Theo Tự nguyên của Lý Học Cần và Triệu Bình An, nghĩa gốc của tù là giam cầm. Điều này được ghi rõ trong Sái trọng chi mệnh (Kinh Thư). Khi dùng như danh từ, ký tự này ám chỉ tù nhân, một người bị giam giữ (Lễ kí. Nguyệt lệnh) về sau mở rộng nghĩa thành "tội ác của tội phạm" (Hán Vũ cố sự). Ngoài ra, tù còn có nghĩa là "kẻ thù bị bắt" (Tả truyện. Tuyên Công thập nhị niên); "bao vây" (Hán thư. Mai Thừa truyện) hay "hạn chế, giới hạn" (Đông Nhật của Mạnh Giao đời Đường).
Bây giờ, chúng ta thử ngược dòng thời gian để tìm hiểu câu Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại.
Từ nửa đầu thế kỷ 20, trong bài thơ Tứ cá nguyệt liễu (Bốn tháng rồi) của Chủ tịch Hồ Chí Minh có 2 câu mở đầu như sau: Nhất nhật tù thiên thu tại ngoại; Cổ nhân chi thoại bất sai ngoa (Một ngày tù, ngàn năm ở ngoài; Lời người xưa nói không có sai), trích Nhật ký trong tù. Như vậy, Bác Hồ đã cho biết "Nhất nhật tù thiên thu tại ngoại" là câu nói của người xưa chứ không phải do Bác sáng tác.
Từ năm 1914 - 1915, nhà thơ Phan Châu Trinh bị thực dân Pháp bắt giam tại ngục Santé ở Paris khoảng 10 tháng. Trong thời gian ở tù, ông sáng tác tập thơ Santé thi tập bằng chữ Quốc ngữ, trong đó có bài nhan đề là Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại. Tuy nhiên, câu này cũng không phải do Phan Châu Trinh sáng tác, vì từ năm 1877, tức trước đó 37 năm, quyển Dictionarium anamitico-latinum (Từ điển tiếng Anamit-Latin) của Taberd Constans, do J.S. Theurel hiệu đính và bổ sung đã cho thấy câu Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại (trong mục "tù", tr.508).
Hiện nay chúng ta chỉ biết câu "Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại" tương ứng với câu chữ Hán là 一日在囚千秋在外, chứ chưa có tài liệu nào cho biết nguồn gốc câu này xuất phát từ đâu, do ai sáng tác. Chỉ biết rằng khái niệm nhất nhật (một ngày) và thiên thu (ngàn năm) là từ chỉ thời gian vật lý, dùng để diễn tả thời gian tâm lý trong tâm trạng của người tù.