Hình ảnh minh họa
Trong thời gian qua, tình trạng lấn đất, chiếm đất vẫn còn xảy ra tại một số địa phương, gây ảnh hưởng đến trật tự quản lý đất đai, làm phát sinh khiếu kiện, tranh chấp và cản trở việc sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai của Nhà nước. Luật Đất đai năm 2024 và văn bản hướng dẫn hiện hành đã quy định rõ tiêu chí xác định hành vi vi phạm, cũng như chế tài xử lý đối với hành vi lấn đất, chiếm đất.
Một số định nghĩa theo Luật Đất đai 2024
Chiếm đất là việc sử dụng đất do Nhà nước đã quản lý mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc sử dụng đất của người sử dụng đất hợp pháp khác mà chưa được người đó cho phép.
Lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép.
Tiêu chí để xác định hành vi vi phạm
Pháp luật đất đai không quy định tiêu chí chung cho tất cả mọi hành vi vi phạm, mà mỗi hành vi vi phạm đều có tiêu chí, yếu tố cấu thành riêng để xác định hành vi vi phạm, cụ thể hành vi vi phạm lấn đất hoặc chiếm đất được xác định như sau:
+ Việc xác định hành vi lấn đất hoặc chiếm đất đai thì căn cứ quy định tại khoản 9 và khoản 31 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024.
+ Điều 13 Nghị định 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đất đai để xác định.
Ví dụ: Hành vi chiếm đất chưa sử dụng do UBND xã quản lý thì phải căn cứ vào hồ sơ địa chính của xã có ghi tên người quản lý là UBND xã hoặc có văn bản của cơ quan có thẩm quyền giao cho UBND xã quản lý thửa đất đó; trường hợp thửa đất đó trên hồ sơ địa chính của xã chưa thể hiện tên người quản lý là UBND xã và cũng không có văn bản giao đất để quản lý thì chưa đủ căn cứ thể xác định đấy là hành vi chiếm đất.
Thẩm quyền xử phạt và lập biên bản
- Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai gồm:
+ Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định tại Điều 30 và Điều 31 của Nghị định này;
+ Trưởng Đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra do Chánh Thanh tra cấp tỉnh thành lập, công chức làm công tác địa chính cấp xã; công chức, viên chức thuộc cơ quan có chức năng quản lý đất đai các cấp đang thi hành công vụ.
+ Đối với người có thẩm quyền đang thi hành công vụ không thuộc các chức danh quy định tại điểm b khoản này hoặc không thuộc địa bàn quản lý của mình mà phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính thì phải lập biên bản làm việc để ghi nhận sự việc và chuyển ngay biên bản đến người có thẩm quyền để lập biên bản vi phạm hành chính.
- Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định tại Điều 32 của Nghị định này.
Hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả:
Ví dụ: Căn cứ khoản 1 và 6 Điều 13 Nghị định 123/2024/NĐ-CP, hành vi vi phạm lấn, chiếm đất chưa sử dụng sẽ bị xử phạt theo mức sau (theo diện tích và khu vực):
Diện tích lấn, chiếm
Khu vực nông thôn
Khu vực đô thị
< 0,02 ha
3-5 triệu đồng
8 triệu đồng (2 lần mức phạt)
Ngoài bị phạt tiền, người vi phạm còn bị buộc phục tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm (bao gồm cả việc khôi phục lại ranh giới và mốc giới thửa đất), trả lại đất và nộp lại lợi bất hợp pháp nếu có.
Lưu ý:
+ Mức phạt tiền quy định nêu trên áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân có cùng một hành vi vi phạm hành chính.
+ Mức tiền phạt tối đa đối với cá nhân là 500 triệu và tổ chức là 01 tỷ.
+ Mức phạt tiền theo diện tích và khu vực cụ thể:
Diện tích lấn, chiếm
Khu vực nông thôn
Khu vực đô thị
< 0,02 ha
3-5 triệu đồng
2 lần mức phạt
0,02-< 0,05 ha
5-10 triệu đồng
2 lần mức phạt
0,05-< 0,1 ha
10-20 triệu đồng
2 lần mức phạt
0,1-< 0,5 ha
20-50 triệu đồng
2 lần mức phạt
0,5-< 1 ha
50-100 triệu đồng
2 lần mức phạt
1-< 2 ha
100-150 triệu đồng
2 lần mức phạt
≥ 2 ha
150-200 triệu đồng
2 lần mức phạt
Trách nhiệm hình sự khi lấn chiếm đất công
Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai như sau: “Người nào lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất hoặc sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Như vậy, một người nếu trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi như: lấn chiếm đất, sử dụng đất không đúng mục đích, hủy hoại đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi không có đủ điều kiện chuyển nhượng hoặc không được phép chuyển nhượng … nếu chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử phạt hành chính mà lại thực hiện một trong các hành vi này thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật hình sự.
Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai. Qua đó, góp phần lập lại trật tự trong quản lý, sử dụng đất, hạn chế vi phạm, tranh chấp và khiếu kiện kéo dài. Mỗi tổ chức, cá nhân cần chủ động tìm hiểu, chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật đất đai; không vì lợi ích trước mắt mà vi phạm quy định, gây thiệt hại cho Nhà nước và cộng đồng./.
Tác giả: Đặng Ngọc - Sở Tư pháp