Tự tình khúc do danh sĩ nhà Nguyễn là Cao Bá Nhạ sáng tác năm 1862 (?), khi đang bị giam ở trong nhà lao chờ ngày chịu án. Theo nhà giáo Dương Quảng Hàm, thì đây là một áng văn hay, vì tình ý thiết tha, lời văn thống thiết, thật là tả hết nỗi đau đớn của một người chẳng may gặp cảnh gia biến bị nỗi oan uổng, mà vẫn giữ được lòng trung hiếu nghĩa thủy chung, khiến cho ai nấy đọc đến cũng phải cảm thương cho cái thân thế của tác giả.[1]
Tự tình khúc gồm 680 câu thơ song thất lục bát, được viết bằng chữ Nôm. Tác giả làm ra làm khúc ngâm[2] này chủ ý biện hộ cho mình trước "tội lỗi" (theo quan điểm nhà Nguyễn) mà chú ông là Cao Bá Quát đã gây ra (cầm đầu cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương) và xin triều đình ân xá.
Theo Phạm Thế Ngũ, thì Tự tình khúc có thể chia làm 6 phần như sau:
- Mở đầu (8 câu): Sau khoảng 8 năm ẩn trốn (1854-1862), tác giả giờ đây bị bắt nên làm ra khúc ngâm này để bày tỏ tâm sự của mình.
- Giới thiệu gia thế (9-36): Tác giả họ Cao ở làng Phú Thị, đã mấy đời khoa bảng, vẫn luôn lấy sự thanh liêm và cần mẫn làm đầu.
- Gia biến và lánh nạn (37-188): Vì tội của chú (Cao Bá Quát) mà cha tác giả phải tự sát, bản thân phải trốn ở một nơi hẻo lánh (Mỹ Đức thuộc Hà Đông cũ), làm thầy đồ, tạm quên sầu muộn với sách và hoa. Tác giả nói mình đã có vợ con, bấy lâu nay chỉ ước mong sao được nhà vua ban chiếu ân xá.
- Thuật việc bị bắt (189-324): Không ngờ có người tố cáo, tác giả bị quan quân vây bắt, bị bỏ cũi giam (giải đi Hải Dương, Bắc Ninh), chịu nhiều khổ sở, nhục nhã.
- Kể tâm sự trong ngục (325-572): Tác giả buồn tủi đau đớn vì bị oan ức, nhưng vẫn cố gắng giữ lòng ngay thẳng và luôn nhớ đến cha mẹ, vợ con cùng quê nhà.
- Kết thúc (572-608): Tác giả tin tưởng vào đạo lý thánh hiền, hy vọng vào công lý của Trời và phúc đức của nhà minh.
Trích các ý kiến của:
- Thanh Lãng:
- Phạm Thế Ngũ:
- Đặng Thị Hảo:
Tuy nhiên, theo Vũ Khiêu thì rất có thể Cao Bá Nhạ đã hèn hạ đổ lỗi cho chú để minh oan cho mình.[6]
Lúc ẩn trốn: ...Vườn riêng lấy cỏ cây làm bạn, Năm dài xem én nhạn bay qua; Song hồ ngày tháng lân la, Một hai hoàng quyển năm ba tiểu đồng... Mối tâm sự rối mười phần thảm, Gánh gia tình nặng tám năm dư. Khi ngày mong bức xá thư, Khi đêm than bóng, khi trưa hỏi lòng... Lúc bị phát giác: ...Nay phó xuống Đông Thành tạm trú, Mai truyền sang Bắc Lộ ruổi ra. Thân sao như gánh hàng hoa, Sớm qua chợ sớm, chiều qua chợ chiều. -Gông ba thước ai bày nên nợ, Cũi một gian khéo giở ra trò. Mới qua là kẻ văn nho, Bỗng nay đổi dạng tù đồ, bởi đâu!... Lúc bị giam cầm: Nỗi ly hận nói năng sao xiết, Tình tương tư nào biết bao nhiêu. Tính xem ly biệt ít nhiều, Thương cho mai cúc nặng điều tương tư. Nhờ trận gió gửi thư thăm hỏi, Mượn bóng giăng giãi mối ân cần. Giá đành phong nguyệt chủ nhân, Nỡ nào đầy đọa phong trần xót thương... ...Chút đau đớn khuê phòng gối lẻ, Bỗng vì đâu chia rẽ mối tơ. Liễu bồ đôi chút cành thơ, Bao giờ bìu ríu, bao giờ bồng mang? Đã cay đắng nhiều đường rộn rã, Lại nhục nhằn đến cả vợ con, Mấy năm chút nghĩa ôn tồn, Gieo đào, trả mận lòng còn bâng khuâng...- Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu xuất bản tại Sài Gòn. Bản in lần thứ 10, 1968.
- Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (quyển 2). Quốc học tùng thư xuất bản, Sài Gòn, 1963.
- Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (quyển thượng). Nhà xuất bản Trình bày, không ghi năm xuất bản.
- Nhiều người soạn, Từ điển Văn học (bộ mới, mục từ do Đặng Thị Hảo soạn). NXb Thế giới, 2004.
- Nhiều người soạn, Thơ văn Cao Bá Quát. Nhà xuất bản Văn học, 1984.