Cung oán ngâm khúc (bản phổ biến)
21:54 06/08/2026
Chú thích
- ▲ Người cung phi trải qua năm tháng sống đời giam cầm trong vách quế, với những cơn gió thu hắt hiu, lạng lẽo. Vách quế: tức "cung quế" (quế cung), cung điện của cung phi, thời trước chỉ trồng một cây quế ở trước cửa. Gió vàng: gió mùa thu
- ▲ Vũ y: áo dệt bằng lông chim ngũ sắc của cung phi. Thâm ý của câu thơ này: người cung phi mặc áo lông chim, vậy mà nàng vẫn cảm thấy lạnh ngắt như đồng
- ▲ Tiêu phòng: phòng của cung phi, có bôi tiêu trên vách tường cho thơm và ấm
- ▲ Phận bạc: số phận mỏng manh
- ▲ Duyên may vì... được làm vợ vua, nhưng rủi vì... phải làm vợ vua!
- ▲ Tạo hóa sinh ra mình
- ▲ Sắc đẹp của cung nữ giống như hoa phù dung, loài hoa có sắc hồng nhạt tuyệt đẹp nhưng sớm nở tối tàn
- ▲ Nàng Ban Tiệp Dư là cung nhân của vua Hán Thành Đế, lúc đầu được vua yêu dấu, sau bị nàng Triệu Phi Yến gièm pha, nàng đành lánh sang chầu Thái hậu, mẹ vua. Ngày càng bị vua lạnh nhạt, nàng đau buồn làm một chiếc quạt lụa trắng, trên viết một bài thơ than thân phận mình giống như chiếc quạt: Mới chế lụa Tề trắng Trong sạch như sương tuyết Đem làm quạt Hợp hoan Tròn vạnh như mặt nguyệt Ra vào trong tay vua Lay động sinh gió mát Thường sợ tiết thu đến Gió lạnh cướp nồng nhiệt Ném cất vào xó rương Nửa đường ân ái tuyệt
- ▲ Lạt mùi thu dung: tình với quạt của nàng Ban đã phai lạt như gương mặt lạnh lẽo của mùa thu. Ý của cả hai câu thơ trên: người cung nữ chưa hề được hưởng hạnh phúc thực sự, thì đã sớm bị ruồng bỏ
- ▲ Nàng đẹp như Đào Kiển ngày xưa, khiến các cung nữ khác phải lo phiền. "Chúng" (tiếng cổ) nghĩa là "mọi người". Đào Kiển là cung phi nhất phẩm phu nhân của vua Thuận Đế nhà Nguyên. Nàng có vẻ mặt tươi đẹp như hoa đào đượm sương
- ▲ Khóe thu ba: mắt người con gái đẹp, ướt long lanh như sóng nước mùa thu. Khuynh thành: đẹp nghiêng thành
- ▲ Khi bóng nàng thoáng hiện dưới mành thì đến cả cỏ cây cũng khát thèm ân ái. Mây mưa (vân vũ): Vua Sở Tương Vương chơi ở đầm Vân Mộng, gần núi Vu Sơn, nằm mộng thấy Vu Sơn thần nữ xuống ân ái với mình. Nàng hẹn rằng buổi sớm nàng hóa thành mây, buổi chiều nàng hóa thành mưa. Bởi tích này người đời sau gọi cuộc ân ái là "cuộc mây mưa"
- ▲ Nàng đẹp đến mức "nhạn sa cá lặn"
- ▲ Tây Thi: người con gái đẹp tuyệt thế thời Xuân Thu. Nguyên nàng là cô gái giặt lụa ở xứ Trữ La nước Việt. Phạm Lãi, mưu thần của Việt Vương Câu Tiễn, tìm nàng rồi dùng "mỹ nhân kế" dâng nàng cho Ngô Phù Sai, kẻ thù của nước Việt. Ngô Phù Sai say mê nàng đến nỗi mất nước. Sau Phạm Lãi đem Tây Thi đi chơi cảnh Ngũ Hồ rồi mất tích
- ▲ Hằng Nga: Vợ của Hậu Nghệ, đời vua Hoàng Đế (truyện thần thoại). Hậu Nghệ xin được thuốc trường sinh của Tây Vương Mẫu. Hằng Nga uống trộm thành tiên trốn lên cung trăng. Nàng cũng là người con gái đẹp tuyệt sắc
- ▲ Câu thơ đẹp như gấm thêu, hơn cả Lý Bạch. Lý Bạch là đệ nhất thi nhân đời Đường
- ▲ Tài vẽ tranh hơn cả Vương Duy. Đan thanh: hội họa (đan: màu đỏ, thanh: màu xanh). Vương Duy là nhà thơ, họa sĩ nổi tiếng đời Đường
- ▲ Lưu Linh: người cuối đời Tấn, nổi tiếng về... đức uống rượu. Đế Thích: vua cờ (cờ tiên). Tri âm: bạn hữu hiểu nhau (hiểu rõ "âm tiếng" của nhau)
- ▲ Gảy đàn nơi đình điếm đêm trăng chẳng khác gì Tư Mã Tương Như. Tư Mã Tương Như là người văn hay đàn giỏi đời Hán, đã đàn khúc "Phượng cầu hoàng" khiến Trác Văn Quân bỏ nhà đi theo làm vợ
- ▲ Thổi sáo ở lầu thu hay như Tiêu Lang. Tiêu Lang như đời Xuân Thu, có tài thổi sáo như tiếng chim phượng kêu
- ▲ Khi nàng múa hát thì ngay cả các tiên nữ mặc áo nghê thường trong cung trăng cũng phải ngơ ngẩn
- ▲ Cánh đàn ông xôn xao ngấp nghé muốn cầu thân
- ▲ Vua nghe đồn về nàng, tuy chưa gặp mặt mà lòng thèm khát nàng đã trỗi dậy. Tề Tuyên Vương là một ông vua hiếu sắc
- ▲ Bốn câu thơ tả việc giữ gìn phẩm ngọc của người nữ nhi, như hoa xuân phong nhụy, như trăng thu chưa hé ánh sáng lạnh, như lầu hồng còn khóa then, như buồng khuê còn ủ kín hương sắc khuynh thành
- ▲ Những trang võ dũng rắp ranh xin làm rể. Bắn sẻ: chọn rể. Cha nàng Đậu Hậu xưa chọn rể bằng cách vẽ một con chim công lên bức bình phong, ai bắn trúng mắt công thì thắng cuộc (chữ "tước" có hai nghĩa: công và sẻ)
- ▲ Khách công hầu (quan chức) cũng gấm ghé mong lấy được nàng
- ▲ Song nàng... vẫn không tiếp. Có lẽ câu thơ này bắt nguồn từ câu ca dao: Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
- ▲ Tuy gan nàng không là đá, nhưng lay chuyển lòng nàng đâu phải dễ?
- ▲ Những kẻ tầm thường kia làm sao bén được tới cõi Thiên thai của nàng
- ▲ Nàng như tiên nữ trên trời, đâu dễ động lòng với chuyện yêu đương ở cõi trần? Nàng đâu dễ xiêu lòng vì vàng bạc? (Dù mang nghìn lạng vàng cũng không mua nổi một nụ cười của nàng)
- ▲ Nhân sự: việc người
- ▲ Sợi xích thằng: dây tơ hồng buộc trai gái với nhau. Cung nữ bất bình với thứ dây tơ đang buộc chân nàng
- ▲ Nàng muốn dùng nước rương của nhà Phật để dập tắt ngọn lửa yêu đương trong lòng nàng. Nước dương: cành dương liễu nhúng vào nước phép, Phật Bà Quan Âm dùng để ban phước cho chúng sinh
- ▲ Từ câu này, tác giả diễn giải sự đời theo thuyết nhà Phật
- ▲ Cơ trời huyền bí, mở đóng thế nào, con người không thể biết được
- ▲ Ngay cả việc ăn uống cũng đều có tiền định cả
- ▲ Biết bao kẻ bị ngàn lần mài sắt, trăm lần bẻ gãy. Đòi: (tiếng cổ) nhiều, thiên ma: ngàn lần mài, bách chiết: trăm lần bẻ
- ▲ Hình hài tuy còn nhưng ruột gan đã từng chết nhiều phen. Đòi nau: nhiều phen
- ▲ Bãi bể nương dâu: biển xanh biến thành nương dâu. Ý nói vật đổi sao dời
- ▲ Đã bao lần phải lâm vào những cảnh: sống, chết, kinh, khiếp
- ▲ Vì lo lắng việc thành bại mà mái tóc cằn đi
- ▲ Cùng quẫn rồi hanh thông, những điều đó thôi thúc tâm can
- ▲ Căn bệnh cố hữu của cuộc đời nhiều phen làm nát gan
- ▲ Đói như lửa đốt ruột, rét như dao cắt da
- ▲ Vì đi kiếm danh lợi mà gót chân giẫm vào bùn nhơ đen xám
- ▲ Khuôn mặt đã chường với gió bụi, lại bị nắng thiêu đen đúa. Mùi (màu) dâu: màu nâu đỏ
- ▲ Thân phù thế: tấm thân trong cuộc đời trôi nổi
- ▲ Bể khổ, bến mê: theo quan niệm của nhà Phật, cuộc đời chính là bể khổ bởi sinh, lão, bệnh, tử (sinh đẻ, già nua, bệnh tật, chết chóc) cùng nhiều tai ách khác. Cuộc đời cũng là bến mê (mê tân) bởi con người thực ra chưa giác ngộ chân lý
- ▲ Vì nếm mùi trần tục mà lưỡi tê với đắng cay
- ▲ Vì đường đời gập ghềnh mà gót chân phải nứt rỗ
- ▲ Đời người không khác gì chiếc thuyền bèo bọt lô xô chao đảo trên biển sóng cồn?
- ▲ Hóa nhi kia thật ác quá chừng. Trẻ tạo hóa: người xưa gọi bỡn trời là trẻ con, bởi những hành vi bất thường và "vô lý" của ngài
- ▲ Tạo hóa bày trò làm con người chết đuối ngay trên cạn
- ▲ Chiếc lò vĩ đại của trời nung đúc ra tất cả sự đời rắc rối
- ▲ Kiếp người biến thiên mau chóng tựa như đám mây phút chốc biến thành hình con chó. Tang thương: biển xanh biến thành nương dâu
- ▲ Đoạn này tác giả diễn tả sự suy tàn của cảnh vàng son. Những gác lầu xưa kia làm nơi ca xướng vui chơi thì nay chỉ còn dế khóc canh dài
- ▲ Hình ảnh con người bị ai đem bóng chiều tà làm cho võ vàng
- ▲ Làng xa mã: xã hội qùy tộc
- ▲ Gã công khanh: bọn quan lại
- ▲ Giấc Nam Kha: giấc mộng hão huyền. Bất tình: vô tình
- ▲ Nơi xưa kia tụ tập những nhân vật quan chức tài năng, thì nay chỉ thấy còn mây lồng man mác. Sân đào lý: sân tụ họp những nhân vật tài năng được tiến cử
- ▲ Cảnh phú qùy ngày xưa nay chỉ còn bóng trăng mờ ảo. Nền đỉnh chung: cảnh phú qùy. Đỉnh (cái vạc), chung (cái chuông) là những món đồ đặc trưng cho các gia đình quyền qùy xưa
- ▲ Bể hoạn: bể hoạn nạn
- ▲ Phong ba: cơn sóng gió của cuộc đời
- ▲ Quyền họa phúc: quyền quyết định cho con người được hưởng phúc hay phải chịu tai họa
- ▲ Sự thuận lợi, điều kiện dễ dàng, trời chẳng ban cho ai
- ▲ Luật luân hồi đã định sẵn nơi thiên đình. Cái quay: luân xa, bánh xe tượng trưng cho vòng luân hồi (thuyết nhà Phật)
- ▲ Con người sống ở đời mù mịt như đi đêm. Hình ảnh, ý nghĩa của câu thơ này từ lâu đã trở thành một thành ngữ dân gian, ám chỉ những kẻ sống mờ nhạt trên đời, không biết làm chủ vận mệnh của mình
- ▲ Màu sắc của những thứ gỗ đá (kiến trúc, điêu khắc) xưa nay đều bị ố vàng.
- ▲ Dáng nét chim cá (trong các bức họa) cũng bị mưa gió làm ủ ê. Có học giả giải nghĩa hai câu thơ trên như sau: cả gỗ đá cũng bị thời gian làm vàng ố, cả chim cá cũng bị gió mưa làm ủ ê.
- ▲ Núi sông cũng mai một, côn trùng cũng tồn hư
- ▲ Cầu Thệ thủy vẫn ngồi trơ trơ nơi bến cũ. Ý nói thời gian quá dài làm mọi vật trở nên mệt mỏi
- ▲ Quán Thu phong (quán chờ đợi sự cứu trợ của người khác) đứng rũ trong bóng chiều
- ▲ Ảo hóa: trở nên hư ảo
- ▲ Phù sinh: sống trôi nổi trên cõi đời
- ▲ Cổ khâu: nấm mồ cũ kĩ
- ▲ Chiền chiền: rành rành
- ▲ Liệu có nên mang thân này đến với cửa thiền chăng? Cơ thiền: máy Thiền, tức đạo Phật
- ▲ Thất tình: bảy thứ tình của con người là hỉ-vui, nộ-giận, ai-buồn, lạc-sướng, ái-yêu, ố-ghét, dục-muốn. Đạo Phật chủ trương dứt bỏ bảy thứ tình đó
- ▲ Nhân tình: Tình người
- ▲ Hoa đàm: ưu đàm hoa, một loài hoa thiêng của nhà Phật, ba ngàn năm mới nở một lần, khi nở là có một vị Phật ra đời
- ▲ Đuốc tuệ: ngọn đuốc trí tuệ của nhà Phật, soi đường cho chúng sinh ra khỏi nơi mê chướng
- ▲ Gót chân thoát khỏi cảnh trần tục, hòa hợp với trời đất
- ▲ Thân ngoại vật: người ở ngoài vòng trói buộc của vật dục, sống thanh thản tựa cỏ cây gỗ đá vô tri
- ▲ Ý của nàng cũng muốn thoát khỏi vòng nhào nặn của trời. Đào chú: nhào nặn, nung đúc
- ▲ Muốn lộn ra khỏi vòng ràng buộc của cảnh vợ chồng cho thỏa ý
- ▲ Trời đã quyết đem dây ràng buộc bông hoa đào (người con gái đẹp)
- ▲ Chắc hẳn có món nợ tiền kiếp gì đây. Túc trái: nợ kiếp trước
- ▲ Hoặc có nguyên do từ đời trước mà tạo ra cái hậu quả bây giờ
- ▲ Hoặc ta đã làm điều gì lầm lỗi ở thiên cung, nên bị đày xuống trần để trả nợ? Theo thuyết nhân quả của đạo Phật thì một nguyên nhân thiện lành sẽ sinh ra một hậu quả thiện lành, một nguyên nhân ác dữ sẽ sinh ra một hậu quả ác dữ. Do đó có thể xem nguyên nhân mà đoán biế được hậu quả, và có thể xem hậu quả mà tìm hiểu được nguyên nhân. Tính đúng đắn của thuyết nhân quả đã được lịch sử của các dân tộc cũng như của mỗi con người chứng minh rõ rệt
- ▲ Điểu thú: chim muông
- ▲ Kể cả trời đất chẳng qua cũng là vợ chồng
- ▲ Ta thoát làm sao được lưới tình của con người?
- ▲ Ý nói con người không thể làm chủ được số mệnh thì đành khuất phục số mệnh. Đó là tư tưởng tiêu cực trong triết lý tôn giáo của tác giả
- ▲ Nguyệt lão: ông tơ. Ở đây cung phi lên tiếng oán trách và kết tội Nguyệt lão
- ▲ Nguyệt lão "vô cớ" đem tơ hồng buộc chân cung phi
- ▲ Câu thơ miêu tả cuộc ân ái đầu tiên của nhà vua và cung phi, rõ ràng mang nặng tính chất sắc dục chứ không phải tình yêu. Bóng dương: ánh mặt trời, đồ mi: một loài hoa leo, sắc trắng pha vàng, chỉ cung nữ
- ▲ Cành hoa thược dược say mơ vì được cơn mưa lành. Thược dược: loài hoa giống mẫu đơn nhưng ít cánh, được tôn là "hoa tướng" - tể tướng của loài hoa. Thụy vũ: cơn mưa báo điềm lành, khoa: cành
- ▲ Đóa hải đường ngủ say trong đêm xuân (tả người cung nữ xinh đẹp). Điển tích: Dương Quý Phi nằm ngủ, Đường Minh Hoàng gọi mấy lần không dậy, vua bèn nói: "Hoa hải đường ngủ chưa đủ sao?"
- ▲ Ý nói: vì nàng quá ư xinh đẹp như hoa đào hoa mai nên gió đông của chúa xuân không ngừng cợt ghẹo
- ▲ Xiêm nghê: áo dệt bằng lông chim ngũ sắc. Câu thơ tả cung nữ rất hiện thực và gợi cảm, cho thấy bút pháp của tác giả nhiều lúc đã vượt ra ngoài khuôn khổ của văn chương phong kiến
- ▲ Áo vũ (vũ y): áo lông chim
- ▲ Nàng chẳng khác gì Tây Thi ở điện Cô Tô xưa kia
- ▲ Đệm hồng thúy: đệm thêu bằng lông chim phỉ thúy, sắc xanh đỏ
- ▲ Bóng bội hoàn: thứ ngọc qùy phụ nữ sang trọng xưa đeo ở phía dưới thân mình, để những khi đi lại phát ra tiếng leng keng
- ▲ Mây mưa: cuộc ái ân. Có thể nói lúc này cung nữ đang lầm lẫn, tưởng rằng cuộc ân ái mặn nồng với nhà vua là một mối "chung tình"
- ▲ Nàng được coi là hoa mẫu đơn, vua của các loài hoa, và được vua cho ở riêng trong "đình trầm hương". Đình trầm hương: nhà lục giác bằng gỗ trầm hương, nơi Đường Minh Hoàng ngồi cùng Dương Qúy Phi xem hoa mẫu đơn nở
- ▲ Nàng chơi đàn thánh thót. Thúy dịch: cung thự sơn màu xanh biếc, ở hai bên cửa vào Đại nội. Từ đoạn này tác giả tả vệc cung nữ bị lôi cuốn vào cuộc truy hoan với nhà vua (thực chất chỉ là một kẻ dâm đãng) và nàng ngộ nhận đó là hạnh phúc nhân duyên
- ▲ Nàng thổi sao nỉ non. Đan trì: thềm điện đài, cung cấm, sơn màu đỏ
- ▲ Rành rành mày ngài (của nàng) sánh cùng mặt rồng (của vua)
- ▲ Nàng cảm ơn vua và lấy làm thỏa mãn vì mình đã bõ công làm gái thuyền quyên (người con gái tài sắc xuất chúng)
- ▲ Được gần gũi vua trên ngai vàng. Chín bệ: cửu trùng, nơi vua ngự. Mặt trời: chỉ vua
- ▲ Xuân riêng (xuân tình, xuân ý): tình yêu nơi người con gái
- ▲ Một khi đã hợp duyên nhau
- ▲ Không cần phải rắc lá dâu (để dụ con dê kéo xe) thì xe dê của vua vẫn vào với nàng. Ở đây cung nữ đang đắc ý vì được vua yêu vì hơn kẻ khác. Thực ra vua say nàng chỉ vì nàng "mới", trẻ đẹp, nhưng nàng ngộ nhận rằng đó là duyên "hương lửa" (tình yêu thực sự)
- ▲ Vua ấp yêu nàng nơi gác trăng
- ▲ Cả hai người vui đùa nơi đền gió
- ▲ Đóa lê: hoa lê, sắc trắng như hoa mai, đẹp như người gái thơ. Trước kia Bạch Cư Dị tả Dương Quý Phi đẹp như đóa hoa lê đẫm mưa xuân
- ▲ Điển tích: Quắc quốc phu nhân (em thứ ba của Dương Quý Phi) có sắc đẹp tự nhiên. Nàng cho việc trang điểm là làm nhơ nhan sắc của mình nên lúc vào chầu vua, nàng chỉ kẻ thêm một nét mày lợt mà thôi, nhưng vẫn được vua ưa chuộng
- ▲ Vua chăm chút yêu chiều nàng như một vưu vật (của hiếm lạ)
- ▲ Chính nàng cũng say sưa, và càng đẹp đến nghiêng nước nghiêng thành
- ▲ Khúc trùng: tấu một lần nữa. Thanh Dạ: tên một bài hát do Tùy Dương Đế đặt ra để hát chơi cùng các cung nhân trong đêm thanh nơi vườn Tây uyển
- ▲ Điệu ngả: điệu say đắm. Đình Hoa (Hậu Đìnn Hoa): tên một khúc hát do Trần Hậu chủ đặt cho các cung nữ hát, ở gác Lâm Xuân
- ▲ Nàng được hưởng ơn vua một giấc đêm khuya chăn gối (suy nghĩ của nàng thật đáng thương vì nàng chưa vượt được lên trên tầm của một kẻ tì thiếp, nô lệ)
- ▲ Chí tôn: chỉ vua
- ▲ Tràng mộng xuân: giấc mộng vinh hoa đẹp nhưng ngắn ngủi. Cung nữ vô cùng tự đắc về hạnh phúc mình đang được hưởng, cho dù nó ngắn ngủi
- ▲ Gót sen: gót chân đàn bà đẹp. Điển tích: Nàng Phàn Phi có dáng đi rất đẹp, chồng nàng là Đông Hôn Hầu bèn cho khảm những hoa sen vàng trên nền điện. Khi nàng đi, ông khen rằng: "Mỗi bước đi nẩy một đóa sen"
- ▲ Câu thơ cho thấy tính chất táo bạo của bút pháp Nguyễn Gia Thiều
- ▲ Hoa phong lan sang qùy mà phải sống lạc loài nơi sơn dã thì thật uổng. Phong lan: giống hoa rừng đẹp và thơm, được người xưa ví với bậc quân vương, ở đây ví với cung nữ
- ▲ Nàng xét phận nàng là con gái được may mắn lọt vào nơi sang qùy. Cân trất: khăn lược, chỉ việc của đàn bà con gái
- ▲ Thì cũng bõ công làm phận gái. Đặt cái khăn: xưa nếu sinh con gái thì đặt một cái khăn ở bên phải cửa phòng đẻ, ngụ ý rằng việc nâng khăn sửa túi là việc con gái. Tắc ơ: tiếng tắc lưỡi, tỏ vẻ ngán ngẩm, bởi quan niệm trọng nam khinh nữ
- ▲ Nàng cùng vua ưa nhìn trang "chim chắp cánh". Tỷ dực: truyền thuyết xưa kể rằng ở phương Nam có giống chim mà con trống và con mái mỗi con chỉ có một cánh, muốn bay chúng phải chắp cánh lại. Điển này sau được ví với tình vợ chồng
- ▲ Cả hai cùng hay chỉ vào "cây liền cành". "Đồ liên chi": đồ vật có vẽ hình "cây liền cành"
- ▲ Cả hai cùng thề nguyền ghi tạc chữ Đồng (cùng nhau mãi)
- ▲ Mượn chuyện Ngưu Lang - Chức Nữ mà thề trăm năm chung thủy. Thất tịch: ngày 7 tháng 7, Ngưu Lang - Chức Nữ gặp nhau
- ▲ Tác giả rút từ câu ca dao: Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ao bèo
- ▲ Cho bõ với việc làm liều lĩnh là... dám lấy vua! Không phải cung nữ không linh cảm thấy việc lấy vua là nguy hiểm. Tác giả ví von rất đắt: làm vợ vua khác nào "nhúng tay thùng chàm"
- ▲ Kể từ đoạn này, tác phẩm miêu tả "việc phải đến đã đến". Nàng dần dần bị vua lạnh nhạt
- ▲ Suy di: run rủi, thay đổi
- ▲ Nàng bỗng dưng trở thành kẻ góa chồng (bởi vì người chồng tuyệt nhiên không bao giờ đến với nàng nữa. Vị vong: sống như kẻ chưa chết. Đó là thân phận đàn bà xưa góa chồng
- ▲ Câu thơ đầy ý mỉa mai oán trách (kẻ làm vua vẫn tự khoa khoang là bậc anh minh và công bằng). Đuốc vương giả: ngọn đuốc trí tuệ sáng suốt của bậc vương giả. Chí công: hết sức công bằng
- ▲ Khóe âm nhai: nơi hang sâu tăm tối
- ▲ Cung nữ nhiều như muôn hoa đua nở, chúa xuân (tức nhà vua) không tài nào hái hết, mà chỉ lựa một hai bông ở gần ngài
- ▲ Cung nữ ví việc mình giành giật vua giật vua như kẻ đi câu chõ vào chỗ những người khác đang câu. Đó là một thực trạng khốn nạn và đắng cay của đời cung nữ. Với các nàng, vua chỉ là một "con cá" bị câu nhử, cách ví von thật mỉa mai!
- ▲ Ngán thay cái cảnh có ba nghìn con én... cùng chen đậu vào một cây cù mộc. Cây cù mộc: cây cong có dây sắn dây bìm leo (sách cũ), đây chỉ vua
- ▲ Khoảnh (khảnh): khó tính, hay chê
- ▲ Một câu thơ rất đắt và gợi cảm, cho ta thấy thực chất trần trụi của một ông vua hiếu sắc, vô đạo
- ▲ Ở lầu "đợi trăng" (đãi nguyệt) một mình nàng hết đứng lại ngồi trong đêm mưa (dạ vũ)
- ▲ Ở gác "hóng mát" (thừa lương) một mình nàng khi thức khi ngủ trong gió thu
- ▲ Phòng tiêu: phòng cung nữ được bôi tiêu trên vách cho ấm
- ▲ Nàng hờn giận vì bị ruồng bỏ, nên đập vỡ đôi chiếc gương loan (gương của tình yêu xưa), và nàng xé đôi dải thắt lưng "đồng tâm" mà vua trao cho nàng khi trước
- ▲ Chiều ủ dột: dáng ủ dột. Giấc mai: giấc mộng
- ▲ Hồn bướm: hồn trong giấc mộng. Trang Chu ngủ mơ thấy mình là con bướm
- ▲ Thăm viếng nàng chỉ có gió lọt qua cửa, sương gieo vào rèm
- ▲ Vết xe kiệu ngày nào, giờ rêu phong lỗ chỗ. Phượng liễn: xe hoặc kiệu của vua, có khắc hình chim phượng
- ▲ Dấu xe dê xưa in hằn quanh co trong đám cỏ
- ▲ Lầu Tần (vàng son là thế) cũng nhạt nhòa như vẻ mùa thu. Chiều: ở đây mang nghĩa "chiều như", "ra chiều", "mang vẻ", "nhường"
- ▲ Gối loan: gối thêu chim loan, tượng trưng cho hạnh phúc lứa đôi. Chăn cù: chăn lông chiên. Câu thơ này là một trong những câu thơ tiêu biểu cho bút pháp đặc sắc của Nguyễn Gia Thiều. Đó là lối dùng ngoa ngữ, là những câu "kinh nhân", ý thơ và cảm xúc thơ được đẩy tới mức tột cùng. Bút pháp ấy nổi bật ở Cung oán ngâm khúc và ở Hàn Mặc Tử sau này
- ▲ Suốt ngày nàng mong tin vua, nhưng vắng tăm cánh nhạn (đưa thư)
- ▲ Giấc cô miên: giấc ngủ cô đơn
- ▲ Hương hỏa trong im lặng, ngọn đèn như chìm trong tối tăm
- ▲ Cửa Nghiêm lâu: cửa lầu tôn nghiêm nơi vua ở (mà hằng ngày nàng ngắm từ xa)
- ▲ Lưu Cầu là xứ gần Nhật Bản, nổi tiếng về sản xuất dao gươm sắc bén
- ▲ Đoạn thơ này cho thấy cung nữ đã tỉnh ngộ, nhận ra sự phi lý của trời "xe tơ hồng" cũng như thân phận cá chậu chim lồng của mình. Nàng bắt đầu có những ý nghĩ phản kháng
- ▲ Gối du tiên: sách cũ chép rằng, ở nước Quy Tự có chiếc gối dâng vua, sắc như ngọc mã não, khi gối đầu ngủ thì chiêm bao thấy mình du chơi trên cõi tiên
- ▲ Đông Quân: chúa xuân, vua tình yêu (ám chỉ vua). Bất tình: vô tình
- ▲ Cành hoa dưới trăng tàn uất ức nuối tiếc tình xuân
- ▲ Xuân y: áo chầu triều trong cung vua
- ▲ Mang bóng đèn lập lòe dưới trăng tà để nhử bọn người sống gửi trên cõi đời này. Ý nói: cung nữ trách tạo hóa đã bày ra cảnh vàng son quyền quý để dụ dỗ nàng vào chốn đoạn trường
- ▲ Hoa lạc: hoa rụng. Nguyệt minh: trăng tối (chữ "minh" này khác với chữ "minh" nghĩa là "sáng")
- ▲ Đối với cung nữ, từ đây, khi tình đã mất thì tuyệt nhiên không thể có một cảnh vui nào được nữa. Mối liên hệ khăng khít giữa tình và cảnh mà Nguyễn Gia Thiều phát hiện, chính thi hào Nguyễn Du sau này đã học tập để viết nên câu thơ: Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
- ▲ Hương hả: hương đã hả hơi vì để quá lâu không dùng tới
- ▲ Giọng bi thu: giọng buồn bã của mùa thu. Kẻ cô phòng: kẻ sống cô đơn nơi phòng vắng
- ▲ Vân mồng: tin tức, tăm hơi
- ▲ Hơi thê lương: hơi lạnh lẽo và buồn. Song phi huỳnh: cửa sổ đom đóm bay
- ▲ Khi bóng trăng (bóng thỏ) hiện chênh vênh trước nóc nhà
- ▲ Vì suốt đêm ngày năm tháng mong ngóng vua tới, nàng đã rơi vào trạng thái hoang tưởng. Nàng tưởng rằng có tiếng tiểu (chú hầu) mang tin vua tới thúc giục nàng mau sửa soạn đón vua
- ▲ Câu thơ điển hình cho bút pháp thơ làm "kinh nhân" của Nguyễn Gia Thiều. Đó là tột đỉnh của nghệ thuật thơ kim cổ
- ▲ Quyên: chim cuốc
- ▲ Điệu thương xuân: giọng thương tiếc mùa xuân (của chim cuốc). Sương khuê: gái góa khuê phòng
- ▲ Một không khí buồn thương dậy mùi nơi hè đầy hoa rụng
- ▲ Nơi cung điện màu thúy (xanh pha lục) tiếng cười già quá hóa gắt. Ý nói vì vui thái quá mà hỏng (luật bù trừ)
- ▲ Ý như câu trên: vì quyền quý thái quá mà rồi phai nhạt tất cả (không bằng người ta cứ giữ thường thường bậc trung). Tục ngữ dân gian cũng có câu "trèo cao ngã đau". Và ca dao có câu: Càng thắm thì càng chóng phai Thoang thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu
- ▲ Hai câu trên có nghĩa: Giá mà nàng biết rằng mình sẽ rơi vào thứ "cửa quyền ôi" (cửa quyền sang trọng nhưng thực ra nguội lạnh, ôi thiu) thì nàng không vội vã lấy vua cho xong
- ▲ Đeo đẳng: đeo đuổi, trói buộc
- ▲ Dẫu mua chuộc thế nào cũng chẳng thèm. "Buồn tênh" ở đây nghĩa là "muốn"
- ▲ Hoa gieo cành: hoa rơi khỏi cành
- ▲ Cao lương: món ăn sang. Lợm: lợmm giọng
- ▲ Hoắc, lê: rau dền, rau diếp, chỉ thức ăn dân dã
- ▲ Vợ chồng (thường dân) sống yên ấm trong căn nhà nghèo nàn. Hoành môn: cửa có then ngang
- ▲ Con cái ríu rít như lũ cò con, tình biết bao! Cung nữ đã hoàn toàn tỉnh giấc mộng vàng son, và thừa nhận hạnh phúc trong những cuộc đời thường
- ▲ Dù hay dù dở (cởi hay thắt) nàng cũng chẳng dở dói bày trò đi làm cung phi làm gì. Ỏe họe: giọng hát bội dở ẹc
- ▲ Mặc lòng nũng nịu nguyệt hoa (với chồng). Dầu: mặc dâu, mặc lòng. Cung nữ thực sự thèm khát cái hạnh phúc của tình yêu trong đời sống dân dã
- ▲ Bóng thỏ: bóng trăng
- ▲ Vẻ đã tiều tụy càng gầy guộc hơn trước ngọn đèn. Tiêu tao: xơ xác, gầy mòn. Võ: gầy, xọp (mặt võ, võ vàng)
- ▲ Ca tiều: hát, cười
- ▲ Cũng như "cười ra nước mắt"
- ▲ Ngọn lửa lòng thiêu đốt làm cho nét mày liễu phải rầu rầu
- ▲ Giọt lệ đau thương đỏ như máu thấm bợt làn son trên má. Giọt hồng băng: nàng Tiết Linh Vân có nhan sắc tuyệt vời, bị quan thái thú là Cốc Tập mua bằng nghìn lạng vàng dâng vua Ngụy Văn Đế. Lúc từ biệt cha mẹ, nàng khóc, nước mắt nhỏ vào một cái bình. Sau đó nước mắt nàng đông lại thành băng và có sắc đỏ như máu
- ▲ Ngay cả những thú cỏn con vô hại cũng trở nên dơ dáng, buồn bã
- ▲ Trà chuyên nước nhất: nước trà pha lần thứ nhất chưa ngon, nhưng vì quá buồn chán nên nàng không pha nước thứ hai nữa. Hương dồn khói đôi: nàng đốt hương trầm nhiều gấp đôi để mong xua đuổi sự tẻ lạnh ghê gớm
- ▲ Mặt trời: chỉ vua
- ▲ Sống mà chia ly nhau nhiều nhất thời có vợ chồng Ngâu (Ngưu Lang - Chức Nữ). Đòi rất: rất nhiều
- ▲ Hoa trong vườn thượng uyển chỉ thấy có nắng nên làm sao mà không chiều ong bướm?
- ▲ Dải lạch kia (doành Nhâm) nông cạn là thế
- ▲ Mà bóng dương (ám chỉ vua) bên ấy, còn nàng thì đứng trông bên này. Câu thơ gần với câu Kiều của Nguyễn Du: Sông Tương một dải nông sờ Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia
- ▲ Nhĩ mục: tai mắt. Lúc nào tai nàng cũng lắng nghe, lúc nào mắt nàng cũng dõi trông
- ▲ Phải sống một mình đằng đẵng không tình yêu, nàng vô cùng khát thèm ân ái
- ▲ Nàng nhớ mãi, mộng mị mãi về một cuộc ân ái hiếm hoi khi xưa. Đoạn thơ này cho thấy tính hiện thực và nhân bản cao độ của Cung oán ngâm
- ▲ Đoạn thơ này là lời oán trách thống thiết của cung nữ. Đông phong: gió đông, tức chúa xuân
- ▲ Câu ví von xác đáng với thân phận cung nữ. Cầm: giam cầm
- ▲ Kim ốc: nhà vàng, chốn phú quý
- ▲ Nơi thì vua để lạnh lẽo, nơi thì vua cho gần gũi
- ▲ Trăng già: nguyệt lão, ông tơ
- ▲ Ý nói vì sao duyên ta lẽ ra tốt đẹp, nay lại hóa ra hẩm hiu?
- ▲ Khúc sầu tràng: khúc buồn dài dặc
- ▲ Hoa tịnh đế: chùm gồm hai bông hoa nở trên một đế, dùng trang hoàng trong phòng hợp cẩn, tượng trưng cho đôi lứa
- ▲ Sao lượng vua lại quyết đoán (chấm dứt tình duyên) nhanh như vậy?
- ▲ Rún rẩy: rẻ rúng, ruồng rẫy
- ▲ Sao bõ già (bà già hầu hạ nàng) là người thấu tỏ hết nỗi nàng lại không tâu với vua để vua hiểu? Câu thơ cho thấy sự cô độc và thất thế của cung nữ đã tới mức tột cùng: nàng định cầu cứu cả bà bõ già!
- ▲ Đêm mưa gió một thân lạnh lùng
- ▲ Giọt ba tiêu: giọt mưa nhỏ xuống tàu lá chuối
- ▲ Bên tường thấp thoáng bóng đom đóm bay
- ▲ Đồng ồ đã cạn: đời xưa dùng đồng hồ bằng nước nhỏ giọt
- ▲ Thời gian trôi nhanh (bóng câu thoáng) đời người được mấy?
- ▲ Cảnh hương sầu phấn tủi này biết bao giờ cho xong?
- ▲ Đến phút chót, nàng vẫn còn thoi thóp một hy vọng, có thể lúc nào đó vua lại đến với mình chăng? Và khi đó nàng làm sao tỏ được cho vua thấy rằng nàng vẫn trẻ đẹp, hấp dẫn như xưa? Câu thơ kết thúc gây nên một niềm thương cảm vô hạn đối với số phận của nàng