Thể toàn bộ với shunt trái sang phải lớn gây ra triệu chứng của suy tim (ví dụ, thở nhanh, khó thở khi ăn, chậm tăng cân, vã mồ hôi) từ 4 đến 6 tuần. Bệnh tắc nghẽn mạch máu phổi (hội chứng Eisenmenger) thường là biến chứng muộn nhưng có thể xảy ra sớm hơn, đặc biệt ở trẻ có Hội chứng Down.
Thông nhĩ thất bán phần thường không gây ra các triệu chứng trong thời thơ ấu miễn là hở van nhĩ thất trái nhẹ hoặc không có hở van. Tuy nhiên, các triệu chứng (ví dụ, giảm khả năng gắng sức, mệt mỏi, đánh trống ngực) có thể phát triển trong giai đoạn thanh thiếu niên hoặc ở đầu tuổi trưởng thành. Trẻ sơ sinh bị hở van nhĩ thất vừa hoặc nặng thường có dấu hiệu suy tim.
Bệnh nhân có thông sàn nhĩ thất thể trung gian có thể có dấu hiệu suy tim nếu lỗ thông liên thất hạn chế với lưu lượng dòng máu cao hoặc có thể không có triệu chứng nếu lỗ thông liên thất rất hạn chế (nhỏ).
Khám thực thể ở trẻ bị thông nhĩ thất toàn bộ cho thấy thành trước tim hoạt động do quá tải về thể tích và áp lực của tâm thất phải; tiếng tim thứ hai đơn, to (S2) do tăng áp động mạch phổi; tiếng thổi tâm thu độ 2 đến 3/6 do tăng lưu lượng qua đường ra phổi; và đôi khi có tiếng thổi tâm trương ở đỉnh và bờ thấp bên trái xương ức liên quan đến dòng chảy qua van nhĩ thất tăng lên (xem bảng Cường độ tiếng thổi ở tim). Ở những bệnh nhân có tăng sức cản mạch phổi, đặc biệt là những người có hội chứng Down, có thể không có tiếng thổi nhưng có tiếng S2 lớn.
Hầu hết trẻ thông sàn nhĩ thất bán phần khám lâm sàng đều có tiếng tim thứ hai S2 rộng và tiếng thổi giữa thì tâm thu (thổi tâm thu tống máu) nghe được ở phía trên bờ trái xương ức. Tiếng rung tâm trương nghe được phía dưới bờ trái xương ức khi shunt tầng nhĩ lớn. Cleft van hai lá dẫn đến tiếng thổi tâm thu nghe ở đỉnh do hở van hai lá.