
Bài ca mùa xuân 1961
(Tố Hữu)
Tôi viết bài thơ xuânNghìn chín trăm sáu mốtCành táo đầu hè rung rinh quả ngọtNắng soi sương giọt long lanh...
Rét nhiều nên ấm nắng hanhĐắng cay lắm mới ngọt lành đó chăng?Giã từ năm cũ bâng khuângĐã nghe xuân mới lâng lâng lạ thường! *Chào xuân đẹp! Có gì vui đấyHỡi em yêu? Mà má em đỏ dậyNhư buổi đầu hò hẹn, say mêAnh nắm tay em, sôi nổi, vụng vềMà nói vậy: “Trái tim anh đóRất chân thật, chia ba phần tươi đỏ:Anh dành riêng cho Đảng phần nhiềuPhần cho thơ, và phần để em yêu...”Em xấu hổ: “Thế cũng nhiều anh nhỉ!”Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chíDắt nhau đi, cho đến sáng mai nayAnh đón em về, xuân cũng đến trong tay! *Ô tiếng hót vui say con chim chiền chiệnTrên đồng lúa chiêm xuân chao mình bay liệngXuân ơi xuân, vui tới mông mênhBiển vui dâng sóng trắng đầu ghềnhThơ đã hát, mát trong lời chúc:Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh.Tam Đảo, Ba Vì vui núi xuân xanh...Chào 61! Đỉnh cao muôn trượngTa đứng đây, mắt nhìn bốn hướngTrông lại nghìn xưa, trông tới mai sauTrông Bắc trông Nam, trông cả địa cầu! *Trải qua một cuộc bể dâuCâu thơ còn đọng nỗi đau nhân tìnhNổi chìm kiếp sống lênh đênhTố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều!Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêuTiếng gươm khua, tiếng thơ kêu xé lòng...Ôi tiếng của cha ông thuở trướcXin hát mừng non nước hôm nay:Một vùng trời đất trong tayDẫu chưa toàn vẹn, đã bay cờ hồng!Việt Nam, dân tộc anh hùngTay không mà đã thành công nên Người!Có gì đẹp trên đời hơn thếNgười yêu người, sống để yêu nhauĐảng cho ta trái tim giàuThẳng lưng mà bước, ngẩng đầu mà bay! *Đời vui đó, hôm nay mở cửaNhư dãy hàng bách hoá của taHỡi những người yêu, hãy ghé mua hoaVà đến đó, sắm ít quà lễ cưới:Lụa Nam Định đẹp tươi mát rượiLược Hàng Đào chải mái tóc xanh!Ta còn nghèo, phố chật nhà gianhNhưng cũng đủ vài tranh treo Tết.Đời vui đó, tiếng ca Đoàn kếtTa nắm tay nhau xây lại đời taRuộng lúa, đồng khoai, nương sắn, vườn càChuồng lợn, bầy gà, đàn trâu, ao cáDọn tí phân rơi, nhặt từng ngọn láMỗi hòn than, mẩu sắt, cân ngôTa nâng niu gom góp dựng cơ đồ! *Ồ thích thật, bài thơ miền BắcRất tự do nên tươi nhạc, tươi vầnCả không gian như xích lại gầnThời gian cũng quên tuần quên tháng.Đời trẻ lại. Tất cả đều cách mạng!Rũ sạch cô đơn, riêng lẻ, bần cùngQuê hương ta rộn rã cuộc vui chungNgười hợp tác nên lúa dày thêm đó.Đường nở ngực. Những hàng dương liễu nhỏĐã lên xanh như tóc tuổi mười lăm.Xuân ơi Xuân, em mới đến dăm nămMà cuộc sống đã tưng bừng ngày hộiNhư hôm nay, giữa công trường đỏ bụiNhững đoàn xe vận tải nối nhau điHồng Quảng, Lào Cai, Thái Nguyên, Việt TrìTên đất nước reo vui bao tiếng gọi... *Nào đi tới! Bác Hồ ta nóiPhút giao thừa, tiếng hát đêm xuânKế hoạch năm năm. Mời những đoàn quânMời những bàn chân, tiến lên phía trước.Tất cả dưới cờ, hát lên và bước!Đi ta đi! Khai phá rừng hoangHỏi núi non cao, đâu sắt đâu vàng?Hỏi biển khơi xa, đâu luồng cá chạy?Sông Đà, sông Lô, sông Hồng, sông ChảyHỏi đâu thác nhảy, cho điện quay chiều?Hỡi những người trai, những cô gái yêuTrên những đèo mây, những tầng núi đáHai bàn tay ta hãy làm tất cả!Xuân đã đến rồi. Hối hả tương laiKhói những nhà máy mới ban mai... *Tôi viết cho ai bài thơ 61?Đêm đã khuya rồi, rét về tê buốtHà Nội rì rầm... Còi thổi ngoài gaMột chuyến tàu chuyển bánh đi xaTiếng xình xịch, chạy dọc đường Nam Bộ...Ôi đâu phải con tàu! Trái tim ta đó.Tiếng đập thình thình, muốn vỡ làm đôi!Ta biết em rất khoẻ, tim ơiKhông khóc đấy. Nhưng sao mà nóng bỏngNhư lửa cháy trong lòng ta gió lộng?Mấy hôm nay, như đứa nhớ nhàTa vẩn vơ hoài, rạo rực, vào raNghe tiếng mõ và nghe tiếng súngMiền Nam dậy, hò reo náo động!Ba con tôi đã ngủ lâu rồiCòn bao nhiêu chưa được ngủ trong nôiMiền Bắc thiên đường của các con tôi! *Gà gáy sáng. Thơ ơi, mang cánh lửaHãy bay đi! Con chim kêu trước cửaThêm một ngày xuân đến. Bình minhCành táo đầu hè quả ngọt rung rinhNhư hạnh phúc đơn sơ, ước mơ nho nhỏTreo trước mắt của loài người ta đó: Hoà bình Độc lập Ấm no Cho Con người Sung sướng Tự do!
24-1-1961 Nguồn: Tố Hữu, Gió lộng, NXB Văn học, 1981
Khi nói tới sự nghiệp nhà thơ Tố Hữu thì không ai không biết tới một nhà thơ có sự thống nhất đẹp đẽ giữa cuộc đời cách mạng và cuộc đời thơ, giữa lý tưởng trong trái tim và những câu thơ trên đầu bút. Chặng đường thơ của Tố Hữu là chặng đường lịch sử của cả một dân tộc. Ông được coi là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng và kháng chiến, được tôn vinh là "nhà thơ của cách mạng", "nhà thơ của nhân dân", "ngọn cờ chiến đấu của thơ ca cách mạng Việt Nam", "người có công đầu xây dựng nền thơ ca cách mạng Việt Nam", "một cuộc đời trọn vẹn với Cách mạng - Nghệ thuật - Tình yêu", "nhà thơ của chủ nghĩa nhân văn cách mạng". Thơ Tố Hữu thanh đạm, dịu ngọt, thấm sâu vào tâm hồn mọi thế hệ, từ người "đã ngã xuống cánh rừng trai trẻ" hay "người đến với thơ ông suốt thời thơ ấu" (nhận xét của Nguyễn Khoa Điềm), được lưu giữ và phát huy như một sức mạnh tinh thần, một giá trị văn hóa tiềm ẩn trong con người thời đại Hồ Chí Minh.
Năm 1960 là một cột mốc đáng nhớ trong lịch sử dân tộc. Đó là năm miền Bắc thật sự bắt tay vào xây dựng CNXH, thiên đường trong mơ ước của cả dân tộc sau chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, sau 5 năm khắc phục hậu quả chiến tranh. Đó là năm Chiến lược giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã được hoạch định một cách rõ ràng.
Lần đầu tiên, Đại hội của Đảng (Đại hội III) diễn ra giữa Thủ đô trong không khí phơi phới của tự do và hòa bình, đã đánh giá tình hình thời điểm đó như sau: “Chúng ta đang hoàn thành kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế, phát triển văn hoá; Công cuộc cải tạo XHCN và xây dựng CNXH đang giành được những thắng lợi to lớn. Cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào miền Nam chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, mặc dù bị khủng bố rất dã man, vẫn giữ vững và không ngừng mở rộng. Sự nghiệp đấu tranh của nhân dân cả nước ta nhằm thực hiện thống nhất nước nhà đang phát triển mạnh mẽ”.
Đại hội đã đề ra hai nhiệm vụ chiến lược: “Đẩy mạnh công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, củng cố miền Bắc thành cơ sở ngày càng vững chắc cho cuộc đấu tranh giành thống nhất Tổ quốc; Ra sức hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị tàn bạo của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai; Thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.Những điều này chính là tiền đề để Tố Hữu viết nên những dòng thơ phơi phới lạc quan chào đón mùa xuân năm 1961.
Chào sáu mốt đỉnh cao muôn trượng
Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng,
Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau
Trông Bắc, trông Nam, trông cả địa cầu...
Bài thơ là một trực quan sinh động, từ sáng xuân được viết bởi một nội lực phi thường, một niềm hân hoan tràn ngập. Nội lực ấy, sự hân hoan ấy của một con người - tác giả cũng chính là nội lực, sự hân hoan của thời đại. Bài thơ chất chồng cảm xúc, khoáng đạt về thi pháp, phong phú, linh hoạt về hình thức để biến thành bức tranh sống động, toàn bích về đất nước những năm đầu thập niên 60 và tâm hồn con người thời kỳ đầu CNXH ở nước ta.
Niềm hân hoan, háo hức từ chủ trương đúng đắn của Đảng đã truyền cảm hứng cho rất nhiều thế hệ người Việt Nam hơn 60 năm qua. Mặc dù cả miền Bắc từ năm 1961 đến năm 1975 vừa phải chiến đấu với mưa bom, bão đạn qua các chiến dịch của đế quốc Mỹ, vừa phải lao động sản xuất để thực hiện nhiệm vụ là “hậu phương lớn” để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sau năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất thì những những hân hoan, háo hức trong bài thơ Xuân 61 dần trở thành hiện thực.
Nay ngồi đọc lại bài thơ sau 62 năm trong bối cảnh đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới" và đúng như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định:"Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta..."
Người viết: Phạm Thanh Dương - Trường THPT số 2 Bảo Thắng