Trang thông tin tổng hợp
Trang thông tin tổng hợp
  • Công Nghệ
  • Ẩm Thực
  • Kinh Nghiệm Sống
  • Du Lịch
  • Hình Ảnh Đẹp
  • Làm Đẹp
  • Phòng Thủy
  • Xe Đẹp
  • Du Học
Công Nghệ Ẩm Thực Kinh Nghiệm Sống Du Lịch Hình Ảnh Đẹp Làm Đẹp Phòng Thủy Xe Đẹp Du Học
  1. Trang chủ
  2. Hình Ảnh Đẹp
Mục Lục

Điện ảnh cách mạng Việt Nam

avatar
Katan
07:20 24/11/2025
Theo dõi trên

Mục Lục

Điện ảnh cách mạng Việt Nam là một nhánh của điện ảnh Việt Nam và là dòng phim được sinh ra từ trong phong trào cách mạng, tập trung vào việc phản ánh hiện thực xã hội, cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, bắt nguồn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.[1]

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngành Điện ảnh - Nhiếp ảnh ở miền Bắc đã ghi lại nhiều thước phim quý như "Hồ Chủ tịch từ Pháp trở về", "Pháp tấn công phố Hàng Than" hay "Trận đánh tại Ô Cầu Dền", tuy nhiên phần lớn bị thất lạc do chưa kịp in tráng. Những người tiên phong đã tháo máy chiếu Patthé, máy quay Cine-sept đưa lên chiến khu, đặt nền móng cho Điện ảnh cách mạng. Ở miền Nam, Tổ Nhiếp - Điện ảnh Khu 8 được thành lập năm 1947 do Mai Lộc phụ trách, hoạt động trong điều kiện thiếu thốn, “làm phim mà không có điện”. Bộ phim tài liệu "Trận Mộc Hóa (1948)" ghi lại trận đánh của Tiểu đoàn 307 được xem là bộ phim hoàn chỉnh đầu tiên của Điện ảnh Nam Bộ, gây tiếng vang lớn. Sau đó, các khu 8, 9, 7 lần lượt xây dựng lực lượng điện ảnh, sản xuất nhiều phim tài liệu phản ánh chiến đấu và sản xuất của nhân dân, đến năm 1951 hợp nhất thành Điện ảnh Nam Bộ (hay còn gọi Điện ảnh Bưng biền). Năm 1951, một nhóm quay phim từ Nam Bộ ra Việt Bắc để chuẩn bị thành lập lực lượng điện ảnh.[2]

Tại chiến khu Việt Bắc, bộ phận Điện - Nhiếp ảnh do Phan Nghiêm phụ trách thuộc Nha Tuyên truyền và Văn nghệ ra đời năm 1950. Ông đã trực tiếp quay Trận Đông Khê, Trao đổi tù binh ở Thất Khê, mang đi giới thiệu tại Liên hoan Thanh niên thế giới ở Berlin, đánh dấu sự xuất hiện của những thước phim kháng chiến trên trường quốc tế. Cùng thời gian, nhiều nhà quay phim như Nguyễn Hồng Nghi, Mai Lộc, Nguyễn Phụ Cấn… cũng tham gia ghi lại hình ảnh chiến dịch và đời sống kháng chiến, trong đó Mai Lộc còn là tác giả bộ phim Chiến thắng Tây Bắc (1952), phim 35mm đầu tiên của điện ảnh Việt Nam. Giai đoạn này kết thúc bằng Sắc lệnh số 147/SL[3] ngày 15 tháng 3 năm 1953 của chủ tịch Hồ Chí Minh, thành lập Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam, cơ quan điện ảnh nhà nước đầu tiên, đặt tại Đồi Cọ (Định Hóa, Thái Nguyên), đánh dấu sự ra đời chính thức của ngành.[4][2]

Sau khi thành lập, ngành điện ảnh Việt Nam tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng và sản xuất phim tài liệu phản ánh đời sống, lao động ở miền Bắc sau năm 1954. Năm 1959, bộ phim truyện đầu tiên “Chung một dòng sông” ra đời, phản ánh tình cảnh chia cắt đất nước sau Hiệp định Genève 1954, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự hình thành của nền điện ảnh cách mạng. Cùng thời gian này, các cơ quan chuyên trách như Cục Điện ảnh, Báo Điện ảnh Việt Nam và Trường Điện ảnh Việt Nam lần lượt được thành lập, tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài. Đây cũng là giai đoạn chứng kiến sự xuất hiện của nhiều phim tài liệu tiêu biểu như “Nước về Bắc Hưng Hải” (1959), phản ánh công cuộc xây dựng kinh tế và xã hội ở miền Bắc.[5] Bộ phim được đón nhận và đã được giải nhất Liên hoan phim quốc tế Moskva lần thứ 1 hạng mục phim tài liệu, lập nền tảng cho nền điện ảnh Việt Nam tại trường quốc tế.[6][7]

Trong những năm tiếp theo, ngành điện ảnh phát triển mạnh với sự tham gia của Hãng phim truyện Việt Nam và Hãng phim Giải phóng, mở ra thời kỳ rực rỡ của điện ảnh cách mạng. Nhiều tác phẩm kinh điển ra đời, trong đó nổi bật là bộ phim “Chị Tư Hậu”, lấy bối cảnh Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp. Nhân vật chính sau khi chịu nhiều đau thương đã vượt qua bi kịch,[8] đứng lên đi theo cách mạng. Bộ phim đã gây tiếng vang lớn trong và ngoài nước, được trao Giải Bạc tại Liên hoan phim Quốc tế Moskva năm 1963, góp phần khẳng định vị thế của điện ảnh cách mạng Việt Nam trên trường quốc tế.[5][9]

Trong giai đoạn chống Mỹ (1965-1975), điện ảnh cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ được xem là “vàng son” với nhiều tác phẩm kinh điển ở các thể loại. Trong giai đoạn này, hoạt động sản xuất phim diễn ra dưới điều kiện chiến tranh, với nhiều đoàn làm phim hoạt động tại chiến trường. Ngành điện ảnh đã sản xuất khoảng 100 phim tài liệu và một số phim truyện, thường được quay tại chỗ với thiết bị hạn chế, hầu hết phim làm ra là phim trắng đen. Ở dòng phim truyện, các tác phẩm tiêu biểu gồm Nổi gió, Đường về quê mẹ, Người về đồng cói, Bài ca ra trận, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Tiền tuyến gọi, Em bé Hà Nội…; ở mảng phim tài liệu - thời sự có Đầu sóng ngọn gió, Lũy thép Vĩnh Linh, Những người săn thú trên núi Đắc Sao, Những người dân quê tôi…; còn phim hoạt hình có các phim Con khỉ lạc loài, Chuyện ông Gióng, Khăm Phạ - Nàng Ngà.

Song song với sự phát triển sản xuất phim, mạng lưới trung tâm điện ảnh và đội chiếu bóng lưu động cũng được mở rộng, đưa phim đến cả vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo. Điện ảnh Việt Nam trong thời kỳ này tiếp tục nhận được sự công nhận quốc tế, với các giải thưởng tại Liên hoan phim Leipzig cho Những người dân quê tôi (1970),[10][11] Lũy thép Vĩnh Linh (1971)[12] và Liên hoan phim quốc tế Moskva, Liên hoan phim quốc tế Damascus với bộ phim Em bé Hà Nội.[13][14][15][16][17]

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, các đoàn làm phim xung kích từ miền Bắc đã bám sát đội quân tiến vào giải phóng Sài Gòn, trở thành những văn nghệ sĩ có mặt sớm nhất tại Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. Họ đã thực hiện nhiều tác phẩm có giá trị như Thành phố lúc rạng đông, Đường tới thành phố, Những bước đường thắng lợi, Sài Gòn tháng 5/1975, Qua cầu Công Lý, Sài Gòn vui chiến thắng… Trong 15 năm (1960-1975), gần 300 cán bộ, nghệ sĩ điện ảnh đã hy sinh trên khắp chiến trường,[18] góp phần làm nên bản anh hùng ca của điện ảnh cách mạng Việt Nam.[19]

Sau khi đất nước thống nhất (1975), điện ảnh cách mạng Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mạnh mẽ với đề tài phong phú hơn, phản ánh cả cuộc chiến vừa qua, công cuộc lao động sản xuất và xây dựng xã hội mới. Một số tác phẩm tiêu biểu của giai đoạn này gồm Cô Nhíp, Ngày lễ thánh, Sao tháng Tám (1976), Mối tình đầu (1977),Mùa gió chướng (1978), Mẹ vắng nhà (1979) và đặc biệt là Cánh đồng hoang (1979). Cùng với hơn 350 rạp chiếu phim, khoảng 1.400 đội chiếu bóng lưu động cũng góp phần mở rộng khả năng phổ biến phim, đưa điện ảnh đến tận nông thôn, miền núi và hải đảo.

Trong thập niên 1980, điện ảnh Việt Nam tiếp tục đa dạng hóa đề tài, với nhiều tác phẩm chuyển thể từ văn học được khán giả yêu thích như Chị Dậu (1980) hay Làng Vũ Đại ngày ấy (1983). Bên cạnh đó, nhiều phim truyện nổi bật khác ra đời như Thị xã trong tầm tay (1982), Bao giờ cho đến tháng Mười (1984), Cô gái trên sông (1986) và loạt phim Ván bài lật ngửa (1982-1987). Đây cũng là giai đoạn các nghệ sĩ điện ảnh từ hai miền quy tụ, xây dựng cơ sở sản xuất phim thống nhất từ Bắc vào Nam, đồng thời xuất hiện nhiều hãng phim mới và thế hệ nghệ sĩ trẻ góp phần làm nên diện mạo đa dạng, phong phú cho nền điện ảnh.

Giai đoạn 1975-1986 được đánh giá là một trong những thời kỳ đạt nhiều thành tựu nhất của điện ảnh cách mạng Việt Nam. Có năm, ngành điện ảnh sản xuất gần 30 bộ phim truyện nhựa, hàng trăm phim tài liệu - thời sự - khoa học, hàng chục phim hoạt hình, thu hút tới 350 triệu lượt khán giả (1984-1986). Đây là nền tảng quan trọng để điện ảnh Việt Nam bước vào công cuộc Đổi mới từ năm 1986.[20]

Từ năm 1986, với chính sách Đổi Mới, ngành điện ảnh chuyển dần sang cơ chế thị trường, cho phép sự tham gia của các đơn vị tư nhân. Số lượng phim tăng lên, với khoảng 40 phim điện ảnh mỗi năm vào đầu thế kỷ 21, bao gồm cả phim thương mại. Các bộ phim tiếp tục phản ánh đề tài lịch sử và xã hội đương đại, đồng thời hội nhập quốc tế qua các liên hoan phim và hợp tác sản xuất. Đến năm 2025, ngành đã sản xuất hơn 1.000 tác phẩm, tiêu biểu như Mùi cỏ cháy (2012), Đào, phở và piano (2023), Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối (2025), Mưa đỏ (2025), với sự đa dạng hóa về thể loại và công nghệ. Hiện tại các phim mới ra mắt ngày càng chất lượng và tinh xảo, ngành này vẫn còn đang ngày càng phát triển với nhiều nội dung, công trình mới.[21]

Ngành điện ảnh Việt Nam được xác định là một bộ phận quan trọng của “ngành công nghiệp văn hóa”, và nhiều chính sách mới đã được ban hành để phát triển ngành theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.[22]

  • Chung một dòng sông (1959)
  • Nổi gió (1966)
  • Vĩ tuyến 17 ngày và đêm (1972)
  • Em bé Hà Nội (1974)
  • Cánh đồng hoang (1979)
  • Đất Mẹ (1980)
  • Sao tháng Tám (1976)
  • Hà Nội 12 ngày đêm (2002)
  • Mùi cỏ cháy (2012)
  • Đào, phở và piano (2023)
  • Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối (2025)
  • Mưa đỏ (2025)
  • NSND Thế Anh
  • NSND Lâm Tới
  • NSND Như Quỳnh
  • NSND Ngọc Lan
  • NSND Trà Giang
  • NSƯT Tố Uyên
  • NSƯT Thanh Tú
  • Lê Vân
  • Thúy An
  • NSND Bùi Đình Hạc
  • NSND Phạm Văn Khoa
  • Trịnh Quang Tùng
  • Nguyễn Sĩ Trung
  • Nguyễn Hữu Mười
  • Thượng tá Đặng Thái Huyền
  • Giải thưởng tại Liên hoan phim quốc tế Moskva cho Cánh đồng hoang (1981).[23]
  • Giải Bông sen Vàng tại Liên hoan phim Việt Nam (từ 1970).
  • Giải thưởng Hội Điện ảnh Việt Nam - Cánh diều.
  • Giải thưởng của Hội đồng Hòa bình thế giới cho Vĩ tuyến 17 ngày và đêm
  • Điện ảnh Việt Nam
0 Thích
Chia sẻ
  • Chia sẻ Facebook
  • Chia sẻ Twitter
  • Chia sẻ Zalo
  • Chia sẻ Pinterest
In
  • Điều khoản sử dụng
  • Chính sách bảo mật
  • Cookies
  • RSS
  • Điều khoản sử dụng
  • Chính sách bảo mật
  • Cookies
  • RSS

Trang thông tin tổng hợp melodious

Website melodious là blog chia sẻ vui về đời sống ở nhiều chủ đề khác nhau giúp cho mọi người dễ dàng cập nhật kiến thức. Đặc biệt có tiêu điểm quan trọng cho các bạn trẻ hiện nay.

© 2025 - melodious

Kết nối với melodious

vntre
vntre
vntre
vntre
vntre
thời tiết hải phòng Lịch âm 789bet
Trang thông tin tổng hợp
  • Trang chủ
  • Công Nghệ
  • Ẩm Thực
  • Kinh Nghiệm Sống
  • Du Lịch
  • Hình Ảnh Đẹp
  • Làm Đẹp
  • Phòng Thủy
  • Xe Đẹp
  • Du Học
Đăng ký / Đăng nhập
Quên mật khẩu?
Chưa có tài khoản? Đăng ký