ĐỌC QUÂN TRUNG TỪ MỆNH TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI TỪ GÓC NHÌN ĐIỂN CỐ<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" />
ThS. PHẠM VÂN DUNG
Đại học KHXH và Nhân văn, Hà Nội
Như chúng ta đã biết, điển cố là một trong những đặc thù độc đáo của văn học cổ trung đại phương Đông. Trong thiên Tri kỉ của Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp xếp điển cố là một trong sáu phép làm cơ sở để xác định độ hay - dở của tác phẩm [2: tr.138-139]. Điều đó thể hiện tầm quan trọng của điển cố trong việc sáng tác văn chương. Nó không chỉ được sử dụng như một biện pháp tu từ, mang tính từ chương, nó còn được coi là một cách làm sang, làm đẹp cho tác phẩm, tạo nên một thói quen sáng tác, thể hiện tính “bác học”, trình độ uyên bác của tác giả. Tuy nhiên, nó cũng không khỏi dẫn tới tình trạng khuôn sáo, thậm chí bí hiểm trong văn chương. Và với ngày nay, có thể nói điển cố đã trở thành một trở ngại đối với người đọc hiện đại nói chung trong quá trình tiếp cận các văn bản cổ.
Tìm hiểu hệ thống điển cố trong Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn Trãi, chúng tôi muốn tìm hiểu nghệ thuật sử dụng điển cố của ông trên các phương diện: mật độ điển cố; nguồn gốc điển cố, phương thức dụng điển;… Trên cơ sở đó có thể rút ra mục đích sử dụng điển cố, ý nghĩa của nghệ thuật dụng điển để làm nên sức mạnh “ngàn vạn quân binh” của tác phẩm, đồng thời cũng góp phần tìm hiểu đặc trưng Hán văn của Nguyễn Trãi(1).
Quân trung từ mệnh tập, một tập hợp những thư từ, mệnh dụ do ông soạn thảo trên danh nghĩa Lê Lợi để thương thuyết, tấn công kẻ thù trên mặt trận ngoại giao. Và tài văn “cũng là võ khí, mạnh như vũ bão, sắc như gươm dao” ấy đã góp phần quan trọng đánh bại quân thù, kết thúc 20 năm thuộc Minh. Vậy với một tập thư từ chủ yếu hướng tới đối tượng là các tướng tá nhà Minh, mà hơn một lần trong tác phẩm ông đã gọi là “các bậc nguyên soái có học hành Thi, Thư”(2), những kẻ học vấn uyên bác, thấm nhuần cửa Khổng sân Trình, nhân danh “đạo lý thánh hiền” đến xâm lược nước ta, Nguyễn Trãi phải viết thế nào để tranh luận, để thương thảo, để tấn công, uy hiếp và khuất phục được chúng? Để làm sáng tỏ được điều đó, ngoài những khảo sát về ngôn từ, cách hành văn, thì khảo sát trực tiếp trên văn bản chữ Hán về hệ thống điển cố được sử dụng trong tác phẩm là cần thiết.
Trên cơ sở thống kê định lượng, chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá về điển cố trong Quân trung từ mệnh tập ở ba phương diện: mật độ điển cố, nguồn gốc điển cố và phương thức dụng điển.
1. Mật độ điển cố
Theo khảo sát, chúng tôi thấy có 13/68 thư không có điển cố nào, chiếm 19,11% tổng số thư. Tổng số điển cố ở đây là 169. Như vậy với 55 thư còn lại trên tổng số 169 điển cố, cho chúng ta tỉ lệ trung bình là 3,07% điển cố/thư, trong đó thư số 63 có số điển cố nhiều nhất là 15 điển cố/1049 chữ của toàn thư, có mật độ khoảng 1 điển cố/70 chữ, thứ đến thư số 35 có 9 điển cố, có mật độ khoảng 1 điển cố/107 chữ. Khá nhiều thư chỉ có từ 01 đến 02 điển cố. Điều đó cho thấy mật độ điển cố trong các bức thư ở đây không hề dày. Và hiển nhiên chúng ta hiểu, với tài năng của bậc đại Nho như Nguyễn Trãi thì khối lượng kiến thức thông kim bác cổ không phải ít, điển xưa tích nay hẳn là nhiều nhưng ông dụng điển không nhằm mục đích khoe chữ, không làm vật trang sức cho lời văn, không cố tình cầu kỳ bí hiểm để hiếu thắng tranh hơn thua bằng được với kẻ thù. Bậc “đại nhân, đại trí” ấy rất hiểu đối phương cũng là những người rất am tường Nho điển, kiến văn uyên bác nên cách dụng điển ở đây không phải mang ra để “lòe” nhau, để “hù dọa”, mà chúng được sử dụng một cách tinh tế, xác đáng, nhằm làm tăng sức mạnh cho lời văn, tạo chứng cứ thuyết phục đối phương. Chính bởi vậy, văn phong trong Quân trung từ mệnh tập trong sáng, dễ hiểu, gãy gọn, sắc bén, hừng hực khí thế tấn công mà cũng vô cùng thấu lý đạt tình.
2. Nguồn gốc điển cố
Các điển cố trong tác phẩm này được chúng tôi truy nguyên và quy về các nguồn sau: Kinh bộ (gồm Kinh Thi; Kinh Thư; Kinh Dịch; ; Luận ngữ; Mạnh tử; Tả truyện; Trung dung); Sử bộ (gồm Sử ký; Hán thư; Tam quốc chí; Tấn thư…); Tử bộ (gồm Tôn tử; Hoài Nam tử); Tập bộ (thơ cổ; thơ của Hàn Dũ đời Đường); Ngạn ngữ; và một số nguồn khác (có thể chỉ được dẫn một cách chung chung là: cổ vân (Xưa nói rằng); cổ nhân vân (Người xưa nói); thường văn (từng nghe); dư văn; bộc văn; ngô văn (ta nghe).
Tỉ lệ điển cố giữa các nguồn như sau: Kinh bộ (61/169 điển cố = 36%); Sử bộ (71/169 điển cố = 42%); Tập bộ (03/169 điển cố = 1,77%); Tử bộ (04/169 điển cố = 2,36%); ngạn ngữ (04/169 điển cố = 2,36%); những nguồn khác (26/169 điển cố = 15%). Thực tế, số điển cố này còn có thể truy nguyên một cách tỉ mỉ hơn nữa. Trong chừng mực hạn chế về kiến văn của người hiện đại khi đọc điển cố, chỉ mới dừng ở mức trên, chúng tôi có thể sơ bộ đánh giá:
- Lượng điển cố có nguồn gốc từ Sử bộ có tỉ lệ nhiều nhất. Điều đó cho thấy cách lập luận của Nguyễn Trãi luôn bám sát với những chứng cứ xác thực, luôn muốn lấy những bài học trong lịch sử của chính đất nước đối phương làm chỗ dựa tấn công, nói một cách nôm na là tác giả đã sử dụng triệt để cách thức khiến kẻ thù phải hứng chịu đòn “gậy ông lại đập lưng ông”.
- Lượng điển cố xuất phát từ Kinh bộ mà chủ yếu là từ Kinh Thư (tập hợp những văn kiện hành chính cổ đại của Trung Quốc được coi là những bài học mẫu mực trong việc tổ chức nhà nước) và Luận ngữ (cuốn sách thể hiện rõ nhất tư tưởng của Khổng tử - người sáng lập đạo Nho) cũng được coi là mũi nhọn quan trọng để dồn ép đối phương.
- Mặc dù chiếm tỉ lệ thấp nhưng những điển cố xuất phát từ ngạn ngữ, từ những lời ăn tiếng nói trong dân gian rất giản dị dễ hiểu, từ những bài học đã được đúc kết thành qui luật muôn đời cũng được tác giả chú ý sử dụng đến. Ví dụ thư số 29 (Lại thư cho Thái giám Sơn Thọ): 故諺有曰: 如人飲水 , 冷煖自知Cố ngạn hữu viết: như nhân ẩm thủy, lãnh noãn tự tri (Cho nên ngạn ngữ có câu: “Như người uống nước, nóng lạnh tự biết”. Hay thư số 35 (Thư lại dụ Vương Thông): 古人云: 遠水不能救近火Cổ nhân vân: viễn thủy bất năng cứu cận hỏa (Người xưa nói: nước xa không cứu được lửa gần).
Có thể thấy cách lựa chọn điển cố ở đây của Nguyễn Trãi khá phong phú về nguồn gốc nên cũng tạo nên một văn phong cũng khá uyển chuyển, linh hoạt: khi thì uyên bác, sắc sảo đầy chất trí tuệ, lúc cũng rất gần gũi, giản dị, tràn hơi thở cuộc sống, tựa như chân lý sinh ra.
3. Phương thức sử dụng điển cố
Phương thức sử dụng điển cố ở đây được qui làm ba loại chính là:
Một là dùng chữ (dùng chính xác một vài chữ từ một tác phẩm nào đó để nói ý). Ví dụ ở thư thứ 2 (Thư gửi quan Tổng binh và quan phủ vệ Thanh Hóa): 此雖僕之罪, 亦由上司懷柔不以其道也Thử tuy bộc chi tội, diệc do thượng ty hoài nhu bất dĩ kỳ đạo dã (Đó tuy là tội của tôi nhưng cũng do quan trên vỗ yên không phải đạo vậy). Hai chữ hoài nhu ở đây rút từ câu: Nhu viễn nhân dã, hoài chư hầu dã (Đối đãi hòa nhã với khách ở phương xa, tưởng nhớ các nước chư hầu) trong sách Trung dung, sau nhân đó dùng hoài nhu để chỉ việc đi đến vỗ yên dân chúng ở nơi xa xôi. Loại này chiếm 46/169 điển cố = 27,21%.
Hai là trích dẫn cả câu: Ví dụ thư thứ 24 (Thư cho Thái giám Sơn Thọ): 傳曰: 自古皆有死 , 無信不立Truyện viết: tự cổ giai hữu tử, vô tín bất lập (Truyện nói: Từ xưa ai cũng phải chết, dân không tin thì nước không thể đứng vững được). Câu này xuất phát từ thiên Nhan Uyên, sách Luận ngữ, khi Tử Cống hỏi về việc trị nước, Khổng tử đáp phải đủ lương thực, đủ binh lực, được dân tin. Tử Cống hỏi nếu bất đắc dĩ phải bỏ một trong ba điều ấy thì bỏ gì trước. Khổng tử đáp bỏ binh lực. Tử Cống lại hỏi nếu bất đắc dĩ phải bỏ một trong hai điều còn lại thì bỏ điều gì trước. Khổng tử đáp: “Khử thực. Tự cổ giai hữu tử, dân vô tín bất lập”. Loại này chiếm 55/169 điển cố = 32,54%.
Loại thứ ba được dùng phổ biến nhất: rút gọn ý từ một câu thơ, câu văn, hoặc một câu chuyện, sự tích. Ví dụ thư số 1 (Thư xin hàng): 然精衛豈辭填海之勞, 冤酷不顧生死之報Nhiên tinh vệ khởi từ điền hải chi lao, oan khốc bất cố sinh tử chi báo (Song chim tinh vệ lấp biển há quản gian lao; kẻ oan ức cũng liều sống thác). Theo sách Thuật dị ký, con gái vua Viêm Đế bị chết đuối ở biển Đông, sau hóa làm chim tinh vệ, hàng ngày ngậm đá ở núi Tây mang ra lấp biển cho hả giận. Loại này chiếm 68/169 điển cố = 40,23%.
Rõ ràng, sử dụng điển cố bằng cách trích dẫn nguyên văn hoặc rút gọn làm người đọc tiếp nhận thông tin dễ dàng hơn bởi dễ hiểu, dễ đoán định nhanh hơn, chính xác hơn là cách thức chỉ trích một vài chữ (tạm gọi là dùng chữ). Đó cũng là một đặc điểm của văn phong Nguyễn Trãi: sáng rõ, mạch lạc.
Cũng cần phải nói thêm về cách vận dụng điển cố. Như đã nói, sử dụng điển cố đã thành một thói quen sáng tác, một đặc điểm thi pháp của thơ văn trung đại. Người viết sử dụng tự nhiên mà không cần chú ý đến nguồn trích dẫn là điều thường thấy. Thậm chí với cách thức dùng chữ, chỉ cần lẩy ra một hai chữ từ một điển nào đó hiếm gặp sẽ trở thành sự thách đố với người đọc, đòi hỏi người đọc phải có tầm hiểu biết sâu rộng mới giải mã được. Tuy nhiên trong Quân trung từ mệnh tập dường như không xuất hiện dụng ý đó. Hơn nữa, dù không chiếm số lượng chủ đạo, nhưng cũng đã xuất hiện xu hướng muốn chỉ rõ xuất xứ tác phẩm, tác giả, muốn chứng tỏ “nói có sách mách có chứng”, nhằm để tăng thêm tính xác tín cho lập luận của mình. Ví dụ như trước lời dẫn có ghi rõ: Truyện viết (Truyện nói rằng); Dịch viết (Kinh Dịch nói rằng); Thi vân (Kinh Thi nói rằng), thậm chí có khi chỉ rõ tên tác giả lời trích dẫn:
Thư số 15 (Lại thư cho Vương Thông, Sơn Thọ): … 然必若孔子所謂 : 視其所以 , 觀其所由 , 察其所安則人之情偽毫髮有不容隱者矣… Nhiên tất nhược Khổng Tử sở vị: thị kỳ sở dĩ, quan kỳ sở do, sát kỳ sở an tắc nhân chi tình nguỵ hào phát hữu bất dung ẩn giả hĩ. (…nhưng tất như lời Khổng Tử nói “xem việc làm thế nào, xét lý do tại sao mà làm, nhận thấy có vui vẻ mà làm hay không” thì nhân tình thực dối thế nào, mảy may cũng không thể che giấu được).
Một điểm nữa cũng rất đáng chú ý trong cách dùng điển cố ở đây của Nguyễn Trãi. Như chúng ta đã thấy, mật độ điển cố xuất hiện trong Quân trung từ mệnh tập không dày, số lượng điển cố lại không nhiều, hơn nữa trong tổng số 169 điển cố ấy lại có những điển cố được sử dụng lặp lại nhiều lần một cách có chủ đích. Ví dụ: những chữ dùng như懷柔hoài nhu rút từ câu Nhu viễn nhân dã, hoài chư hầu dã (Đối đãi hòa nhã với khách ở phương xa, tưởng nhớ các nước chư hầu) trong sách Trung dung xuất hiện tới 5 lần; hai chữ điếu phạt rút từ câu điếu dân phạt tội (Thương dân đánh kẻ có tội) trong Kinh Thư xuất hiện tới 6 lần; cụm từ hưng diệt kế tuyệt (dấy lại nước đã diệt, nối lại dòng đã đứt) trong sách Trung dung xuất hiện tới 13 lần đều không ngoài mục đích nhấn mạnh, vừa mang tính nhắc nhở vừa nhằm vạch rõ bản chất chiêu bài “phù Trần diệt Hồ” của quân Minh khi chúng cầm quân sang đánh nước ta.
Như vậy, với sự khảo sát như trên, chúng ta có thể rút ra kết luận: hệ thống điển cố trong Quân trung từ mệnh tập đã được Nguyễn Trãi sử dụng khá đa dạng và linh hoạt nhưng cũng rất nhất quán về nguồn dụng điển cũng như về phương thức dụng điển, có chủ đích rõ ràng, nhằm đạt hiệu quả thực trong cách lập luận, khiến văn phong sáng rõ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục người nghe chứ không sa vào lối từ chương, tô vẽ, đánh bóng văn chương. Đó cũng là lối dùng điển đã đạt đến tầm nghệ thuật vừa tinh tế, trong sáng, vừa phác thực, giản dị của bậc trước tác đại tài. Điều đó lý giải vì sao gần sáu thế kỉ trôi qua, những bức thư trong Quân trung từ mệnh tập vẫn hừng hực khí thế, vẫn lay động lòng người.
Chú thích:
(1) Phần văn bản chữ Hán được chúng tôi sử dụng khảo sát trong bài viết này dựa theo phần văn bản chữ Hán được cung cấp trong Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, Tập 1, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học & Nxb. Văn học, H. 2001.
(2) Ví dụ: 況大人以詩書之帥 [13: tr.450] Huống đại nhân dĩ Thi, Thư chi súy: Huống chi ngài là bậc tướng súy đã đọc Thi, Thư; 而大人書詩元帥不以蒼生何其辜 [13: tr.754] Nhi đại nhân Thư, Thi nguyên súy bất dĩ thương sinh hà kỳ cô: mà các ngài đều là bậc nguyên soái có học hành Thi, Thư, há lại không biết dân chúng đâu có tội tình gì?
Tài liệu tham khảo chính
1. Dương Quảng Hàm: Việt Nam văn học sử yếu, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, H. 1951.
2.Lưu Hiệp: Văn tâm điêu long - Phan Ngọc dịch, giới thiệu và chú thích, Nxb. Văn học, H. 1997.
3. Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn và giới thiệu: Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm, Nxb. Giáo dục, Tp. Hồ Chí Minh, 2003.
4. Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, Tập 1, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học & Nxb. Văn học, H. 2001.
9. Nguyễn Văn Nguyên: Những vấn đề văn bản học Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn Trãi, Nxb. Văn học, H. 1998./.
(Tạp chí Hán Nôm, số 3 (112) 2012 (tr.55 - 59)