Chất tương phản là gì và tác dụng của chất tương phản?
Chất tương phản được dùng để cải thiện các hình ảnh bên trong cơ thể được tạo ra nhờ tia X, cắt lớp điện toán (CT), cộng hưởng từ (MRI) và siêu âm. Thông thường, chất tương phản sẽ giúp bác sĩ phân biệt được tình trạng bình thường và bất thường của cơ thể.
Chất tương phản không phải là chất nhuộm làm đổi màu vĩnh viễn các cơ quan nội tạng. Đây chỉ là chất làm thay đổi tạm thời cách tương tác tia X hoặc các phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác với cơ thể. Ngay trước khảo sát, chất tương phản khi được đưa vào trong cơ thể sẽ làm cho một số cấu trúc hay mô trong cơ thể hiển thị khác biệt trên hình ảnh so với lúc chưa có chất tương phản. Chất tương phản giúp phân biệt hoặc “làm tăng độ tương phản” cho những vùng được lựa chọn trong cơ thể với các mô xung quanh. Bằng cách cải thiện hình ảnh hiển thị của các cơ quan, mạch máu hoặc mô, chất tương phản sẽ giúp bác sĩ chẩn đoán tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.
Chất tương phản được đưa vào cơ thể bằng một trong bốn phương pháp sau, bao gồm:
- Đường uống (qua đường miệng)
- Bơm thụt (qua trực tràng)
- Tiêm vào mạch máu (qua tĩnh mạch hoặc động mạch)
- Tiêm vào khoang cơ thể (tử cung, khớp, bên trong đĩa đệm hoặc khoang dịch của cột sống, v.v)
Sau khi hoàn tất khảo sát hình ảnh có dùng chất tương phản, cơ thể sẽ hấp thu hoặc đào thải chất này qua đường tiết niệu hoặc đường tiêu hóa.
Có nhiều loại chất tương phản:
• Hợp chất gốc i-ốt và bari-sulfat được dùng trong chụp X-quang và chụp cắt lớp điện toán
- Chất tương phản có thể là một cấu trúc hóa học chứa i-ốt, là một nguyên tố hóa học tự nhiên. Các chất tương phản này có thể được tiêm vào tĩnh mạch hoặc động mạch, bên trong đĩa đệm, khoang dịch của cột sống, và các khoang khác của cơ thể.
- Bari-sulfat là chất tương phản phổ biến nhất được dùng qua đường uống. Nó cũng có thể dùng qua đường trực tràng và có sẵn dưới nhiều dạng, như dịch lỏng hoặc bột nhão.
- Khi chất tương phản gốc i-ốt và bari-sulfat đến vùng cơ thể cần khảo sát, chất này sẽ ngăn chặn hoặc làm hạn chế khả năng xuyên thấu của tia X. Kết quả là, các mạch máu, cơ quan và mô khác của cơ thể đang nhuộm các hợp chất gốc i-ốt hoặc bari tạm thời sẽ thay đổi cách hiển thị trên hình ảnh X-quang hoặc CT.
• Gadolinium là thành phần quan trọng của chất tương phản thường được dùng trong chụp cộng hưởng từ (MRI). Khi chất này đi vào cơ thể, nó sẽ làm thay đổi tính chất từ của các phân tử nước lân cận, giúp làm tăng chất lượng của hình ảnh MRI.
• Dung dịch muối đẳng trương (nước muối), nước, keo gốc nước, CO2 và không khí cũng được dùng như chất tương phản trong một số khảo sát hình ảnh.
Các khảo sát chẩn đoán hình ảnh nào cần sử dụng chất tương phản?
Chất tương phản đường uống
Chất tương phản bari-sulfat thì được nuốt hoặc uống để làm tăng độ tương phản hình ảnh chụp X-quang và CT của đường tiêu hóa như hầu họng, thực quản, dạ dày, ruột non và ruột già (đại tràng).
Chất tương phản đường trực tràng
Chất tương phản bari-sulfat dạng bơm thụt (đường trực tràng) được dùng để tăng độ tương phản hình ảnh chụp X-quang và CT của đường tiêu hóa dưới (đại tràng và trực tràng).
Trong một số trường hợp, chất tương phản gốc i-ốt được dùng thay thế cho chất tương phản bari-sulfat để dùng qua đường miệng và trực tràng.
Chất tương phản gốc i-ốt và gadolinium đường tĩnh mạch/động mạch
Chất tương phản gốc i-ốt tiêm đường tĩnh mạch hoặc động mạch được dùng để tăng độ tương phản hình ảnh chụp X-quang và CT. Còn gadolinium tiêm tĩnh mạch được dùng để tăng độ tương phản của hình ảnh chụp CHT. Thông thường, hai chất tương phản này được dùng để tăng độ tương phản của các cơ quan nội tạng, đường tiêu hóa, động mạch, tĩnh mạch, mô mềm của cơ thể, não và vú.