay gợi mối u sầu Ngọn đền khêu đã cạn dầu Khó thay, giấc ngủ dễ hầu ngủ xong! Tiếng canh tối tùng tùng điểm trống Năm canh dài chẳng giống đêm xưa Sông Ngân lấp lánh sao thưa Trời như muốn sáng, sao chưa sáng trời? Tren mái ngói sương rơi ướt lạnh Trong chăn nằm bên cạnh nào ai? Cách năm sống thác đôi nơi Thấy đâu hồn phách vãng lai giấc nồng? Khách đạo sĩ Lâm Cùng có gã Chơi Hồng Đô phép lạ thần thông Xót vì vua chúa nhớ nhung Mới sai phương sĩ hết lòng ra tay Cưỡi luồng gió như bay như biến Tren trời xanh, dưới đến đất đen Hai nơi bích lạc, hoàng tuyền Dưới tren tìm khắp mơ huyền thấy chi! Sực nghe nói tìm đi mé bể, Có non tiên ngoài phía hư không Rỡ ràng cugn điện linh lung Xa trông năm sắc mây lồng đẹp sao! Trong tha thướt biết bao tiên tử Một nàng tiên tên chữ Ngọc Chân Mặt hoa da tuyết trắng ngần Dáng như người ấy có phần phải chăng? Mái tây gõ cửa vàng then ngọc Cậy đưa tin Tiểu Ngọc, Song Thành Nghe tin sứ giả Hán Đình Cửa hoa trong trướng giật mình giấc mơ Cầm áo dậy, thẩn thơ buồn bực, Mở rèm châu, bình bạc lần ra Bâng khoâng nửa mái mây tà Thềm cao xuống chiếc mũ hoa lệch đầu Phớt tay áo bay màu ngọn gió Giống Nghê Thường khúc múa năm xưa Lệ dàn mặt ngọc lưa thưa Cành lê hoa trĩu hạt mưa xuân đầm Ngừng nước mắt âm thầm buồn bã Đội ơn lòng, xin tạ quân vương Từ ngày cách trở đôi phương Vắng tanh tăm tiếng, mơ màng hình dong Nơi đế điện dứt vòng ân ái Chốn tiên cugn thư thái hàng ngày Cõi trần ngoảnh lại mà hay Tràng An chẳng thấy, thấy đầy bụi nhơ! Lấy chi tỏ tình xưa thăm thú? Gửi cành hoa vật cũ cầm xuôi Thoa vàng hộp khảm phân đôi Nửa xin để lại nửa thời đem đi Chỉ xin nguyện lòng ghi dạ tạc Tựa hoa vàng bền chắc không phai Thời cho cách trở đôi nơi Nhân gian rồi với trên trời gặp nhau n cần dặn mấy câu lâm biệt Lời thề xưa lòng biết với lòng Là đêm trùng thất ngồi chung Trường Sinh sẵn điện vắng không bóng người Xin kết nguyện chim trời liền cánh Xin làm cây cành nhánh liền nhau Thấm chi trời đất dài lâu Giận này dặc dặc dễ hầu có nguôi…
Sông Biện chảy Sông Tứ trôi Cùng qua bến cũ đất Qua châu Núi Ngô luống ngậm ngùi
Ý mênh mông Giận thâm sâu Giận tới khi nào người trở lại Trăng soi ai tựa lầu.
Tháng chín trời gió tây thường thổi Trăng lạnh lùng, sương gội thôi rơi Suốt đêm thu nhớ chàng thôi Hồn bay lên chín tầng trời mênh mông Tháng hai thì gió đông thổi tới Cỏ đâm ra lá mới, nở hoa Nhớ chàng xuân chậm đi qua Cả ngày ngơ ngẩn vào ra bồi hồi Em ở phía bắc nơi cầu Lạc Chàng ở nam cầu Lạc rõ ràng Năm mười lăm tuổi biết chàng Năm nay đã tám năm trường trôi qua Em như cỏ nữ la thân mảnh Sống đong đưa bên nhánh cây thông Gặp cành cây ngắn hết hòng Lên cao không được, quay vòng trở lui Người ta bảo dâng lời phát nguyện Lên tới trời sẽ biến thành mơ Nguyện làm muông thú nơi xa Sánh vai cất bước la cà bên nhau Nguyện làm cây chốn rừng sâu Giao cành kết lá bên nhau sống còn.
Hoa chẳng phải hoa, sương cũng chẳng, Đêm nửa đêm rồi, trời đã sáng. Đến như xuân mộng chẳng bao lâu, Đi như mây sớm không tăm dạng.
Khăn là lệ đẫm mộng tan Canh khuya điện trước vẫn đàn ca vui Má hồng ân sủng hết rồi Tựa lò hương lạnh mà ngôì suốt đêm.
Bạch Cư Dị là nhà thơ tiêu biểu cho tư tưởng “nghệ thuật vị nhân sinh”, những tác phẩm của ông luôn ưu tiên biểu hiện tính chân thực của cuộc sống từ đó đả kích những bất công tồn tại trong xã hội phong kiến. Những tư tưởng nhân đạo trong thơ ca của ông, cách kể chuyện đặc sắc bằng thơ với cách dùng từ đẹp, bay bổng sẽ mãi lưu truyền trong tâm hồn những người yêu thơ ca.
Sưu tầm
Link nội dung: https://melodious.edu.vn/bach-cu-di-a103975.html