A. Giới thiệu sơ lược
Kinh Dịch là văn bản ký hiệu có nguồn gốc là một truyền thuyết mơ hồ, được cho là xuất hiện từ thời Phục Hy, với những ký hiệu trên lưng con vật có tên Long Mã hiện ra ở sông Hoàng Hà rồi tạo ra bức vẽ gọi là Hà đồ. Nhiều giả thuyết cho rằng Kinh Dịch xuất hiện và phát triển qua các thời Trung Hoa cổ đại. Kinh Dịch được xây dựng trên cặp giá trị âm dương, hay còn gọi lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái tạo ra 64 quẻ, sau này được thêm các thoáng từ, hào từ nhằm mô tả các hiện tượng trong cuộc sống, kết hợp cùng với lý thuyết ngũ hành để làm cơ sở lý luận để dự đoán, giải thích và áp dụng vào cuộc sống.
B. Những điểm không chính xác trong lý thuyết kinh dịch
1. Đơn vị thời gian để tính toán quá lớn, tạo sai số rất lớn, kết quả không chính xác
Thập nhị địa chi (tý, sửu, dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi) là cách quy ước các tháng trong năm, các giờ trong ngày đêm của văn hóa Trung Quốc và một số nước Á Đông theo Âm lịch. Không hiểu vì sao suốt mấy ngàn năm từ khi kinh dịch xuất hiện chỉ kể từ mốc của thời Chu Văn Vương (năm 1046 TCN) đến bây giờ các nhà kinh dịch vẫn chấp nhận lý thuyết kinh dịch một cách mù quáng với quy ước đơn vị thời gian 2 giờ đồng hồ để tính toán, tức khoảng thời gian giữa hai địa chi. Với người cổ xa xưa chúng ta có thể cảm thông, do các phương tiện giao thông, cách tính toán thô sơ, lạc hậu, phương tiện lan truyền thông tin so với ngày nay rất chậm… Nhưng ở thời hiện đại hôm nay, thông tin tính bằng giây, và hầu như các vị “thầy kinh dịch” đều ít nhiều có biết về lý thuyết sai số áp dụng cho các môn khoa học. Vậy mà không hiểu sao các vị lại áp dụng kinh dịch một cách cuồng mê khi chấp nhận một thứ đơn vị thời gian 2 tiếng đồng hồ (120 phút=7.200 giây) để dự đoán và kết luận về tương lai của người đang sống và cả người qua đời trong các môn tử vi, phong thủy, bốc dịch bói toán,… dựa trên lý thuyết kinh dịch. Đó là chưa kể đến sự sai số của các cách tính các bộ lịch... mà các vị đang sử dụng để bấm bấm đốt tay, miệng lẩm nhẩm, lẩm nhẩm ra vẻ cao siêu huyền bí,… Lịch Âm chúng ta đang dùng thời nay, được cho là bộ lịch có từ thời nhà Hạ (năm 2070 TCN - 1600 TCN) thuộc Trung Quốc bây giờ, trong khi kinh dịch lại được cho xuất hiện từ thời nhà Chu (năm 1046 TCN - 256 TCN), tức là cách sau nhà Hạ xa nhất hơn cả ngàn năm, gần nhất hơn 500 năm tính từ khởi đầu của nhà Chu (năm 1046 TCN). Nhân đây xin trích dẫn vài thông tin thay đổi về quy ước giờ trong Âm lịch qua các thời kỳ ở Trung Quốc:
Vào thời Xuân Thu ở Trung Quốc, không chia ngày ra 12 giờ. Trong Tả truyện thiên Chiêu vương ngũ niên có câu: Nhựt chi số thập, cố hữu thập thời (số ngày là mười, cho nên có 10 giờ). Đến đời Hán Vũ đế (Tây Hán) mới chia ngày làm 12 giờ với những tên như sau: 1. Dạ bán (nửa đêm); 2. Kê minh (gà gáy); 3. Bình đán (rạng đông); 4. Nhựt xuất (mặt trời mọc); 5. Thực thời (giờ ăn); 6. Ngung trung (gần trưa); 7. Nhựt trung (trưa); 8. Nhựt điệt (xế); 9. Bô thời (cơm chiều); 10. Nhựt nhập (mặt trời lặn); 11. Hoàng hôn (chạng vạng); 12. Nhân định (người an nghỉ).
Ví dụ: câu “Nãi dữ thống ẩm, tự bô chí điệt” - (乃與痛飲, 自晡至昳)
Đến đời Đông Hán, mới lấy thập nhị chi: Từ Tý... đến Hợi để gọi 12 giờ từ nửa đêm này đến nửa đêm hôm sau.
Theo sách Cai dư tùng khảo (đời Thanh), trước thời Xuân Thu đã có chia ngày ra 15 giờ, ban ngày nhiều giờ hơn ban đêm. Sách Hoài Nam tử thời Hán cũng có nói đến việc chia ngày ra 15 giờ.
Ngoài ra từ thời cổ xưa, dựa theo đồng hồ nước (lậu khắc) cũng có sự phân chia ngày ra 100 khắc, ngày đông chí có 40 khắc, đêm 60 khắc. Ngày hạ chí ngược lại. Ngày xuân và thu chia đều nhau 50 khắc cho ngày 50 khắc cho đêm. Một vài thông tin để thấy thời xa xưa, cách chia các giờ trong ngày đêm cũng qua nhiều đổi thay… nên dẫn đến sự sai lệch là lẽ thường tình.
Về tháng đầu năm ở Trung Quốc cổ đại, mỗi đời chọn mỗi cách không thống nhất, đời Hạ lấy tháng mạnh xuân (nay là tháng giêng âm lịch), đến đời Ân lấy tháng 12; đời Chu lấy tháng 11; đời Tần lấy tháng 10; đầu đời Hán cũng thế; đến Hán Vũ đế mới sửa lại theo đời Hạ, tức là tháng giêng như hiện nay. Các nhà nho nói gọn lại: “Hạ kiến dần, Ân kiến sửu, Chu kiến tý, Tần kiến hợi”, mặc dù các đời ấy chưa lấy địa chi để ghi tháng. (Theo Âm lịch thì Dần gán cho tháng giêng, Sửu tháng 12, Tý tháng 11, Hợi tháng 10,…)
2. Tốc độ vận hành tăng nhanh qua các thời kỳ
Một điều nữa, các vấn đề trong xã hội hôm nay cho kết quả nhanh hơn rất nhiều do sự phát triển của các ngành khoa học kỹ thuật, giao thông, truyền thông,… so với kết quả rất chậm của thời cổ xưa đang còn lạc hậu. Với các ngành khoa học máy tính, giao thông, hàng không, vũ trụ, truyền thông, chứng khoáng, tiền kỹ thuật số,… thì đơn vị thời gian làm thay đổi các kết quả được tính theo giây, thậm chí còn nhỏ hơn nhiều nữa. Điều này cho thấy đơn vị thời gian 7.200 giây (2 giờ đồng hồ) để phán xét và dự đoán cho chu kỳ đổi thay của mỗi số phận con người là không chính xác và không còn hợp lý. Vì với rất nhiều hài nhi sinh ra trong cùng một khoảng thời gian 120 phút, cùng giờ ngày tháng năm, cùng một không gian lại rất ít điểm chung giống nhau, cụ thể và phi lý như những cặp song sinh, hay những trẻ thụ tinh nhân tạo (thông thường được lựa chọn một trai một gái), vì vậy khi còn nằm trong bụng mẹ đã khác về giống… và trong tương lai sẽ có rất nhiều khác biệt… Hay vấn đề bi thảm của nhân loại khi số người chết cùng một thời điểm lên đến hàng ngàn hàng triệu người ở Hiroshima, Nagasaki khi bị bom nguyên tử, nạn diệt chủng người Do Thái, vụ thảm sát ở quảng trường Thiên An Môn, người Campuchia bị diệt chủng bởi tội ác của Khmer đỏ do Pol Pot lãnh đạo, nạn đói năm 1945 ở miền Bắc Việt Nam… cách đây 5 năm là nạn dịch Covid-19 khiến hàng chục triệu người chết và nhiều vụ thiên tai, nhân tai, chiến tranh, dịch bệnh,… gây ra cái chết tập thể trên trái đất này, thì thử hỏi ngày tháng năm sinh của hầu hết các nạn nhân đó là khác nhau nhưng lại chết cùng một thời điểm, vấn đề này kinh dịch có giải thích được không? Hay phải dựa vào thuyết nhân quả, cộng nghiệp của Đạo Phật để lý giải!
Người xưa nói “sai một li đi một dặm”, quả thật không sai. Thời nay, trong mỗi phút, mỗi giây xảy ra rất nhiều sự kiện, nếu chúng ta chấp nhận đơn vị thời gian là 120 phút (7200 giây) như trong lý thuyết kinh dịch để tính toán sẽ rất lỗi thời và vô cùng thiếu chính xác. Theo kinh Hoa Nghiêm thì cái này sinh thì cái kia sinh sinh, cái này diệt thì cái kia diệt, vạn pháp trùng trùng duyên khởi, nguyên nhân này tạo ra kết quả và kết quả này là nguyên nhân cho kết quả khác... cứ như vậy vòng lặp đến vô cùng. Trong dự báo thời tiết, người ta đã nói đến hiệu ứng cánh bướm (butterfly effect), chỉ một cái đập cánh của con bướm có thể góp phần tạo ra cơn lốc cách đó hàng vạn cây số... Rõ nhất là trong thị trường chứng khoán, tác động môi trường, ảnh hưởng kinh tế toàn cầu, giao thông công cộng hay chiến tranh thế giới, các mầm bệnh lây nhiễm… chỉ cần một tác nhân nhỏ tưởng chừng vô hại nhưng chính nó lại là nguyên nhân góp phần gây nên hiểm họa lớn.
Ôi liên tưởng thấy cái hình ảnh các “thầy phong thủy” của thời chuyển đổi số, tay bấm đốt, miệng lẩm nhẩm, mắt láo liêng la kinh của các vị tựa như các phù thủy, thầy mo,… đã khiến cho các sắc dân da vàng từ triều đình đến dân đen đốt áo giấy vàng mả, dâng sao giải hạn, ngày giờ tốt xấu… suốt cả ngàn năm và còn xây mồ mả, xây lăng mộ một cách cẩu thả không theo quy hoạch nào ngoài quy hoạch của các vị “thầy địa”, mà mỗi ông tự gán cho mình cái mác “thầy phong thủy” lại điểm chỉ long mạch mỗi phách khác nhau, không những các lăng mộ đầu chân đảo ngược chĩa vào nhau tứ tung khiến cho đường vào nghĩa địa rất khó đi với người tảo mộ và khó khăn rất nhiều trong việc lo mai táng cho người đời sau khi đưa đến huyệt, người thăm viếng mộ nhiều khi vừa bước vừa nhảy lò cò mất cả sự trang nghiêm đối với người đã khuất,… không những vậy, về độ lớn của các lăng mộ còn vĩ đại nhất trái đất, điều đó cho thấy sự bất hợp lý với quy luật phát triển, vì trong khi đất ngày mỗi chật dần và dân số ngày mỗi tăng, chúng ta không theo xu thế văn minh như thiêu tử thi, quy hoạch nghĩa địa tự phát ở làng quê thì sẽ còn nhiều bất cập vẫn tiếp diễn. Điều bất hợp lý trên hiện nay vẫn còn xảy ra ở nghĩa địa các làng quê, vùng ngoại ô và ngay cả trong các thành phố. Trong khi các nền văn minh cổ xưa khác họ đã hỏa táng,… mà đất nước, dòng tộc, gia đình vẫn có cuộc sống sung túc an lành. Cách đây hơn 2500 năm, khi đức Phật Thích Ca nhập diệt cũng đã được hỏa táng…
Kinh dịch là sản phẩm của trí óc con người cổ xưa, theo nhan đề chúng ta có thể hiểu về mặt ngôn ngữ là cuốn sách về quy luật biến dịch của trời đất để con người biết thuận theo lẽ trời, “thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong” (Mạnh Tử). Người xưa nghiên cứu kinh dịch là những bậc đạo sĩ, ẩn tu, giữ giới may ra có cảm ứng cùng trời đất. Lý thuyết kinh dịch đã tồn tại mấy ngàn năm, nhưng giai đoạn thực nghiệm của nó theo lý thuyết thống kê, quy nạp rất mơ hồ, sau này các nhà dịch học lại mượn kinh dịch để bói toán cho các cá nhân, dòng họ,… để kiếm sống đã khiến kinh dịch bị hiểu lầm chỉ là môn bói toán.
Những vị mượn kinh dịch để giúp người, trường hợp người đó là kẻ bất thiện (hầu hết kẻ bất thiện do làm điều gian dối, hại cộng đồng nên lòng bất an, sợ hãi, và có tiền để đút lót kẻ tiếp tay cái ác là những vị bói toán, phong thủy, bùa chú,… không theo chánh đạo).
Thời đức Phật còn tại thế, Mục Kiền Liên bồ tát là đệ nhất thần thông nhưng cũng không thể cứu được mẹ của mình, mà phải nhờ đến mười phương chư Phật và chúng tăng hiệp lực cầu nguyện để cứu mẹ mình thoát nghiệp quả. Nhắc tích Mục Kiền Liên bồ tát cứu mẹ để gửi đến các vị thầy bói toán, kinh dịch chớ dại can thiệp vào nhân quả, can thiệp vào vòng vận hành của nhân quả tương tục,… cho dù giả sử các vị có năng lực thật sự. Nhưng đối với các vị có năng lực thật sự và theo chánh đạo, thì vị đó đã hiểu thấu đạo lý nhân quả do công phu tu tập nên sẽ biết việc gì nên làm và việc gì không nên làm.
Ở các nước văn minh, bất kỳ một phát minh khoa học nào, trước khi được ứng dụng rộng rãi luôn phải được thí nghiệm thực nghiệm qua nhiều giai đoạn. Ngay như học thuyết tương đối (1905) mà nhà vật lý Albert Einstein phát minh đã gây nhiều tranh cãi cho đến khi được ông Arthur Eddington chứng minh bằng kết quả thực nghiệm của mình (1915). Hay các kết quả ứng dụng trong lãnh vực Y học ở các nước văn minh đã phải được kiểm chứng qua rất nhiều giai đoạn thí nghiệm và thực nghiệm sau đó mới được hội đồng khoa học đệ trình phê duyệt để áp dụng vào cuộc sống… Nhưng kinh dịch mà các nhà dịch học chúng ta cứ tự đắc đệ nhất thiên hạ, bách chiến bách thắng không cần thực nghiệm cứ vậy mà phán như thánh, áp đặt vào các cá nhân, dòng tộc, xã tắc,... Nếu không may, cá nhân đó là chức sắc cung đình thì điều gì xảy ra? Cái nhân các vị gieo và cái quả mà xã hội gặt hái như trò chơi may rủi khi tung đồng xu hay tung xúc xắc trong lý thuyết ngẫu nhiên của toán học chuyên ngành xác xuất thống kê đã khiến cả xã hội chúng ta mê tín đốt vàng mả áo giấy,… dâng sao giải hạn, ngày giờ tốt xấu,… các vị chưa hả dạ sao? Thử hỏi mấy nhà dịch học nghề bói toán kiếm tiền, kiếm danh xưa nay, có ông nào, bà nào có hậu vận tốt không, may lắm là không bị đọa vào cõi ngạ quỷ…? Các ông bà tự cho mình cái quyền can thiệp vào thiên cơ, nhân quả của người khác, trong khi nhân quả của quý vị treo lơ lững chờ ngày đổ ập xuống. Tôi tin rằng, rồi các vị sẽ bị báo ứng theo luật nhân quả!
3. Sự khác biệt qua cảm nhận thoán từ, hào từ trong các quẻ kinh dịch
3.1. Thoán từ, hào từ là văn bản cố định, trong khi ngôn ngữ là hệ sinh thái phát triển sinh động theo sự phát triển của các ngành khoa học, y học, triết học, kinh tế, xã hội học,…
Khi lời thoán, lời hào cách đây mấy ngàn năm được phiên qua thời hiện đại với sự phát triển như vũ bão về mọi mặt, thử hỏi lời thoán, lời hào trong các quẻ kinh dịch có đáp ứng theo kịp không?
Ví dụ: những người chuyển giới, thụ tinh nhân tạo, hiến tạng, chứng khoán, người máy, trí tuệ nhân tạo,… các lời thoán, lời hào từ xa xưa trong kinh dịch có đáp ứng và mô tả không?
Khi xã hội vận động, chuyển biến và khoa học phát triển với vận tốc tăng nhanh, qua tốc độ của các phương tiện giao thông, tốc độ thông tin gần như lập tức qua internet và các nền tảng mạng xã hội,… dẫn đến tốc độ thu nhận thông tin của não bộ con người cũng tăng nhanh. Trong khi Kinh dịch xuất hiện trong một xã hội lạc hậu, tốc độ giao thông, tốc độ thông tin,… đang còn thô sơ. Thử hỏi khả năng tương thích về “hệ điều hành”, “nhân” của hai môi trường, hai hệ sinh thái cách xa mấy ngàn năm có tương đồng, có phù hợp không?
3.2. Chênh lệch trình độ cảm nhận ngôn ngữ của các “thầy kinh dịch”
Các vị theo học kinh dịch ngày nay hầu hết là tự phát, không có trường lớp văn bằng chính thống nào công nhận, nên hầu hết các vị không chịu trách nhiệm cho hậu quả xảy ra!? Trình độ người theo học Kinh dịch chênh lệch nhau rất nhiều, rất ít người có trình độ về ngôn ngữ và khả năng cảm nhận ngôn ngữ, đặc biệt là từ Hán Việt… nên nhận thức của các vị về lời thoán, lời hào trong quẻ kinh dịch sẽ khác nhau rất nhiều. Dẫn đến mỗi người phán mỗi kiểu, mỗi phách rất lạc nhịp…
C. Sự phi lý trong lý thuyết ngũ hành
Năm hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ
Tương sinh: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim.
Tương khắc: Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy.
Kim được cho là kim loại, Thủy được cho là nước, Mộc được cho là cây xanh, gỗ, Hỏa được cho là lửa, Thổ được cho là đất.
Trong tứ đại vật chất: Đất nước gió lửa, không thấy nêu ra kim loại, cây xanh.
Sự phi lý khi độc đoán Mộc sinh Hỏa, trong thiên nhiên, tự nhiên vốn đã có nhiệt độ qua ánh sáng mặt trời, và nhờ ánh sáng (nhiệt độ) là một trong các điều kiện cần thì cây mới phát triển. Vậy sao gọi là Mộc sinh Hỏa? Khi chỉ thấy các vụ cháy nhà trong sinh hoạt hàng ngày… Nếu không có khí oxy làm sao mộc (gỗ) cháy được? Hơn nữa, Hỏa đã tự có trong thiên nhiên ở các dạng thể khí, thể lỏng,…
Nước là một trong tứ đại vật chất. Nước là nguồn gốc sự sống quan trọng thứ 2 chỉ sau không khí.
Sự phi lý khi áp đặt Kim sinh Thủy. Vậy Thủy do Kim sinh có phải là nước trong tứ đại vật chất, và loại thủy do kim sinh có quan trọng như nguồn nước thiên nhiên trong cuộc sống không? Trong khi các cổ thư từ rất xưa đều nhắc đến nước (thủy) như một vật chất tiên nghiệm quyết định sự sống. Kinh Thánh có đoạn: “Thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước”, hay vị triết gia cổ xưa đã nhắc đến bốn đại vật chất là đất, nước, gió, lửa như một đặt định bất khả tri. Còn trong kinh Khởi thế nhân bổn, đức Phật Thích Ca thuyết cho ngài Vàsettha về sự thành hoại của thế giới, và nước (màu đen sẫm) đã được nhắc đến đầu tiên, rồi sau đó là đất rồi đến nấm, cây leo,…
D. Kết luận và giải pháp
Thật ra, để đòi hỏi một sự chính xác tuyệt đối cho các vấn đề trong một xã hội là không tưởng, vì chúng ta đang ở trong những đối đãi thuộc hệ hình tương đối. Ngay cả ngôn ngữ chúng ta đang dùng để diễn đạt sự vật hiện tượng cũng ở bình diện tương đối. Nhưng sự sai số trong cách tính toán luôn được chấp nhận trong một quy luật khắc khe, chứ việc sai số như cái cách mà kinh dịch chọn đơn vị thời gian là 120 phút quả là không thể chấp nhận được. Cũng như cách suy diễn vòng tương sinh tương khắc của thuyết ngũ hành là quá khiêng cưỡng và không phù hợp thực tế. Nên, tôi nêu ra vấn đề với mục đích để các nhà nghiên cứu kinh dịch tìm cách hạn chế sai số và tính hợp lý trong đời sống.
Tôi không phải người say mê cuồng tín nghiên cứu về Kinh dịch, tôi cũng không phủ nhận và cũng không công nhận lý thuyết kinh dịch. Trong bài viết này tôi không bàn đến vũ trụ quan (hình nhi thượng) của lý thuyết kinh dịch… Những nhận xét trên chỉ là một kết quả suy nghiệm rất bình thường, mà hầu như ai ai nếu để tâm trí tư duy một cách lôgic sẽ nhận thấy. Tôi nêu lên vấn đề chỉ mong cho xã hội tốt đẹp hơn, văn minh hơn và người dân bớt đi những chi phí vô lý, khi đời sống đại đa số người dân đang còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Hơn nữa, điều này gây ra một sự mê tín và sợ hãi rất nguy hại trong tâm thức của nhiều thế hệ trong xã hội; điều đó sẽ làm suy yếu tinh thần dân tộc và cản trở sự phát triển của xã hội.
Kinh dịch thời xưa chỉ dành cho các đạo sĩ, họ là những vị ẩn thân tu luyện, giới luật nghiêm khắc để mong thấu đạt và cảm ứng cùng trời đất nhằm giúp đời khi cần thiết. Bây giờ kinh dịch cũng như các môn khác như yoga, thiền, mật tông,… trở thành một phong trào, điều này sẽ gây ra những hiểm họa khó lường...
Tôi nhận thấy rất cần những bộ óc vĩ đại, bao dung, trí tuệ siêu việt nghiên cứu chia nhỏ đơn vị thời gian trong kinh dịch, càng nhỏ thì độ chính xác càng cao để áp dụng vào lý thuyết kinh dịch,… có một gợi ý thử: ngày nay đã có các phần mềm ứng dụng trong công nghệ thông tin về kinh dịch, vậy thì cứ trong mỗi đơn vị thời gian của một địa chi chúng ta thử chia thành 12 địa chi nhỏ, và cứ như vậy đến khi đơn vị thời gian có được trong phạm vi sai số hợp lý, rồi dùng giải thuật đệ quy để xử lý thì kết quả hy vọng sẽ có độ chính xác cao hơn,… có như vậy, may ra mới loại bỏ được các trò mê tín mà các thầy kinh dịch làm nghề kinh doanh đã khiến biết bao gia đình tán gia bại sản, gây nên tình trạng bất ổn và kéo dài thêm sự lạc hậu cho xã hội!
Điều kỳ lạ đến khó hiểu, khi tôi đặt vấn đề khiêng cưỡng trong vòng tương sinh tương khắc của ngũ hành và cách áp dụng đơn vị thời gian 2 giờ (120 phút) là quá lớn trong kinh dịch sẽ cho sai số rất lớn với một vài người có nghiên cứu và ứng dụng lý thuyết kinh dịch trong dự đoán, bói toán, tử vi, phong thủy,… họ đều im lặng và lãng tránh. Giựt mình tôi nhớ đến tác phẩm “Đường về nô lệ” của Friedrich Hayek. Buồn thay! Buồn thảm thay!
Tài liệu tham khảo:
- Bộ sách của tác giả Kim Định
- Lão Tử Đạo đức kinh, Nguyễn Duy Cần
- Kinh dịch, Ngô Tất Tố dịch và chú giải
- Kinh dịch, đạo của người quân tử, Nguyễn Hiến Lê
- Dịch học tinh hoa, Thu Giang Nguyễn Duy Cần
- Tử vi đẩu số toàn thư, Hi Di Trần Đoàn
- Kỳ môn độn giáp, Đàm Liên
- Phong thủy đại sư Lưu Bá Ôn
- Sáng thế ký, Kinh Cựu ước.
- Kinh Trường a hàm, Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ dịch
- Kinh Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dịch
- Tập san Văn sử địa