Tranh dân gian là nơi thể hiện rõ nhất đặc trưng của tính “Dân gian”: Tam sao thất bản. Hiện nay trên sách, báo, mạng internet, hoặc trong các sưu tập cá nhân đang lưu hành rất nhiều phiên bản tranh Ngũ hổ khác nhau với hai cách gọi chính: “Tranh Ngũ hổ Hàng Trống”, “Tranh Ngũ hổ Đông Hồ”. Xin lọc ra 15 phiên bản điển hình và ký hiệu từng bản là HT 1…(Hàng Trống 1,2,3,4,5,6) và ĐH 1…(Đông Hồ 1,2,3,4,5):
Tranh ngũ hổ Hàng Trống
Hàng Trống 1
Hàng Trống 2
Hàng Trống 3
Hàng Trống 4
Hàng Trống 5
Hàng Trống 6
Sáu phiên bản trên có hai điểm giống nhau đó là ông hổ trung tâm cân đối, nhìn trực diện với người xem, và mỗi tranh đều có chòm sao Bắc đẩu, hay còn gọi là Bắc đẩu thất tinh ở phía trên.
Về tạo hình:
- Bức HT 1, hai ông hổ phía trên nhìn chếch ra phía ngoài, 5 bức còn lại hai ông hổ phía trên nhìn vào trong. Đây là bức tranh trên trang web Tranh dân gian Hàng Trống của nghệ nhân ưu tú Lê Đình Nghiên - người mà báo chí thường gọi là nghệ nhân cuối cùng của dòng tranh Hàng Trống. Niên đại: 2019, kích thước tranh gốc: 60×73 cm.
- Hòm ấn - mà ông hổ trung tâm đang ôm, và khu vực phía dưới hòm ấn mỗi bức khác nhau một ít.
- Những đám mây khác nhau về hình thù và màu, bức thì ngũ sắc, bức thì đơn sắc.
- Bức HT 4 có cờ bên trái (người xem), kiếm bên phải, năm bức kia ngược lại.
Về vị trí màu sắc 5 ông hổ:
-Trong 6 bức tranh trên chỉ có bức HT 2 vị trí màu của các ông hổ khác với 5 bức còn lại. Điều này sẽ được phân tích kỹ hơn ở dưới bài. Bức này thuộc bộ sưu tập của Phan Ngọc Khuê - tác giả cuốn sách Tranh dân gian Hàng Trống Hà Nội, nxb Hà Nội 2018.
- Bức HT 5 chỉ khác bức HT 1 ở những đám mây. Bức tranh này thuộc bộ sưu tập của Durand, mua ở Hà Nội những năm 1954-1957, xuất bản thành sách lần đầu tại Pari từ năm 1960 được Nguyễn Thị Hiệp dịch ra tiếng việt với tên: Tranh dân gian việt Nam sưu tầm và nghiên cứu, nxb tổng hợp tp Hồ Chí Minh xuất bản năm 2019.
- Bức HT 6 chỉ khác bức HT 5 ở hai ông hổ phía trên, màu vàng của ông hổ trung tâm đã bị phai nhạt theo thời gian. Bức tranh này thuộc bộ sưu tập của gia đình cố nghệ nhân Hiền Năng, mua ở phố Hàng Nón vào khoảng năm 1950, vẽ trên giấy Xuyến chỉ, kích thước 19,3 x 25cm (rất nhỏ so với bức tranh của Lê Đình Nghiên)
- Những bức khác sưu tầm trên mạng internet.
2.Tranh ngũ hổ Đông Hồ
Đông Hồ 1
Đông Hồ 2
Đông Hồ 3
Đông Hồ 4
Đông Hồ 5
Trong các bức tranh ngũ hổ Đông Hồ, ông hổ trung tâm nhìn chếch sang một phía, một chân thõng xuống, hai ông hổ phía trên ngoảnh đầu ra phía ngoài (giống tranh HT 1), phía trên không có chòm thất tinh, hình dạng các đám mây rất đơn giản. Tranh ĐH 1, ĐH2 cờ bên trái, kiếm bên phải, ông hổ trung tâm thõng chân phải; Các bức ĐH 3,4,5 ngược lại (Khi sao mẫu (bằng giấy mỏng), nghệ nhân chỉ việc lật ngược tờ tranh lên, lấy mặt sau là được bản đối xứng như vậy)
Về vị trí màu sắc 5 ông hổ: Hai bức ĐH 2, ĐH 3 giống nhau, tất cả các bức còn lại đều khác nhau và khác hai bức trên.
- Bức ĐH 4 được chụp lại trong cuốn sách “Dòng tranh dân gian Hàng Trống” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hoà, với chú thích: “22. “ngũ hổ thần tướng” năm 1952, mua tại Sơn Tây, Hà Tây cũ. Nguồn: Hiện vật của Bảo tàng Quai Branly Pháp.
3.Tranh ngũ hổ khác



Những bức tranh ngũ hổ dân gian đã được nhiều nhà Lý học phương đông nghiên cứu khá kĩ, những bài viết của họ đã được nhiều người khác trích dẫn. Xin đơn cử hai tác giả sau đây
- Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Nhà nghiên cứu phong thuỷ, bút danh Thiên Sứ, người sáng lập trung tâm Phong thuỷ Địa Lý Lạc Việt). Trong cuốn sách “Tìm về cội nguồn Kinh dịch” (NXB Văn hoá thông tin 2002) và trang mạng lyhocphuongdong.org.vn ông lập đồ hình ngũ hành trên bức ĐH 1 :
và nhận xét: “Màu sắc của 4 hổ con theo chiều Ngũ hành tương khắc. Điều này hoàn toàn trùng khớp với nguyên lý tương khắc của Ngũ hành trong đồ hình Lạc thư. Một điều độc đáo nữa là Hổ vàng trong tranh Đông Hồ cũng đặt bàn chân đầy uy vũ lên một hòm ấn, trên có ghi một hình chữ nhật và 6 gạch bí ẩn. Nếu chúng ta quay 900 hình chữ nhật và bỏ hai vạch dọc, thì đây chính là quẻ Bát thuần Càn . Hiện tượng này hoàn toàn phù hợp với nội dung mang thuộc tính Dương của Lạc thư (độ số Dương của Lạc thư là 25, trội hơn độ số Âm là 20).
Hình bùa trên hòm ấn tranh Ngũ Hổ Đông Hồ và quẻ Bát Thuần Càn trong Kinh dịch.
(hết trích)
- TS. Hà Hưng Quốc, chuyên gia Lý học phương đông, chủ trang blog Vườn ươm việt dịch (https://vietdich.blogspot.com)
Trong bài “Giải mã tranh ngũ hổ Hàng Trống và Đông Hồ” (đăng blog trên và cả trên Website khoa ngữ văn ĐHSP Hà Nội). Sau khi lập đồ hình trên bức ĐH 2:
Ông viết: “Nếu khảo sát dưới lăng kính của Lý Thuyết Ngũ Hành Phổ Cập thì có lẽ NVTA sẽ phải đi tới kết luận là “loạn ngũ hành” bởi vì sự sai lệnh màu sắc của nó không còn có chỗ nào để có thể “nói nên lời” được nữa.
Nhưng nếu khảo sát bức hình này dưới lăng kính Lý Thuyết Ngũ Hành Nguyên Thủy thì lại là một chuyện khác. Sử dụng cùng một kỹ thuật giải mã, tức là nhìn vào hai gương phản chiếu nằm ở hai bên, thì chúng ta sẽ thấy từ hình nền sẽ cho ra hai bức đồ họa phản sự vận hành ngược chiều nhau của hai cặp hành Thủy-Hỏa và Kim-Mộc, như cho thấy trong hình H6
Sau khi phân tích rất kỹ, TS Hà Hưng Quốc kết luận:
“Lý Thuyết Ngũ Hành Nguyên Thủy đã được tiền nhân mã hóa vào bức tranh Ngũ Hổ Đông Hồ. Bên sau cái bình phong “sai lệch về vị trí màu sắc tạo nên Ngũ hành tương sinh ngược chiều kim đồng hồ” là một kỹ thuật mã hóa rất tinh vi, hơn cả cách mã hóa của tranh Ngũ Hổ Hàng Trống”. (hết trích)
Thưa quí độc giả, hai tác giả trên đã dành nhiều công sức để nghiên cứu, với những cơ sở lý thuyết rất chặt chẽ . Không phán xét những phân tích trên, tôi chỉ xin trình bày những điều mắt thấy tai nghe, tay làm về những bức tranh ngũ hổ.
Nói tới tranh Đông Hồ người ta nhớ tới câu thơ của Hoàng Cầm:
“Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong. Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”
Đó mới là tranh gốc của Đông Hồ, đặc sản của Đông Hồ. Màu mà các nghệ nhân Đông Hồ in tranh được làm từ vật liệu trong thiên nhiên: lá chàm, hoa hoè, than lá tre…). Những hình thể, đường nét trong tranh Đông Hồ thường đơn giản, không chau chuốt. Ngược lại tranh Hàng Trống chỉ in màu đen trên giấy in báo , rồi tô màu (bằng phẩm nhuộm)- nhưng tô rất cầu kì, cẩn thận, ngoài ra còn vẽ thêm, bạn đọc ngắm kỹ những bộ ria, lông mày, lông nách của các ông hổ. Đặc biệt là kỹ thuật “vờn” (hay còn gọi là “cản màu”: Dùng bút lông dẹt chấm một nửa ngọn bút vào màu, nửa còn lại vào keo, nét bút tạo ra vệt màu chuyển sắc độ từ đậm sang nhạt (xem các đám mây đơn sắc cuồn cuộn trên tranh HT 1, HT 2). Chính vì đòi hỏi kỹ thuật cao như vậy nên mỗi bức tranh Hàng Trống thường được vẽ bởi chỉ một nghệ nhân).

Mời bạn đọc xem hoạ sĩ Đức Hoà nói về sự khác biệt căn bản giữa tranh Hàng Trống và tranh Đông Hồ: “Tranh Đông Hồ cỡ nhỏ, in ra hàng loạt, bán giá rẻ cho mọi nhà nông. Nhưng tranh Hàng Trống cỡ to, thậm chí rất to (kích thước có thể tương đương khổ giấy A0 ngày nay) và kén khách, giá cao nếu so với khả năng mua của bình dân. Nghệ nhân Hàng Trống có tay nghề điêu luyện nên chỉ cần in 1 bản nét rồi tay bút (cọ) vờn màu (từ chuyên môn gọi là “cản màu”) và tỉa nét tinh vi. Tất cả các công đoạn chủ chốt làm tranh Hàng Trống đều cần nghệ nhân có tay nghề cao mới làm nổi. Đông Hồ thì chỉ cần người sáng tác mẫu giỏi, gọi là “ra mẫu”, sau đó phân thành các bản mảng theo màu và bản nét để đục rồi in. Khi in, cả gia đình Đông Hồ luân phiên nhau thực hiện các công đoạn, kể cả người không hề biết vẽ vẫn tham gia in tranh ngon lành” (https://thethaovanhoa.vn/cung-la-tranh-dan-gian-tai-sao-net-cua-dong-ho-khac-net-hang-trong)
Đông Hồ đưa tranh đi khắp nơi thì Đông Hồ cũng tiếp nhận tranh từ những vùng khác.
Đầu những năm 30 của thế kỷ XX, tranh thờ (xuất phát từ Hàng Trống Hà Nội , làng Sình, làng chuồn Huế, và cả từ tranh thờ miền núi) du nhập vào Đông Hồ. Trước tiên là nghệ nhân Nguyễn Thể Thức (1882-1943) - người làng thường gọi là cụ Đám Giác, vẽ vài bức Tứ phủ công đồng, Ngũ hổ, Sơn trang… sau có người đặt để thờ , rồi có người đặt để buôn, tranh thờ bắt đầu phát triển - nhưng vẫn là tranh vẽ tay. Sau đó con cụ Đám giác là nghệ nhân Nguyễn Thế Lãm (1913 - 1978) cũng vẽ tranh thờ (trong khi cả làng vẫn làm tranh điệp). Ban đầu các nghệ nhân dùng giấy than để sao từ tờ tranh mẫu, mỗi lần được 3,4 tờ, tiếp theo bồi mặt sau cho tranh dầy lên, làm trục trên, dưới (để tờ tranh cứng cáp và treo ngay được), rồi tô màu , vẽ lại nét, điểm nhỡn (vẽ mắt người), vẽ ria hổ (bằng Kim nhũ, Ngân nhũ).
Cho tới những năm 50 của thế kỉ XX, tranh thờ tiêu thụ được nhiều, nghệ nhân Hiền Năng (1912 - 1993, tên đầy đủ là Phùng Đình Năng, gọi cụ Đám giác là cậu - mời bạn đọc xem bài “Nghệ nhân tranh dân gian Đông Hồ Hiền Năng” trên tạp chí Mỹ thuật thời nay số xuân Mậu Dần 1998) đã mở rộng sản xuất loại tranh này. Nghệ nhân Hiền Năng lấy một số mẫu của cụ Đám Giác - đã cải biên từ tranh Hàng Trống, cải biên một lần nữa (với tinh thần đơn giản hóa để cả nhà cùng làm được, mỗi người một công đoạn). Ban đầu cũng dùng giấy than để sao từ mẫu tranh ra, một thời gian sau, nghệ nhân Hiền Năng thuê cắt ván (khắc gỗ), in hàng loạt.
Tranh “Ngũ hổ Đông Hồ” - mà các tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh và Hà Hưng Quốc phân tích ở trên - chính là tranh “Ngũ Hổ Hàng Trống” đã được du nhập về Đông Hồ. Bức tranh HT 6 chính là Gốc của tranh ngũ hổ |Đông Hồ, từ đó nghệ nhân Hiền Năng cải biên cho phù hợp với yêu cầu thực tế: Làm nhanh, nhiều, bán rẻ. Bản khắc gỗ tranh ngũ hổ Đông hồ sau đây ra đời trong hoàn cảnh đó.

Trong bốn bức tranh Ngũ hổ Đông Hồ, hai bức ĐH1, ĐH2 được làm từ cùng một mẫu (có thể từ bản khắc trên) nhưng tô màu khác nhau. Khác với hai bức trên, trong bức ĐH3, ĐH4 hổ trung tâm quay đầu nhìn sang trái, cờ ở bên phải (người xem), kiếm ở bên trái - không in từ bản khắc trên. Bức ĐH3 là tranh in offset. Cả bốn bức này chòm thất tinh đã bị bỏ đi; những đám mây đã được đơn giản hoá rất nhiều so với tranh ngũ hổ Hàng Trống, mây được tô màu chứ không vờn như bức HT1, HT2. Một cải tiến đặc biệt trong tranh ngũ hổ Đông Hồ là ria, lông mày và lông nách các ông hổ cùng với hoa văn trên hòm ấn, trên cờ - được in bằng bản khắc nhỏ, màu in là kim nhũ hoặc ngân nhũ - đó là công đoạn cuối cùng sau khi tô đủ các màu .
Nhiều bản “tranh ngũ hổ Đông Hồ” in rất lem nhem, thể hiện rõ tính chất “hàng chợ”. Bức ĐH 1 màu nền phía trên đáng lẽ là màu hồ thuỷ thì lại tô màu vàng cùng màu ông Hoàng hổ. Bức ĐH2, ĐH 5 các ông hổ còn không có ria (tiếc rằng bức ĐH 2 cũng có mặt trên trang Web của trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp, trong bài Nghệ thuật và triết lý của tranh Đông Hồ)

Việc lược bớt các chi tiết trong tranh Hàng Trống và thứ tự màu sắc thay đổi có những lý do riêng. Thời kì này miền Bắc đang chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, việc làm tranh Điệp được đưa vào tổ làm tranh hợp tác, tranh thờ bị coi là mê tín dị đoan, bị cấm sản xuất và lưu hành (gia đình nghệ nhân Hiền Năng đã từng bị du kích xã tịch thu bộ ván in tranh Ngũ hổ khổ lớn). Vì vậy việc làm tranh thờ là làm vụng, rất cần nhanh chóng, gọn nhẹ, thế nên nhiều chi tiết của tranh Hàng Trống nguyên bản đã bị bỏ đi hoặc đơn giản hóa để nhiều người trong gia đình cùng làm được. Dòng chữ “Pháp đại uy nỗ” được thay bằng mấy cái vạch nằm trong việc đơn giản hoá đó. Ấy vậy mà nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh suy luận: “Nếu chúng ta quay 90o hình chữ nhật và bỏ hai vạch dọc, thì đây chính là quẻ Bát thuần Càn” ! Nếu coi đây là một minh chứng cho “cội nguồn Kinh dịch” thì e rằng khó thuyết phục.
Việc tô màu, ban đầu tuân theo thứ tự như tranh Hàng Trống, cũng là theo bài văn cúng, hát văn ngũ hổ mà trong khi vẽ tranh nghệ nhân Hiền Năng hay đọc cho con cháu nghe, trong đó có có đoạn phân vị trí các Quan hổ như sau:
“Tôi nay vâng lệnh thiên đình Mời quan ngũ hổ uy linh đáo đàn Hoặc là ở sơn trang vui thú Hay về chầu đất tổ Thanh Huê Nghe tôi thỉnh luyện thời về Phi phong hỏa tốc phải tùy phép công Trấn phương Đông mời quan Thanh Hổ Tróc mộc tinh dấu đỏ trên tay Bạch Hổ cai trấn phương Tây Thu kim tinh khí phép rầy ai đương Ông Xích Hổ Nam phương uy ngọ Tróc hỏa tinh đem bỏ ngục trung Bắc phương Hắc Hổ uy hùng Thu trừ thủy khí ngoan hung lạ nhường Trưởng trung ương mời ông Hoàng Hổ Lệnh bài sai phá thổ thạch tinh Ngũ phương ngũ tướng anh linh Nghe tôi hạ lệnh tùy hành chớ sai…” .
Trên mạng internet hiện nay có nhiều bài văn cúng ngũ hổ, có thể khác nhau về từ ngữ những đều trùng khớp vị trí các quan hổ. Hai cuốn sách của Phan Ngọc Khuê và của Nguyễn Thị Thu Hoà đã nhắc ở trên cũng nhắc tới vị trí các quan hổ như vậy.
Cụ thể vị trí các quan hổ được phân công là: Phương Bắc: quan Hắc hổ (màu đen); Phương Nam: quan Xích hổ (màu đỏ); Phương Đông: quan Thanh hổ (màu xanh); phương Tây: quan Bạch hổ (màu trắng); Trung tâm: quan Hoàng hồ (màu vàng). Trong các bài viết về tranh ngũ hổ cả hai tác giả NVTA và HHQ đều không nhắc tới bài văn cúng ngũ hổ.
Xin phân tích về các phương ứng với ngũ hành:
“Bắc phương Hắc hổ uy hùng”?
Hướng chính Bắc bức tranh toàn là mây mà? Không, từ xa xưa các cụ đã biết Trục quay của trái đất nghiêng 23,5o ?.
Xin lược đồ hoá lại việc phân vị trí các quan hổ:
- Theo đồ hình 1 thì có các tranh HT 1,3,4,5,6 và bức tranh ở bảo tàng Quai branly cộng hoà Pháp là khớp, các ông hổ được xếp vị trí theo ngũ hành tương sinh, từ góc trên bên trái, theo chiều kim đồng hồ rồi vào trung tâm: Kim-Thuỷ-Mộc-Hoả-Thổ.
- Theo đồ hình 2. Bức tranh ĐH 4 có ông Hổ đen ở phương bắc, nhưng ba ông hổ đỏ, trắng, xanh bị xếp sai vị trí.
- Những bức tranh còn lại không tranh nào vẽ ông hổ đen ở phương Bắc.
Với các nhà nghiên cứu thiên văn hoc thì trong vũ trụ không có thứ gì là trên hay dưới. Thời xưa có những nền văn minh đặt phương Nam hoặc phương Đông lên phía trên bản đồ, chỉ từ năm 1569 bản đồ thế giới của Mercato mới chọn hướng Bắc đặt phía trên (theo Website của Nhà xuất bản tài nguyên - môi trường và bản đồ việt Nam). Trong cuốn sách “Tìm về cội nguồn Kinh dịch” của Nguyễn Vũ Tuấn Anh có nói tới Phương vị theo Hà đồ cổ thư chữ Hán, ở đó phương Bắc đặt phía dưới. Chúng ta thử lập thêm hai đồ hình nữa:
- Đối chiếu với các bức tranh ta thấy: Bức HT 2 và bức ĐH 5 theo đồ hình 3: các ông hổ được xếp vị trí theo ngũ hành tương sinh, từ góc dưới bên phải, theo chiều kim đồng hồ rồi vào trung tâm: Kim-Thuỷ-Mộc-Hoả-Thổ.
Những bức tranh còn lại không phù hợp với đồ hình nào. Như vậy là cả hai bức tranh ĐH1, ĐH2 đã tô màu sai vị trí các ông hổ được phân công trấn giữ, vậy mà hai tác giả NVTA và HHQ vẫn mang ra phân tích và thu được kết quả thú vị. Liệu còn có văn bản phân công vị trí các quan ngũ hổ nào khác chăng?
Nếu phân ngẫu nhiên bốn ông hổ vào bốn vị trí, theo lý thuyết Hoán vị trong Toán học, thì có 4 giai thừa, bằng 24 cách (4!=1.2.3.4=24), tức là có thể tạo ra 24 phiên bản tranh ngũ hổ khác nhau về màu sắc của 4 ông hổ xung quanh. Như vậy mà gắn ngũ hành vào thì…?.
Một thực tiễn đã xảy ra với người làm tranh dân gian ở Đông Hồ thời kỳ chiến tranh chống Mỹ và thời kỳ bao cấp, xin được mô tả lại:
Làm tranh để mưu sinh, thường cả nhà cùng phải làm (mà làm vụng trong buồng). Những đứa trẻ con mải chơi và những bà già không biết chữ - đương nhiên là không biết gì về Ngũ hành tương sinh, tương khắc- làm sao nhớ được vị trí các màu, tô nhầm màu là chuyện bình thường (nhầm một màu đầu tiên là các màu khác thay đổi theo). Sau khi giảng giải vì sao màu được xếp đặt như thế, nghệ nhân Hiền Năng bảo “Bỏ đi một tờ tranh thì lãng phí, thôi thì Quyền biến đi vậy, lần sau phải nhớ”. Mặt khác những người buôn tranh cũng chỉ biết cầm tranh, mang ra phố Hàng Mã Hà Nội, giao hàng nhanh chóng rồi về (không ít lần người buôn tranh bị tịch thu hết cả tranh). Hồi đó những người buôn tranh thường nói chuyện, ở phố hàng Mã chủ yếu mua tranh thờ từ Đông Hồ, chỉ khi có người đặt tranh làm kỹ (gọi là tranh “thửa”) thì họ mới đặt làm ở phố hàng Quạt, phố Cửa Đông (thuộc dòng tranh hàng Trống). Về sau, trong huyện nhà (Thuận Thành) có người mở phủ, đặt nghệ nhân Hiền Năng làm bộ tranh thờ: Sơn Trang, Tứ phủ, Ngũ dinh, yêu cầu phải làm thật kỹ. Nghệ nhân Hiền Năng đã nhận và tự mình vẽ từ đầu đến cuối, kết quả là có những bộ tranh thờ lộng lẫy, đẹp không kém gì tranh Hàng Trống gốc. Từ đó thỉnh thoảng lại có người “thửa” tranh như vậy, giá thường gấp 5 lần loại “tranh chợ”. Nghệ nhân Hiền Năng luôn “quyền biến” đáp ứng mọi yêu cầu của khác hàng.
Nhiều người trẻ sau này làm tranh thờ không biết bài văn cúng ngũ hổ, không biết về Ngũ hành tương sinh, tương khắc, nên cứ theo tranh cũ mà làm, không may vớ phải tờ tranh sai màu, cái sai cứ thế nhân lên. Hiện nay trên các shop bán tranh dân gian cũng trưng bày không ít tranh tô màu sai, người bán cũng không biết. Thêm nữa, lâu nay nhiều Động ngũ hổ (thuộc hạ ban trong quần thể đền thờ Mẫu, tạo hình như hang động huyền bí) cũng đặt tượng ngũ hổ sai vị trí.
Đến những năm 90 - thời Kinh tế thị trường, tự do tín ngưỡng, tranh thờ tiêu thụ nhiều, ở thôn Tú Khê (bên cạnh thôn Đông Hồ, bây giờ thì hai thôn đã được sát nhập với nhau thành thôn Đông Khê) có hai người làm tranh thờ là ông Phùng Đình Thuỵ và ông Hà Đức Huy. Đầu thế kỷ XXI ông Hà Đức Huy đã áp dụng kỹ thuật in lưới và sau đó một thời gian ngắn đã chuyển sang in offset để làm tranh thờ. Máy in hiện đại, có thể in hàng vạn tờ một ngày, tranh thờ sản xuất ở đây không còn là Tranh khắc gỗ nữa , không cần cả nhà làm nữa. Bức tranh ĐH 3 chính là sản phẩm in offset của ông Hà Đức Huy. Hiện tại (năm 2024) ông Huy vẫn đang làm như vậy.
Để khép lại bài viết, xin thừa nhận, khoảng 60 năm trước, người viết bài này từng là thằng bé được cha (là nghệ nhân Hiền Năng) giao cho tô màu tranh ngũ hổ. Khi đó thằng bé chỉ muốn làm nhanh nhanh chóng chóng để đi chơi bi đánh đáo, đâu có biết màu sắc các quan hổ xếp theo ngũ hành tương sinh hay tương khắc!
Phùng Hồng Kổn