Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam
Nguyễn Mạnh Quang
https://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_13a.php
| bản in | ¿ trở ra mục lục | 31 tháng 12, 2009
PHẦN III
◎◎◎CHƯƠNG 13
NHỮNG VIỆC LÀM "SÁNG DANH CHÚA" CỦA GIÁO HỘI
(tiếp theo)
II.- Sự Giàu Có Của Vatican- Phóng Tay Cướp Đoạt Tài Sản Dân Chúng
Đây là dã tâm gian tham, tàn ngược của Nhà Thờ Vatican với chủ trương thâu tóm quyền kiểm soát hết tất cả các phạm vi sinh hoạt trong nhân dân vào trong tay để tận tình thu vơ tài sản, của cải, rồi gom lại tích lũy vào trong kho nhà Chúa (gọi là của Nhà Chung). Dã tâm này được sách sử ghi nhận như sau:
Vì dựa vào chủ thuyết “Tôn Giáo chỉ đạo chính quyền” cùng với chủ trương kiểm soát tất cả mọi phương tiện sản xuất và kiểm soát tất cả mọi phạm vi sinh họat trong xã hội, cho nên Giáo Hội có thể cướp đọat tài nguyên quốc gia, tham nhũng, bóc lột tín đồ và nhân dân dưới quyền bằng trăm phương ngàn kế. Nhờ vậy Giáo Hội đã vơ vét và tích lũy được rất nhiều của cải và trở nên vô cùng giầu có. Sự giầu có của Giáo Hội quả thật là vô địch trong lịch sử loài người. Có rất nhiều tài liệu nói về những khối bất động sản của Giáo Hội. Sự kiện này cho chúng ta thấy rõ mức độ tham tàn của Nhà Thờ Vatican quả thật là cực kỳ ghê gớm và hết sức kinh khủng. Dưới đây là một số tài liệu nói về sự giầu có của Giáo Hội:
1.- Sách the Dark Side Of Christian History nói về sự giầu có của Giáo Hội như sau:
2.- Sự giầu có của Giáo Hội cũng được học giả Da-tô Phan Đình Diệm ghi nhận trong bức tâm thư của Học Hội Đức Giê-su Kitô Phục Sinh gửi các linh mục Việt Nam vào tháng 5/1999, trong đó có một đoạn nói rõ những khối tài sản khổng lồ mà Giáo Hội đã cướp đoạt được tại một số quốc gia Âu Châu như sau:
3.- Trong bản Tuyên Cáo 6 của Học Hội Đức Giêsu Kitô Phục Sinh được công bố ngày 15/6/1999, có một đoạn với như sau:
Làm thế nào Giáo Hội có thể tích lũy được nhiều tài sản đến như vậy?
Như đã nói ở trên, Giáo Hội chủ trương thâu tóm quyền kiểm soát hết tất cả các phạm vi sinh hoạt trong nhân dân vào trong tay. Theo chủ thuyết thần quyền và thế quyền trong tay, Giáo Hội bày ra các phương kế, hoặc là cưỡng bách tín đồ phải đóng thuế cho nhà thờ gọi là thuế thập phân (tithe) cùng rất nhiều thứ thuế và hình thức đóng góp khác, hoặc là dụ dỗ các nhà bà góa giầu có hiến dâng tài sản cho Nhà Thờ. Sách Living World History cho chúng ta biết sơ qua về một vài phương cách mà Giáo Hội sử dụng để bóc lột nhân dân và sự giầu có của Giáo Hội như sau:
Trong lời giới thiệu tập sách The Vatican’s Holocaust, Giáo-sư Trần Chung Ngọc viết:
“Cuốn Les Secrets des Jésuites, Herblay, France, 1933, của André Lorulot, một tài liệu mật về những huấn thị cho các giám mục, linh mục, làm sao để kết thân với giới cầm quyền, làm sao lân la với các góa phụ để chuyển được tài sản của họ cho nhà thờ, và nhiều mánh mưu bỉ ổi khác để vơ vét tiền bạc v…v… .”[vi]
Những bản văn sử trên đây cho chúng ta thấy rõ ràng rằng, những hành động cướp đoạt tài nguyên của đất nước, cướp đoạt các phương tiện sản xuất của nhân dân, cũng như sử dụng những thủ đoạn bất chính để cưỡng bách hay dụ dỗ tín đồ đóng góp cho Nhà Thờ bằng nhiều hình thức khác nhau như nói ở trên là bản chất cố hữu từ ngàn xưa của Giáo Hội La Mã ở Âu Châu. Vì đã là bản chất, cho nên, khi quyền lực của Nhà Thờ vươn tới đâu, thì cái bản chất ăn cướp này của Nhà Thờ Vatican cũng được thể hiện ra thành hành động ở nơi đó. Tại các thuộc địa của các Liên Minh Đế Quốc Xâm Lược mà Vatican liên hiệp, nhà Thờ Vatican cũng làm y như vậy. Sự kiện này được Tu sĩ Desmond Tutu, người chiếm giải Nobel về Hòa Bình vào năm 1994, đã nói:
Thời kỳ Việt Nam nằm dưới ách thống trị của Liên Minh Xâm Lược Pháp - Vatican 1862-1945, và miền Nam Việt Nam trong thời nằm dưới ách thống trị của Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican, Nhà Thờ Vatican cũng đã làm y như thế. Sự kiện này đều được sách sử ghi lại rõ ràng và đã được người viết trình bày khá đầy đủ trong Chương 29, Mục X, Phần III của bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác của Giáo Hội La Mã. Dưới đây, chúng tôi chỉ ghi lại những khoản ruộng đất khổng lồ của nhân dân Việt Nam bị Nhà Thờ Vatican cướp đoạt trong những năm 1862-1945, chưa kể những khoản tài sản khác như những khu đất bị Nhà Thờ Vatican cưỡng chiếm để xây nhà thờ cùng các cơ sở như chủng viện, tu viện, trường học, nhà thương và các cơ sở kinh doanh khác.
Theo các tài liệu lịch sử thì trong những năm 1862-1945, Nhà Thờ Vatican chiếm đoạt đến 25% toàn thể diện tích ruộng đất trồng trọt ở Nam Kỳ, chưa nói đến ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Sự kiện này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi lại rõ ràng trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm với như sau:
Trong lá thư gửi Giáo Hoàng John Paul II của ông Vũ Trọng Minh đăng trong cuốn Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II, trong đó có mấy đoạn nói về việc Giáo Hội đã chiếm đoạt ruộng đất và kinh tài bất chính ở Việt Nam. Dưới đây những đoạn văn này:
Ngoài những hành động và thành tích cướp đoạt ruộng đất của dân ta như trên, Nhà Thờ Vatican còn cướp đoạt nhiều ngôi chùa và những thửa đất ngon lành nhất ở trong các thành phố lớn để xây nhà thờ, xây chủng viện, tu viện và các cơ sở khác ở trên đó. Nói về thành tích của Giáo Hội La Mã trong những hành động cướp chùa chiếm đất để xây nhà thờ trong thời gian từ khi Giám-mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) cặp kè với Chúa Nguyễn Ánh vào giữa thập niên 1780 cho đến ngày 30/4/1975, tác giả Tường Minh - Chu Văn Trình ghi lại trong cuốn Rơi Mặt Nạ một số những vụ lừng danh như sau:
Ngoài những vụ ăn cướp chùa trên đây, sách này còn ghi nhận những hành động cướp đất và tiền bạc dưới đây cũng do Giáo Hội La Mã chủ trương, xin tóm lược như sau:
4.- "Chùa Thiên Mụ xây năm 1601 bị Da Tô đánh cướp 32 pho tượng vàng y.”
5.- Chùa Diệu Đếbị Da-tô cướp đất:
Năm 1885, Chính quyền Da-tô Thực Dân lấy Cát Tường Tư Thất làm sở đúc tiền và lấy Trí Tuệ Tịnh Xá làm phủ đường Thừa Thiên - lấy một tăng phòng làm Nhà Lao của tỉnh và một tăng phòng làm trụ sở cho Khám Thiên Giám.
Năm 1887, chính quyền Da-tô triệt hạ một số căn nhà khác trong chùa..
Năm 1910, chính quyền Da-tô lại triệt hạ Đào Nguyên và thay vào bằng hai nhà nhỏ thờ Kim Cang. [Nguyễn Quang Tuân, Những Ngôi Chùa Danh Tiếng, 1991, tr.115] .
6.- Chùa Giác Hoàng bị cướp phá.- Chùa Giác Hoàng là “Một trong hai mươi thắng cảnh Thần Kinh đã được Vua Thiệu Trị làm thơ ca tụng có ghi trong Ngự Chế Thi Tập.”, đã bị Da-tô đánh cướp vào năm 1885.
7.- Da-tô cướp chuông chùa - cướp đất nghĩa trang anh hùng Văn Thân - Cần Vương xây nhà thờ Da-tô. Chuông nhà thờ Phát Diệm. “Đây là một quả chuông đồng pha vàng do Trần Lục ngày xưa đem quân đi đoạt ở một ngôi chùa nào xa lắm - đem về dâng nhà thờ Phát Diệm.” [Chu Thiên: Bão Biển,1978, tập1, tr 149.]
Nhà thờ Da-tô đối diện với Tòa Hành Chánh tỉnh Quảng Ngãi xây trên nền Nghĩa Trang các anh hùng liệt sĩ Cần Vương và Văn Thân.
8.- Nhà thờ Lớn ở Sàigòn: Nhà Thờ Lớn ở Sàigòn (hiện nay là nhà thờ Đức Bà, Vương Cung Thánh Đường) được xây trên nền một ngồi chùa bị phá. Sách “Sàigòn Năm Xưa” xuất bản năm 1960, trang 218, tác giả Vương Hồng Sển viết:
“Từ ngày Pháp chiếm Sàigòn, Đức Cha hành lễ tại một ngôi chùa hoang phế và sử tạm dùng làm thánh đường.”
Ngày 7/10/1877, Cố Đạo Thực Dân Colombert đặt viên đá đầu tiên xây ngôi thánh đường tạm thành “nhà thờ Đức Bà” đến ngày 11/4/1880 lễ hoàn thành.
Ngày 7-8 tháng 12/1960, dưới thời Da-tô phản quốc Ngô Đình Diệm, Vatican phong cho nhà thờ lớn Sàigòn là “vương cung thánh đường”.
9.- GM Nguyễn Văn Thuận ăn cướp đất ở bờ biển Hòn Chồng để xây Giáo Hoàng Chủng Viện.
10.- Linh-mục Ngân ở Quảng Ngãi cướp đất của thị xã Quảng Ngãi để xây nhà thờ. Y cũng nuôi ý đồ cướp đất chùa Bút Tháp, âm mưu đang tiến hành thì chế độ Diệm đổ…
11.- Linh-mục Vàng thuộc “Trung Tâm Nhân Vị” ở Vĩnh Long đã cắm thập ác trên núi Ngũ Hành trong phạm vi Chùa Non Nước với ý đồ cướp đất Chùa Non Nước.
12.- Linh-mục Đinh Xuân Hải lấn đất của một ngôi chùa ở Hóc Môn (Nam Việt).
13.- Giám-mục Ngô Đình Thục và Trần Lệ Xuân ăn cắp 18 tỷ đô la gửi vào ngân hàng Vatican. [xii]
Trong số 13 vụ cướp chùa, cướp đất xây nhà thờ và cướp của được nêu ra trên đây, có 8 vụ xẩy ra trước năm 1945 và 5 vụ xẩy ra trong những năm 1954-1975 ở miền Nam Việt Nam.
Riêng tại miền Nam Việt Nam, những khoản ruộng đất khổng lồ này Nhà Thờ Vatican vẫn chiếm đọat cho tới ngày 30/4/1975. Trong những năm bạo quyền Ngô Đình Diệm chưa bị lật đổ, Hoa Kỳ cũng đã quan tâm đến việc này. Cũng như Mặt Trận Việt Minh ở miền Bắc, ở miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ cũng thấy rằng muốn ổn định xã hội thì phải xóa bỏ tình trạng bất công về ruộng đất ở nông thôn, và muốn xoá bỏ bất công về ruộng đất ở nông thôn, thì phải phát động và thực hiện một chương trình cải cách hay phân phối lại ruộng đất, hầu giúp cho tất cả mọi nông dân đều có ruộng cày để mưu sinh. Cũng vì thế, vào năm 1956, Hoa Kỳ đã quyết định dành hẳn một khoản tiền đặc biệt và ra lệnh cho chính quyền Ngô Đình Diệm phải thi hành chính sách cải cách điền địa, nhằm giảm bớt số ruộng đất của những thành phần đại địa chủ để san sẻ ruộng đất cho nông dân với mục đích là tranh thủ đuợc sự ủng hộ của đại khối nông dân nghèo khổ. Đây là một sự thật và tất cả đã được ghi vào sách sử. Về việc Hoa Ky thôi thúc chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành chương trình cải cách ruộng đất, sách Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 Tập I C: 1955-1963 viết:
Thế nhưng, với tinh thần “tuyệt đối tin tưởng vào Tòa Thánh Vatican” như đã công khai tuyên bố với các chính khách có thế lực trên sân khấu chính trị Hoa Kỳ trong bữa cơm chiều tại Khách Sạn Mayfower ở Washington D.C. vào đầu tháng 10/1955, cho nên, dù là đã bị chính quyền Hoa Kỳ thúc giục thi hành chính sách cải cách ruộng đất như nói ở trên, Ngô Đình Diệm cũng vẫn toa rập với Giáo Hội La Mã để qua mặt chính quyền Hoa Kỳ, không đả động tới khối ruộng đất khổng lồ của Giáo Hội. Sự kiện này được sử gia Joseph Buttinger ghi lại như sau:
___________________
Mời đọc thêm:
- Cách Làm Tiền của Vatican (Charlie Nguyễn)
- TT: Sự Giàu Có Của Vatican- Phóng Tay Cướp Đoạt Tài Sản Dân Chúng (Nguyễn Mạnh Quang)
- Giáo Hội Thiên Chúa Giáo Giàu Tới Mức Nào? Khó Ai Biết (Emily Stewart/ thestreet.com)
- Những Chuyện Kể Của Phượng Hoàng GV - Tập 1: Vatican Làm Sao Giàu Có ?
- Giáo Hội Thiên Chúa Giáo Giàu Tới Mức Nào? Khó Ai Biết Được
- Cách Làm Tiền Của Vatican
CHÚ THÍCH
[i] Malachi Martin, Rich Church Poor Church (New York: G. P. Putnam’s Sons, 1984) p. 90.
“In religious matters, the pre-Christian world was ecumenical tolerant. “Everybody is right. Nobody is wrong,” was one message of the Delphic Oracle, “Whatever be the region of the earth where you find yourself,” went the Roman principle, “that region’s religion is your religion.” In men‘s minds and in the way they conducted their affairs, there was no connection between religion and truth. Religion was not considered a true thing. Hence, prior Christianity, there was no religious wars and no religious persecutions. There was no religious martyrs for their faith. No one tried to impose religion as such on anyone else. Only Christians produced such wars, persecutions and martyrs.
From their beginnings, Christians insisted that their religion was true, that it did speak about reality. They drew the logical conclusion from that: that it was universally true. That there could be only one true religion. Theirs. Hence all philosophy and all knowledge - any branch of human activity that dealt with the truth - had to be, would be reconcilable with the true religion, Christianity. Otherwise, it was a false philosophy, a false knowledge. Automatically, an all embracing morality from this Christianity. It permeated al aspects of temporal life:economics, politics, finance, the arts, education, social structures. Religion and politics, religion and wealth, religion and government, religion and art, religion and learning - between these there was no irrececoncilable opposition. They were not separate or to be kept separate. Military matters, matters of politics, wealth, art, government - all became dominated by religion.”
[ii] Helen Ellerbe, The Dark Side Of Christian History (Windermere, FL: Morningstar and Lark, 1995), p. 50-51.
“Money and power played a critical role in man ’s ascent to through the Church hierarchy and contributed to the disreputable nature of the medieval Church. At least forty different Popes are known to have bought their way into the papacy. Allegations of murder and crime within the Church abounded as the papacy so frequently changed hands. In a particular one hundred year period, more than forty Popes came to office. In the twelve years period from from 891 to 903 alone no less than ten different Popes held power.
The Church amassed inordinate wealth during the Dark Ages. Patrimonial properties, the church held lands that there were free and clear of taxes or military obligation to the king, made up between one-quarter and one third of western Europe. In addittion to the patrimony, bishops often held territories in feudal tenure, obliging them like any count or baron to provide the king with soldiers when called. The Church made money by collecting revenues from imperial rulers, by confiscating as a result of court judgement, by selling remission of sins (called “indulgences”), by selling ecclesiastical offices (called “simony”), and sometimes by simply taking land by forces.”
[iii] Phan Đình Diệm. “Tâm Thư Chia Sẻ Cảm Nghiệm Với Các Linh Mục Trong Và Ngoài Nước Việt Nam.” Tanvien@kitohoc.com (19/9/2000).
[iv] Phan Đình Diệm "Tuyên Cáo 6 Ngày 15/6/1999." pddiem@hotmail Ngày 199/9/2000.
[v] Arnold Scchrier & T. Walter Wallbank, Living World History (Glenview, Illinois: Scott , Foresman and Company, 1974), p. 148.
[vi] Nguồn: https://www.sachhiem.net/TCNtg/TCN74.php
[vii] Nhiều tácgiả, Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 1995), tr 280.
[viii] TrầnTam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978) tr 48-49.
[ix] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr 76-78.
[x] Nhiều tác giả, Đối Thoại Với Giáo Hoàng JP II (Garden Grove: CA: Giao Điểm, 1995), tr. 242-244.
[xi] Tường Minh - Chu Văn Trình, Rơi Mặt Nạ (Tavares, Fl: Ban Tu Thu Tự Lực, 1996), tr 187-190.
[xii] Tường Minh - Chu Văn Trình, Sđd., tr 196-198.
[xiii] Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 Tập I C: 1955-1963 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), tr 98.
[xiv] Joseph Buttinger, Vietnam: A Dragon Embattled (New York: Frederick A. Praeger, 1967), pp 932-933.
[:"Furthermore, the plight of hundreds of thousands of peasants was eased by the National Agrarian Credit Office, which was created in April, to supply peasants in temporary needs funds with loans previously obtainable only at usurious rates. But the absence of any kind of democratic representation of the peasants meant that the rural masses continued to be victimized by landlords and government officials. The legal rent of 25% of crop was widely disregarded - tenants considered themselves lucky if their rent was no more 30 per cent. Even after 1960, when insurrection made the struggle for peasant loyalty the overriding political issue, abusive treatement of peasants remained widespread. Landlords, returning with the army to former guerrilla-held regions, extracted rents far above the legal limit. Since this was possible only with the help or acquiescence of the Saigon appointed local officials, the peasants more often than not regretted having returned to government control. The peasants also resented not getting the ownership of formerly unocuppied land, but instead being settled on it as tenants. This was true even of land which the refugees, largely through their own efforts, had opened for cultivation. "At the Cái Sắn development in southwestern Vietnam, for example there was so much resistance to tenancy contracts by the 43.000 resettled refugees that the government cut off daily subsistence payment in order to bring the refugees around."
The narrow scope and the fragmentary execution of the agrarian reform, so fateful for the country's political evolution, reveal a great deal about Diem's political philosophy and the hollowness of his claim that his was a revolutionary regime. Diem was unable to see that Vietnam's national revolution could be completed and all remenants of colonialism wiped out only through radical economic and social reforms. For the peasant masses, exploitation under feudal land regime had been the dominant reality of colonialism. Colonialism, therefore, would not end for them until landlordism was abolished.
Far form being eliminated by a thorough agrarian reform, the landlords, for decades the associates of the colonial regime, were in fact the group that, more than any other, succeeded in asserting its interests under Diem. A maximum of 6,300 persons (most of them absenteee landlords) owned 45 per cent of all rice land in the South. The vast majority of them were not at all affected by the land-transfer program, since they owned less than the approximately 300 acres the law permitted them to retain. But even of the 2,500 who owned 40 per cent of the Southern rice land, only 1,584 had been partly expropriated by late 1962. (Land held by the Roman Catholic Church, estimated about 370,000 acres was not subject to transfer."]