Sau khi nghỉ hưu, Thuận Hữu có thời gian dành nhiều hơn cho thơ, một loại hình nghệ thuật được ghi nhận là “hồ sơ tin cậy nhất về tâm hồn, tâm thế của người viết ra nó” (Nguyễn Quang Thiều). Chưa kể các tác phẩm đã in trước đây (Những phút xao lòng (thơ - 1987), Ngọn đèn ban ngày (tập truyện - 1988), Biển gọi (thơ - 2000); chỉ riêng cuốn “Nhặt dọc đường” (NXB Hội Nhà văn quý II - 2025), các nhà phê bình văn học đã ghi nhận“Thuận Hữu là nhà thơ đích thực” (Nguyễn Sĩ Đại).
Tác phẩm dày hơn 250 trang khổ rộng, bìa cứng, in kèm 30 bức tranh phụ bản do họa sĩ Đào Hải Phong vẽ theo cảm hứng từ những câu thơ gợi mở; phần Phụ lục đăng một số lời bình bài thơ Những phút xao lòng và hơn mười nhạc phẩm các nhạc sĩ Đức Dũng, Ngọc Thịnh, Tuấn Phương, Diệp Vàm Cỏ, Nguyễn Lê, Thuận Yến, Đình Thậm, Minh Đức... phổ thơ Thuận Hữu, khiến cuốn sách càng tăng thêm giá trị. Tôi đọc và có ấn tượng sâu sắc với tác phẩm bởi chất trữ tình đậm đà và lối viết riêng với những sáng tạo mới.
Tình yêu tha thiết với quê hương là cảm hứng nổi bật trong tập thơ.
Sinh ra và lớn lên ở xã Xuân Liên, Nghi Xuân, Hà Tĩnh, dải đất địa linh nhân kiệt, miền đất nhiều nắng gió và bão giông đã nuôi dưỡng, hun đúc nên con người Thuận Hữu. Thời trai tráng, người con miền quê nghèo ấy từng nhập ngũ, cầm súng chiến đấu góp phần bảo vệ quê hương, Tổ quốc mình. Khi đất nước bình yên, chàng trai ấy lập nghiệp và công tác ở nơi xa nhưng trong thẳm sâu tâm hồn luôn đau đáu nỗi nhớ thương làng quê thân thương của mình.
Những vần thơ Thuận Hữu viết về làng chài, xóm đồi, nơi chôn nhau cắt rốn thật chân thành và cũng rất khác biệt:“Làng tôi/ Lưng dựa vào dãy núi/ Mắt thẳng nhìn ra hướng biển khơi/ Tôi là con của một vùng đồi/ Nhưng cũng là con của biển/ Tình đất nước quyện vào máu thịt” (Làng tôi). Làng - đơn vị cư trú, tổ chức xã hội quan trọng ở nông thôn Việt Nam - ở đây được nhân hóa như một sinh thể vững chãi, sẵn lòng chở che, nuôi dưỡng tất thảy những đứa con sinh ra và lớn lên từ đây.