Mỗi lần đọc văn Nam Cao là mỗi lần tôi lại rưng rưng xúc đông và ám ảnh. Những trang đời, những trang văn nóng hổi của Nam Cao vẫn còn mãi như một cảm xúc không thể nguôi trong lòng độc giả. Có người nói văn Nam Cao đậm chất triết luận. Nhưng tôi lại cảm nhận được trong ông, con người nghệ sĩ và con người triết gia cùng cầm chung một ngòi bút. Tính nghệ sĩ, tính nhân văn cao cả được thể hiện qua giọt nước mắt trong những trang văn của nhà văn Nam Cao.
Nam Cao không tin vào tình yêu. Nam Cao chỉ tin vào tình thương. Ông dành cả cuộc đời mình để tôn vinh tình thương ở cái thời mà tình thương bị khinh rẻ, chà đạp. Biểu tượng của tình thương trong trang văn của Nam Cao là giọt nước mắt. Ông tỏ ra là người rất tin tưởng vào giọt nước mắt hướng thiện, thiên lương của con người. Trong lời đề từ của truyện ngắn "Nước mắt", chính ông đã từng viết: " Người ta chỉ xấu xa, hư hỏng trước đôi mắt háo hoảnh của phường ích kỷ ; và nước mắt là một miếng kính biến hình vũ trụ." Phải chăng nhà văn đã dùng nước mắt làm thước đo chuẩn mực để đánh giá nhân cách con người? Đánh giá con người qua giọt nước mắt nghĩa là nhà văn đang nhìn nhận con người bằng tình thương và sự trân trọng, bằng trách nhiệm. Chỉ khi đó, thế giới mới có thể "biến hình", và ta mới có thể sau những "gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi" là những vẻ đẹp cao quý, thánh thiện. Nhìn đời qua nước mắt, bằng tình thương, nhà văn đã đi sâu phát hiện bản chất đích thực của cuộc đời và con người.
Có thể thấy gần như truyện nào của Nam Cao cũng có hình ảnh nước mắt. Trước Cách mạng, ngòi bút của ông thường hướng về kiếp sống lay lắt, xác xơ của những người nông dân khố rách áo ôm hay những người trí thức thường xuyên thất nghiệp, quẩn quanh ở xó nhà quê hay những xóm trọ nghèo nàn. Bởi vậy hình ảnh nước mắt trong văn ông xuất hiện với tần số khá cao. Ngay cả tiếng cười trong truyện ngắn cùng tên cũng chỉ là tiếng khóc đảo ngược. Nhân vật "hắn" dùng tiếng cười là liều thuốc giải uất bởi cám cảnh gia đình túng bấn, vợ chồng bất hòa, con cái nheo nhóc, the thé khóc. “Nhà um lên những tiếng dứt lác, dằn vặt, hắt hủi và khóc lóc.” Hắn cười vì hắn “sợ cái chết trong lúc sống : cái chết đáng buồn của những người sống sờ sờ ra đấy, nhưng chẳng dùng sự sống của mình vào công việc gì …”. Nhà văn còn có hẳn một truyện ngắn mang tên "Nước mắt" cũng đẫm đầy giọt lệ: nước mắt đầm đìa của Điền, của cái Hường - con Điền, nước mắt giàn giụa của ông Phán láng giềng nhà Điền. “Chỉ vì người nào cũng khổ cả, vì người nọ cứ tưởng vì người kia mà khổ” nên “nghiến rứt” nhau, đối xử “tàn nhẫn” với nhau, “làm khổ lẫn nhau”. Hay là "Một đám cưới" mà tưởng chừng như một đám ma bởi những giọt nước mắt: nước mắt lúc đám cưới đi "cô dâu sụt sịt khóc đi bên cạnh mẹ chồng", nước mắt sau đám cưới : ban đầu Dần “sụt sịt khóc” rồi Dần “khóc nấc lên, nức nơ”, “thằng lớn chực khóc, thằng bé ngây mặt ra, người cha thấy lòng thổn thức…”. Rồi Sống mòn, Trăng sáng, Đời thừa, Chí Phèo, Lão Hạc, Từ ngày mẹ chết, Bài học quét nhà, Dì Hảo, Điếu văn… truyện nào cũng chan chứa, đầm đìa những giọt nước mắt cay đắng, tủi cực… góp phần làm nên một đặc điểm thi pháp truyện Nam Cao trước Cách mạng.
Với sự xuất hiện dày đặc như vậy, giọt nước mắt trong văn Nam Cao gồm hai tầng ý nghĩa. Thứ nhất, nước mắt là hiện thân của nỗi thống khổ, bất hạnh. Bằng lòng yêu thương, gắn bó, ân tình sâu nặng đối với những người nghèo khổ, Nam Cao đã hướng đến những số phận hẩm hiu, bị bần cùng đến mức thê thảm. Nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa luôn luôn bị gánh nặng cơm áo ghì sát đất, bị những lo lắng tủn mủn về vật chất mà phải viết những áng văn vô bổ, đọc lên người ta sẽ quên ngay. Rồi cũng vì cái gánh nặng cơm áo gạo tiền kia mà Hộ đã vi phạm lẽ sống, vi phạm nguyên tắc tình thương của mình. Hay như Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên, lão chỉ có mảnh vườn là thứ duy nhất để bù chì tạo lập cho giọt máu duy nhất của mình. Để rồi lão phải đi vào bi kich khi đứng giữa hai sự lựa chọn: muốn sống thì phải bán mảnh vườn, còn muốn giữ mảnh vườn thì phải chết. Hay nói cách khác, muốn bán mảnh vườn thì phải lỗi đạo làm cha, còn muốn làm trọn đạo phụ tử thì chỉ còn cách kết liễu cuộc đời mình. Cái chết vì bả chó của Lão Hạc âu cũng là hệ quả của sự đói nghèo, bần hàn bức tử số phận của một kiếp người. Hay như bà cái Tý trong truyện ngắn "Một bữa no". Bà lão tội nghiệp đã phải nhịn đói mấy hôm rồi nên bà hờ con suốt đêm, bà hờ thê thảm lắm, bà khóc đến gần mòn hết ra thành nước mắt. Đến gần sáng thì bà không còn sức mà khóc nữa. Vì vậy mà óc bà “sáng suốt”, bà nghĩ ngợi và tìm ra một kế : bà đi “ăn rình” nhà bà phó Thụ một bữa ! Bà lão bằng mọi giá phải được “một bữa no” trong sự lườm nguýt, chì chiết, nhục mạ của bà phó. Bà ăn ngay, ăn vội vàng, lập cập vì sợ người khác ăn hết. Rồi bà còn cạo nồi sồn sột, bà trộn mắm, bà rấm nốt. Nam Cao bề ngoài có vẻ thản nhiên, lạnh lùng miêu tả chậm rãi từng chi tiết nhưng kỳ thực trang văn đã đẫm đầy những giọt nước mắt thương cảm, chua xót trước cảnh vì đói khát mà có những người nông dân phải đổi nỗi khổ về vật chất lấy nỗi nhục về tinh thần, từ bỏ cả lòng tự trọng và nhân cách con người.Đến nhân vật bé Dần trong Một đám cưới hay dì Hảo đáng thương tội nghiệp trong truyện ngắn cùng tên,… tất cả họ đều là sản phẩm bi kịch của cái nghèo đói, bần cùng.
Nam Cao không chỉ nhìn thấy bi kịch của sự đói nghèo, đôi mắt nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của nhà văn còn giúp ông phát hiện những tấn bi kịch tinh thần đau đớn, day dứt, nhưng không kém giằng co, dữ dội trong tâm hồn những con người cùng khổ. Nhân vật Thứ trong Sống mòn là một thanh niên trí thức nghèo luôn luôn suy nghĩ, dằn vặt giữa nỗi lo tồn tại với khát vọng cao xa về một lý tưởng tốt đẹp. Nhưng trong bản thân Thứ lại tồn tại những mâu thuẫn khó lý giải. Y vừa tự ti nghĩ “mình chỉ là một anh giáo khổ trường tư, lương kém lương anh bồi khách sạn to”, không dám vào nhà Hải Nam vì y là người vốn “hãi người” như gia đình hay mắng nhưng có lúc lại tâm niệm "sẽ dành hết thời gian cho nhà trường và lũ học trò". Chính anh đã đề ra một lí tưởng xã hội cao đẹp: "Phải tiêu diệt hết những kẻ ăn không, ngồi rồi, hưởng những thứ người khác làm ra mà chẳng làm ra một cái gì. Ai cũng phải làm, ai làm cũng phải được no đủ, tự do. Có lúc y có những hành động trả miếng lại Oanh ích kỉ, đê tiện, nhưng có lúc lại tế nhị đến mức cứ áy náy mãi chỉ vì sự có mặt của mình và San trong nơi trọ mới gia đình ông Học “làm vướng víu cái hạnh phúc giản dị của gia đình họ”. Đó là sự giằng xé nội tâm, một sự trộn lẫn nhiều tính cách trong một con người ở từng hoàn cảnh cụ thể. Trong mỗi nhân vật trí thức của Nam Cao, họ luôn tự đối mặt và đối thoại với nhau. Đó là thế giới của những dằn vặt, những suy tư, ao ước, trăn trở của một anh trí thức nghèo. Thứ đã từng có khát vọng lý tưởng, náo nức ý nguyện cải tạo và xây dựng cái trường. Nhưng chỉ mới sau vài năm sống trong cuộc sống tù tùng, nghèo đói con người Thứ đã trở nên ti tiện, ích kỉ và tính toán. Cuộc sống đã vùi dập ước vọng của Thứ, khiến y một mặt muốn đối xử với mọi người bằng tình thương nhưng một mặt y lại hẹp hòi, tàn nhẫn vì sĩ diện hão. Chứng kiến cảnh người ta nói vợ San ngoại tình, trong lòng Thứ cảm thấy hả hê và vừa lòng lắm. Thứ đã nhanh chóng trở thành một anh nhà giáo lù rù, xo xúi, an phận. Những ước mơ cao rộng của y dần dần bị lụi tắt, mọi suy tính của y không vượt ra nổi vòng vây áo cơm cứ thít chặt quanh cái gia đình lớn bé của anh, rộng ra là cả một quần thể người sống quanh anh - nơi một cái làng quê, và một xóm nhỏ ngoại ô, “kiếp chúng mình tức lạ. Sao mà cái đời nó tù túng, nó chật hẹp, nó bần tiện thế! Không bao giờ dám nhìn cao một tí..Như vậy thì sống làm gì cho cực ?”. Đó là hình ảnh một con người trí thức bị bào mòn dần về nhân cách và tinh thần, họ như đang chết mòn trong cái cuộc sống chật hẹp khốn khổ không thể thực hiện được chí hướng của chính mình nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung đã viết: “Trong sáng tác, Nam Cao đã nhiều lần đề cập và ca ngợi nước mắt. Nhân vật tiểu tư sản của ông thường là những người hay bị hối hận giày vò và thường khóc vì hối hận. Đó không phải là thứ hối hận ồn ào, hời hợt của những kẻ lấy việc xỉ vả mình để khoe khoang, cũng không phải thứ hối hận có chu kỳ của nhiều kẻ tiểu tư sản dùng để xoa dịu cái lương tâm rách nát của mình trong khi vẫn buông mình theo cái xấu. Mà đó là sự giằng xé chảy máu của những tâm hồn trung thực, khát khao lương thiện.
Thứ hai, giọt nước mắt là giọt châu của loài người, là hiện thân cho vẻ đẹp, là biểu tượng của nhân tính. Nam Cao là người tin vào nước mắt, xem nước mắt là hiện thân của tính người. Nhà văn Dương Tường đã từng viết " Tôi đứng về phe nước mắt". Nhà văn Nam Cao là một người như vậy. Trong truyện ngắn Đời thừa, sự tha hóa của con người trong văn chương, đại diện là nhân vật Hộ, được biểu hiện một cách sắc sảo và rõ nét. Từ một ngòi bút sáng tạo với cách viết thận trọng, có lí tưởng, hoài bão lớn, Hộ lại trở thành một ngòi bút tầm thường, viết văn chỉ vì miếng cơm manh áo. Từ một con người tử tế, sống có tình thương, biết nâng đỡ kẻ yếu, Hộ đã trở thành một người tồi tệ. Hộ cứu vớt Từ- một người phụ nữ bất hạnh bị tình phụ, rồi Hộ lại giày xéo lên chính người phụ nữ mà mình đã cứu vớt, giày xéo lên những kẻ yếu đuối, chà đạp lên quan niệm tư tưởng của mình. Để rồi sau mỗi lần say, sau mỗi lần hành hạ vợ con, Hộ lại phải day dứt lương tâm, hối hận đến đau đớn. Đó là cái đau đớn của sự tha hóa. Đêm về, khi Hộ đã tỉnh rượu và tỉnh ngộ, Hộ đã có sự bừng tỉnh của lương tâm và lương tri. Đó là sự bừng tỉnh của phần người trong con người. Nhìn người vợ đáng thương với cái dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não, “Nước mắt hắn bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh. Và hắn khóc… Ôi chao ! Hắn khóc ! Hắn khóc nức nở, khóc như thể không ra tiếng khóc.” Đó là lúc Hộ đẹp nhất, là lúc con người lương tri, con người lương tâm thức tỉnh. Chuyện kết thúc nhưng cuộc đời Hộ chưa khép lại. Cảnh cuối cùng với những giọt nước mắt Hộ đã làm người đọc ít nhiều hy vọng nó sẽ thanh lọc tâm hồn, nâng đỡ nhân cách của anh, giữ anh lại trước vực thẳm sa ngã.
Giọt nước mắt của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên, về một mặt nào đó, còn tầm cỡ hơn giọt nước mắt của Hộ. Có người cho rằng Chí Phèo là một con người không được nhận tình người nên không có tính người. Chí Phèo từ một người lương thiện thành một người bất lương là nhờ nhà tù. Còn từ một người bất lương thành con quỷ dữ lại là nhờ Bá Kiến. Con người này nhìn đời bằng đôi mắt hoàn toàn ráo hoảnh. Hắn căm hận mọi thứ, mọi người. Để rồi, cho đến khi gặp Thị Nở, đôi mắt ấy bắt đầu biết khóc. Vai trò quan trọng nhất của Thị Nở là làm sống dậy giọt nước mắt của Chí Phèo. Bởi vì chỉ khi gặp Thị Nở, Chí Phèo mới ý thức được tình trạng tha hóa của mình. Chí Phèo khóc một cách thầm lặng, kín đáo: "hắn thấy mắt mình ươn ướt". Một sự xúc động chân thành chăng? Dầu sao, may mà Chí Phèo còn biết khóc, biết cảm động trước bát cháo hành của Thị Nở, trước cử chỉ chăm sóc, trước tình người. Chí Phèo đã khóc, đó là sự trở về của tính người. Giọt nước mắt mờ nhạt cho thấy biến động lớn trong lòng Chí Phèo, là sự trở về của lương tri, của tình người đang hoàn lương trong tâm hồn Chí Phèo.
Nhưng bà cô Thị Nở lại gạt phắt đi một cách phũ phàng, đánh vỡ ước mơ được sống cuộc sống đúng nghĩa con người của Chí Phèo. Đau đớn cùng cực, Chí Phèo lại tìm đến rượu để giải sầu. Nhưng lần này lại khác mọi lần , càng uống Chí lại càng tỉnh ra. "Hắn ôm mặt khóc rưng rưng". Thật lạ, con người khi hy vọng cũng khóc, khi thất vọng lại khóc. Khởi đầu sự tỉnh thức là nước mắt và kết thúc cũng lại là nước mắt. Nhưng nếu khởi đầu là giọt nước mắt ăn năn thì kết thúc lại là giọt nước mắt tuyệt vọng.
Nước mắt là giọt châu của loài người, là tấm kính biến hình vũ trụ để cho nhân vật giải toả nỗi đau, sự bi phẫn đến cùng cực. Nhưng nước mắt vẫn chỉ là nước mắt. Do vậy, nhân vật của Nam Cao vẫn rơi vào bế tắc. Hộ không giải quyết được bi kịch gia đình; Chí Phèo phải tìm đến cái chết sau khi đã giết được kẻ thù của mình. Cần phải có thời gian, có ánh sáng của Đảng soi rọi, người trí thức tiểu tư sản và người nông dân nghèo của Nam Cao mới có thể thay đổi cuộc đời của họ.
Nam Cao đã nhỏ biết bao giọt nước mắt xót thương cho nhân vật của mình? Nào ai mà biết được! Chỉ biết rằng đằng sau cái vẻ ngoài lạnh lùng của câu chữ là một trái tim ấm áp tình đời, tình người thiết tha. Người ta văn Nam Cao giống như cái phích nước trong nóng ngoài lạnh phải chăng là vì thế?
Trò cũ Nguyễn Mai Thương - Học sinh chuyên văn trường THPT chuyên Hà Tĩnh.
Lương Sỹ Hiệp @ 10:56 30/09/2014 Số lượt xem: 19082