Nhà văn Phùng Văn Khai
Chị Trần Thị Hà, người con dâu của Đại tướng hiện đang ở đây chăm sóc ngôi nhà, hương khói cũng là người thuộc rất kỹ từng kỷ vật. Chị xúc động giới thiệu từng tấm ảnh với sự trân trọng, thành kính và nhất mực tự hào. Trong gian thờ ông, lời viếng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khiến chúng tôi ai nấy đều rất xúc động và khâm phục: “Vô cùng thương tiếc đồng chí Đại tướng Lê Trọng Tấn, người chỉ huy kiên cường, lỗi lạc, người bạn chiến đấu chí thiết”.
Cũng trong gian thờ, chúng tôi đã vô cùng ấn tượng với bài thơ viếng của nhà thơ Tào Mạt. Bài thơ là một thi phẩm đặc biệt, là tiếng khóc của anh hùng trước anh hùng, là tiếng lòng của hàng ngàn, hàng vạn tấm lòng nhân dân chiến sĩ trước vị Đại tướng kính yêu. Khổ đầu tiên giản dị mà ôm chứa tới vô cùng:
Nhà thơ Tào Mạt đã như thay mặt các giai tầng xã hội tạc nên một mẫu số chung bằng lời thơ giản dị nhưng vô cùng cứng cỏi cũng như con người và sự nghiệp của Đại tướng Lê Trọng Tấn. Lời thơ rất riêng mà cũng rất chung. Tình thơ dành cho một người mà cũng là dành cho non sông đất nước. Thơ khóc anh hùng cũng là thơ tạc anh hùng bằng xương bằng thịt đã hóa thành đồng Tổ quốc trong tấm lòng thơm thảo của nhân dân, của quê hương.
Những dòng thơ vừa là địa danh, tên người đồng thời cũng là những tượng đài bất tử. Từ lửa đỏ Điện Biên tới dấu mốc Đại thắng mùa xuân năm 1975 trong trùng trùng quân đi như sóng luôn có bóng dáng người chiến sĩ anh hùng, vị tướng trận trên tuyến đầu với tài trí và trái tim lớn cùng đồng chí đồng đội vâng theo lời Đảng, lời Hồ Chủ tịch thống nhất non sông. Non sông vừa thống nhất, Bắc - Nam một dải ruột liền, nơi đầu biên giới tiếng súng còn chưa dứt, vị tướng trận đã ra đi trong tiếng nghẹn nấc của biết bao người đúng như lời thơ cổ được nhà thơ Tào Mạt đã đau đớn nấc lên: “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng/ Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu”.
Những dòng thơ chất chứa tự đáy lòng cứ thế như từng khúc ruột phơi ra:
Những câu thơ quá đỗi gần gũi, thiết thân mà sao vô cùng khảng khái, khí phách, dài rộng, nhân văn, nhân nghĩa, trí dũng, bác ái giống như cốt cách không chỉ của Hồ Chủ tịch mà cả học trò của Người để cuối cùng rút lại mẫu số chung như khổ đầu bài thơ đã đặt ra: “Vì nhân dân phục vụ”. Khổ thơ cũng chính là một trong những phần xương cốt hình hài của bài thơ khóc vị tướng quân.
Bài thơ như những nhịp quân hành. Dốc cao, đèo sâu trùng trùng đội ngũ. Đội ngũ thân thuộc máu thịt với nhân dân. Nhân dân gọi anh là Đại tướng chính là nghĩa tình sâu nặng nhất, trọng trách nặng nề mà anh gánh vác suốt cuộc đời tới tận lúc đột ngột lên đường trong ngẩn ngơ của đồng đội và nhân dân. Có lẽ nào khi ra đi vị tướng kính yêu của chúng ta không có sự chuẩn bị gì? Dự cảm gì? Căn dặn gì sao? Những câu hỏi ngày đó vang lên chứ bây giờ chắc đã không còn ai hỏi như thế nữa.
Từng dòng chữ xuống hàng như từng mũi tên lao trong bão lốc. Trí lực thơ Tào Mạt mười phần thì cả mười phần là tiếng nói chung của “ba nghìn khách”, “chục vạn binh” còn hơn thế nữa của cả vô cùng tận nhân dân thương tiếc một con người. Những vần thơ chữ nghĩa tối giản mà tình nghĩa mênh mang như biển cả sông sâu gói cả đất trời ấm lạnh tiếc thương người đã khuất. Lời thơ viếng vị tướng Lê Trọng Tấn của Tào Mạt cũng là tấm lòng chung của nhân dân và chiến sĩ tiếc thương ông.
Trong buổi trò chuyện với người con dâu và cháu Đại tướng Lê Trọng Tấn, tôi và nhà báo Nguyễn Kiên Thái đã có những phút lặng đi khi nhìn lên vách gian thờ câu thơ trong bài thơ viếng Đại tướng của nhà thơ Tào Mạt cứ như động đậy, như có người đang đọc ngân rung.
P.V.K